[VIDEO]  Nguyên tắc đạo đức: Toàn vẹn/Nhất quán và Thành thật

[VIDEO] Nguyên tắc đạo đức: Toàn vẹn/Nhất quán và Thành thật

1. Sự toàn vẹn/nhất quán và sự thỏa hiệp đạo đức

Một lần nữa, xin chào buổi sáng. Hôm nay, chúng ta sẽ cố gắng hoàn thành buổi thảo luận về đạo đức theo Chủ nghĩa Khách quan, thông qua việc áp dụng những gì chúng ta đã nói về các nguyên tắc đối với đức hạnh của tính toàn vẹn và tính trung thực. Tuy nhiên, trước khi đi vào bài, tôi muốn làm rõ một vấn đề đã được nói đến trong lần trước. Tôi đã nhận được một câu hỏi xuất sắc, mà tôi xin lỗi đã không nói đến trong tiết học và đối với một tập thể tham gia rất tận tâm và chu đáo thì điều này bao hàm một sự làm rõ quan trọng, cho nên, mong các bạn cho tôi một chút thời gian để giải đáp trước khi chúng ta tiếp tục. Cuối buổi học trước, tôi đã nhận được câu hỏi là: liệu một người có thể trở nên quá dài hạn không? Chỉ là hỏi riêng thôi. Và câu trả lời là: Vâng, việc bạn có thể làm quá đối với một điều tốt và cần thiết là khả năng có thật. Chỉ có những người kìm nén tốt sẽ làm như thế. Nhưng tôi đang nghĩ đến kiểu người luôn sống trong tương lai, những người mà cả cuộc sống của họ là một mục tiêu xa xôi họ muốn nhắm tới, và không hề dành chút thời gian nào hoặc dành bất kỳ sự tập trung nào đối với cuộc sống hiện tại, hay là tận hưởng hiện tại và làm những việc vì niềm vui thích trong những khoảnh khắc, họ chỉ sống vì những điều họ hướng đến trong tương lai rất xa. Tất nhiên, việc đó hoàn toàn là một sai lầm. Dài-hạn nghĩa là tầm xa thực sự để đạt được mục đích, nhưng nếu bạn không tận hưởng những mục đích đó trong hiện tại, khi bạn đạt được chúng, và nếu bạn không cảm nhận những vui thú trong khoảnh khắc, trong quá trình, thì cả cuộc đời bạn đã sống một cách kìm kẹp, trì hoãn một sự bùng phát cảm xúc của cuộc đời trước khi chết. Cuộc sống là một quá trình và bạn phải có thời gian để tận hưởng mỗi ngày, hoặc ít nhất tận hưởng mỗi tuần, mỗi khoảnh khắc, và tại hiện tại, bạn phải điều khiển cuộc sống của bạn để cho các nguyên tắc hướng dẫn bạn và các mục tiêu tối cao của bạn; và các mục tiêu thực hiện của bạn là dài hạn nhưng trong quá trình thực hiện chúng, bạn có thời gian và tập trung vào những khoảnh khắc tận hưởng, và rồi nên có nhiều hoạt động mà bạn tham gia vào mà bạn có thể nói “đây không phải là phương thức đi đến những thứ nằm ở xa xôi mà là điều thú vị của khoảnh khắc này”. Làm tình là một ví dụ rõ rệt. Chơi bóng rổ, uống rượu, ngồi lại và suy tưởng về những thành tựu của mình chẳng hạn, tôi không cần phải liệt kê tất cả những thứ này để nói là cuộc đời của bạn nên có nhiều khoảnh khắc tận hưởng, không thì, như tôi đã nói, bạn sẽ chỉ đang trì hoãn tất cả mục tiêu của cuộc đời mà thôi. Không có điểm nào mâu thuẫn giữa dài-hạn và ngắn- hạn cả. Bạn không cần phải đo đếm chúng nếu như bạn định nghĩa các nguyên tắc dài hạn một cách lý trí. Cần phải có những điểm dừng và các bước đạt đến thành tựu và cả những niềm vui có thể có trong quá trình đó. Thực tế thì, việc làm theo những nguyên tắc như vậy sẽ giúp bạn có thêm nhiều niềm vui trong những khoảnh khắc ngắn hạn, những sự tận hưởng một cách tự nguyện. Vậy nên, cái này là phương tiện của cái khác, chúng bổ trợ cho nhau. Nhưng mà điều đó là có thể, tôi chỉ muốn làm rõ rằng, việc nhiệt tình trì hoãn cả cuộc sống của bạn cho dài-hạn là một sai lầm. Nói đến điều này, chúng ta hãy chọn những nguyên tắc nhấn mạnh vào vấn đề của sự dài hạn. Chúng ta giải thích vì sao những nguyên tắc là phương tiện của con người nhằm xác định ‘làm thế nào để đạt được mục tiêu dài hạn’. Tại sao nguyên tắc lại phải là tuyệt đối? Và chúng ta đã đưa ra ví dụ về nguyên tắc lý trí so với Chủ nghĩa xúc cảm.

Bây giờ thì, tôi muốn áp dụng những gì chúng ta đã học vào một điểm đức hạnh khác, đó là đức hạnh về sự-toàn-vẹn. Và đó là điểm mà cá nhân tôi đã tìm hiểu triệt để, vấn đề của nguyên tắc đạo đức ở một mức độ nào đó mà tôi sẽ đề cập khi chúng ta nói đến điểm đó. Giờ thì, tôi sẽ không để các bạn nghĩ về sự toàn vẹn nói chung, tôi mặc định các bạn biết là đó là đạo đức của việc trung thành trong hành động đối với niềm tin và giá trị của các bạn. Nó đến từ một thuật ngữ - Tích-hợp – Sự-toàn-vẹn với tư cách một con người trọn vẹn, một đơn vị, người mà không bị phân chia thành một phần thì thuyết giáo, một phần thì hành động, một người mà hành động đi đôi với những gì anh ta tin tưởng. Ngày nay, sự phản đối chủ yếu đối với Sự-toàn-vẹn đến từ một nhóm tôn thờ Thỏa-hiệp theo xu hướng hiện đại: Ý tưởng cho rằng không có gì là tối thượng, bạn không cần phải theo sát những nguyên tắc trong mâu thuẫn với người khác, thỏa hiệp là giải pháp. Thỏa hiệp tất nhiên là sự điều chỉnh những vấn đề mâu thuẫn bằng việc nhượng bộ lẫn nhau. Và tôi muốn nắm lấy quan điểm về thỏa hiệp và xem thử nó dẫn chúng ta đi đến đâu. Giờ thì, điểm đầu tiên chúng ta đang nói là về việc thỏa hiệp trong sự liên quan đến nguyên tắc khi chúng ta nói về những hành vi vô đạo đức, không phải là nói về thỏa hiệp trong tương quan với các chi tiết hay vật cụ thể. Và tôi sẽ nhắc lại cho các bạn ví dụ kinh điển của Ayn Rand về sự khác nhau của hai loại thỏa hiệp này. Ví dụ mà bà đưa ra là một thỏa hiệp hợp pháp hoàn hảo không bao hàm những điểm phi đạo đức, đó là, hai thương nhân đã đồng ý về việc bắt buộc phải chi trả cho người bán nhưng lại không đồng ý những điểm về giá trị tài chính. Và họ giải quyết mâu thuẫn bằng việc tìm ra một mức giá trung gian mà đôi bên chấp nhận được. Nó ngược lại với ví dụ về một thỏa hiệp có liên quan đạo đức khác: Một người đang xử lý vấn đề với một “khách hàng” (trong ngoặc nhé), người này đơn giản là muốn nhanh tay lấy hàng hóa anh ta muốn nhưng không trả tiền. Sự điều chỉnh, đó là những gì tạo thành sự thỏa hiệp sau đó, bao gồm người chủ đồng ý đưa cho tên trộm, hay “khách hàng”, miễn phí, chỉ vài phần hàng hóa mà anh ta đến ăn trộm. Đây là điểm thỏa hiệp có liên quan đến nguyên tắc và theo quan sát của bà Ayn Rand thì nó có nghĩa là “sự đầu hàng hoàn toàn, công nhận quyền của những tên trộm đối với tài sản của người khác”. Một khi bạn đã thực hiện loại nhượng bộ này, bạn tự khiến mình trở nên bất lực bởi vì bạn không chỉ từ bỏ một phần tài sản, mà còn từ bỏ bất kỳ quyền yêu cầu bồi thường, từ bỏ nguyên tắc sở hữu. Tên trộm, do vậy, chiếm thế thượng phong trong mối liên hệ này, và có quyền quyết định tương lai của nó. Hắn ta có được lợi thế không thể tưởng tượng được, với tư cách một kẻ có đạo đức. Cái hắn ta nhận được trong thỏa hiệp này chỉ đơn thuần là một thứ cụ thể, hắn ta tạm thời từ bỏ một phần chiến lợi nào đó, tạm thời thôi bởi vì bây giờ, không còn cách nào có thể ngăn cản hắn khi hắn quay lại với một yêu cầu mới vào ngày mai. Loại phân tích tương tự như vậy có thể được áp dụng cho mọi trường hợp thỏa hiệp đạo đức. Và đây là một số các ví dụ khác về sự đa dạng hóa mức độ tương tự cho các bạn, nhưng chúng đều thể hiện cùng một điểm: Hãy lấy ví dụ một đất nước với các biện pháp để tự bảo vệ mình, rằng họ thỏa hiệp đầu hàng nhưng dưới danh nghĩa là phản ứng linh hoạt với một số yêu cầu tùy tiện của những kẻ xâm lược, không phải thỏa hiệp tất cả mà là một số trong đó. Như vậy, rõ ràng họ lại mời chào càng nhiều yêu sách hơn nữa, mà rồi sẽ được đáp ứng bởi nhiều sự linh hoạt hơn nữa. Kiểu đất nước như vậy đã thất bại ngay từ đầu, giả sử là nó sẽ không thay đổi chính sách cốt yếu của mình ở một thời điểm nào đó, và việc đó không xảy ra quá trễ trong tiến trình. Điểm chính ở đây là bằng việc thừa nhận tính đúng đắn của “một số kẻ xâm lược” cho dù chỉ một chút thôi, nhưng nó đã bỏ đi nguyên tắc tự vệ của mình và nguyên tắc chủ quyền của chính mình, từ đó, khiến nó không còn nền tảng đạo đức để đối chọi lại với những phá hoại tiếp theo. Hoặc lấy một ví dụ về chính sách đối nội đi, thay vì chính sách đối ngoại: Giả sử bạn chấp nhận “quan điểm ôn hòa” rằng quyền cá nhân có thể được kiểm soát bởi chính phủ nếu như phúc lợi xã hội yêu cầu, không phải luôn luôn thế, tôi không có ý định từ bỏ nó hoàn toàn, chỉ khi phúc lợi xã hội yêu cầu, giống như những gì mà nhóm ôn hòa, tự do và bảo thủ vẫn nói. Trong hoàn cảnh như thế, nếu bạn theo hướng tiếp cận đó, bạn đã đồng ý rằng quyền cá nhân không phải bất khả xâm phạm, rằng phúc lợi xã hội được đặt trên quyền đó; nói cách khác, mỗi cá nhân chúng ta thực hiện những đặc quyền nào đó không phải dựa trên quyền mà dựa trên sự cho phép của xã hội do chính phủ đại diện.

Để tôi lấy một ví dụ khác. Hãy tưởng tượng một thẩm phán trên băng ghế bồi thẩm đoàn nói rằng: Tôi không muốn hướng tới những trường hợp cá biệt trong mối quan hệ với công bằng, mà tất nhiên tôi cũng không muốn đi đến các cá biệt trong trường hợp bất công. Và các sếp của ông ta đòi hỏi ông đồng ý với họ trong một số điều nhất định, cho nên, ông ta đã quyết định thay đổi công lý bằng một “liều thuốc” thiên vị chính trị. Vậy thì, ngay khi làm thế ông ấy đã bỏ đi nguyên tắc công lý, bởi vì công lý không thể dung túng cho một hành động bất công đơn lẻ. Thứ gì đang tạo nên điều lệ nhượng bộ của vị thẩm phán này, thứ gì đang quyết định phán quyết của ông ta? Đó là nguyên tắc của sự thiên vị. Sự thiên vị cho phép ông ta trao quyền cho bất kỳ thứ gì có thể làm hài lòng sếp của ông, bao gồm cả phán quyết tệ hại, chỉ cần điều đó khiến cho sếp của ông ta hài lòng. Vậy thì, một phán quyết công bằng cũng có thể tồn tại trong một phiên tòa như vậy nhưng mà chỉ ngẫu nhiên thôi. Bản chất của hệ thống là từ bỏ sự công bằng, ủng hộ cho hội nhóm. Lần trước, chúng ta đã hiểu rằng việc nỗ lực để đạt được một thỏa hiệp giữa lý trí và chủ nghĩa cảm xúc có nghĩa là sự chối bỏ hoàn toàn lý trí và là sự tôn thờ đối với các nguyên tắc của chủ nghĩa xúc cảm. Ví dụ này chỉ ra cho các bạn một điều, đó là những tranh luận tương tự như vậy cũng áp dụng, như là sự logic phải có, đối với bất kể thỏa hiệp đạo đức nào, bất kể bạn chấp nhận nguyên tắc lý trí một cách triệt để hay bạn từ chối nó một trăm phần trăm. Giờ thì, hãy cùng làm rõ khái niệm trừu tượng điều khiển ý kiến này. Không có “vành đai trắng” giữa các nguyên tắc đối lập nhau. Không có sự trung dung không bị tác động bởi một trong hai hoặc không được định hình như nhau. Sự thật là con người không thể đơn giản mà thoát khỏi quy luật của một loại nguyên tắc nào đó, bởi vì con người có tính nhận thức và bạn không thể hành động mà không có sự hướng dẫn của một số tổng thể các nguyên tắc nền tảng. Đậy chính là vấn đề của việc chúng ta không thể xử lý được khối lượng dữ liệu khổng lồ, chúng ta sẽ chỉ có thể mù quáng mà hướng về nó, tâm trí sẽ bị quá tải - nhận thức luận “Con quạ” 1 – chúng ta không thể bao hàm được nó một cách lí trí mà không cần đến một số loại nguyên tắc, trong nhận thức hay tiềm thức, và chúng ta cũng chưa được hình thành hay được định sẵn là hoạt động tự động cho nên, chúng ta sẽ chỉ ngừng hoạt động hết tất cả mà thôi. Vậy nên, bạn không thể nào tránh khỏi một loại nguyên tắc nào đó. Mặt khác, bạn cũng phải hành động một cách chú tâm đối với một số loại nguyên tắc. Nhưng mà điểm mấu chốt ở đây tương đương trong nền kinh tế, chỉ đơn giản như trong một nền kinh tế, đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt, trong đạo đức học những nguyên tắc xấu sẽ xua đuổi những cái tốt. Nếu bạn cố gắng kết hợp một nguyên tắc hợp lý với phản đề của nó, hành động đó ngay lâp tức sẽ loại bỏ nguyên tắc hợp lý và xây dựng nên một nguyên tắc phi lý. Nói cách khác, nếu bạn cố gắng để thương lượng với ác quỷ bạn sẽ thua 100%. Tôi trích dẫn từ Ayn Rand ở đây: “Trong bất kỳ sự thỏa hiệp nào giữa thức ăn và chất độc, chỉ có cái chết mới có thể chiến thắng, và trong bất kỳ thỏa hiệp nào giữa thiện và ác, chỉ có cái ác mới có thể sinh lợi”.

2. Vì sao chỉ có cái ác mới có thể hưởng lợi từ sự thỏa hiệp đạo đức

Bây giờ thì, đây là điểm mà tôi đã bị lòng vòng khi cố gắng giải thích lý do sâu xa của nó. Đối với tôi, đây là một điểm bước ngoặt, bởi vì tôi đã tự hỏi mình: “Thức ăn và chất độc là một phép loại suy, nhưng tại sao nó lại ở cấp độ nguyên tắc đạo đức? Nếu bạn cố gắng thỏa hiệp giữa hai nguyên tắc này, cái ác giành chiến thắng, tại sao lại phải như vậy?” Dù sao thì cái thiện vẫn mạnh mẽ hơn cái ác, đây là quá trình suy nghĩ của tôi: vậy thì tại sao, về lý thuyết, bạn lại không thể kết hợp một số các yếu tố của cái ác với cái thiện và cuối cùng thì cái thiện vẫn sẽ vượt trội hơn cái ác? Chuyện này khiến cái ác có vẻ như là cực kỳ có uy lực, rằng nếu như bạn chấp nhận chỉ một giọt của cái ác thôi thì cái thiện sẽ bị quét sạch đi. Và khi xem xét nhiều ví dụ khác nhau, các bạn thấy rằng có một sự thiếu cân xứng, trên bề mặt trông như là các cán cân được đẩy nhẹ về phía của cái ác. Ví dụ, Mỹ và Nga trên bàn thương lượng; Nga, rõ ràng, hoàn toàn vui vẻ để thỏa hiệp và còn hưởng lợi từ các thỏa hiệp. Họ đến với bàn thương lượng với tất cả các loại đòi hỏi khó tin được, bạn biết đấy, để cởi bỏ vũ khí hoàn toàn hay là sơ tán toàn bộ Châu Âu, hay là trao lại các Bang, phía Tây của Mississipi hay là bất kể thứ gì, thì họ cũng rất vui vẻ để thỏa hiệp. Mặt khác, Mỹ trong quá trình đó lại phải vô cùng cẩn thận và thận trọng. Nếu họ nhượng bộ một điểm, ngay lập tức các quá trình bắt đầu đảo ngược hoàn toàn. Hay là điều tương tự cũng đúng, tôi đang tự nghĩ là, điều tương tự cũng đúng trong trường hợp một thương nhân và một quan chức, khi anh ta được phỏng vấn, bạn biết đấy, và họ cố gắng đạt được thỏa thuận, viên quan chức như là ngài Thompson2 thì đặc biệt thân thiện, anh ta sẵn sàng tạo ra bất kỳ loại thỏa hiệp nào trên thế giới. Anh ta đến cùng các yêu cầu và nếu như bạn không muốn đồng ý với chúng, thì ‘được chúng ta thương lượng nào!’ Cách ngài Thompson vui vẻ thỏa thuận với Galt3 , nhưng nếu thương nhân bước vào quá trình đó và thừa nhận ở bước đầu, “được rồi anh có thể kiểm soát lợi nhuận của tôi nhưng không được kiểm soát lương của tôi”, hay là “anh có thể kiểm soát giá cả của tôi vào Thứ Ba nhưng không phải Thứ Năm”, thì anh thương nhân sẽ mất kiểm soát. Điều này có tính đúng đắn xuyên suốt. Nếu các bạn xem thêm nhiều ví dụ khác nhau nữa và trông có vẻ là ở bề nổi thì cái ác có uy lực hơn cái thiện, như là cái ác có thể hoàn toàn vô tư lự, tự tin, bạn biết đấy, thương lượng và xuất hiện thơm như hoa hồng trong khi cái thiện thì phải hết sức cẩn trọng và trông có vẻ như trên bề mặt thì nó rất yếu, đến nỗi không thể chịu được một mẩu nhỏ của cái ác. Và tôi đã bị mắc lại ở đó trong suốt một giai đoạn dài cho đến khi tôi nắm được vấn đề và đối với tôi đó là sự tích hợp cuối cùng cần thiết để nắm bắt được lý do tại sao nguyên tắc thực sự không thể thiếu được. Và tôi muốn đọc, bạn biết đấy, một vài trang sách mà ở đó, cuối cùng thì tôi cũng đã trau chuốt được vấn đề này. Nếu chỉ tò mò thôi thì các bạn sẽ nói gì trong câu trả lời cho điều này: Tại sao dường như tồn tại sự khác biệt: cái ác thì không gặp vấn đề gì với việc thỏa hiệp như cái thiện? Vâng xin mời. [Sinh viên phát biểu]. Bạn đang đi đúng đường rồi đấy, bạn nói là cái ác luôn giữ vị trí hưởng lợi và cái thiện chỉ ở vị trí thua, điều đó chắc chắn rất liên quan, nhưng chúng ta cần phải đi sâu hơn chút nữa, bạn chắc chắn là đã đi trước tôi xa rồi đấy bởi vì tôi đã mất nhiều thời gian để nắm được điểm đó lắm. Vâng? [Sinh viên phát biểu]. Bạn nói là cái ác không có gì để cho đi cả, điều này cũng gọi là trên đường đến giải pháp rồi đấy, và sự thật thì nếu các bạn hiểu sâu về nó, đó là giải pháp. Nhưng mà tôi nghĩ, chúng ta có thể làm điều này, à, tôi thấy là các bạn đã vượt trước tôi rồi đấy. Cho nên, tôi sẽ không gây trở ngại cho bạn bằng những thứ này như là chúng đã ngăn trở tôi, nhưng hãy để tôi nói cho các bạn nghe một vài trang sách tôi đã viết để trả lời cho câu hỏi này. Lý do... tôi sẽ diễn giải lại đoạn này bởi vì nếu mà đọc theo đúng như nó được viết thì sẽ hơi đi xa hơn vấn đề bây giờ. Okay. Lý do mà cái ác chiến thắng trong bất kỳ thỏa hiệp nào, không phải vì nó có nhiều sức mạnh hơn cái thiện. Ngược lại, lý do là vì cái ác không mạnh bằng, do đó, nó phải tồn tại như là một vật ký sinh trùng của cái thiện. Giờ, hãy nói sâu hơn về điểm này, cái thiện ở đây có nghĩa là phần hợp lý tương thích với những nhu cầu của thực tại, và sau đó, nuôi dưỡng cuộc sống con người. Vậy, một chính sách được định rõ, tương thích với thực tại và nuôi dưỡng cuộc sống, rõ ràng là phải được ủng hộ và đưa vào ứng dụng với sự nhất quán hoàn toàn. Nó không cần thu nhặt các lợi thế từ phía phản đề của nó. Tôi trích dẫn một câu của Rand: “Sự hợp lý không được lợi gì từ sự phi lý ngoại trừ một phần của những thất bại và tội ác”. Giờ thì, tiếp tục với ví dụ mà chúng ta đang sử dụng: Chủ sở hữu tài sản không cần sự trợ giúp của tên trộm đang cố gắng cướp của anh ta; một đất nước tự do cũng không cần sự tấn công của một kẻ xâm lược; một cá nhân đang tìm cách duy trì sự sống cho bản thân không cần đến nhà tù của tên độc tài, hay là Ban Tư pháp không hưởng lợi gì từ sự biến chất bằng việc hối lộ các thủ trưởng. Về bản chất tự nhiên, cái thiện chỉ thua khi thực hiện giao dịch với cái ác, nhưng lúc này thì cái ác thực sự ở vị trí đối nghịch. Cái ác ở đây là cái phi lý, mâu thuẫn với cái sự kiện ở thực tại và do đó, nó đe dọa cuộc sống con người. Một chính sách theo kiểu này chắc chắn không thể được thực hiện nhất quán được. Bạn không thể làm theo nó tuyệt đối được. Nếu làm theo thì sao? Nó dẫn đến sự sụp đổ ngay lập tức. Cái ác vì thế mà phải phụ thuộc vào yếu tố nào đó của cái tốt. Nó chỉ có thể tồn tại như là sự ngoại lệ đối với đạo đức của những gì nó đang phụ thuộc vào. Nó chỉ có thể tồn tại như là cái-loại-ra đối với những đức tính tốt mà nó đang phụ thuộc vào. Nó thực sự có tính ký sinh từ trong bản chất, và tôi lại trích dẫn từ Rand: “Cái phi lý có tất cả mọi thứ để hưởng lợi từ cái hợp lý, một phần những thành tựu và giá trị của cái hợp lý”. Áp dụng vào ví dụ của chúng ta: một nhà sản xuất thì không cần đến một tên trộm nhưng một tên trộm thì cần đến nhà sản xuất mà hắn đang chọn làm con mồi. Và tương tự những quốc-gia-xâm-lược cần đất nước tự do hơn nữa, nơi họ không tìm kiếm sự hủy diệt mà để cai trị, chiếm lĩnh và cướp bóc. Và hãy quan sát những vấn đề trong nước như là không có người theo xu hướng tập thể nào muốn trấn áp hoàn toàn tất cả các hành động tự khẳng định cá nhân, họ cần con người có thể tư duy và hành động trong một chừng mực nào đó, không thì hệ thống của họ sẽ sụp đổ. Thời điểm gần nhất mà họ cố gắng đàn áp toàn bộ các hành động như vậy, mỗi hành vi cá nhân, là trại tập trung, và tất nhiên, ở đó, họ không yêu cầu các hành vi phục vụ cho sự sống còn của đất nước. Và không có thủ lĩnh chính trị nào sẽ tìm cách đảo ngược toàn bộ phán quyết hợp lí cả, ngược lại, tinh thần của thủ lĩnh đó sẽ phụ thuộc vào sự hiện diện của công lý, để cho mọi người có thể tôn trọng và tuân theo tòa án, để rồi, khi ông ta muốn, người thủ lĩnh có thể can thiệp phía sau hậu trường và theo đó thực hiện các trao đổi. Nói cách khác, điều mấu chốt là cái ác không nhất quán và cũng không muốn nhất quán. Điều đó đối với tôi chính là sự nắm bắt mấu chốt. Những gì mà cái ác mong muốn trong bản chất của nó chính là đôi lúc thoát khỏi việc thi hành quá trình duy trì sự sống, ngắn hạn, ngoài ngữ cảnh, theo ý thích bất chợt. Chỉ vậy thôi. Nó muốn và để đạt được điều đó, tất cả những gì nó cần là một sự nhượng bộ của cái tốt, được gọi là sự nhượng bộ về nguyên tắc liên quan, một sự nhượng bộ mà cái ác trở nên đúng đắn (trong ngoặc) “đôi lúc”. Sự thỏa hiệp như vậy là điều lệ Tự do của cái ác bởi vì từ đó, cái phi lý được tự do tạo dựng các điều khoản và lan truyền bởi sự tùy hứng cho đến khi cái thiện hay con người bị tiêu diệt. Vậy, sức mạnh của cái thiện rất to lớn nhưng nó phụ thuộc hoàn toàn vào tính nhất quán. Vì vậy, cái thiện luôn là vấn đề của việc: hoặc tất cả hoặc không gì cả, hoặc đen hoặc trắng, và đó là lý do tại sao cái ác về bản chất, một phần, thỉnh thoảng, đôi khi, là “màu xám”. Hãy quan sát và các bạn có thể nhân cấp chúng lên bởi vì tôi đã tìm được rất nhiều ví dụ về nó khi suy nghĩ về vấn đề này. Khi bạn gọi một ai đó là kẻ nói dối, nếu tôi nói ‘bạn là kẻ nói dối’, theo cách nói thông dụng, điều này thậm chí còn vượt ra ngoài bất cứ ai có triết lý khoa trương nữa, đó không phải là người đó luôn cố ý nói dối, không có sinh vật nào như vậy cả; nếu như thuật ngữ này áp dụng với bạn thì, một vài lần nói dối trơ trẽn là đủ rồi. Cũng giống như, một kẻ đạo đức giả không phải là kẻ luôn phản bội mọi ý tưởng của chính hắn; cũng giống như, kẻ trộm không phải kẻ sẽ ăn cắp của bất kỳ ai mà hắn gặp; cũng giống như, một người là kẻ giết người khi hắn ta tôn trọng mạng sống con người 99,9% số lần, và chỉ thỉnh thoảng bán mình cho Mafia với tư cách là kẻ làm theo mệnh lệnh. Điều này cũng áp dụng cho mọi loại tham nhũng. Là cái ác, “chỉ đôi lúc” (trong ngoặc) cũng là trở thành cái ác. Trở thành cái thiện nghĩa là thiện mọi lúc, nói cách khác đây là vấn đề của tính nhất quán, nguyên tắc hợp lý mà không bao hàm bất kỳ ngoại lệ nào. Nhưng đây là lý do sâu xa hơn cho việc tại sao chủ nghĩa Khách quan lại rất đối nghịch với ý niệm về sự thỏa hiệp trong khía cạnh không nguyên tắc, vốn dĩ là sự sùng bái đang thống lĩnh xã hội chúng ta ngày nay. Những người bênh vực cho sự thỏa hiệp sẽ đạt đến cùng một kết quả cuối cùng rằng họ đang đạt được thêm nhiều hơn nữa, thật sự là vậy, nếu như họ đơn thuần bỏ đi sự mập mờ và nói thẳng thừng: “Phải, chúng tôi là những người tôn thờ cái ác, bỏ đi cái thiện và thực hành cái ác”, thì cái ác sẽ rất vui vẻ để thỏa hiệp. Đối với cái ác, thỏa hiệp đồng nghĩa với chiến thắng hoàn toàn, loại chiến thắng duy nhất nó có thể đạt được, gọi là chiến thắng của cướp bóc, phá hoại và hủy diệt triệt để cái thiện.

Tóm lại, một nguyên tắc nào đó luôn luôn chiến thắng trong hành vi con người. Chúng ta đơn giản không thể thoát khỏi sức mạnh của nguyên tắc. Và sự thật là, nếu như cái đúng đắn mà không phải là điều tuyệt đối hơn cái khác, thì cái xấu sẽ chiếm lấy bởi vì bản chất của cái đúng là sự nhất quán; bản chất của cái sai trong ngữ cảnh này là sự trái ngược của tính nhất quán, chúng cần phải thiếu nhất quán. Cho nên, nếu như bạn hỏi tôi: “Vậy thì, có phải ông nói rằng tất cả con người đều có nguyên tắc?” và bạn phải tạo ra sự phân biệt như học giả nói. Trong một số hoàn cảnh, rõ ràng là, việc tất cả con người có nguyên tắc là không đúng. Tại sao lại cần có một lớp học về nguyên tắc nếu như đó là điều không tránh khỏi? Rõ ràng là, có nhiều trường hợp người ta không thể khái niệm hóa được, không tư duy được, hạn-hẹp-tủn-mủn 4 , họ không được dẫn dắt bởi bất kỳ nguyên tắc nào, và trong tình huống này, trong tình huống như vậy, không phải tất cả con người đều có nguyên tắc. Trở nên có nguyên tắc theo cách này là một thành tựu, không phải là một trạng thái tinh thần không tránh khỏi. Nhưng có tình huống khác rằng tất cả con người phải có và thực hiện theo các nguyên tắc, cho dù họ muốn hay không hoặc họ có biết hay không, đó là tình huống mà việc trở nên có khái niệm đơn giản không thể tránh khỏi sự tích hợp. Không thể tránh được loại hướng dẫn nhất định, thậm chí nếu người ta làm theo cảm xúc và không rõ chúng đến từ đâu, chúng phải đến từ một chỗ nào đó, có nghĩa là một vài loại đánh giá và kết luận có tính khái niệm, lý tưởng hóa. Và theo cách đó, bạn không thể trốn thoát được sự tích hợp mà chúng ta miêu tả với tư cách một nguyên tắc. Điểm khác biệt mấu chốt giữa những nguyên tắc hợp lý được nắm giữ một cách có nhận thức và những nguyên tắc phi lý được nắm giữ trong tiềm thức: Nếu bạn không có nguyên tắc trong địa hạt nhận thức, bạn “bỏ cuộc”, bạn không định nghĩa và không gắn bó tuyệt đối đối với những nguyên tắc hợp lý, bạn sẽ có nguyên tắc theo hướng xấu, thuộc về tiềm thức; cái ác sẽ là sự hướng dẫn của bạn. Nói cách khác, bạn không thể thoát khỏi sự tích hợp nhưng bạn có thể thoát khỏi sự tích hợp hợp lý, có phương pháp, nhất quán, cũng có nghĩa là, bạn có thể thoát khỏi cái thiện, và từ đó không chống chọi được sự rủi ro, sự tùy hứng, sự không nhất quán, nói cách khác là những thứ phi lý, cái ác. Vậy thì, chúng ta quay lại luận điểm rằng không thể đạt đến cái thiện một cách tự động, không để tâm, bởi sự ngẫu nhiên hay những ham muốn nhất thời. Theo cách đó, chúng ta chỉ đạt được sự thiếu nhất quán, phi-thực-tại và sự hủy diệt toàn diện mà thôi. Nói cách khác, để tóm tắt toàn bộ vấn đề này, nếu bạn bỏ qua các nguyên tắc trong địa hạt của ý thức, bạn sẽ bị rơi vào những nguyên tắc hủy diệt một cách vô ý thức, và do đó, rõ ràng là, lý trí và logic chỉ đưa đến một sự lựa chọn và đó là việc hành động theo những nguyên tắc hợp lý, nhất quán được nắm giữ như điều tuyệt đối. Và tôi nghĩ rằng, đó là lý do sâu xa nhất của việc tại sao bất kỳ ý tưởng nửa-vời nào đó đều không có giá trị. Về bản chất, đó là sự tấn công đối với những yêu cầu của một thực thể có tính khái niệm và về bản chất, nó bắt bạn phải chịu những chiều hướng tồi tệ nhất có thể xảy ra. Tôi không biết, rằng điều đó đã trở nên rõ ràng với tôi so với việc nắm bắt được điểm này trước đây. Vậy, điểm cốt yếu của đạo đức đang áp dụng những nhận thức về vai trò của nguyên tắc đối với mỗi một vấn đề đạo đức chủ đạo, theo tôi, đó là điểm mấu chốt của những gì con người không thật sự hiểu về đạo đức. Và cũng tồn tại rất nhiều sự méo mó ghê gớm bởi vì con người không hiểu sự cần thiết của nguyên tắc, và để giải thích cho điều này, bây giờ, tôi muốn đi đến nội dung về đức hạnh trung thực và cho các bạn thấy một cách khác, trong đó tất cả mọi thứ đều quay lại vấn đề của nguyên tắc.

3. Sự trung thực: không có điều gì có giá trị nếu đạt được bằng sự gian lận

Tôi sẽ bắt đầu nói về Đức hạnh Trung thực bằng việc trích dẫn một luận điểm từ bà Rand mà tôi biết là nhiều người cảm thấy rất khó hiểu, chính xác hơn thì, họ đơn giản không thể hiểu được làm sao điều đó có thể thực sự được xem là thật, bà nói: Sự trung thực là “việc thừa nhận sự việc rằng điều-không-thực là không có thực và không thể có giá trị gì cả”, hãy nghe tiếp vế sau, “cả tình yêu hay danh vọng hay tiền bạc đều không phải là giá trị nếu như đạt được bằng sự gian lận”. Giờ thì, điều này lại kéo chúng ta về thời điểm giới thiệu của bài giảng này khi tôi nói là có người hỏi rằng “Tôi có thể hiểu được tại sao ông nói rằng ăn trộm một triệu đô la là sai, nhưng làm sao có thể nói như vậy nếu như ông làm điều đó, một triệu đô ít nhất sẽ không là giá trị, nó có thể giúp ta đi học, có thể cho ta học nâng cao về chủ nghĩa Khách quan, ta có thể mua một cái xe Mercedes, có thể đi du lịch Châu Âu, có thể là quan điểm của nhà Khách quan luận là: ‘Ok, điều này là sai’, ta không nên ăn trộm bởi vì giá trị có nhiều ảnh hưởng hơn cái ác...”, đó là quan điểm đánh đổi mà tôi đã trình bày ở đầu buổi học “...nhưng mà làm sao lại có thể nói một cách chắc chắn rằng Tình yêu hay Danh vọng hay Tiền bạc đều không phải là giá trị nếu có được bằng gian lận, chẳng phải sự thật rằng nó chính là giá trị nhưng chỉ là bị vượt qua bởi các giá trị khác mà thôi?”. Ở đây, quan điểm của chủ nghĩa Khách quan hoàn toàn tùy thuộc..., và bà Rand nhận định về nó không thể chuẩn hơn được nữa. Nó không phải...nó có thể là một giá trị nhưng còn có giá trị lớn hơn, rằng nó không phải là giá trị chút nào nếu như đạt được bằng gian lận và điều này thực sự được minh họa trong Atlas5 khi Dagny6 nhận được tờ séc lớn để phản bội Galt7 và xem nó như một mẩu giấy lộn. Đây là một dạng diễn tả sự việc giàu tính kịch rằng nó không chỉ “à, những gì tôi có thể làm với nó để chống lại những người khác”, thứ đó không phải là giá trị. Giờ thì, tôi muốn đi vào một ví dụ ở đây, đây là ví dụ tôi đã đi sâu vào chi tiết để có thể tiến đến lý thuyết cuối cùng về việc tại sao điều này không phải là giá trị chút nào, và điều này cũng khiến tôi nhớ lại (nếu như các bạn có hứng thú) một trong những hội thoại triết học của tôi với Ayn Rand năm 1952 liên quan đến “Tại sao bạn nên trung thực?”. Tôi có liên hệ đến chi tiết đó trong buổi nói chuyện của tôi ở Ford Hall về chủ đề này, giờ tôi muốn đưa cho các bạn đại ý của nó. Đó là khi bà Rand yêu cầu tôi hãy tạo ra một ví dụ hợp lý về sự không trung thực và giải thích nó. Cho nên, tôi đã đưa ra vấn đề theo cách này. Đây là loại ví dụ cơ bản. Tôi không nhớ được liệu đây có phải ví dụ mà tôi thật sự đã dùng hay không vì tôi không thể nhớ được những chi tiết từ năm 52 nhưng tôi nhớ chính xác loại ví dụ và những gì tôi đã đưa ra để phân tích, chính xác là những gì bà ấy đã nói với tôi và thậm chí còn chi tiết tỉ mỉ hơn những gì tôi đang đưa cho các bạn ở đây. Bởi vì bà ấy tin vào việc nghiền ngẫm triệt để một thứ cụ thể, rồi bạn về nhà và làm thứ khác. “Tại sao người ta lại hỏi: liệu một người không nên thực hiện vụ lừa đảo có kế hoạch chặt chẽ, ví dụ, bán cổ phiếu ở một mỏ vàng giả đi chẳng hạn, rồi nhận tiền mặt, bỏ đi vì những phần không biết, tự do hưởng thụ tất cả những lợi ích do tiền mang lại mà không phải làm việc. Đó là vấn đề. Chúng ta hãy bắt đầu...” bà ấy nói với tôi “.... cụ thể hóa điều dối trá mà hành vi này bao gồm. Hãy từng bước xem thử điều đó có ý nghĩa gì”. Kẻ lừa đảo trong trường hợp này sẽ phải nói dối, ví dụ, về những thứ như là địa điểm, những phát hiện và lịch sử của mỏ. Để tránh bị phát hiện, cho là hắn ta đặt nó ở một đất nước xa xôi đi. Hắn ta sẽ phải nói dối về số lượng công nhân làm việc và quy mô vận hành mỏ, điều không hề tồn tại, về sản lượng và chất lượng của những gì khai thác được từ mỏ, có thể đoán được là hắn sẽ trình bày cho các nhà đầu tư một vài loại bằng chứng cho thấy mỏ đã được đăng ký hợp lệ, mà tất nhiên đó là giả, và rằng phiếu yêu cầu được chuẩn bị khéo léo, điều này lại dấy lên câu hỏi: Liệu có phải hắn ta ngụy tạo giấy tờ từ một công ty thật hay là anh ta ngụy tạo cả công ty đó? Hắn ta sẽ phải nói dối về các bằng chứng cho thấy chính quyền nước ngoài có liên quan, và vẫn còn tán thành công ty này, nếu như ai đó có hỏi. Và tất nhiên, hắn ta sẽ phải nói dối trắng trợn về món lợi béo bở mà các nhà đầu tư có thể hy vọng tới, dựa trên đánh giá điều kiện thị trường hiện tại và dự báo kinh tế triển vọng nhất. Thêm vào đó, nếu như có ai đó hỏi, hắn có thể phải nói dối về danh tính của người hợp tác và những nhà đầu tư khác, dối về lý lịch và học vấn của hắn, dối về người giới thiệu, rồi hắn ta đạt được vấn đề; hắn có người đồng mưu, và nói dối với cả họ luôn, vì sợ phải tin tưởng họ? Hắn phải lừa ngân hàng, ví dụ như khi hắn nộp tiền séc của các nạn nhân vào đó? Lừa bạn bè trước khi hắn biến mất để không bị theo vết, và giả sử như hắn bắt đầu một cuộc đời mới, thì hắn lừa những người mới quen về việc đã từng sống ở đâu, từng làm gì và kiếm tiền như thế nào, hoặc giả là nói dối để che đậy sự thật là hắn có tiền v.v...Nếu như các bạn tìm kiếm sâu hơn bạn sẽ thấy là mỗi một lời nói dối này, theo bản chất là lời nói dối, sẽ xung đột với một sự thật hoặc nhiều hơn thế, từ đó tạo nên một rủi ro bị phát hiện hoặc là phơi bày bởi bất kỳ một người nào có thể tiếp cận được với sự thật. Bất kể người nào trong ví dụ này đều có thể tình cờ hiểu biết về khai thác mỏ, hoặc là hiểu về sự phân bổ của các chất lắng bằng vàng, hoặc là về khoa học địa chất, hoặc biết về chính khu vực được cho là địa điểm mỏ, hoặc là biết về chính sách của các chính quyền nước ngoài, hoặc biết về việc đăng ký/ tài sản của các công ty khai thác mỏ, hoặc biết về điều kiện của thị trường và dự báo kinh tế, hoặc nói chung là biết sơ lược về kẻ lừa đảo đó nói chung hoặc về một điểm cụ thể, về những liên kết của người này, hoặc tiếng còi xe thông dụng của hắn hay là giọng địa phương của hắn hay thói quen tiêu xài hoặc là M.O8 của hắn. Bất kể người nào trong số này với bất kỳ loại kiến thức nào đều có thể thành mối đe dọa cần phải được xử lý bằng nhiều lời nói dối hơn nữa. Nói dối tùy thuộc vào từng cá nhân, nói dối để trao đổi dựa trên sự thiếu chú ý của một người, và rồi những lời nói dối trái ngược nhằm an toàn khỏi kiến thức đặc biệt của người đó. Và rồi đến cuối cùng, nếu như chúng ta giả sử là hắn cạn kiệt lợi lộc lừa đảo và vụ gian lận chưa bị bắt, tất cả những tiền đề đã khiến hắn thực hiện quá trình thành công, theo như hắn nghĩ, nhiều khả năng sẽ thôi thúc hắn lao vào một vụ khác liên quan đến một lô nói dối khác. Tất cả những thứ tôi cung cấp cho các bạn nãy giờ tất nhiên đơn thuần là các chi tiết thôi, có thể là không có cái nào có thể áp dụng được trong tình huống cụ thể. Triết học không thể nói cho chúng ta lời nói dối nào đối với các cá nhân sẽ có tác dụng, hay là có tác dụng với bao nhiêu, hay là hắn ta sẽ gia tăng sự sai trái nhanh đến thế nào, hay là hắn sẽ làm điều đó khéo léo hay thiếu hiệu quả cỡ nào. Triết học chỉ có thể cho chúng ta biết về nguyên tắc, vì thực tại là thống nhất, tất cả sự thật đều có liên hệ mật thiết với nhau, bước đầu tiên của sự lừa gạt sẽ đẩy các cá thể đến mâu thuẫn, không đơn thuần chỉ với một mẩu thông tin đơn độc mà với những gì nữa? - Thực tại kiểu như vậy, và đây là điểm hoàn toàn song song, thực tế nó là một ví dụ của nguyên tắc gì chúng ta thảo luận lần trước? - Sự trốn tránh đầu tiên, đẩy bạn đi đối ngược lại thực tại. Việc đó giống như kẻ buôn lậu, những cá thể không trung thực không thể hoàn toàn bao gồm cả quá trình được. Cách này hay cách khác hắn ta cũng tận tâm sáng chế ra một phạm vi phi thực tế đang phát triển, nó giống như một chiều siêu nhiên va chạm liên hồi với thế giới thực vậy. Hiện thực, do đó trở thành báo ứng của hắn, nó trở thành quả bom hẹn giờ đợi để phát nổ vào mặt hắn. Tất nhiên, có thể quả bom sẽ không nổ. Kẻ nói dối có thể sẽ thoát khỏi sức mạnh từ báo ứng sự thật của hắn và có thể là hắn sẽ thực sự trốn thoát với bất kỳ mưu đồ nào. Có thể hắn sẽ thắng một trận đấu nhưng nếu như hắn đang chiến đấu những trận khác như vậy, hắn phải thua cuộc chiến. Giờ, hãy xem xét điều gì xảy ra với tính cách của hắn trong suốt quá trình. Điều đầu tiên là ‘anh ta mất mát’, tôi không bận tâm lắm về sự hợp lý, vì hắn đã tham gia vào cuộc chiến chống lại thực tại nên chúng ta không cần thảo luận xem liệu hắn có đạo lý hay không nữa. Điều đầu tiên mà hắn ta mất, ngoài đạo lý ra, là sự độc lập. Liệu hắn có sống nhờ vào nhận thức độc lập không? Rõ ràng là không rồi. Hắn đã từ bỏ nhận thức thực tại, một phương pháp để hoạt động và rồi thay vào đó thì hắn dựa vào cái gì chứ? - Đó là khả năng thao túng các nạn nhân. Con người đối với hắn trở nên thật hơn rất nhiều so với các các yếu tố thực tại mà hắn ta vẫn ít nhận ra. Con người trở thành công cụ tồn tại của hắn, và không chỉ con người như vậy, chỉ có con người theo kiểu không đáng biểu dương, nói cách khác, tới một chừng mực nào đó thì họ rất thờ ơ, mù quáng, cả tin. Những gì mà loại người này tin và trông đợi, những gì mà họ trông đợi một cách sai lầm, cũng nhờ có hắn, đó là sức mạnh mà kẻ dối trá phải xử lý, sự xúi giục và nỗ lực để hài lòng. Tất nhiên, kẻ dối trá tự cho rằng hắn đã biến con người ta thành những con rối, nhưng sự thật là hướng đi của hắn đã biến hắn thành một kẻ thứ sinh, thành con tốt của họ và điều đó khiến hắn trở thành một kẻ phụ thuộc ở cấp thấp nhất, một kẻ phụ thuộc vào không chỉ nhận thức của người khác, vốn đã đủ tệ, mà ở đây còn là phụ thuộc vào sự vô thức. Bà Rand phát biểu rằng “loại người như vậy là kẻ ngốc, một kẻ ngốc mà nguồn giá trị của hắn là những người ngốc nghếch mà hắn đã thành công lừa gạt”. Giờ thì, chúng ta có thể sử dụng cách phân tích tương tự đối với mỗi đức hạnh đạo đức và giá trị liên quan đến kẻ lừa gạt hay kẻ nói dối. Liệu hắn có thể là một người nhất quán không? Rõ ràng là phương pháp hành động của hắn bao gồm việc gọi ra những nguyên tắc đạo đức và nỗ lực để thoát khỏi, bên ngoài ngữ cảnh lừa đảo trong khoảnh khắc. Liệu hắn có hiệu quả không? Thỉnh thoảng có thể cũng có, dù chỉ tình cờ, nhưng chính sách của hắn là sống không phải bằng công việc sáng tạo mà bằng việc lừa gạt mọi người dựa trên thành quả công việc của họ. Liệu hắn có hợp lý lẽ không? Ồ rõ ràng, mục tiêu của hắn là đạt được những thứ không cần làm mà có được từ những nạn nhân ngây thơ cho nên hắn rõ ràng là không đúng đắn. Hắn có tự tin vào bảo thân không? Ừ, không phải, nếu nghĩa của thuật ngữ này là ‘tự tin trong khả năng của một người đối với việc nắm bắt và xử lý hiện thực’. Đó là sự báo ứng của hắn. Liệu hắn có vui vẻ không? Ồ, không đâu, nếu như sự vui vẻ hàm ý về nhân cách đạo đức trong việc theo đuổi các giá trị duy lý, cũng không nếu sự vui vẻ hàm ý về sự đồng điệu với hiện thực. Liệu hắn có tự hào không? Có, hắn có thể tự hào đấy, theo một cách rất suy đồi, tự hào về khả năng lừa người khác, phá vỡ luật pháp của đời người, lừa đảo và chạy trốn thực tại, tuy nhiên, hắn không thể làm được điều đó. Vốn có một câu nói phổ biến trong những người thông thái ở thế giới cổ đại rằng “đức hạnh là một”, thực ra, một người theo trường phái Platon đã nói thế, theo đó, nó có nghĩa là lừa dối bất cứ mỗi khía cạnh nào cũng là lừa gạt trên tất cả, và điều này thì trong thâm sâu rất đúng đắn, đặc biệt trong thuyết Chủ nghĩa Khách quan nơi mà tất cả đức hạnh là khía cạnh của nguyên tắc về tính hợp lý. Kẻ không trung thực vì thế mà không chỉ nói dối, trong quá trình hắn sẽ phải phản bội mọi yêu cầu đạo lý của cuộc sống con người, và kết quả là sẽ dẫn đến sự sợ hãi, đau đớn, hủy diệt một cách có hệ thống, có phương pháp. Giờ thì, điểm cần để ý đó là liệu điều này đúng đối với từng bản chất của sự không trung thực, nói cách khác là, của nguyên tắc mà nó bao gồm, ngay cả khi kẻ lừa dối chưa bao giờ bị phát giác và tiếp tục một mớ vận may. Nếu các bạn biết Plato với tác phẩm Cộng hòa, trong đó ông đưa ví dụ về Gyges, một người nắm giữ chiến nhẫn ma thuật cho phép hắn ta tàng hình và rồi hắn tiến hành cưỡng bức, cướp bóc, nói dối v.v.., hắn có thể có mọi thứ hắn muốn và không hề bị bắt, và Plato đã đặt câu hỏi: Câu trả lời là gì? Tại sao cần phải có đạo đức? Tại sao cần phải trung thực nếu như có chiếc nhẫn của Gyges?” Và câu trả lời cơ bản của ông là ‘bạn sẽ có nhẫn của bạn trong kiếp sau’. Nhưng câu trả lời thực sự đó là kẻ báo thù cốt yếu đối với cuộc đời dối trá của bạn, hoặc nói rộng hơn là, của việc trái luân lý, không phải là những nạn nhân hay cảnh sát mà một điều bạn không thể trốn tránh, điều đó được gọi là hiện thực. Nói cách khác, trong bản chất của sự không trung thực, bạn đã bỏ đi nguyên tắc phù hợp với hiện thực. Thay vào đó bạn đã thu nạp nguyên tắc xung đột với hiện thực. Bạn đã chấp nhận một sự tuyệt giao với hiện thực và sự tuyệt giao đó hủy hoại cái thiện và đẩy bạn hướng về phía của cái ác. Do đó bạn mất đi mọi thứ.

4. Hướng tiếp cận đánh đổi với tư cách là chủ nghĩa cảm xúc

Và giờ, ngược lại với nền tảng đó, hãy cùng xem thứ được gọi là quan điểm đánh đổi về đạo đức. Điều này có lẽ khá rõ với các bạn: tại sao không có sự đánh đổi ở đây, nhưng mà hãy đi từng bước, ý tôi là, nó 100% đã mất, nhưng hãy đi từng bước để xem thử. Những người biện hộ cho quan điểm đánh đổi đạo đức nói rằng, bạn biết đấy, bạn thực hiện kế hoạch này hay là bạn lừa gạt để có được một triệu đô, một triệu đô đó có thể là giá trị thực sự đối với kẻ nói dối nhưng rồi bạn phải cân đo giữa giá trị đó và sự vô giá trị như là những người khác sẽ trả thù, bạn mất đi uy tín và cảnh sát có thể bắt được bạn, vân vân. Bạn kiểu như có một phép tính ở đây, bạn biết đấy, tôi có 10 đơn vị tốt, 15 đơn vị xấu, cho nên tôi đoán trong giai đoạn dài thì nó không đáng. Giờ thì, loại phép tính đó hoàn toàn bị Chủ nghĩa Khách quan gạt bỏ, và tôi mong là các bạn có thể thấy rằng điều này tồn tại đã lâu như là một cách tiếp cận không khách quan đối với toàn bộ chủ đề về giá trị và sự đánh giá. Tại sao một triệu đô được xem như là giá trị, ngay cả trong ngữ cảnh rằng để có được nó thì bạn phải lừa dối, lừa gạt? Hai học thuyết nào mà có thể gán giá trị cho một triệu đô bất kể phương thức đạt được nó? Chỉ có hai học thuyết có thể làm được điều đó. Một học thuyết sẽ nói rằng, ừ thì một triệu đô chỉ là một giá trị, đó là một phần của bản chất một triệu đô, nó có một cái gói nhỏ bên trong, nếu bạn xé giấy bọc thì giá trị sẽ xuất hiện bất chợt. Lý thuyết đó gọi là gì nhỉ? Thuyết nội tại 9 . Và phía khác thì nói rằng một giá trị là bất kỳ thứ gì tôi muốn trở thành một giá trị, tôi muốn một triệu đô, điều đó khiến nó thành một giá trị bởi vì tôi muốn nó, và đó là thuyết Chủ quan. Ý tưởng về loại phép tính như vậy hoàn toàn nằm ở sự lựa chọn của bạn giữa thuyết nội tại và thuyết Chủ quan. Tuy nhiên, nếu như bạn nắm giữ quan điểm khách quan về giá trị, mà nó tất nhiên là theo quan điểm Khách quan về nhận thức, toàn bộ bức tranh sẽ hoàn toàn được thay đổi. Một triệu đô tự nó không là gì cả, nó phải được đánh giá bởi chúng ta. Nó không có sự đánh giá nội tại, mà chúng ta phải đánh giá, không phải một cách chủ quan mà phải khách quan, tuân theo một tiêu chuẩn đạo đức mà, điều này tác động mạnh đến chúng ta vì chúng ta là những thực thể có tính khái niệm, từ đó dẫn đến sự cần thiết của việc sống tuân theo những nguyên tắc nhất định. Quan điểm thông thường không đưa ra cho bạn được cách nào để quyết định cả. Họ nói “hãy làm phép tính và đơn giản là quyết định dựa trên bên nào dẫn đến kết quả tốt hơn”. Làm sao bạn biết được? Hãy cho là chúng ta đặt phép tính đó lên bảng và nói là một triệu đô ở phía của cái tốt, còn bị bắt bởi cảnh sát và đi tù 5 năm là phía của cái xấu. Vậy thì quyết định thế nào? Người theo thuyết nội tại chỉ biết rằng tù tội thì xấu hơn một triệu. Làm sao anh ta biết được chứ? Ừ thì anh ta sẽ khẳng định rằng anh ta nghe thấy điều đó từ Chúa hay là từ trực giác của mình nhưng thực chất là anh ta chỉ cảm thấy thế. Thuyết Chủ quan nói “tôi chỉ cảm thấy thế”. Vậy, họ hoàn toàn không có cách nào có thể thực hiện được phép tính mà họ kiến nghị chúng ta làm. Họ đơn giản chỉ nói là hãy tạo ra một cái biểu đồ và rồi đi theo cảm giác mù quáng, hay bất kể thứ gì gợi lên trong bạn, cho nên, đây chỉ là một cách màu mè để thúc đẩy chủ nghĩa Cảm xúc. Và nếu như bạn dự định trở thành người đa cảm, tại sao lại phải lấy cớ về biểu đồ và cân đo đong đếm v.v để xóa bỏ trông cậy mạnh mẽ vào những biểu đồ như thế, cân đo tất cả ưu và nhược của nó, nhưng anh ta là một người thực sự thực dụng bởi vì anh ta nói, cách bạn cân đo chúng là việc bạn thông qua bởi cảm xúc của bạn hay là cảm xúc của xã hội. Vậy tất cả những thứ đó...một khi bạn nhìn nhận một triệu đô là giá trị, bạn xóa sạch tất cả mọi thứ. Bạn xóa sạch sự cần thiết của những nguyên tắc, bạn xóa sổ cách tiếp cận Khách quan đối với giá trị và bạn giao phó chính bạn cho chủ nghĩa Cảm xúc. Và đó là lý do vì sao ngay cả những người nỗ lực để trở nên hợp lý trong tư tưởng đạo đức đơn giản là không được tính vào đó bởi vì họ không nắm bắt được vai trò của nguyên tắc, bởi vi bên dưới đó, thì họ không nắm bắt được ý tưởng về giá trị Khách quan, bởi vì bên dưới điều đó, thì họ không nắm được sự khách quan và nhận thức. Giờ thì, các bạn thấy được tại sao chúng ta bỏ hết ý tưởng về đánh đổi, và điều còn lại là sự hoàn hảo...nó còn không phải là một phép loại suy, mà là một thứ tương tự ở lĩnh vực khác, như thể không có tuyên bố nào có thể công bố một sự thật ngoài ngữ cảnh, cho nên không vật thể nào có thể biểu thị giá trị ngoài ngữ cảnh được. Nếu các bạn muốn đánh giá bất kể một vật thể cụ thể nào hoặc một quá trình hành động, bạn muốn nói là một triệu đô thì tốt, hoặc một miếng bánh thì tốt, không phải chỉ vì vị nó ngon vì điều đó chỉ là cảm giác, mà nó thực sự tốt, nó là thứ đáng để ăn, trước khi bạn đánh giá một quá trình hành động cụ thể hoặc một vật thể cụ thể, bạn trước hết phải định nghĩa được mối quan hệ của nó trong toàn bộ ngữ cảnh đối với các nguyên tắc đạo đức mà cuộc đời con người đòi hỏi. Nếu như trong một ngữ cảnh, vật thể phù hợp với các nguyên tắc đạo đức, nói cách khác, những gì bạn phải làm để có được nó là quy trình đạo đức hoàn hảo, thì, chỉ có lúc đó, bạn mới có thể tiến hành cân đo lợi và hại, rồi bạn có thể thấy “ồ, làm điều này là hợp lý, bản thân tôi không bị dính dáng gì đến việc vô đạo đức hoặc là đi ngược lại thực tại. Giờ thì, liệu nó có đáng không, đây là những gì tôi được và đây là những gì tôi phải mất, có thể là tôi sẽ không đến lớp hôm nay vì trời đang mưa vì tôi...” tôi sẽ trở nên thiếu đạo đức nếu tôi nói thế nhưng nếu là một sinh viên thì tôi có thể nói “trời mưa nên tôi không cảm thấy muốn đến lớp cho lắm”. Tôi đã được chuẩn bị để có một phép tính nên tôi không có ý nói là việc đánh đổi lúc nào cũng là sai đối với điều được và điều mất. Ý tôi muốn nói là việc đánh đổi chỉ được áp dụng khi bạn được đồng ý trên cơ sở các nguyên tắc đạo đức rồi. Nếu như hành vi của bạn đòi hỏi bạn phải vi phạm các nguyên tắc hợp lý, nói cách khác, trong bất kỳ dạng thức nào mà nó bao gồm việc đi ngược lại với lý trí và thực tại, mà trong đó sự không trung thực chỉ là một ví dụ, thì không cần phải hỏi thêm nữa, không có sự đánh đổi nào được xem xét ở đây, không có phép tính nào diễn ra. Không có giá trị gì để đạt được ở đó cả, bởi vì chỉ có sự hủy hoại mà thôi. Và ví dụ tốt, hoàn hảo mà tôi có thể đưa ra cho các bạn về điểm này trong thuật ngữ thông dụng là ‘Liệu bạn có cân nhắc cắt đầu của mình để có được một triệu đô không, hay thậm chí một tỉ đô? Liệu bạn có cân đo những cái được ở một phía và những cái mất ở phía kia không? Hay bạn sẽ nói là tôi không thể nào xem thứ gì là đạt được cả, tôi không thể áp dụng điều này nếu như yêu cầu để đạt được nó là những kiểu mất mát như thế. Và điều hoàn toàn tương tự áp dụng đối với việc phá hoại tâm trí của bạn, điều mà chính xác bạn làm khi bạn đang suy nghĩ đến việc đi ngược lại thực tại, một sự đi ngược có chủ đích sâu sắc bởi vì bạn đã bỏ đi toàn bộ các vấn đề của nguyên tắc và do đó, bạn tự đẩy bản thân vào cuộc đời của các ác.

5. Nguyên tắc đạo đức là nguyên tắc thuộc về ngữ cảnh

Giờ thì, các bạn nên thấy được là điểm này áp dụng với tất cả hành vi của con người, rõ ràng, không đơn giản chỉ là với đức hạnh trung thực. Và ở đây, chúng ta có thể có một sự tích hợp rất tốt mà tôi nghĩ là sẽ giải thích rõ hơn cho những bạn nào có biết đến Tri thức luận của chủ nghĩa Khách quan. Trong khóa này, tôi không thảo luận việc quan điểm về sự tùy tiện theo chủ nghĩa Khách quan là đúng hay sai, tôi cũng cho là nhiều người trong số các bạn ở đây ít nhất cũng biết điểm đó, đó là, nếu một ai đó phát biểu ngẫu hứng tùy tiện, chỉ một ý tưởng phi đạo lý chợt nảy ra mà không có ý định sử dụng các bằng chứng để củng cố thì điều đó hoàn toàn vượt ngoài phạm vi nhận thức, chúng ta không nói là điều đó đúng, chúng ta không nói nó sai, chúng ta chỉ nói “không ai nói điều gì cả” vì thực tế, về mặt nhận thức, họ không làm điều đó. Theo một cách tương tự, các quá trình phi lý trong tâm trí cũng tách bạch một kết luận khỏi địa hạt nhận thức; hành động phi lý tách bạch một mục tiêu khỏi địa hạt đánh giá. Điều đó, theo tôi, là một sự kết hợp tốt đối với hai điểm này. Tôi sẽ lặp lại. Cũng giống như việc quy trình phi lý của tâm trí tách bạch một kết luận khỏi phạm vi nhận thức, thì hành vi phi lý cũng tách bạch một mục tiêu khỏi phạm vi của sự đánh giá. Nói cách khác, mỗi khi một vật thể thuộc loại gì đi nữa, tâm linh hay vật chất, được tìm kiếm bởi một quá trình các hành vi không tương thích với nguyên tắc đạo đức, nó không có gì khác biệt giữa việc quá trình đó là lừa đảo hay thỏa hiệp hay khởi đầu bởi các sức mạnh vật lý hay hay bất kỳ cái ác nào, bất cứ khi nào bạn cố gắng đạt được một vật bằng việc vi phạm một nguyên tắc đạo đức, phương thức mà bạn thực hiện điều đó choảng nhau với thực tại và do đó sẽ tước đoạt đối tượng của bất kỳ trạng thái đánh giá nào. Và đây là nguyên do sâu xa nhất cho lời phát biểu của bà Rand rằng “Tình yêu hay Danh vọng hay Tiền bạc đều không có giá trị gì cả nếu như đạt được bằng sự lừa đảo”. Bà ấy nói điều đó với nghĩa đen, nó đúng nghĩa là ở bên ngoài địa hạt đánh giá bởi vì bạn đang thử nó ngoài ngữ cảnh, trừ ra những điều kiện duy nhất khiến cho việc đánh giá khả thi. Giờ thì bạn có thể tìm ra câu trả lời của chủ nghĩa Khách quan đối với câu khẩu hiệu “Kết quả biện minh cho phương thức thực hiện 10 ” rồi đấy. Bạn biết đấy, người ta nói với bạn là, ồ một vài lý tưởng cao sang chỉ có thể đạt được thông qua những hành vi xấu thôi, nên, trong trường hợp đó, kết quả biện minh cho phương thức hành động. Phát biểu này theo như kiến thức của tôi được biết thì không phải được sáng tạo ra bởi một kẻ thực dụng có tính Machiavelli11 , mà bởi các thầy tu dòng Tên12, kết quả trở thành sự lan rộng của Công Giáo nhiều thế kỷ trước đây, phát biểu này không hơn không kém là một chứng nhận của sự phi đạo đức. Kết quả không biện minh cho phương thức hoạt động, thực tế thì điều ngược lại mới đúng, và những phương thức phi đạo đức khiến cho kết quả không còn giá trị gì. Đó là quan điểm của thuyết Khách quan, phương thức phi đạo đức phá hủy hoàn toàn kết quả. Giờ thì, nếu các bạn muốn hiểu theo nghĩa đen thông dụng, rằng có một kết quả quyết định cho tất cả, kết quả tối thượng, đó là cuộc sống của một con người. Điều đó đến lượt nó quyết định các phương thức cần thiết trong hành động của con người, là những nguyên tắc mà con người nên sống dựa vào, và đến lượt chúng thì chúng phân tách những đối tượng cụ thể ra và cho chúng ta biết những thứ nào chúng ta có thể theo đuổi một cách có giá trị trong ngữ cảnh có sẵn. Vậy, có một bước bộ-ba ở đây: Giá trị tối cao, điều xác định các đức hạnh, nói cách khác, xác định các nguyên tắc của hành vi đúng đắn, từ đó chúng hướng dẫn ta trong việc đánh giá bất kỳ đối tượng cụ thể được đề xuất như là một mục đích, ví dụ như một triệu đô hay bất kể thứ gì. Và đây là hướng tiếp cận duy nhất vượt qua khỏi thế tiến thoái lưỡng nan bất khả thi của việc so sánh ‘phương thức’ với ‘kết quả’ hay ‘đức hạnh’ với ‘giá trị’. Giờ, tôi nghĩ, các bạn có thể hiểu tại sao lại phi lý khi xem sự trung thực là cách các giá trị đạo đức tiêu chuẩn thực hiện giống như là một dạng thức của chủ nghĩa Vị tha. Bạn thấy đấy, họ cho rằng trung thực là sự từ bỏ không hề ích kỷ đối với tất cả các giá trị mà bạn có thể đạt được bằng việc săn đuổi sự cả tin của con người. Và các bạn cũng hiểu được tại sao Chủ nghĩa Khách quan đơn giản chỉ phủi điều đó qua một bên như thể một mớ lộn xộn đơn thuần. Trung thực, giống như mọi đức hạnh khác, là sự diễn tả trọn vẹn của chủ nghĩa Vị kỷ. Đó là khía cạnh của một nguyên tắc mà sự tồn tại của vị kỷ phụ thuộc vào đó, vẫn còn đúng với hiện thực.

Giờ thì, qua đánh giá và nhấn mạnh vấn đề về nguyên tắc đến mức độ như vậy, tôi phải làm rõ một điểm chung, tất nhiên, đó chính là nguyên tắc, các nguyên tắc đạo đức là tuyệt đối, chúng ta đang nói đến điểm cụ thể ở đây mặc dù nó sẽ được áp dụng cho tất cả, nhưng điều đó không ngăn cản việc các nguyên tắc có tính ngữ cảnh, chúng hoàn toàn được đặt trong ngữ cảnh. Nếu bạn lấy vấn đề nói dối làm ví dụ chẳng hạn, người theo thuyết nội tại không thích sự dối trá, như là Kant, hoặc là tác giả của sách Những điều răn đơn giản nói thẳng là “Không được nói dối”. Dối trá là sai, sai từ trong bản chất nội hàm của nó. Tất nhiên, đó không phải là quan điểm của chủ nghĩa Khách quan. Nhà khách quan luận này nói “à, đó chỉ là hoàn cảnh, chúng ta phải đánh giá từng trường hợp dựa vào chính các thuật ngữ theo cảm nhận của chúng ta”. Quan điểm của thuyết Khách quan về nguyên tắc đó là sự tuyệt đối trong điều kiện làm phát sinh và xác định được tính khả dụng của nó. Đó là sự tuyệt đối trong ngữ cảnh thích hợp. Cho nên chúng ta có thể đưa ra tuyên bố chính xác hơn một chút rằng ta tốt nghĩa là ta phải tốt mọi lúc mọi nơi. Nó không có nghĩa là, ví dụ như, bạn phải luôn luôn nói thật. Chúng ta có thể khiến nó chính xác hơn: Trở nên tốt có nghĩa là tuân thủ các nguyên tắc đạo đức một cách trung thành mà không có thời điểm nào ngoại lệ hoặc phản bội trong ngữ cảnh liên quan, điều này bạn phải biết và ghi nhớ. Vậy, nó hoàn toàn ổn (tôi giả định là các bạn biết điều này) khi mà nói dối với một tên tội phạm, nói dối với tên độc tài và thậm chí là với nhiều loại người khác. Nói cách khác, đức hạnh không phải là vấn đề làm theo các quy tắc trong phạm vi cái cụ thể: không lừa dối; không giết chóc; không nhận hỗ trợ tài chính từ người khác, điều mà vài nhà khách quan luận đang hiểu giống như nguyên tắc nội tại bởi vì Roark13 từng từ chối một khoản cho vay; luôn luôn giữ vững một công việc, tôn vinh cha mẹ, điều đó không phải đức hạnh. Những quy tắc của dạng này không thể được biện hộ hay thực hiện thường xuyên, cho nên con người ta chỉ giơ tay đầu hàng và cho là không có quy tắc áp dụng nào. Chúng ta phải nhận ra cách tiếp cận đúng đắn rằng đức hạnh là sự trừu tượng hóa, sự trừu tượng hóa khái quát và từ đó chúng ta phải áp dụng tất cả các quy tắc của tri thức luận vào chúng, bao gồm những định nghĩa về điều cốt yếu và duy trì ngữ cảnh. Đó là cách duy nhất để biết được cái gì là đạo đức và thật sự là cách duy nhất để trung thực.

6. Kết luận: nhận thức luận với tư cách sự cốt yếu

Giờ thì...không phải để nói về sách của tôi, nhưng mà để thảo luận đầy đủ hơn tôi muốn các bạn tham khảo quyển sách trong đó nói nhiều về vấn đề của nguyên tắc hơn, và từ đó, tôi sẽ thật sự đi được đến mục đích của nhiệm vụ được giao trong khóa học nhỏ về Chủ nghĩa Khách quan này. Đây là một bài khảo nghiệm nhanh, mong là có chứa những điểm mới cho các bạn, về những điểm nhấn mạnh trong siêu hình học, tri thức luận, và đạo đức học của Chủ nghĩa Khách quan. Và tôi muốn, trong vòng hai phút rưỡi, sẽ liên kết tất cả chúng lại cho bạn bằng việc theo dõi kỹ lưỡng kết luận về việc Ayn Rand đã đúng đắn thế nào khi tập trung vào tri thức luận, xem nó như là trái tim và sự thiết yếu của triết học, và làm thế nào bà thực thi được đúng cam kết của bà đối với tri thức luận, đối với sự ưu việt của tri thức luận, trong triết lý của chính bà. Tôi không có ý định phủ định những gì tôi đã nói rằng sự tồn tại và những thứ tương tự như nó, tất cả những khái niệm siêu hình đó đến trước tri thức luận theo từng cấp độ, nhưng trong việc trình bày rõ ràng, chính xác một hệ thống triết học người lớn thì rõ ràng siêu hình học của chủ nghĩa Khách quan phản ánh tri thức luận của chủ nghĩa Khách quan. Theo cách hiểu đó, tri thức luận là điểm quyết định chính đối với toàn bộ phần còn lại của triết học. Tại sao chúng ta, trong siêu hình học, thậm chí còn nghĩ đến việc sắp xếp tri thức siêu hình học của chúng ta, mối liên kết này dẫn đến cái này, đến cái này, sự tồn tại, nhân dạng, quan hệ nhân quả, sự ưu việt của tồn tại v.v...? Loại suy nghĩ nào lại cho phép chúng ta biết rằng chúng ta cần một kiểu cấu trúc nhất định, từng bước quay lại dữ liệu cơ sở? Tri thức đó theo cấp bậc, nó được cấu trúc, nó phát triển theo một cách nhất định mà trong đó một kết nối được xây dựng trên những cái khác, và do đó, chúng ta phải tiến hành những mắt xích phù hợp, và rằng, giữa nhiều khía cạnh khác lại là một trong những điều về tri thức mà bà, Ayn Rand, phải biết, trước khi bà có thể bắt đầu tiếp cận những điều sẽ trở thành sự trình bày có hệ thống về siêu hình học. Và tất nhiên, tri thức có hệ thống cấp bậc, đó là chi tiết của tri thức luận, chi tiết trong nghĩa phái sinh, một khía cạnh, một hệ quả của thứ gì nhỉ? - Cách chúng ta hình thành khái niệm, bản chất của khái niệm. Do vậy, siêu hình học theo nghĩa đó được điều khiển bởi tri thức luận. Thậm chí điều này còn rõ ràng hiển nhiên khi được ứng dụng vào đạo đức học. Tại sao các nguyên tắc đạo đức lại cần thiết? Làm sao bạn biết là nó cần thiết? Tại sao trước đó không ai nắm bắt được sự cần thiết của chúng như cách Ayn Rand làm? Nguyên tắc, về cơ bản, là sự biểu hiện hay một dạng của tri thức có tính khái niệm và bạn phải biết được các khái niệm là gì và tại sao không thể tránh khỏi chúng trước khi bạn có thể hiểu được nguyên tắc là gì và tại sao không tránh khỏi chúng được. Và điều tương tự cũng đúng khi ứng dụng hay giải thích các nguyên tắc, ví dụ như, để nắm bắt thậm chí nếu chúng có một ngữ cảnh, đối ngược lại với quan điểm của thuyết nội tại và thuyết Chủ quan. Đây chỉ là một vài ví dụ nhưng thực ra là toàn bộ đạo đức của Chủ nghĩa Khách quan, một cách lý tưởng thì các bạn nên nắm được quan điểm mà các bạn có thể đọc được từ tri thức luận của chủ nghĩa Khách quan. Càng ngày tôi càng hiểu, đạo đức đến trong tâm trí tôi đều thật sự là tri thức luận áp dụng vào thực tiễn. Thậm chí đạo đức cơ bản, sự hợp lý, đó là sự cốt yếu như chúng ta thấy nếu chúng ta diễn tả một cách tiêu cực là ‘đừng lẩn trốn, nói cách khác, đừng phân rẽ, nói cách khác, tích hợp, hay nói cách khác, thực hiện phương thức nhận thức khách quan, logic, đúng đắn. Vậy, bản chất của đạo đức là đi theo một tri thức luận đúng đắn. Bạn nhớ là Rand đã định nghĩa tất cả các đức hạnh, bà luôn luôn dùng cách diễn đạt “đức hạnh như thế là một sự nhận biết thực tế rằng... ” cách dùng đó rất thận trọng bởi vì bà ấy muốn nói rằng đức hạnh là sự cam kết đối với một tiến trình nhận thức, đối với sự rèn luyện nhận thức, theo một cách nhất định, trong mối liên quan với hiện thực và đó chính là chủ đề của tri thức luận. Cho nên, các bạn có thể thấy, chỉ từ một chút khái quát sơ lược về vấn đề này, sự thống nhất to lớn, hay nếu chúng ta có thể sử dụng thuật ngữ Sự toàn vẹn trong triết học của Ayn Rand, nó chính xác giống như một trong những tòa nhà của Roark, tất cả của một mảnh ghép, thuyết Khách quan, tất cả đều có liên kết chặt chẽ, tất cả quy trình của chúng đều từ những khám phá có tính đột phá trong tri thức luận, việc đó góp phần xuyên suốt trong hệ thống và khiến chúng trở thành những thành tựu tri thức chưa từng có tiền lệ. Theo tôi, lời khen ngợi tôi dành cho Chủ nghĩa Khách quan đó là sự thống nhất quan điểm phản ánh sự thống nhất của hiện thực trước tiên, và bạn biết đấy, lý do tôi nghĩ là...theo như sự đánh giá của tôi, không hơn không kém, thì điều này có thể cứu rỗi thế giới nếu như được thế giới lắng nghe. Và đó cũng là lý do mà tôi muốn xem và làm những gì có thể trong cuộc đời tôi để thấy Chủ nghĩa Khách quan được lắng nghe và tất nhiên tôi biết, hầu hết các bạn ở đây đều chân thành đồng ý và có lẽ, nếu tất cả chúng ta đều làm những gì có thể, thì đến một thời điểm nào nó sẽ nhận được công lý mà nó xứng đáng. Tôi hy vọng là vậy, và xin được cám ơn. Cám ơn rất nhiều.

7. Phần Hỏi - đáp

Câu hỏi 1: Ông có thể nhắc lại tuyên bố về sự tích hợp mà ông đã tạo ra, rằng nhận thức luận là hành động hợp lẽ, rằng nó gắn kết với mục tiêu trong địa hạt của sự đánh giá?

Leonard: Ồ, vâng, tôi không có từ ngữ chính xác ở đây nhưng tôi rất hài lòng khi tạo nên sự liên kết đó, rằng đó là quan điểm: cũng giống như trong tri thức luận, một quá trình trí óc phi lý sẽ loại bỏ ý niệm từ địa hạt nhận thức, cho nên, trong đạo đức học hoặc trong thực tiễn, các hành vi phi lý sẽ loại bỏ mục tiêu từ địa hạt đánh giá. Nói cách khác, trong địa hạt tri thức, bạn phải làm theo những nguyên tắc về phương thức nhất định thậm chí chỉ để nhận được sự khen ngợi như là việc sai lầm. Nếu bạn đơn giản chỉ là nói ra vài ý niệm và công bố chúng một cách thất thường, thì nó không liên quan gì đến hiện thực cả, thậm chí còn không đến gần bước đối nghịch hiện thực, nó nằm ngoài nhận thức, và trong địa hạt hành vi bạn có thể mắc sai lầm, và phạm phải hành vi sai nhưng nếu bạn vi phạm các nguyên tắc đạo đức và cư xử phi lý, phần tương ứng, như là điều bạn đang hướng tới, không còn được đánh giá là tốt, thực ra, bạn thậm chí không thể đánh giá nó là xấu hay không, tất cả những gì bạn có thể nói là “tôi giờ đã tách biệt khỏi địa hạt nhận thức trong đạo đức, tôi đã ném những nguyên tắc đi, cho nên, tôi không cách nào đánh giá được liệu một triệu đô này tốt hay xấu đối với tôi bởi vì cách duy nhất để đánh giá là bằng sự liên hệ với nguyên tắc đạo đức, nhưng tôi đã ném chúng đi rồi”. Cho nên, chính xác nó là sự song song giữa hai địa hạt. Vâng? Bạn phải di chuyển vì tôi không thể nhìn thấy mấy cánh tay. À vâng, ý tôi là trên lý thuyết thì tôi có thể nhưng mà... Vâng, xin mời.

Câu hỏi 2: Nếu chúng ta đang sống trong nền văn hóa thiên về thỏa hiệp, và sự thật là mỗi một nền văn hóa đều thiên về thỏa hiệp bằng cách này hay cách khác, khi nào thì sẽ phù hợp để ủng hộ cho những quyền lực này, ít nhất là cố gắng giảm lượng thỏa hiệp, cho dù dường như không có tác động của nhận thức luận.

Leonard: Bạn đang nói về việc bầu cử cho ai ấy à?

Câu hỏi 2: Cũng có thể, thỉnh thoảng. Ví dụ, tôi có thể thấy là mình có thể bầu cho Margaret Thatcher, nhưng cũng có thể bầu cho Reagan.

Leonard: Đồng ý. Bạn đang đưa ra một câu hỏi thực tiễn, bạn đang giới hạn nó lại vào việc bầu cử nhưng mà nguyên tắc sẽ được áp dụng bất kể ở lĩnh vực nào. Câu hỏi là làm thế nào để quyết định mức độ nào bạn có thể ủng hộ khi mà tất cả các ứng viên trước mặt với chúng ta đều có sự hòa trộn, ở mức độ nào bạn thỏa hiệp được nếu như bạn bầu cho một ứng viên mà bạn cho là thiếu hoàn hảo, người đó có nhiều điểm xấu, ví dụ, như quý ông này nói là bạn ấy sẽ bầu cho Margaret Thatcher, vì tôi sẽ..., cho là tôi biết về bà ấy và do đó, chẳng phải bạn sẽ ủng hộ cho những điều không tốt nhất định và những thứ như vậy sao? Thỏa hiệp về mặt đạo đức xuất hiện khi bạn có sự lựa chọn. Nếu như sự lựa chọn bị bạn bỏ đi, bạn không còn bị ràng buộc bởi nguyên tắc này nữa, điều này vốn có trong ngữ cảnh, nếu như một tên đầu gấu nào đó nói ‘tôi định bắn nát óc bạn’ và kẻ khác nói là hắn sẽ làm điều đó trong hai tuần, thì bạn có toàn bộ nền tảng đạo lý và bạn không phi đạo đức hay vi phạm nguyên tắc khi nói là tôi sẽ chọn cái này, không phải cái này vì sau hai tuần có thể khác, không ai biết được. Cho nên, điều này đơn giản là, khi bạn đưa ra được ít điểm xấu hơn trong hai kẻ xấu, nếu như nó thực sự ít hơn, thì bạn không phải đang thực hiện thỏa hiệp, vấn đề trở nên định rõ khi ‘có thực sự là ít hơn không?’. Không phải là ít hơn chút nào nếu như kẻ đó ngụ ý là thừa nhận cái tốt và vi phạm chúng khắp nơi như Reagan, đó là điều tệ hơn, không phải ít hơn bởi vì một khi ông ta thắng, ông ta thoái thác toàn bộ những điều đó dưới danh nghĩa những lời hứa sáo rỗng và cả đất nước có ấn tượng là chủ nghĩa tư bản và sự tự do và những gì tương tự đã nỗ lực nhưng thất bại, và giờ thì chúng ta cần một liều thuốc của thuyết trung ương tập quyền. Cho nên, nếu như bạn có thể tìm ra trong hai ứng viên, một người chấp nhận nhiều điều xấu trong nguyên tắc hơn người kia, khó mà nói là nhiều nguyên tắc tốt hơn bởi vì không có nhiều điều tốt như vậy, nhưng nhiều nguyên tắc xấu, hãy bầu cho người còn lại nếu như có tồn tại sự khác nhau như thế. Và từ quan điểm này, một người có vẻ thờ ơ với bất kỳ gì thì thường là một sự lựa chọn tốt hơn là người có niềm tin mạnh mẽ về một điều ác đó trong thế giới ngày nay. Đó là một lý do và tôi không có ý thiếu tôn trọng, có thể lời nói của tôi nghe giống vậy, nhưng Tổng thống Ford là một ứng viên tốt theo kiểu đó, bởi vì ông không thể hiện sự ủng hộ mãnh liệt với những nguyên tắc cái ác, như các bạn có thể nghĩ ra, ông ấy dường như khá là...bạn biết đấy..chỉ là theo ‘kiểu Mỹ’ cơ bản 14 , do đó ông ấy an toàn hơn.

Câu hỏi 3: Câu hỏi của tôi là, độc giả mà ông hướng tới, liệu là kiểu người thông thường đa dạng hay là kiểu khác, kiểu có vẻ hiểu sâu hơn?

Leonard: À vâng, đó là câu hỏi rất hay, tôi ước là tôi biết câu trả lời. Ok, vậy, sách của tôi hướng đến độc giả như thế nào? Nó bắt đầu đơn giản như mọi quyển sách khác của tôi, là phiên bản có chỉnh sửa của một khóa học, nó đơn giản là hướng đến những người đã từng đọc các tác phẩm của Ayn Rand nhưng chúng ta không đi đâu xa hơn thế, không đi chuyên sâu v.v. Chỉ là trong quá trình của khóa học, mà dường như chuyện này thường xảy ra, tôi có những ý tưởng nào đó cần cải thiện và sắp xếp lại và mở rộng theo một số hướng liên kết nhất định v.v , và giờ, tôi đang trong quá trình tái cấu trúc phần cốt yếu, điều này sẽ khiến sách mất đi một lượng lớn độc giả, việc thay đổi cấu trúc cho sách có cấp bậc rõ rệt hơn sẽ đánh đổi bằng việc ít phổ biến hơn. Tôi từng, trong phiên bản đầu, có một chương về bản chất con người để dẫn dắt độc giả vào sách, bạn biết đấy, mặc dù điều đó không đúng trình tự và giờ thì tôi đã bỏ nó ra, và ban đầu, tôi đã bắt đầu theo một cách cẩn trọng, và theo như tôi nhìn nhận nó thì... nó dành cho đối tượng có học vấn cao hơn hoặc là có hứng thú với triết học hơn là đối tượng tôi nghĩ đến ban đầu, nhưng tôi nghĩ, về lâu về dài, điều đó sẽ càng tốt hơn bởi vì theo tôi thứ chúng ta đang khao khát, từng bước một, là sự trình bày về toàn bộ sự việc một cách sâu sắc và thiên về chuyên môn, nếu bạn muốn dùng từ đó, và để cho người đọc ngừng lại khi họ muốn, hơn là nỗ lực để có được số lượng độc giả lớn nhưng phải đánh đổi bằng những tiêu chuẩn chính luận, chi tiết mà tôi cho là thiết yếu. Cho nên, tôi đã từ bỏ việc theo đuổi số lượng độc giả cao với suy nghĩ rằng số lượng ít còn lại thực sự đọc và có hứng thú sẽ theo đuổi nhiều hơn cho dài hạn, đó là sự đánh đổi. [Vỗ tay]. À, vâng, bạn tiếp tục à, vâng, ok.

Câu hỏi 4: Có thể nào viết hai quyển sách song song một lúc không ạ?

Leonard: Có thể nào viết hai quyển sách song song một lúc không ấy à? Không, viết một quyển đã đủ khó rồi, huống chi hai. Ai khác không? Tôi cho rằng điều đó quá hiển nhiên không cần bằng chứng. Vâng, xin mời. Câu hỏi 5: Sách thiếu nhi nào mà ông sẽ hoặc đang đọc cho con gái của mình vậy ạ? Leonard: Ồ, bạn muốn câu trả lời cho câu hỏi đó à? Vâng, chúng tôi đang đọc sách thiếu nhi gì cho con gái chúng tôi à, à khoan, con bé mới có hai tuổi thôi, cho nên, hiện tại thì chúng tôi đang sử dụng, bạn biết đấy, hầu hết là sách tranh và tôi thì vẫn đang chật vật trong việc dạy con bé phát âm bảng phiên âm tiếng anh, và con bé vẫn không thể nắm được, cho nên, chúng tôi thực ra đang chủ yếu làm theo tiêu chuẩn, Little Golden Books15 nằm trong số đó, con bé thích “George tò mò” và mấy thứ nữa nhưng mà tôi không cho là bạn đã có thể nhận thức được bất kỳ điều gì đặc biệt về triết học trong đó cả. Chúng tôi chưa thực sự tìm tòi để đọc những thứ ở cấp độ cao hơn hoặc là khái quát hóa hơn, cho nên, có lẽ, sau nhiều năm nữa tôi có thể nói cho bạn biết chúng tôi đang làm thế nào. Bạn có kiến nghị gì không? Được rồi, vậy chúng ta cho qua câu hỏi này. Vâng, xin mời.

Câu hỏi 6: Kết quả bán của sách ‘Sự song song đáng quan ngại 16 ’ thế nào ạ?

Leonard: Kém. Kết quả bán của sách ‘Sự song song đáng quan ngại’ khá thấp theo tiêu chuẩn của tôi. Nhà xuất bản khá hài lòng nhưng tôi thì vẫn có ảo tưởng đây là cơ hội hiếm để viết một quyển sách được ưa chuộng, bạn biết đấy, về đề tài chính trị thay vì đề tài tri thức luận, và theo tiêu chuẩn đó thì nó khá ảm đạm. Lần mới đây tôi nghe được, cách đây khoảng một năm hoặc hơn thế, nhà xuất bản nói rằng thông thường, một quyển sách viết ở cấp độ này với số lượng ghi chú triết học như vậy thì sẽ bán được khoảng 3000 bản và nếu bán được tầm 5000 thì tôi nên thấy vui, vì cơ bản là các thư viện mua chúng, thỉnh thoảng thì sẽ có người này người kia mua, và chúng ta được khoảng 30.000 bản,[vỗ tay] nhưng mà bạn biết đấy, đó cũng không phải là một trăm ngàn hay mười bốn triệu bản, cho nên, phụ thuộc vào tiêu chuẩn của bạn là gì. Vâng, xin mời.

Câu hỏi 7: Trong phần mô tả khóa học này, có điều này...Tại sao ông không bao gồm nó trong đây? Leonard: Ồ, bị bạn tóm được rồi. Ok, quý ông này đã tìm ra... tôi nghĩ là tôi thoát rồi chứ...tìm ra một chủ đề tôi đã đưa vào trong tờ giới thiệu nhưng lại chưa bao giờ đề cập đến, làm sao mà có thể thế được nhỉ? Tôi đã làm tờ giới thiệu này lâu rồi và tôi chỉ chọn vài chủ đề mà chưa sắp xếp lại chúng và rồi tôi thấy là, tôi sẽ có nhiều thời gian để nói đến những ý tưởng mới của mình về chủ đề của ‘Sự đoan chắc’, điều đó lại là một thay đổi lớn, quan trọng so với cách tôi trình bày trong khóa học, nhưng thực tế thì tôi đã không thể đủ thời gian làm việc đó, cho nên, tôi nghĩ, tôi cứ bỏ qua nó và mọi người cũng sẽ bỏ qua nó. Cho nên, tôi sẽ cố gắng để nói cho bạn, trình bày cho bạn, nhưng mà tôi không thể giảng nguyên một bài về nó như dự định ban đầu được. Từ lúc bắt đầu, tôi đã xem ‘Sự đoan chắc’ như là thứ luôn tồn tại song hành cùng với tri thức rồi, mặc dù bạn có thể nói là tất cả tri thức thì đều chắc-chắn, theo một cách nào đó, tôi vẫn sẽ ủng hộ ý kiến như vậy nhưng tôi đã cố gắng để có thể định nghĩa một cách chính xác hơn trong sách của tôi về lý do tại sao một khái niệm như ‘Sự đoan chắc’ thậm chí lại là bắt buộc ngay khi chúng ta có khái niệm về tri thức. Và khi nghĩ về nó mà không cần phải đưa các bạn đi hết các bước của hành trình khám phá, thì có thể nói đã diễn ra việc tồn tại hai loại tri thức khác nhau một cách cơ bản. Có những loại dữ liệu chắc chắn mà bạn có được nhưng không cần thắc mắc về việc thu thập chứng cứ dần dần, qua một giai đoạn thời gian, và rồi cuối cùng tự đạt được nhận thức. Ví dụ như, việc tìm chứng cứ của các thông tin giác quan trực tiếp, như là việc bạn hỏi tôi một câu hỏi hay là việc tôi đang đứng ở đây giữa bài giảng, vân vân, hàng triệu sự thực như thế hoặc là một ví dụ khác như là, có nhiều loại ví dụ khác nữa, không chỉ mấy loại tôi nêu ở đây, một tiên đề triết học như là ‘sự tồn tại hiện hữu độc lập với ý thức’, v.v. và có những trường hợp khác nữa, như là trong toán học, khi bạn đưa ra kết luận từ tiên đề. Những tình huống như thế, về cơ bản, là khác biệt so với những tình huống bao hàm một sự khái quát hóa phức tạp hoặc là một lý thuyết khoa học như lý thuyết nguyên tử hay là việc tất cả con người đều sẽ chết v.v. Lúc đó, bạn cần có bằng chứng, dần dần từng bước một, thông qua một giai đoạn kéo dài mà thông thường bạn phải trải qua. Đầu tiên là giai đoạn bạn có vài chứng cứ và rồi dần nó gia tăng khả năng xảy ra thật và cuối cùng thì bạn đạt được thành công lớn, bạn có thể nói, đó là nhận thức. Và từ cách nhìn nhận đó, tôi nghĩ rằng, ‘Sự đoan chắc’ áp dụng được thực sự chỉ cho những cấp bậc này thôi, nó chỉ định trạm cuối của quá trình thu thập bằng chứng nơi mà quy trình đó được áp dụng. Nếu tất cả tri thức của chúng ta đều như là tiên đề triết học hay như dữ liệu trực tiếp của giác quan, như sự đồng nhất thuộc về khái niệm của dữ liệu giác quan, thì chẳng cần gì đến ‘sự đoan chắc’ cả, chẳng có điều gì như là có-khả-năng hoặc rất-có-thể 17 , chỉ có là ‘bạn biết hoặc bạn bỏ qua’, bạn hiểu hoặc không hiểu, trong những trường hợp như vậy tri thức và sự bỏ qua sẽ là toàn bộ những gì bạn cần. Nhưng do trong một cấp độ nhất định của sự phức tạp, và đặc biệt, trong những kết luận có tính suy luận quy nạp, tôi nghĩ là nếu tất cả tri thức đều là suy luận thì điều tương tự sẽ được áp dụng, là việc bạn sẽ không cần khái niệm này, nhưng nó thực sự tương quan với những thông tin quy nạp, đó là sự khái quát hóa thiết yếu và là sự hình thành lý thuyết, thì bạn phải đi qua hết quy trình thu thập bằng chứng và đó là khi khái niệm ‘Sự đoan chắc’ trở nên thiết yếu như là điểm đích của quá trình. Giờ, tôi sẽ không nói ‘tôi chắc chắn nhìn thấy cái ly’ hay là bạn có thể nói vậy, tôi không cấm đoán gì cả, bởi vì mở rộng ra, bạn có thể sử dụng ‘Sự đoan chắc’ như là một cách hoàn toàn thoát khỏi mọi nghi ngờ, không nghi ngờ một chút nào, nhưng vấn đề nghi ngờ sẽ không bị đưa ra trong thế giới duy lý nếu như không có những người hoài nghi nói là ‘làm sao bạn biết được có cái ly’, cho nên, đó là cách sử dụng gây tranh cãi. Rất quan trọng để nắm bắt khái niệm “hiện thực đòi hỏi gì ngoài sự tranh cãi”, và tôi thực sự nghĩ là ngoài việc gây tranh cãi, bạn có thể đơn giản nói là ‘tôi thấy cái ly’ hoặc ‘tôi không biết nó ở đó’, và vấn đề của ‘sự đoan chắc’ chỉ xảy ra khi liên quan đến những loại thông tin suy luận phức tạp mà thôi. Cho nên, từ quan điểm này, tôi rất hạn chế việc sử dụng thuật ngữ đó một cách chuyên sâu và bản thân việc đó sẽ dẫn đến một tiêu chuẩn chi tiết hơn về việc “khi nào bạn có thể nói ‘chắc chắn’”. Nó cũng trả lời cho câu hỏi “liệu bạn có cần phải nói là bạn chắc chắn trong mọi phát ngôn trong một ngữ cảnh nào đó không?”. Các bạn biết đấy, con người bị bận tâm bởi phát biểu (tôi hoàn toàn có thể hiểu được) như thế này: ‘Đây là một cục tẩy, trong ngữ cảnh, ngữ cảnh hiện tại của tri thức’, điều này rất buồn cười, bởi vì nó là một cục tẩy bạn có thể thấy đó nó là một cục tẩy, trong vấn đề ‘ngữ cảnh’, loại định tính đó rất là không cần thiết. Và lý do thì hoàn toàn chính xách bởi vì nó rút gọn thành một quan sát trực tiếp và vì thế, nó không phải là một phần của cái quá trình liên tục phức tạp để tiếp thu được tri thức. Cho nên tôi sẽ ...có nhiều ngụ ý khi nói về hướng tiếp cận mới này, khi nào bạn có thể nói điều gì là có-khả-năng, rất-có-thể và chắc-chắn, nhưng đó là...chuyện đó sẽ cho bạn...tôi đã nói đủ cho chủ đề của tờ giới thiệu rồi đấy. Được rồi, giờ tôi sẽ nhận câu hỏi cuối cùng. Có ai có câu hỏi tích cực nào không? Vâng, xin mời.

Câu hỏi 8: Vua Louis XV nói rằng, ông ấy giải thích vì sao ủng hộ... (<<âm thanh nhỏ, không nghe được>>) rằng ‘hệ thống còn tồn tại miễn là tôi còn sống’. Ông thấy có gì sai trong phát biểu này? Bằng việc phóng chiếu cụm từ như thế cũng không làm rõ nghĩa của nó.

Leonard: Có gì sai với thái độ của một vị vua hay tổng thống khi nói rằng hệ thống sẽ còn tồn tại chừng nào họ còn sống, và hãy để cho người kế nhiệm lo việc về sau phải không? Ý bạn là gì khi hỏi có gì sai với nó, có gì tranh cãi về nó? Ông ta đang...giống như tôi nói là tôi sẽ chơi ma túy và sẽ không chết trong vòng vài năm vì nó, thay vì ngày mai, hoặc là tôi 80 tuổi và tôi sẽ chơi ma túy mà việc đó có thể giết tôi trong vòng 5 năm nhưng mà dù sao thì tôi cũng sẽ chết ở tuổi 82. Nếu như cá nhân anh ta thực sự quan tâm, nếu mà anh ta muốn làm điều đó ở tuổi 82 thì nó cũng sẽ không là gì. Nếu như bạn biết bạn sẽ chết ngày mai tôi sẽ cho bạn ...nói dối hôm nay, điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống của chính bạn cả. Nhưng mà sự thật là dù sao bạn cũng sẽ không thể tận hưởng thời gian còn lại nếu bạn thực hiện những nguyên tắc đó. Đến trường hợp của vị vua hay tổng thống muốn sống một cuộc đời hạnh phúc, tự tin thậm chí những kết quả chính trị sẽ không phải là một thảm họa xã hội hoàn toàn cho đến thế hệ tiếp theo, thì sự trốn tránh và sự giả dối v.v về việc ông ta sẽ sống cuộc sống của chính mình ngày qua ngày sẽ làm tổn hại đến ông ta vì chúng ứng tiếp tục đối với bất kỳ kẻ lừa đảo nào và chúng sẽ gây nên những đau khổ không thể giải quyết cho người khác, và tất cả mọi người sẽ mất hết. Câu nói của bạn có nghĩa là sự phá hủy hoàn toàn sẽ không diễn ra trong vài thập kỷ nữa nhưng điều đó không chứng minh được rằng sự phá hủy dần dần và liên tục không xảy ra. Đó không phải là một lời nhắn tích cực cho lắm nhưng mà thời gian của chúng ta đã kết thúc rồi. Xin cảm ơn.

Nguồn: ReasonVN

Dịch giả:
Reason Việt Nam