Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 6: Về quyền lực gia trưởng
§52. Có lẽ trong một luận văn về tự nhiên như thế này mà đi tìm sự khiếm khuyết bằng những từ ngữ và danh xưng vẫn được sử dụng trên thế giới chúng ta đây, thì sẽ bị chỉ trích là phê phán xấc xược. Và nhiều khả năng không phải không thích hợp để đưa ra những từ ngữ và danh xưng mới, khi mà cái cũ thường đưa người ta vào những sai lầm, như danh xưng quyền lực gia trưởng hầu như chắc chắn đã làm đối với điều mà vì thế có vẻ đã đặt quyền lực của cha mẹ đối với con cái hoàn toàn vào người cha, như thể là người mẹ không có phần. [T]rong khi đó, nếu chiếu theo lý trí hay tra cứu Sách Khải huyền, ta sẽ thấy rằng bà cũng có một địa vị bình đẳng. Điều này đưa đến lý do để hỏi rằng có thích đáng hơn hay không, khi gọi điều này là quyền lực gia trưởng? Đối với bất cứ nghĩa vụ gì mà tự nhiên và cái quyền lực của người sinh thành đặt lên con cái, phải ràng buộc chắc chắn chúng như nhau vào cả hai căn nguyên đồng thời của nó [là cha và mẹ]. Và do vậy chúng ta thấy rằng trong luật xác thực của Thượng đế, mọi nơi đều liên kết hai căn nguyên này lại mà không có sự phân biệt, khi luật đó ra lệnh cho con cái phải phục tùng: Tôn kính cha và mẹ của ngươi (Exod. xx. 12), Bất cứ kẻ nào chửi rủa cha hay mẹ của hắn (Lev. xx. 9)³⁹, Ngươi sẽ khiếp sợ cả người cha lẫn người mẹ của hắn (Lev. xix. 5), Con cái, hãy tuân lệnh cha mẹ của các ngươi (Eph. vi. 1)⁴⁰, v.v..., là phong cách của Cựu ước và Tân ước.
§53. Nhưng đây là một việc đã được xem xét kỹ mà không cần nhìn sâu thêm nữa vào vấn đề, nó có lẽ đã giữ không cho người ta mắc vào hàng tá sai lầm mà họ đã có, về quyền lực gia trưởng này. [N]ó không có sự khắc nghiệt cao cả, nhưng dù có thể mang danh của quyền thế tuyệt đối và thẩm quyền hoàng gia - khi với địa vị là quyền lực gia trưởng, nó dường như đích thị dành cho người cha - thì cũng sẽ chỉ nghe vang lên một cách kỳ quặc, và mới ngay trong danh xưng thôi đã cho thấy sự vô lý. [N]ếu quyền lực tuyệt đối được giả định này, đặt trên con cái, đã được gọi là cha mẹ, thì đã là nhận ra rằng quyền lực đó cũng thuộc về người mẹ; vì cái danh xưng ấy sẽ chỉ đáp ứng một cách yếu ớt cho xu hướng của những người đàn ông này, vốn tranh đấu quá nhiều cho quyền lực và thẩm quyền tuyệt đối của cương vị làm cha - như họ gọi nó, đến mức là người mẹ cần có phần trong đó. Và danh xưng như vậy cũng sẽ chỉ hậu thuẫn yếu ớt cho nền quân chủ mà họ đấu tranh vì nó, khi bằng chính danh xưng này, hóa ra là thẩm quyền nền tảng đó - mà họ sẽ xuất phát cho cái chính quyền của một con người duy nhất - không phải đã là nơi một cá nhân được đặt vào, mà là nơi hai cá nhân cùng chung [một thẩm quyền]. Nhưng hãy để điều này về các danh xưng qua đi.
§54. Dù đã nói ở trên, tại chương II, rằng mọi người đều có sự bình đẳng do tự nhiên đem lại, tôi không thể cho rằng mình hiểu hết mọi loại bình đẳng. Tuổi đời hoặc đức hạnh có thể đem lại cho nhiều người một sự ưu tiên đúng đắn. Xuất sắc về tài năng và phẩm chất có thể đặt những người khác cao hơn mức độ bình thường. Dòng dõi có thể khuất phục một số này và tạo liên kết hoặc lợi ích cho số khác. [T]ự nhiên đặt sự tuân thủ đối với người kia, còn người nọ thì hưởng được sự mang ơn, kính trọng. [V]à tất cả những điều này phù hợp với cái bình đẳng mà mọi người sống theo đó, về quyền tài phán hay thống trị của người này đối với người kia; còn bình đẳng mà tôi muốn nói đến ở đây, thích hợp với chính công việc đang bàn đến lúc này, là cái quyền ngang nhau mà mỗi người đều có đối với sự tự do đương nhiên có của mình, mà không phải khuất phục trước ý chí hay quyền uy của bất cứ ai khác.
§55. Tôi thừa nhận rằng con cái không được sinh ra trong trạng thái bình đẳng, dù chúng được sinh ra để sống với điều đó. Cha mẹ có một kiểu cai trị và quyền tài phán đối với chúng khi chúng bước vào thế giới và ở một thời gian sau đó, nhưng đây chỉ là tạm thời. Những ràng buộc của sự lệ thuộc này giống như sự vây bọc của quần áo mà chúng được mặc vào và được bảo bọc từ đó, vào lúc yếu ớt của tuổi thơ. Khi chúng lớn lên, tuổi đời và lý trí sẽ nới dần sự vây bọc này, để cuối cùng là hoàn toàn cởi bỏ nó và để lại một con người đã đến lúc ở vào vị thế tự do theo ý mình.
§56. Adam đã được tạo tác nên như một con người hoàn hảo, thể xác và tinh thần của ông chiếm hữu trọn vẹn đối với sức mạnh và lý trí của chúng, và vì thế, ngay thuở đầu tồn tại của mình ông đã có thể lo liệu việc nuôi nấng và bảo toàn cho chính ông, chi phối hành động của mình theo những mệnh lệnh của luật lý trí mà Thượng đế đã khắc ghi vào ông. Từ Adam, với những hậu duệ sau đó, thế giới đã trở nên đông người, mà ai được sinh ra cũng đều ẵm ngửa, yếu ớt và cần sự giúp đỡ, không có kiến thức hay sự hiểu biết. Nhưng bù đắp cho những khiếm khuyết của tình trạng chưa hoàn thiện này, rồi sẽ đến lúc mà sự mở mang trí tuệ, kiến thức của sự trưởng thành và tuổi đời dỡ bỏ chúng. [A]dam và Eve, và sau đó là tất cả những cha mẹ khác, theo luật tự nhiên, tuân thủ nghĩa vụ phải bảo toàn, nuôi nấng và giáo dục con cái họ đã sinh ra; đây không phải là tài nghệ của chính họ, mà là tài nghệ của đấng Tạo hóa, của đấng Toàn năng, mà họ có trách nhiệm với ngài về những việc này.
§57. Luật đã chi phối Adam là cùng một luật chi phối lên tất cả hậu duệ của ông - luật của lý trí.
Nhưng con cái của ông có một cách nữa để bước vào thế giới, khác với ông. [S]inh sản tự nhiên tạo ra những đứa bé không biết gì và không sử dụng đến lý trí, nên chúng đã không tức thì chịu sự chi phối của luật lý trí vì không một ai phải sống dưới một luật mà không được công bố với anh ta, đồng thời nó được công bố hay được biết đến chỉ bằng lý trí, nên người chưa sử dụng đến lý trí của mình thì không thể được cho rằng sống dưới sự chi phối luật này. [V]à con cái của Adam không thể ngay lúc mới sinh ra là đã chịu sự chi phối của luật lý trí, là đã tức thời tự do.
[V]ì luật pháp, nơi ý niệm chân thật của nó, với tư cách là phương hướng của một tác nhân tự do và có trí tuệ, không có nhiều hạn chế đối với quyền lợi chính đáng của anh ta, nó bắt buộc không được vượt quá lợi ích chung của những con người sống dưới luật. Có thể họ hạnh phúc hơn mà không có nó; khi đó thì luật pháp này, như một thứ vô dụng, sẽ tự biến mất; và yếu kém đó xứng danh là một sự giam hãm khi nó vây bọc chúng ta lại, trong đầm lầy và quanh những vách núi. Thế nhưng, dù có thể mắc sai lầm, mục đích của luật pháp không phải là thủ tiêu hay kiềm tỏa tự do, mà là bảo toàn và khuyếch trương nó. Vì trong mọi trạng thái của những sinh vật được tạo tác nên cùng với năng lực pháp lý, nơi nào không có luật pháp, nơi đó không có tự do. Vì quyền tự do là tự do trước sự kiềm tỏa và xâm phạm của người khác, là điều sẽ không thể có ở nơi không có luật pháp. [N]hưng tự do không phải là, như được nói với chúng ta, quyền tự do để mỗi người làm điều mà mình muốn (vì ai có thể tự do cho được khi mà ý thích của những người khác có thể áp chế anh ta?), mà là quyền tự do để sắp đặt và bố trí như anh ta muốn, đối với con người, hành động, tài sản, cũng như toàn bộ sở hữu của anh, trong khuôn khổ cho phép của hệ thống luật mà anh ta sống dưới sự chi phối của nó, nơi anh không phải chịu sự khuất phục trước ý chí độc đoán của người khác, mà là tự do tuân theo ý chí của chính mình.
§58. Vậy thì quyền lực mà cha mẹ có đối với con cái của mình, xuất phát từ bổn phận vốn có của họ trong việc chăm sóc chúng ở giai đoạn chưa trưởng thành. Bảo ban về tinh thần và quản lý hành động của trẻ vị thành niên còn nhiều khờ dại, ở những điều mà con cái muốn nhưng cha mẹ lại giới hạn, cho đến khi lý trí bước vào chỗ của nó và giúp giảm bớt phiền phức này. Vì Thượng đế khi trao cho một con người sự nhận thức để vạch hướng cho hành động của mình, đã cho anh ta sự tự do ý chí và quyền tự do hành động - như điều thích đáng thuộc về sự tự do ý chí này - trong khuôn khổ luật pháp chi phối. Nhưng khi vẫn còn trong trạng thái không hiểu biết về những gì thuộc về mình để định hướng ý chí, người ta không có ý chí nào của chính mình để theo; ai có hiểu biết thay cho anh ta, thì cũng có ý chí thay cho anh ta như thế; người này quy định cho ý chí và điều tiết các hành động của anh ta. [N]hưng khi anh ta đến với cái trạng thái vốn đã khiến cha anh là một người tự do, thì anh ta cũng là một người tự do.
§59. Điều này chi phối tất cả các luật mà người ta sống theo đó, dù là luật tự nhiên hay luật dân sự. Một người sống dưới sự chi phối của luật tự nhiên thì sao? Điều gì khiến anh ta hưởng trọn vẹn luật này? Điều gì đem lại cho anh ta sự quyết định tự do đối với sở hữu của mình, theo ý chí của chính mình, trong phạm vi của luật này? Tôi trả lời rằng đó là trạng thái trưởng thành, khi mà anh ta được cho là có năng lực nhận thức đối với luật tự nhiên, để có thể giữ cho hành động của mình trong những giới hạn của nó. Khi đạt đến trạng thái này, anh được xem như đã biết rằng luật tự nhiên có thể hướng dẫn cho anh đến đâu, rằng anh có thể sử dụng tự do của mình đến đâu để từ đó mà có được nó; cho đến trước lúc ấy, có một người khác nữa hướng dẫn anh ta, là người được cho là biết rằng luật tự nhiên cho phép một quyền tự do đạt đến mức độ nào. Nếu một trạng thái lý trí như thế, ở độ tuổi biết suy xét như vậy đã khiến cho anh ta tự do, thì cũng điều này sẽ khiến cho con của anh ta tự do.
[C]òn một người sống dưới sự chi phối của luật pháp nước Anh thì sao? Điều gì khiến anh ta hưởng trọn vẹn luật pháp này, tức là có cái quyền tự do để quyết định về hành động và tài sản của mình theo ý chí của chính mình, trong phạm vi cho phép của luật pháp? Đó là năng lực nhận thức đối với luật pháp nước Anh, được giả định từ luật pháp đó, là vào độ tuổi hai mươi mốt hoặc đôi khi sớm hơn. Nếu điều này đã làm cho người cha tự do, nó cũng sẽ làm cho người con tự do. Cho đến trước lúc ấy ta thấy luật pháp chưa cho phép người con có ý chí riêng gì cả, mà được hướng dẫn bởi ý chí của người cha hay người giám hộ, là người hiểu biết luật pháp thay cho anh ta. Và nếu người cha chết đi mà không đặt một người khác thay vào theo sự uỷ thác của ông, nếu ông đã không quy định một người giám quản để quản lý con ông trong thời gian vị thành niên của nó, thì trong thời gian nó thiếu sự hiểu biết, luật pháp sẽ quan tâm thực hiện điều đó, một người khác sẽ quản lý nó và đóng vai trò là ý chí của nó, cho đến khi nó đạt đến trạng thái tự do. Nhưng sau đó thì cha và con đều tự do như nhau; cũng như người giám hộ và trẻ được giám hộ sau giai đoạn vị thành niên, là những chủ thể cùng giữ địa vị bình đẳng trước luật pháp chung. [K]hông còn bất kỳ quyền thế nào lưu lại nơi người cha đối với cuộc sống, tự do hay tài sản của người con, dù là họ chỉ đang trong một trạng thái tự nhiên và sống theo luật của nó, hay là đang sống dưới những luật xác thực của một chính quyền được thiết định.
§60. Nhưng nếu, thông qua những khiếm khuyết có thể xảy ra ngoài tiến trình bình thường của tự nhiên, người nào không đi đến trình độ lý trí như vậy, đặc điểm được cho là có năng lực nhận thức luật pháp, và từ đó mà sống trong khuôn khổ những quy tắc của nó, thì người đó không bao giờ có năng lực tồn tại của một người tự do. [A]nh ta không bao giờ được thả lỏng để tự do quyết định cho ý chí của chính mình (vì anh ta không biết gì về những giới hạn đối với nó, không nhận thức được về sự hướng dẫn đích thực của nó), mà được tiếp tục đặt dưới sự dạy bảo và quản lý của người khác, trong toàn bộ thời gian mà nhận thức của anh ta ở vào tình trạng thiểu năng trước trách nhiệm của ý chí tự do. Và vì thế mà người mất trí và người thiểu năng trí tuệ không bao giờ được để cho tự do rời khỏi sự quản lý của cha mẹ họ. Những đứa trẻ còn chưa đến tuổi có năng lực nhận thức - như sau đó chúng có thể có, những người đần độn tự nhiên bị loại trừ do một khiếm khuyết bẩm sinh, còn thứ ba là người điên mà hiện tại không có khả năng sử dụng lý trí một cách đúng đắn để tự hướng dẫn mình, là những người mà thay cho sự hướng dẫn của họ là cái lý trí được hướng dẫn bởi người khác, với vai trò là người giám quản, nhằm tìm kiếm và đem lại điều tốt đẹp cho họ, như Hooker nói (Hooker, Eccl. Pol. lib. i. sect. 7). Mọi thứ dường như không có gì hơn là cái bổn phận mà Thượng đế và tự nhiên đã đặt lên con người, cũng như những sinh vật khác, là bảo toàn cho con cái của họ, cho đến khi chúng có thể thay họ bảo toàn cho chính mình; và rốt cuộc đều hiếm khi là một minh họa hay bằng chứng cho vương quyền nơi cha mẹ đối với con cái.
§61. Như vậy, chúng ta sinh ra là tự do, như chúng ta sinh ra là có lý trí, mà - thật sự - không phải là chúng ta chỉ thực thi một trong hai điều đó; tuổi đời mang lại điều này và cũng mang lại điều kia cùng với nó. Vì thế, chúng ta thấy là sự tự do mặc nhiên của con cái đối với cha mẹ và sự phụ thuộc tự nhiên vào họ có thể bao hàm lẫn nhau như thế nào, và cả hai đều được xây dựng trên cùng một nguyên tắc. Một đứa trẻ tự do là từ địa vị của người cha của nó, từ hiểu biết của cha của nó, là những cái dùng để quản lý nó cho đến khi nó có hiểu biết của chính mình. Sự tự do của một người là khi bước vào tuổi khôn lớn; và sự phụ thuộc của một đứa trẻ vào cha mẹ chỉ trong quãng thời gian ngắn ngủi, là điều rất nhất quán và cũng rất tách biệt [với sự tự do của tuổi lớn khôn], đến mức mà những đối thủ mù quáng của điều này, vốn ủng hộ cho nền quân chủ, từ cơ sở của quyền làm cha, cũng không thể bỏ qua sự khác biệt như thế. [N]gười ngoan cố nhất cũng không thể làm gì ngoài việc cho phép sự nhất quán đó. Vì giả như chủ thuyết của họ hoàn toàn là sự thật, thì nay người thừa kế chính xác của Adam đã được biết đến, và bằng cái địa vị đó đã cố định một nhà vua vào ngai vàng, đã dồn vào đó mọi quyền lực vô hạn và tuyệt đối.
[S]ir Robert Filmer nói, nếu ông chết ngay khi người thừa kế của ông ra đời, thì đứa trẻ không phải phụ thuộc vào người mẹ và bảo mẫu của nó, vào những người giám hộ và người quản lý nó, mà vẫn cứ rất tự do, vẫn cứ có chủ quyền tối cao, cho đến khi tuổi tác và giáo dục đem lại cho nó lý trí và năng lực tự quản lý mình và quản lý người khác sao? Những điều thiết yếu của cuộc sống, sức khỏe của cơ thể và kiến thức của tâm trí, là những điều đứa trẻ cần đến sự hướng dẫn từ ý chí của người khác chứ không phải của chính nó. [C]ó ai sẽ nghĩ rằng sự kiềm tỏa và phụ thuộc này là mâu thuẫn với quyền tự do hay chủ quyền tối cao mà nó có quyền có, hoặc cướp đi của nó những điều đó, hoặc lấy đi sự kiểm soát bản thân của nó để trao cho những người có quyền quản lý giai đoạn vị thành niên của nó? Sự quản lý này chỉ là nhằm chuẩn bị cho đứa trẻ tốt hơn và sớm hơn cho quyền tự do và chủ quyền tối cao đó. Nếu có ai hỏi tôi, đến tuổi nào thì con của tôi được tự do? Tôi sẽ trả lời rằng cũng ở ngay cái tuổi mà đức vua của nó nắm quyền cai trị. Hooker sáng suốt nói (Hooker, Eccl. Pol. lib. i. sect. 6): Nhưng vào lúc nào mà một người có thể được cho là đã đạt đến mức độ sử dụng được lý trí một cách đầy đủ, khiến anh ta có được năng lực pháp lý và nhờ đó nắm lấy việc hướng dẫn hành động của mình, thì đây là một việc rất dễ dàng để nhận biết thay vì ai đó phải dùng kỹ năng và kiến thức để xác định.
§62. Chính các cộng đồng quốc gia sẽ lưu ý và cho phép có một thời điểm mà người ta bắt đầu hành động như một người tự do; và vì thế, đến thời điểm đó, không đòi hỏi có những lời thề trung quân hay trung thành, không cần đến một sự sở hữu công cộng hay một sự quy phục đối với chính quyền của đất nước họ.
§63. Vậy thì sự tự do và quyền tự do hành động theo ý chí của chính mình, nơi mỗi con người, đặt cơ sở từ việc anh ta có lý trí, là cái có thể hướng dẫn cho anh ta, trong phạm vi luật pháp mà theo đó anh ta tự chi phối bản thân mình, và là cái khiến anh biết mình được dành cho một sự tự do ý chí riêng đến mức độ nào. Để nhẹ nhàng chuyển hướng một người [từ việc chịu sự quản lý ở tuổi vị thành niên] sang một quyền tự do không bị kiểm tỏa, thì trước khi đứa trẻ có lý trí để tự hướng dẫn mình sẽ không có việc cho phép nó sử dụng đặc quyền tự do vốn thuộc bản tính của nó, ngoài việc cho phép đẩy đứa trẻ ra khỏi những kẻ cục xúc và không để nó đến với một tình trạng đáng thương và thấp kém như thế của một con người, như ở số người cục xúc này. Đây là điều luôn đặt thẩm quyền vào tay cha mẹ nhằm thực hiện việc quản lý con cái đang tuổi vị thành niên của họ. Thượng đế đã khiến đó là công việc của họ, nhằm thực hiện việc chăm sóc cho con cái và đặt vào chúng thiên hướng nhân hậu thích hợp, đồng thời lưu tâm tôi luyện quyền lực này, để áp dụng nó, như đấng Thông thái đã thiết kế vì lợi ích của con trẻ, chừng nào mà chúng còn cần sống trong phạm vi của quyền lực đó. §64. Nhưng lý do gì mà từ sự chăm sóc, vốn là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái họ, lại có thể phát triển thành một quyền thế độc đoán tuyệt đối của người cha, khi mà quyền lực của ông không thể đi xa hơn một kỷ cương mà ông nhận thấy có hiệu lực nhất, để đem lại cho chúng một cơ thể mạnh mẽ và khỏe khoắn, một tinh thần khí khái và chính trực, với tư cách là những gì có thể thích hợp nhất cho các con của ông khi cơ thể và tinh thần đó hữu ích nhất cho bản thân chúng và cho người khác, và nếu là cần thiết đối với điều kiện của ông - cơ thể và tinh thần đó khiến chúng biết làm việc khi có thể làm được, vì sự sinh kế của chúng. [N]hưng trong quyền lực này, người mẹ cũng có phần của bà cùng với người cha.
§65. Nói cho đúng ra, quyền lực này rất ít thuộc về người cha - theo bất kỳ quyền tự nhiên cụ thể nào, mà ông chỉ là người giám hộ của con cái, đến độ khi ông ngừng việc chăm sóc, ông mất đi quyền lực đối với chúng - cái quyền lực đi cùng với sự nuôi dưỡng và giáo dục vốn kết hợp chung vào nhau, không thể tách rời; và đây cũng là bổn phận của người cha nuôi của một đứa trẻ nào đó, như là bổn phận ở người cha đẻ của đứa trẻ khác vậy. Khi thực hiện thuần túy vai trò làm cha, chỉ có ít quyền lực được trao cho một người nếu tất cả sự chăm sóc của ông dừng lại ở vai trò thuần túy đó, và đây là tất cả địa vị ông có với danh nghĩa và thẩm quyền của một người cha.
[V]ậy còn điều gì sẽ trở thành quyền lực gia trưởng như thế này ở nơi nào đó trên thế giới mà người phụ nữ cùng lúc có nhiều chồng, hay như nhiều nơi ở châu Mỹ, khi chồng và vợ cắt đứt quan hệ - điều vẫn thường xuyên xảy ra, tất cả con cái được để lại cho người mẹ, theo mẹ, đặt hoàn toàn dưới sự chăm sóc và cấp dưỡng của bà? Nếu người cha chết đi lúc các con còn nhỏ, có phải là không tự nhiên khi mà khắp nơi đều là việc con cái có cùng bổn phận phục tùng đối với mẹ trong thời gian vị thành niên, như đối với cha của chúng khi ông còn sống? Và sẽ có ai nói, rằng người mẹ có quyền lập pháp đặt trên các con của bà, rằng bà có thể đưa ra các quy tắc thường trực, để trở thành những nghĩa vụ vĩnh viễn mà con cái phải điều tiết mọi việc liên quan về sở hữu và giới hạn quyền tự do của chúng theo đó, trong suốt dòng đời? Hay bà có thể áp đặt sự giám sát đối với chúng cùng với án tử hình hay không? Vì đây chính là quyền lực của quan cai trị mà quyền lực của người cha không thể có, dù chỉ với tư cách là cái bóng của nó. Mệnh lệnh của ông đối với các con chỉ là tạm thời và không chạm tới cuộc sống hay sở hữu của chúng, mà chỉ là một sự giúp đỡ cho sự yếu ớt và chưa hoàn thiện của tuổi vị thành niên, một thứ kỷ luật cần thiết cho việc giáo dục chúng. Và dù người cha có thể sắp xếp tài sản của riêng mình như ông muốn, khi các con của ông không bị đe dọa sẽ bỏ mạng vì thiếu thốn, thì quyền lực của ông không mở rộng ra để chạm đến cuộc sống hay tài sản mà chúng có được hoặc bằng sự cần cù của riêng chúng, hoặc vốn là vật tặng của người khác; mà quyền lực đó cũng không mở rộng ra để chạm đến quyền tự do của chúng một khi chúng đã đi đến sự giải phóng của tuổi trưởng thành. Đế chế của người cha chấm dứt từ đây, và ông không thể tiếp tục sắp đặt lên quyền tự do của con cái nhiều hơn là sự sắp đặt như thế đối với bất kỳ ai khác. Và đó chắc chắn không là một quyền tài phán tuyệt đối hay vĩnh viễn mà một người có thể tự rút lui, sau khi nhận được sự cho phép từ thẩm quyền thần thánh để rời khỏi cha mẹ và đi trung thành với vợ của mình.
§66. Nhưng dù có một thời điểm mà người con đi đến chỗ tự do, không phụ thuộc vào ý chí và mệnh lệnh của cha, như chính cha của anh tự do, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai, và mỗi người họ đều không sống dưới sự kiềm tỏa nào khác ngoài cái chung đối với cả hai, dù đó là luật của tự nhiên hay luật của riêng đất nước họ. [N]hưng sự tự do này không loại trừ người con khỏi sự tôn kính mà anh ta phải có, theo luật của Thượng đế và luật tự nhiên, để trả ơn cha mẹ mình. Thượng đế đã tạo cho cha mẹ những công cụ, theo chủ định vĩ đại của ngài, để nối tiếp loài người và đem lại cơ hội cuộc sống cho con cái của họ. Ngài đã đặt lên cha mẹ nghĩa vụ nuôi nấng, bảo toàn, dưỡng dục con cái, vì thế cũng đặt lên con cái nghĩa vụ vĩnh viễn phải tôn kính cha mẹ. [N]ó chứa đựng sự quý trọng và sùng kính nội tâm, và được bộc lộ bằng tất cả những gì thể hiện ra, gắn với người con trước bất cứ điều gì có thể là xúc phạm hay lăng mạ, gây lo âu hay tạo đe dọa, đối với niềm hạnh phúc hay sinh mạng của những người mà từ họ anh ta đã nhận được những gì thuộc về anh; và cũng gắn kết anh ta với mọi hành động phòng vệ, sự thư thái, việc trợ giúp hay sự an nhàn cuộc sống của những người mà nhờ họ anh đã ra đời và tạo cho anh năng lực hưởng thụ cuộc sống. Từ nghĩa vụ này, không một nhà nước nào, một nền tự do nào có thể miễn trách nhiệm đó cho con cái. Nhưng điều này khác rất xa việc cho cha mẹ có một quyền lực mệnh lệnh lên con cái, hay thẩm quyền làm luật và sắp đặt theo ý muốn đối với đời sống và tự do của con cái họ. Một bên là có được danh giá, tôn trọng, hàm ơn và trợ giúp, trong khi bên kia là đòi hỏi sự tuân lệnh và phục tùng tuyệt đối. Sự danh giá hàm ơn đối với cha mẹ, một ông vua trên ngai vàng còn chịu ơn mẹ của mình; điều này không làm giảm đi quyền uy của ông và ngược lại, cũng không buộc ông phụ tùng theo sự cai quản của bà.
§67. Sự phụ thuộc của một người vị thành niên đặt người cha vào vị thế cai quản tạm thời, sẽ kết thúc cùng với sự kết thúc tuổi vị thành niên của trẻ; và sự tôn kính nhận được từ đứa trẻ cũng đặt cha mẹ vào một quyền vĩnh viễn được quý trọng, sùng kính, nương tựa và vâng lời, dù ít hay nhiều; như là sự chăm sóc, phí tổn và sự ân cần của người cha đã có, dù nhiều hay ít, trong quá trình giáo dục của ông. Quyền này không kết thúc cùng sự kết thúc của tuổi vị thành niên, mà ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh và bối cảnh của cuộc sống một con người. Nhưng không có sự phân biệt giữa hai quyền lực này, tức là quyền mà người cha có khi dạy dỗ trong giai đoạn vị thành niên, với cái quyền được tôn kính suốt đời của ông, có lẽ đã là phần lớn nhất gây nên những sai lầm trong vấn đề này. Vì, nói một cách đúng đắn về chúng, thì cái quyền đầu đúng ra là một đặc ân của con cái, và là bổn phận của cha mẹ thay vì là một đặc quyền hành động⁴¹ của quyền lực gia trưởng. Nuôi dưỡng và giáo dục con cái là gánh vác một trách nhiệm vốn đã đặt lên cha mẹ, vì lợi ích của con cái họ, là điều mà không gì có thể miễn trừ họ khỏi phải bận tâm đến. Và dù quyền ra lệnh và trừng phạt đi cùng với trách nhiệm này, Thượng đế cũng đã gắn kết vào đó những nguyên tắc của bản tính con người để có sự nhân hậu dành cho con cái họ, đến mức có rất ít e sợ về việc cha mẹ dùng quyền lực của mình quá sức khắc nghiệt; sự thái quá hiếm khi nghiêng về phía khắc khe, chiều hướng mạnh mẽ của tự nhiên vạch nên một con đường khác. Và vì thế Thượng đế toàn năng, khi biểu lộ sự hiền hòa trong cách đối xử với người Do Thái, ngài nói với họ rằng dù ngài trừng phạt họ, ngài trừng phạt như một người đi trừng phạt con của mình (Deut. viii. 5, i. e.)⁴², tức là bằng sự nhân hậu, tình thương, và đặt họ dưới một kỷ luật mà sự khắc khe của nó không hơn gì điều chắc chắn là tốt nhất đối với họ, cũng như không có ít tử tế để giảm bớt sự quyết liệt. Đây là loại quyền lực mà con cái được lệnh phải tuân thủ, đến mức mà những cố gắng và quan tâm của cha mẹ không thể tăng thêm được nữa, mà cũng không thể được đền đáp một cách yếu ớt.
§68. Về phía kia, tôn kính và nương tựa - tất cả những gì mà sự biết ơn đòi hỏi đáp lại cho những lợi ích đã nhận được từ cha mẹ, là bổn phận không thể thiếu được của con cái và là đặc ân thích đáng của cha mẹ. Điều này dành cho lợi ích của cha mẹ, cũng như nuôi dưỡng và giáo dục là cho lợi ích của con cái, dù giáo dục - bổn phận của cha mẹ - dường như có quyền lực hơn cả, vì sự khờ dại và yếu ớt của thời thơ ấu cần đến sự kiềm tỏa và trừng phạt, vốn là sự thực thi có thể nhận thấy của các quy định và là một kiểu thống trị. Còn cái bổn phận được tổng hợp trong từ tôn kính ít đòi hỏi sự tuân lệnh, dù có một nghĩa vụ mạnh hơn đặt lên trẻ trưởng thành so với lên trẻ chưa trưởng thành. Đối với người nghĩ rằng mệnh lệnh: Con cái, hãy tuân lệnh cha mẹ các ngươi quy định ở một người, rằng con của anh ta có cùng sự phụ thuộc vào cha của anh, như sự phụ thuộc của những trẻ nhỏ này vào anh; và bằng lời giáo huấn như vậy, anh ta đã chịu sự ràng buộc phải tuân theo mọi mệnh lệnh của cha anh cho dù, do một sự tự phụ quyền uy, ông sẽ thiếu khôn ngoan khi đối xử với anh vẫn như với một đứa trẻ.
§69. Vậy thì, phần trước tiên của quyền lực gia trưởng, hay đúng hơn là bổn phận giáo dục, là thuộc về người cha, là điều sẽ kết thúc vào một thời gian nhất định. Khi công việc giáo dục này đến lúc chấm dứt, tự nó sẽ qua đi. [C]ũng có thể có sự chuyển đổi trước, khi có người đặt việc dạy dỗ con mình vào tay người khác, và ông trao con mình, với tư cách người bước vào học nghề, cho người khác. [V]ào lúc đó, ông đã tháo bỏ cho con phần nhiều sự tuân lệnh đối với cả ông và vợ ông. Nhưng còn phần kia [của quyền lực này], mọi nghĩa vụ tôn kính vẫn được giữ vẹn toàn đối với họ; không gì có thể xóa bỏ điều đó. Không thể nào tách rời điều này giữa cha và mẹ, đến mức quyền uy của người cha không thể tước mất quyền của người mẹ, mà cũng không ai có thể gỡ bỏ người con ra khỏi sự tôn kính đối với mẹ dù điều đó có làm phiền lòng người này. Nhưng sự tôn kính này đối với cả hai không hề giống với quyền định ra luật và tạo cho nó hiệu lực bằng những hình phạt đụng chạm đến điền sản, quyền tự do, thân thể hay sinh mạng. Quyền lực mệnh lệnh chấm dứt cùng với tuổi vị thành niên, và dù sau đó sự tôn kính và quý trọng, nương tựa và bảo vệ, hay với bất kỳ lòng biết ơn nào - luôn có ở con cái đối với cha mẹ mình vì những lợi ích cao nhất đã có được một cách tự nhiên, mà vốn cũng không thể đặt quyền trượng vào tay người cha - thì cũng không thể buộc người ta vào một quyền lực mệnh lệnh tối cao nào cả. Ông không có quyền thống trị đối với sở hữu hay hành động của con ông, mà cũng không có quyền gì để có thể buộc con ông phải thi hành ý chí của ông trong tất cả các việc của chúng, cho dù nó có thể thích hợp cho người con ở những việc không có nhiều phiền phức cho anh và gia đình của anh khi tỏ lòng tôn kính đối với ý chí đó.
§70. Người ta có thể có sự tôn kính và quý trọng với người xưa hay một người thông thái, có sự bảo vệ cho con cái hay bạn bè, có việc cứu tế hay cấp dưỡng cho người cùng khổ và có sự biết ơn đối với người hảo tâm, đến độ là tất cả những gì anh ta có, tất cả những gì anh ta có thể làm không thể đủ để trả ơn. Nhưng cũng tất cả những điều này không đem lại một thẩm quyền nào, một quyền nào cho bất cứ ai, để định ra luật pháp đặt lên trên người chịu ơn. Và thật dễ hiểu, tất cả điều này không chỉ vì cái địa vị trần trụi của người cha, không chỉ vì - như đã nói đến - cũng có sự chịu ơn đối với người mẹ, mà vì những nghĩa vụ đối với cha mẹ và các mức độ đòi hỏi đối với con cái có thể khác nhau, do có sự khác nhau trong việc chăm sóc và sự ân cần, của những rối rắm và phí tổn, là những điều thường không phải như nhau ở mọi đứa trẻ.
§71. Điều này cho thấy lý do diễn ra, như thực tế diễn ra, của việc các bậc cha mẹ trong xã hội, nơi chính họ cũng là những thần dân, vẫn giữ lấy quyền lực đối với con cái và có rất nhiều quyền đối với sự phục tùng của chúng, như ở mức của những người đang sống trong trạng thái tự nhiên. Điều không thể khả dĩ là, nếu mọi quyền lực chính trị chỉ là quyền lực gia trưởng - và thực vậy, chúng đã là một và cùng chung một thứ, vậy thì tất cả quyền lực gia trưởng là ở nơi quân vương, thần dân không thể có phần trong đó. Nhưng hai loại quyền lực này, quyền lực chính trị và quyền lực gia trưởng, là hoàn toàn phân biệt và tách rời nhau, được xây dựng trên những nền tảng rất khác nhau, và đem lại những kết cục rất khác nhau, đến mức những thần dân nào đang làm cha cũng có một quyền lực gia trưởng lên con cái bằng với quyền lực mà một quân vương có đối với con của ngài. Và quân vương, vốn cũng có cha mẹ, có sự tuân lệnh và bổn phận của đạo làm con, bằng với sự tuân lệnh và bổn phận mà các thần dân tầm thường của ông có đối với cha mẹ của họ, và vì thế không thể bao hàm bất kỳ phần nào hay mức độ nào của cái kiểu thống trị mà một quân vương hay một quan cai trị có đối với thần dân của mình.
§72. Dù nghĩa vụ mà cha mẹ phải nuôi dưỡng con cái của mình và nghĩa vụ mà con cái phải tôn kính cha mẹ của họ, chúng hàm chứa mọi quyền lực ở mặt này và sự phục tùng ở mặt kia - vốn thích đáng với quan hệ này; vẫn còn có một quyền lực khác, thông thường là ở người cha, và nhờ đó ông ràng buộc sự tuân lệnh của các con ông. [Q]uyền lực đó, dù có chung với người khác, thì những dịp thể hiện nó hầu như diễn ra liên tục cho những người làm cha, trong gia đình riêng của họ; và những minh họa về nó, ở nơi khác - ngoài gia đình, là hiếm hoi và ít được chú ý. [N]ó đi qua trên thế giới này vì một phần của quyền tài phán gia trưởng. Và nói chung, đây là quyền lực mà con người có để tặng di sản của họ cho những người làm hài lòng họ nhất. Tài sản của người cha là sự mong đợi và sự thừa kế của con cái, bình thường thì ở những phần nhất định, theo luật pháp và phong tục của mỗi nước, nhưng nó lắm khi là quyền của người cha trong việc ban tặng, bằng bàn tay nhiều dè xén hay hào phóng là tùy theo hành vi của đứa con này hay đứa con khác khi xử sự trước ý chí và tính khí của ông.
§73. Không có ràng buộc nhỏ nào vào sự tuân lệnh của con cái, và luôn thêm vào việc thụ hưởng đất đai một sự phục tùng đối với chính quyền của đất nước có phần đất đó. Thường người ta hay nghĩ rằng một người cha có thể bắt con cháu mình phục tùng chính quyền này khi chính ông là một thần dân của nó; rằng giao ước của ông đã chi phối chúng, trong khi nó chỉ là một điều kiện cần thiết được thêm vào khu đất và quyền thừa kế một điền sản, vốn đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền, chỉ động chạm đến những người sẽ nhận nó theo điều kiện này, và vì thế không hề là ràng buộc hay cam kết mặc nhiên, mà là một sự phục tùng tự nguyện; vì con cái của mỗi người, theo tự nhiên, cũng tự do như chính ông hay cha ông của ông từng có, có thể, khi sống trong sự tự do đó, đã chọn một xã hội mà họ sẽ tự gắn kết mình với nó, đã chọn một cộng đồng quốc gia mà họ sẽ tự đặt mình vào đó. Nhưng nếu họ thích thú việc thừa kế từ cha ông của họ, họ phải nhận nó theo cùng những điều khoản mà cha ông họ đã có, và chấp nhận tất cả những điều kiện được thêm vào với một tài sản như vậy. Bằng quyền lực này, những người làm cha thật sự buộc con cái tuân lệnh họ ngay cả khi tuổi vị thành niên của chúng đã qua, và cũng rất nhiều khi buộc con cái khuất phục trước quyền lực chính trị này hay quyền lực chính trị khác. Nhưng cả hai điều này đều không xuất phát từ một quyền đặc biệt nào đó của địa vị người cha, mà từ sự tưởng thưởng họ có trong tay để tạo hiệu lực và đáp đền cho việc thuận theo ý họ. [V]à không một quyền lực nào nhiều hơn là một người Pháp có đối với một người Anh, khi từ những hy vọng về một điền sản để lại cho anh ta, sẽ chắc chắn có sự ràng buộc mạnh mẽ vào sự tuân lệnh của mình; và nếu thích thú với nó - khi được để lại, anh chắc chắn nhận nó theo những điều kiện được thêm vào cùng với số tài sản đất đai này ở đất nước mà nó tọa lạc, dù là Pháp hay Anh.
§74. Vậy thì, để kết luận, dù quyền lực mệnh lệnh của người cha không kéo dài qua khỏi tuổi vị thành niên của con ông, và chỉ ở mức độ thích hợp cho kỷ luật và việc quản lý đối với lứa tuổi này; và dù có sự tôn kính và quý trọng cũng như tất cả những gì mà người Latin⁴³ gọi là hiếu thảo - là việc chịu ơn không thể nào thiếu được đối với cha mẹ trong suốt cuộc đời họ, ở mọi điền sản, với mọi sự nuôi nấng và bảo vệ vốn có được từ cha mẹ - cũng
không đem lại cho cha mẹ quyền lực cai trị nào, tức việc làm ra luật pháp và quy định các hình phạt có tính pháp lý đối với con mình.
[D]ù với tất cả những điều này, ông không hề có quyền chi phối đối với sở hữu hay hành động của con ông, nhưng rõ ràng rất dễ hình dung là trong buổi đầu của thế giới này, và nay vẫn còn ở nhiều nơi, sự thưa thớt của cư dân phó mặc cho các gia đình phân tán vào những vùng vô chủ, và họ có chỗ để tự di chuyển hay đến định cư tại những vùng cư trú còn chưa có người, để người cha của gia đình trở thành quân vương của vùng này. [Ô]ng đã là một nhà cai trị từ lúc bắt đầu, vào thời các con ông còn thơ ấu; và [khi chúng lớn lên]⁴⁴ vì lẽ không có chính quyền nào đó thì sẽ khó cho chúng khi sống chung với nhau, nên khả năng cao nhất là bằng sự chấp thuận công khai hay ngầm ẩn của những người con đã lớn, đặt chính quyền này vào người cha, nơi có lẽ vừa đủ để tiếp tục mà không có những thay đổi. Và khi thật sự không có gì cần đến hơn là việc cho phép một mình người cha thi hành, trong gia đình của ông, quyền thực thi luật tự nhiên mà mỗi người tự do đều đã mặc nhiên có, và bằng sự cho phép đó trao cho ông một quyền lực quân chủ, đồng thời họ cũng duy trì trong phạm vi quyền lực đó. Nhưng điều này không phải là từ một quyền gia trưởng nào cả, mà chỉ từ sự chấp thuận của các con ông. [B]ằng chứng mà không ai nghi ngờ là từ đây, dù chỉ là một người lạ nào đó, đến với gia đình này từ sự tình cờ hay do công việc, và tại đây đã phạm phải một sự việc bất kỳ hay giết một người con của ông, thì ông có thể kết tội và bắt người này phải chết hoặc đưa ra hình phạt khác, như đối với người con nào đó của ông, là điều mà ông không thể thực hiện từ quyền lực gia trưởng đối với một người không phải là con ông, mà chỉ từ quyền thực thi luật tự nhiên mà ông có quyền, với tư cách một con người. [V]à tự một mình ông có thể trừng phạt người này trong gia đình của ông, nơi mà sự kính trọng của các con ông đặt trên việc thực thi một quyền lực như vậy, khi chuyển giao phẩm giá và thẩm quyền mà họ sẵn lòng tiếp tục để lại nơi ông, và ông trở thành người đứng trên những người còn lại của gia đình.
§75. Vì vậy, thật dễ dàng và hầu như là tự nhiên đối với con cái, bằng sự chấp thuận ngầm ẩn và hiếm khi tránh được, đã dọn đường cho thẩm quyền và chính quyền của người cha. Họ đã được tập cho quen từ nhỏ, để đi theo hướng của ông, để quy những khác biệt nhỏ giữa họ với nhau về cho ông xử lý. [V]à khi họ đã là những người đàn ông, còn ai là người thích hợp hơn để cai trị họ? Những tài sản ít ỏi của họ, và cũng ít có sự tham lam, hiếm khi đủ sức tạo ra những tranh cãi lớn; và khi có điều gì đó nảy sinh, đâu là nơi họ có thể có một người phân xử thích hợp hơn là ông, vốn bằng sự chăm sóc đã khiến mỗi người con đó được nuôi dưỡng và duy trì cuộc sống; và còn ai đã có sự nhân hậu với tất cả họ [hơn là ông]? Không có gì ngạc nhiên khi họ đã không phân biệt giữa thời vị thành niên và tuổi trưởng thành, mà cũng không tìm kiếm nó sau tuổi hai mươi mốt hay một độ tuổi nào khác mà có thể tạo cho họ vị thế của những người sắp đặt tự do đối với bản thân và số phận của chính mình, khi mà họ không hề mong muốn ra khỏi tình trạng giám hộ đối với mình. Cái chính quyền mà họ sống dưới đó đã tiếp tục là nơi bảo vệ hơn là nơi kiềm tỏa họ, và họ không thể tìm ra một nơi nào nữa có được sự bảo đảm lớn hơn cho hòa bình, cho các quyền tự do và cho số phận của họ, hơn là nơi có sự cai trị của một người cha.
§76. Vì thế mà những người cha mang tính tự nhiên của các gia đình, bằng một thay đổi không nhận biết được, cũng đã trở thành những nhà vua mang tính chính trị. [K]hi những người cha này may mắn mà sống thọ và để lại những người thừa kế có khả năng và xứng đáng, trong vài đời kế vị, hay theo cách thức khác nào đó, thì vì thế mà họ đã đặt nền tảng cho các vương quốc có tính cha truyền con nối hay những vương quốc có sự bầu chọn, dưới sự chi phối của một số hiến chế và tập quán, và cũng tùy dịp, theo sự sắp đặt hay cơ hội khi diễn ra mà đúc nên vương quốc theo dạng nào. Nhưng dù các quân vương có được tước vị bằng quyền của cha mình, và nó là bằng chứng đầy đủ của quyền tự nhiên của người cha đối với thẩm quyền chính trị, vì họ thường là những người mà trên thực tế nắm trong tay công việc hành xử của chính quyền; thì tôi có thể nói rằng nếu lập luận này là đúng, nó cũng sẽ minh chứng một cách mạnh mẽ rằng mọi quân vương, nói cho đúng là chỉ các quân vương, cần phải là những thầy tư tế, vì vào lúc khởi đầu, người cha của gia đình đã là một thầy tư tế, chắc chắn như ông đã là người cai trị trong hộ gia đình của riêng mình.
Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005
Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy
