Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 3: Về trạng thái chiến tranh
§16. Trạng thái chiến tranh là trạng thái của thù địch và hủy diệt; và bởi vậy, việc tuyên bố bằng ngôn từ hay bằng hành động một ý đồ nhắm vào sinh mạng của người khác - không phải từ thái độ nóng giận và vội vã, mà từ sự điềm tĩnh và chuẩn bị chín chắn - ai đó đã đặt mình vào trạng thái chiến tranh với người mà anh ta đã tuyên bố ý định như vậy, và vì thế mà cũng đặt sinh mạng của mình vào phạm vi quyền hạn có thể lấy nó đi của người bị nhắm đến, hay của bất kỳ ai khác liên kết với người này trong việc phòng vệ và tán thành tranh cãi của anh ta. [L]à điều hợp lý và công bằng khi tôi có quyền tiêu diệt cái đe dọa tiêu diệt tôi, vì theo luật tự nhiên làm căn bản đó, con người được quyền bảo toàn đến mức tối đa có thể được. [K]hi mà tất cả đều không thể được bảo toàn, thì sự an toàn của người vô tội là điều được ưu tiên; và một người có thể tiêu diệt người gây ra chiến tranh chống anh ta hay khi khám phá ra một thái độ thù địch đối với sự tồn tại của mình, với cùng lý do khi tôi giết một con sói hay sư tử. [D]o những người như vậy không đặt mình vào sự gắn kết với Dưới đây là toàn bộ văn bản được trích xuất từ hình ảnh tiếp theo của bạn: luật lý trí chung, không có quy tắc nào khác ngoài quy tắc của vũ lực và bạo lực, và vì thế họ có thể bị đối xử như những con thú săn. [N]hững sinh vật nguy hiểm và độc hại đó chắc chắn sẽ hủy diệt người khác, bất cứ khi nào những người này rơi vào vòng quyền lực của chúng.
§17. Và từ đây, người nào ra sức đặt người khác vào vòng quyền lực tuyệt đối của mình cũng là sẽ đặt chính mình vào trạng thái chiến tranh với người đấy; nỗ lực đó được hiểu như một tuyên bố về ý đồ đối với sinh mạng của người bị nhắm đến. Tôi có lý do để kết luận rằng người muốn đặt tôi vào vòng quyền lực của anh ta mà không có sự chấp thuận của tôi, sẽ sử dụng tôi cho sự thỏa mãn của anh ta khi đặt được tôi vào đó, và cũng sẽ hủy diệt tôi khi anh ta nghĩ đến như vậy; vì không ai được phép có ý muốn đặt tôi trong quyền lực tuyệt đối của anh ta, trừ khi là cưỡng bức tôi bằng vũ lực, đến mức chống lại quyền có tự do của tôi, tức là biến tôi thành nô lệ. Không để mất tự do cho thứ vũ lực như vậy, đó là an toàn duy nhất cho sự bảo toàn của tôi. [V]à cái giá hợp lý đối với tôi là xem anh ta như một kẻ thù địch với sự bảo toàn của mình, là người sẽ lấy đi cái tự do đóng vai trò như một hàng rào phòng vệ cho sự bảo toàn đó; để cho con người đang ra sức nô lệ hóa tôi đó, vì thế mà sẽ tự đặt anh ta vào trạng thái chiến tranh với tôi. Người nào, trong trạng thái tự nhiên mà lấy đi tự do vốn thuộc về người khác, thì nhất thiết cần giả định rằng cũng sẽ có ý đồ lấy đi thứ khác nữa, đó chính là sự tự do
Dưới đây là toàn bộ văn bản được trích xuất từ hình ảnh tiếp theo của bạn:
nền tảng của tất cả những con người còn lại. [N]gười nào, trong trạng thái xã hội mà lấy đi tự do vốn thuộc về những người khác hay thuộc về toàn thể cộng đồng trong xã hội, thì nhất thiết cần giả định rằng cũng sẽ có ý đồ lấy đi của họ thứ khác nữa, và vì thế người đó bị xem như đang trong trạng thái chiến tranh.
§18. Điều này đem lại tính hợp pháp cho một người khi giết một kẻ trộm, vốn không hề gây ra chút đau đớn nào cho người này, mà cũng không tuyên bố ý đồ nào đối với sinh mạng của anh ta - không có gì hơn là trộm. [B]ằng cách sử dụng vũ lực, khi kẻ trộm lấy đi tiền bạc hay thứ gì đó đem lại sự thỏa mãn, anh ta đã đặt kẻ trộm này vào phạm vi quyền lực của mình. [V]ì việc sử dụng vũ lực ở một phạm vi mà ai đó không có quyền dùng, nhằm đặt tôi vào vòng quyền lực của anh ta, khiến tôi không có lý do gì để nghĩ rằng anh ta - người sẽ lấy đi tự do của tôi khi có tôi trong vòng quyền lực của mình - sẽ không đòi hỏi lấy đi thứ khác nữa; nên sẽ là hợp pháp để tôi hành xử với anh ta như là người tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với tôi, tức là tôi có thể giết anh ta nếu được. [D]o mỗi nguy hiểm mà một người phải tự phô bày ra, bất kỳ ai cũng có thể bước chân vào trạng thái chiến tranh và trở thành kẻ gây hấn trong trạng thái đó.
§19. Và ở đây chúng ta có được sự khác biệt rõ rệt giữa trạng thái tự nhiên và trạng thái chiến tranh, điều mà một số người vẫn lúng túng. [G]iữa chúng có
một khoảng cách xa, cũng như sự cách xa giữa trạng thái của hòa bình, thiện chí, tương trợ và bảo toàn, với trạng thái của sự thù địch, ác tâm, bạo lực và hủy diệt lẫn nhau, lần lượt từ người này đến người khác. Khi người ta sống với nhau theo lý trí, không có một phẩm vị thế tục cao hơn nào trong cộng đồng, với thẩm quyền để phán xử giữa những con người đó, thì đây đích thị là trạng thái tự nhiên. Nhưng khi vũ lực hay một ý đồ vũ lực công khai nhắm vào những cá nhân khác, ở nơi cũng không có phẩm vị cao hơn đó để người ta có thể cáo kiện đến yêu cầu cứu giúp, thì đó là trạng thái chiến tranh. [V]à sự thiếu vắng một nơi để cáo kiện như thế sẽ thậm chí cho người ta cả cái quyền chiến tranh để chống lại kẻ gây hấn, cho dù hắn ta sống trong xã hội và là một người đồng bào [với người bị gây hấn].
Vì thế, với một kẻ trộm mà vốn tôi không thể gây hại gì ngoài việc cáo kiện với luật pháp về tất cả những gì đáng giá của tôi đã bị lấy mất, thì tôi lại có thể ra tay giết khi hắn tấn công tôi nhằm cướp đi con ngựa hay cái áo choàng; bởi luật này - vốn được làm nên vì sự bảo toàn của tôi, lại không thể can thiệp để bảo vệ sinh mạng tôi trước vũ lực hiện thời, là cái mà nếu mất đi thì không gì có thể bồi thường - cho phép tôi tự bảo vệ lấy mình và thực hiện quyền chiến tranh, một quyền tự do để giết chết kẻ gây hấn, vì hắn ta không cho tôi có thời gian để cáo kiện đến người phán xử chung của chúng tôi, mà phán quyết của luật pháp cũng
không đem lại được phương cách nào trong trường hợp có sự tổn hại không thể nào cứu vãn được. Thiếu vắng người phán xử chung có thẩm quyền luôn đặt mọi người vào một trạng thái tự nhiên; vũ lực mà không mang quyền, nhắm vào cá nhân con người, luôn tạo nên trạng thái chiến tranh, cả ở nơi có và không có người phán xử chung.
§20. Nhưng khi vũ lực thực tại qua đi, trạng thái chiến tranh chấm dứt giữa những người sống trong xã hội, và cả hai phía đều bình đẳng trong việc phải phục tùng quyết định công minh của pháp luật; vì khi ấy có những điều hợp lệ để mở ra phương cách cáo kiện cho sự phương hại của quá khứ và ngăn ngừa việc thiệt hại trong tương lai. [N]hưng ở nơi không có được sự cáo kiện này, như trong trạng thái tự nhiên, do thiếu vắng những luật xác thực và các quan tòa có thẩm quyền để cáo kiện đến, thì trạng thái chiến tranh, một khi đã bắt đầu, sẽ tiếp tục với quyền của phía không gây hại được tiêu diệt người kia bất cứ khi nào anh ta có thể, cho đến khi kẻ gây hấn đưa đề nghị hòa bình và mong muốn hòa giải, theo những điều khoản có thể sửa chữa những sai lầm mà hắn đã làm và bảo vệ cho người không gây hại trong tương lai. Ngược lại, nơi nào có thể cáo kiện đến luật pháp và các phán quan được thiết định, khi mà những điều hợp lệ mở ra nhưng phương cách cứu chữa đó thì lại bị phủ nhận bởi sai lầm rõ rệt của công lý và có sự bóp méo trơ tráo đối với luật pháp, nhằm bảo vệ cho
bạo lực của một số người hay một phe đảng, hoặc nhằm bảo đảm gây ra những phương hại [cho số khác], thì nơi đó khó mà hình dung điều gì khác ngoài một trạng thái chiến tranh, vì hễ nơi nào bạo lực được sử dụng, phương hại bị gây ra, dù từ những bàn tay được chỉ định vào vị trí thực thi công lý, thì đó vẫn là bạo lực và phương hại dù có được tô vẽ bằng danh xưng, những điều ngụy tạo, hay những hình thức nào đó của luật. [M]ục đích của luật pháp là bảo vệ và bồi thường cho người vô tội, bằng việc áp dụng một cách không thiên vị đối với tất cả những ai sống dưới sự chi phối của nó; nhưng hễ nơi đâu mà sự lừa dối được thi hành, chiến tranh được thực hiện nhắm vào những người phải cam chịu, vốn không hề có nơi nào để cáo kiện nhằm chỉnh đốn lại, thì trong những trường hợp như vậy, phương cách giải quyết chỉ là để mặc cho họ kiện cáo đến trời cao.
§21. Tránh đi trạng thái chiến tranh này (ở nơi không thể cáo kiện đến trời cao, và là nơi mà ngay mỗi khác biệt nhỏ nhất cũng có khuynh hướng đi đến cùng, nơi mà không có một thẩm quyền nào để phán xử giữa các đối thủ) là một nguyên do cao cả của việc người ta tự đặt mình vào [trạng thái] xã hội và rời bỏ trạng thái tự nhiên; vì nơi đâu có một thẩm quyền, một quyền lực mà từ đó sự cứu giúp có thể có được bằng việc cáo kiện, nơi đó sự tồn tại của trạng thái chiến tranh bị loại trừ, và tranh cãi được phán xử từ quyền lực này. Có một tòa án nào như vậy đâu, có một cơ quan tài phán cao hơn nào như vậy đâu, để phân xử lẽ phải giữa Jephtha và người Ammon²², để họ không bao giờ đi đến trạng thái chiến tranh? [M]à ta thấy rằng ông đã buộc phải cáo với trời cao, ông nói: đấng Phán xét tối cao là người phân xử vào lúc này, giữa con cái của người Israel và con cái của người Ammon (Judg. xi. 27)²³, và rồi tiếp sau, dựa trên lời cáo đó của mình, ông dẫn đầu đoàn quân ra trận. [V]ì thế, trong những tranh cãi như vậy, vấn đề được đặt ra là ai sẽ là người phán xử? Nó không thể mang nghĩa là ai sẽ quyết định cuộc tranh cãi; mọi người đều biết điều mà Jephtha nói với chúng ta ở đây, rằng đấng Phán xét tối cao sẽ phán xử. Nơi không có người phán xử chốn trần thế, sự cáo kiện hợp lệ là đến Thượng đế nơi trời cao. Câu hỏi này không có nghĩa là ai sẽ phân xử, dù người khác có tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với tôi hay không, và tôi có thể, như Jephtha đã làm, cáo kiện đến trời cao hay không? Về điều đó, tự tôi chỉ có thể là người phán xử bằng lương tâm của chính mình, như tôi sẽ trả lời cho đấng Phán xét tối cao của tất cả mọi người, vào cái ngày phán xét cuối cùng.
²² Jephtha (Jephthah) là người thứ chín trong số mười lăm phán quan thuộc thời đại của các phán quan tại Israel, những người đóng vai trò thủ lĩnh, người lãnh đạo cao nhất lúc đó, trước khi bước vào thời đại của các vị vua. Jephtha đã từng bị người những người anh em cùng cha khác mẹ của mình đuổi khỏi Gilead, phải đến Tob cư trú. Nhưng khi người Israel tiến hành chiến tranh chống lại người Ammon, họ tìm kiếm người được cho là Chúa trời đã chọn để lãnh đạo, và đó chính là Jephthah.
Xin lưu ý rằng mười lăm phán quan này, theo cách hiểu của các tài liệu Thiên chúa giáo, là những người thực hiện các phán xét của Chúa chứ không phải người làm công việc phân xử. Tuy nhiên, với các bản văn thế tục, "phán quan" vẫn được hiểu theo nghĩa sau, mà như ta thấy ở đây, các nhân vật và "điển tích" trong kinh thánh vẫn được Locke dùng để dẫn giải cho việc cần có người phân xử các tranh chấp thế tục, giữa những con người thế tục, khi ông đề cập đến trạng thái tự nhiên và trạng thái xã hội.
²³ Quyển Thủ lĩnh (hoặc Phán quan), Cựu ước.
Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005
Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy
