Các khái niệm ngữ pháp cơ bản của Ayn Rand - Phần 1
Leonard Peikoff (LP): Xin chào. Chào mừng các bạn đến với bài “Các nguyên tắc ngữ pháp”. Một lát nữa, tôi sẽ định nghĩa cho các bạn về ngữ pháp, còn bây giờ, ngay từ đầu tôi muốn đề cập đến từ “nguyên tắc”. Trong khóa học này, tôi quan tâm các vấn đề về những ý niệm ngữ pháp cơ bản, những khái niệm rộng nhất, những ý niệm cơ bản quan trọng nhất của chủ đề. Chúng ta sẽ không nhắc lại các chi tiết hay những điểm nhỏ nhặt hay danh sách dài vô tận đúng bài bản về điều cụ thể cần thuộc lòng. Nói cách khác, có rất nhiều điểm ngữ pháp mà tôi sẽ không trình bày, tôi nghĩ bạn có thể tra cứu khi cần thiết. Trong các buổi học này, tôi muốn cung cấp cho bạn một thứ mà tôi nghĩ khó có được từ sách hơn và đó chính là sự hiểu biết rõ ràng về cấu trúc và nền tảng cơ bản của ngữ pháp cũng như bản chất của các vấn đề ngữ pháp. Nếu bạn nắm được thì sẽ dễ dàng tìm kiếm các thông tin chi tiết ở trong sách và bạn sẽ có ngữ cảnh để có thể hiểu được chúng. Ở những điểm phù hợp, tôi sẽ cung cấp cho bạn..., ở những điểm phù hợp và những điểm tôi có thể, tôi cũng sẽ cung cấp cho bạn cơ sở triết học của các nguyên tắc ngữ pháp, và theo triết học, tất nhiên, ý tôi là theo triết lý của Chủ nghĩa Khách quan. Tôi muốn bạn có thể hiểu được không chỉ các nguyên tắc ngữ pháp mà còn hiểu tại sao những nguyên tắc đó lại như vậy, gốc rễ của những nguyên tắc đó là gì trong bản chất của tâm trí con người và tri thức của nhân loại. Lý tưởng nhất là, cuối cùng, bạn sẽ có thể hiểu được mọi quy tắc ngữ pháp, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, như một hệ quả hoặc biểu hiện của một nhu cầu thiết yếu nào đó trong trí óc con người. Nói cách khác, tôi không muốn bạn hiểu hoặc nhớ nó đơn giản như một mớ lộn xộn về những quy tắc thuộc lòng, vô nghĩa. Có những điều khác nhau mà bạn có thể đề cập trong một khóa học về ngữ pháp. Tôi nên nói với bạn ngay từ đầu rằng ở đây, tôi chủ yếu quan tâm đến ngữ pháp dành cho người viết, ngữ pháp dành cho mục đích viết lách. Tôi tập trung vào những vấn đề mà bản thân mình thấy hữu ích trong quá trình viết. Tôi đã có kinh nghiệm này nhiều lần và đối với các bạn, những người viết, tôi chắc chắc điều này đã xảy ra bằng cách này hay cách khác, bạn viết một câu trong bản thảo ban đầu của mình, bạn cảm thấy không hài lòng, nó không diễn đạt được điều bạn muốn hay ít nhất bằng cách nào đó nó không thể hiện được hiệu quả như bạn mong đợi và bạn muốn biết tại sao. Vâng, tất nhiên đôi khi lý do vì suy nghĩ của bạn đơn giản là không rõ ràng, bạn không biết mình muốn nói lên điều gì, nhưng thường thì tôi nhận thấy cách diễn đạt của mình bị lỗi, về cơ bản suy nghĩ của tôi rõ ràng, nhưng câu văn của tôi thì không rõ ràng, vi phạm một quy tắc nào đó hoặc nguyên tắc ngữ pháp hoặc sự khác biệt nào đó, điều này khi tôi phát hiện ra thì đã tháo gỡ được sự không hài lòng một cách bất ngờ, và tôi thấy: “ồ, bây giờ tôi có thể nhận ra ngay câu này có vấn đề gì, và đây là cách để diễn đạt nó, rất rõ ràng và tôi thực sự hài lòng”. Nếu bạn muốn biết vấn đề gì chúng ta sắp đề cập, khóa học này sẽ giải quyết, chẳng hạn như sự khác biệt giữa mệnh đề phụ và mệnh đề chính, và rất thường xuyên (chúng ta sẽ nói đến trong lần tới) – điểm nhấn của câu văn chưa đúng, bạn không biết tại sao và ngay khi biết được sự khác biệt, bạn sẽ thấy: “ồ, tôi đã có ý chính và mệnh đề phụ, không cần phải viết lại nữa”. Hoặc câu của bạn quá dài dòng nhưng bạn không ngay lập tức biết cách loại bỏ các từ, và có những chuyên môn về cấu trúc ngữ pháp lược giản, hoặc động từ bạn dùng có vẻ không chính xác, cách chia động từ của bạn không hiểu sao bị sai nhưng bạn không biết có những lựa chọn và cách chia động từ nào khác có thể sử dụng, hoặc có điều gì đó là lạ về dấu câu nhưng bạn không chắc chắn, v.v và v.v. Nếu bạn biết một số khái niệm ngữ pháp cơ bản, tôi thấy điều đó rất hữu ích và bạn biết được ngay lập tức khi kiểm tra trực tiếp, khi bạn nhìn vào câu văn của mình. “À, bây giờ, tôi biết câu này có vấn đề gì rồi, lựa chọn của tôi là gì, phải làm gì để điều chỉnh nó”. Khi kết thúc khóa học, nếu thành công, tôi hy vọng bạn sẽ hiểu được tính logic và độ tin cậy, tính logic trong việc hiểu được bản chất của các vấn đề ngữ pháp, tại sao chúng lại như vậy, và từ đó có độ tin cậy với toàn bộ vấn đề, bạn biết mục đích, cơ sở lý luận của các quy tắc và cuối cùng, tôi hy vọng bạn sẽ có thể tư duy, bạn có thể đưa ra quyết định của riêng mình trong các trường hợp hoài nghi hoặc gây tranh cãi. Bạn không cần phải dựa dẫm một cách bất lực vào các chuyên gia. Nói cách khác, tôi muốn cố gắng hết sức có thể để làm cho bạn cảm thấy rằng ngữ pháp là lĩnh vực chuyên môn cá nhân, không phải là sản phẩm xa lạ khó hiểu, có quy tắc không thể lý giải mà bạn phải tra cứu và cố làm theo. Yêu cầu của khóa học là tôi phải làm rõ ràng để đạt được những điều này, và tôi cũng có một yêu cầu cho các bạn. Bạn phải làm bài tập về nhà, bạn phải làm các bài tập, chúng đơn giản, cần thiết, đặc biệt là đối với bài giảng đầu tiên bởi vì tôi sẽ giới thiệu cho bạn cơ sở nền tảng của tất cả các phần còn lại, và một loạt các thuật ngữ, đơn giản phải trở thành phản xạ tự động, như việc học ngoại ngữ. Và điều này chỉ có thể làm được bằng cách lặp đi lặp lại. Vậy nên, nói một cách đơn giản, nếu bạn chỉ đến học nhưng không làm bài tập, bạn sẽ thấy rất khó theo từ phần này sang phần khác, bạn sẽ không ghi nhớ được. Và tất cả những gì bạn thực sự nhận được chỉ là những chuyện đùa thôi. Tôi ước tính rằng bạn nên dành khoảng 2 giờ mỗi tuần ngoài giờ học trên lớp để làm bài tập mà tôi sẽ giao, nếu bạn làm nó một cách nghiêm túc thì bạn sẽ đạt được hiệu quả cao nhất. Buồi tối hôm nay, chúng ta sẽ tập trung vào những khái niệm và những khác biệt cơ bản, điều này là cần thiết cho toàn bộ chủ đề ngữ pháp, và nghĩa là sẽ có một loạt các thuật ngữ. Hầu hết các thuật ngữ này tôi chắc rằng bạn biết và đã nghe nói rồi, nhưng chúng cần được nhắc lại và bạn phải biết định nghĩa chính xác của chúng trong cách sử dụng. Nếu bạn cần ghi chú, tôi chỉ đưa ra lưu ý của tôi tối nay là một danh sách dài những thuật ngữ với các định nghĩa. Và, chúng ta hãy đi sâu vào định nghĩa về ngữ pháp.
Ngôn ngữ có hai yếu tố hoặc hai khía cạnh: Từ ngữ-các từ riêng lẻ và cách các từ được ghép lại với nhau để truyền đạt suy nghĩ; các từ riêng lẻ và mối quan hệ của các từ ngữ đó để lập ý. Ngữ pháp nghiên cứu khía cạnh thứ hai, nó nghiên cứu cách ghép các từ lại với nhau để tạo thành câu. Làm thế nào để ghép các từ lại với nhau nhằm tạo thành câu có nghĩa là bản chất của định nghĩa về ngữ pháp. Bây giờ, tôi sẽ đưa ra cho bạn định nghĩa chính thức từ Từ điển tiếng Anh Oxford, tôi sẽ chỉ giải thích và bạn không cần mất thời gian để ghi chép lại nhưng bạn sẽ thấy nó tương tự: “là ngành khoa học liên quan đến các phương tiện biểu thị, mối quan hệ của các từ trong câu và liên quan đến các quy tắc sử dụng những phương tiện này theo cách dùng đã được thiết lập”. Nó tương đương với “làm cách nào để ghép các từ lại với nhau tạo thành câu có nghĩa”. Vì vậy, ngữ pháp về phương diện đó vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Một khoa học trong đó chủ thể mô tả các nguyên tắc mà ngôn ngữ được cấu tạo. Và nghệ thuật, ở chỗ, khi bạn biết những nguyên tắc đó, bạn sẽ tự học được cách đặt câu đúng cách.
Thông thường, ngữ pháp được chia thành một số nhánh. Tôi chỉ đề cập đến hai nhánh, mặc dù điều này không quan trọng. Tôi muốn...hãy giao ước rằng khi tôi nói điều gì đó không quan trọng, bạn không cần ghi chép về nó và tôi không cần phải đi từ từ, đây là những điều hiển nhiên, có thể nói như vậy. Có một nhánh được gọi là hình thái học (accidence) giống từ “tai nạn” (accident) nhưng nó kết thúc bằng “ce”, nghiên cứu sự biến tố, sự biến tố của ngôn ngữ. Đó là một nhánh của ngữ pháp. Vậy sự biến tố là gì? Đó là từ mà tôi muốn bạn biết vì thuật ngữ này được sử dụng trong ngữ pháp. Có ai biết không? Có ai xung phong không? Nó là gì? Tôi biết khá là khó để nói ra hết toàn bộ cho tất cả mọi người ở đây, nhưng, bạn biết đấy, một chút về sự biến tố, đó là sự thay đổi một phần của từ, đúng chứ? Sự thay đổi một phần của từ để truyền đạt sự khác biệt nào đó trong cách sử dụng từ. Ví dụ, “cậu bé” (boy) và “các cậu bé” (boys) là cùng một từ hoặc bạn thay đổi phần kết thúc, bạn thêm vào một chữ “s” và nó có nghĩa là bạn biểu thị số nhiều, đó được gọi là sự biến tố. Hoặc “chơi” (play) và “đã chơi” (played), play - tôi chơi (thì hiện tại), played - tôi đã chơi (thì quá khứ). Bạn thêm “ed” vào, đó là sự biến tố, nó có một chút thay đổi trong hình thức của từ, và trường hợp này, nó biểu thị thì quá khứ, v.v. Có rất rất nhiều từ bị biến tố trong tiếng Anh và do đó, để tôi đưa ra cho bạn định nghĩa về sự biến tố nếu bạn muốn ghi chú. “Sự biến tố là sự thay đổi hình thức của một từ nhằm thể hiện sự thay đổi nghĩa hoặc vai trò trong câu”. Thay đổi hình thức của một từ để thể hiện sự thay đổi về cách sử dụng hoặc ý nghĩa hoặc vai trò của các từ đó”. “I” và “me” giống nhau (đều có nghĩa là “tôi) về mặt ngữ pháp, nhưng chúng được xem là những phiên bản biến tố của nhau: “I” – tôi, khi bạn làm điều gì đó, “me” – tôi, khi bạn bị tác động. Vì vậy, cùng một từ nhưng một từ là chủ từ, một từ là tân ngữ (túc từ). Vâng, rõ ràng để chỉ ra các mối quan hệ của các từ trong một câu là bằng cách biến tố, và do đó, một chủ đề lặp đi lặp lại là các kiểu biến tố, được sử dụng để thiết lập các kiểu quan hệ. Có cách thức chính yếu nào khác để thiết lập quan hệ giữa các từ bên cạnh việc chỉnh sửa phần kết thúc của từ không? Vâng, thứ tự hoặc cách sắp xếp đúng của các từ, từ nào đứng trước, rồi đến từ thứ hai, rồi đến từ thứ ba trong câu. Nếu tôi nói: “Jack đánh Tom” sẽ có nghĩa hoàn toàn khác với “Tom đánh Jack”. Các từ giống hệt nhau, không có thay đổi về sự biến tố nhưng rõ ràng là thứ tự từ làm thay đổi ý nghĩa hoàn toàn. Nhánh ngữ pháp nào nghiên cứu trật tự của ngôn ngữ, trật tự của từ? Cú pháp (Syntax). Chính xác là cú pháp. Nó đơn giản là nhánh ngữ pháp nghiên cứu sự sắp xếp của các từ trong câu, trật tự câu. Về cơ bản, tất cả ngữ pháp của chúng ta áp dụng đều nghiên cứu về biến tố và cú pháp. Và chúng ta thậm chí có thể xem xét ngữ pháp mở rộng hơn nữa, chúng ta sẽ cố gắng hết sức có thể. Điều duy nhất chúng ta sẽ loại trừ (có sự căn chỉnh mang tính truyền thống lịch sử lâu dài đối với điều này), phần duy nhất chúng ta sẽ loại trừ khỏi nghiên cứu ngữ pháp của chúng ta, là các lỗi cụ thể liên quan đến một từ, đó không phải là các từ liên quan đến nhau. Ví dụ: nếu bạn phát âm sai hoặc viết sai chính tả một từ, chúng ta sẽ không coi đó là lỗi về mặt ngữ pháp, vì vậy, sẽ không có phần nào trong khóa học này về chính tả hoặc phát âm, v.v. Nhưng bỏ điều đó sang một bên, chúng ta đang xem xét ngữ pháp qua cách sử dụng phổ biến nhất.
Bây giờ, hãy để tôi tạo động lực cho các bạn, George Orwell1 nói một câu nổi tiếng rằng: “ngữ pháp không quan trọng miễn là bạn nói rõ được ý của mình”, nếu điều đó là đúng, vậy rõ ràng, khóa học như này là vô giá trị, toàn bộ chủ đề này là sự vô giá trị. Bạn nghĩ gì về câu nói trên? Ngữ pháp là không cần thiết miễn là bạn làm rõ được ý của mình. Liệu bạn có thể trả lời bằng một câu khác từ một cuốn sách không
Mời bạn.
Học viên: Ngữ pháp là phương tiện nói rõ nghĩa.
LP: Đúng, chính xác. Ngữ pháp là phương tiện làm rõ ý diễn đạt của bạn. Vậy, đối với George Orwell, đưa ra một tuyên bố kiểu này là hiểu sai hoàn toàn mục đích của ngữ pháp. Điều gì đã khiến ông ta và nhiều người có ý tưởng này? - Quan điểm của họ về nguồn gốc của các quy tắc ngữ pháp.
Vì vậy, hãy chuyển sang câu hỏi: Vậy nguồn gốc và thực trạng của các quy tắc mà chúng ta sẽ tìm hiểu là gì? Và tôi muốn đưa ra cho bạn các quy tắc lần lượt, cũng như chúng ta có thể tìm ra cơ sở nền tảng của chúng ngay từ đầu. Bây giờ, đầu tiên tôi sẽ đưa ra cho bạn một quan điểm sai lầm, thực ra là hai quan điểm sai lầm, và sau đó, ngược lại, đưa ra cơ sở nền tảng đúng cho ngữ pháp. Quan điểm chủ đạo cách đây khoảng 50-75-100 năm trong ngữ pháp là chủ nghĩa cổ điển trong nghệ thuật, nếu bạn biết điều này, nó giống như kiểu kiến trúc mà Roark đã đấu tranh trong The Fountainhead2 . Theo quan điểm này, ngữ pháp là một tập hợp các quy tắc hoặc nguyên tắc chi tiết, cụ thể tuyệt đối, được định nghĩa một lần duy nhất trong suốt thời La Mã cổ đại, được đặt ra bởi các nhà ngữ pháp Latinh và đây là những quy tắc chi tiết đưa ra lời giải đáp cho mọi vấn đề. Và ngữ pháp theo quan điểm này chỉ đơn giản là áp dụng cho thứ tiếng Anh mà các nhà chức trách Latinh đã thiết lập hàng nghìn năm trước. Đây là một quan điểm rất độc đoán về ngữ pháp và nó đã đưa ra nhiều quy tắc tùy tiện dựa trên cơ sở tiếng Latinh và không có điều gì bằng tiếng Anh mà xét cho cùng là một ngôn ngữ khác. Và chính những quy tắc kiểu này bám vào tâm trí của mọi người khi họ nghĩ ‘tất cả các ngữ pháp là cả một đống kiến thức sai lầm’. Ví dụ: bạn không được kết thúc câu bằng giới từ. Đây là một quy tắc hoàn toàn bất hợp lý trong ngữ pháp tiếng Anh mặc dù nó là một phần thuộc tổ hợp các quy tắc truyền thống đã chết. Các nhà ngữ pháp học hiện đại, và các nhà ngữ pháp học khai sáng muốn chỉ ra một số trường hợp trong tiếng Anh mà bạn phải và nên và có thể kết thúc câu bằng giới từ một cách đúng đắn. Thực ra, tôi đã đọc điều này gần đây, một cậu bé đã yêu cầu cha mang sách lên để đọc cho cậu nghe một câu chuyện trong đó, người cha cầm nhầm sách và và cậu bé nói với ông: tại sao cha lại mang cuốn sách mà con không muốn đọc3? Đó là một câu tiếng Anh hoàn toàn rõ ràng và nó kết thúc bằng năm giới từ4 . Điều khiến cho bất kỳ nhà ngữ pháp học truyền thống nào cũng trở nên rất phật ý. Và đó là kiểu mà George Orwell nghĩ đến khi ông ta ấy nói: “ồ, ai cần ngữ pháp, miễn là bạn nói rõ ý của mình”.
Nếu bạn thêm điểm bất cập phổ biến của cách tiếp cận truyền thống vào sự phát triển hiện đại của chủ nghĩa chủ quan về mặt triết học, bạn có thể thấy rằng con lắc rất nhanh chóng dao động sang chiều ngược lại, và điều đó dẫn đến quan điểm hiện đại ngày nay, là những gì được dạy trong trường học, gọi là “quan điểm không bắt buộc”, chính là không có nguyên tắc ngữ pháp nào. Ngữ pháp chỉ đơn giản là mô tả cách sử dụng phổ biến, bất cứ điều gì xảy ra. Không có đúng hay sai, không có tốt hay xấu, chỉ có ‘điều chúng ta làm hoặc không làm’. Nếu đủ người thực hiện, nó sẽ trở thành ngữ pháp. Và tất nhiên, đây là một sự phủ nhận ngữ pháp hoàn toàn, bạn có thể làm bất cứ điều gì bạn thích. Một nhà ngữ pháp học người Mỹ nổi tiếng phủ nhận kết luận này, đã thêm vào một tuyên bố bất hủ rằng “họ-kết-luận-trên-đơn-giản-là-không-hợp-lý5”. Bản chất mỗi phần của câu trên đều có thể được thừa nhận bởi nhiều cách sử dụng, nhưng nó vẫn sai.
Nếu bạn xem xét hai lựa chọn này, hai cách tiếp cận triết học nào liên quan đến ngữ pháp hiện nay? Một người nói “ngữ pháp thực ra là một vấn đề mặc khải từ xa xưa. Đó là một tập hợp các nguyên tắc được phát hiện một cách thần bí, bạn chỉ cần chấp nhận”. Và người kia nói: “ồ, tất cả chỉ là vấn đề về quan điểm xã hội tùy tiện”. Sự phân đôi triết học ở đây là gì, mà chủ nghĩa khách quan chắc chắn đã gạt bỏ điều đó trong đạo đức và chính trị và mọi lĩnh vực khác, vì thế, trong ngữ pháp cũng vậy? Bây giờ tôi dừng ở đây, ok, ở đây, bạn chỉ phải nói hai từ, vậy nên, không phải là...
Vâng, mời Oswald.
Học viên: Chủ nghĩa chủ quan?
LP: Chủ nghĩa chủ quan là một và cái còn lại là gì.
Học viên: Chủ nghĩa thần bí?
LP: à, chúng ta thường gọi chủ nghĩa thần bí là?
Vâng mời bạn.
Học viên: Quan điểm nội tại.
LP: Quan điểm nội tại. Quan điểm nội tại và quan điểm chủ quan, quan điểm kiểu mặc khải thần bí so với việc “tất cả đều là vấn đề quan điểm, không ai có thể biết được điều gì”. Và tất nhiên lựa chọn thuộc về Chủ nghĩa khách quan - và đây chính là nguồn gốc của từ “chủ nghĩa khách quan” - đối với cả triết lý nội tại và triết lý chủ quan là...
Marianne?
Cái gì thay thế cho triết lý nội tại và triết lý chủ quan?
Marianne: Tính khách quan
LP: Tính khách quan, đúng vậy. Và quan điểm đúng đắn về ngữ pháp là ngữ pháp mang tính khách quan.
Và đó là những gì tôi muốn trình bày ngắn gọn cho các bạn ngay từ đầu. Mặt khác, chúng ta hãy thừa nhận rằng tiếng Latinh chỉ là một ngôn ngữ trong số những ngôn ngữ khác, và không có lý do gì các nguyên tắc ngữ pháp của nó lại chi phối mọi ngôn ngữ cụ thể. Các nguyên tắc ngữ pháp, ở một mức độ nào đó, bắt nguồn từ ngôn ngữ chung. Chúng có thể áp dụng cho bất kỳ ngôn ngữ nào. Và ở một mức độ nào đó, chúng phải xuất phát từ bản chất đặc biệt của một ngôn ngữ cụ thể. Rõ ràng là có nhiều lựa chọn, nhiều cách khả dĩ khác nhau để kết hợp các từ thành câu. Tiếng Latinh không phải là mô hình duy nhất. Tiếng Latinh tình cờ (điều này đúng với tất cả các ngôn ngữ cổ điển như tiếng Hy Lạp hoặc tiếng Nga) tiếng Latinh tình cờ là một ngôn ngữ có rất nhiều biến tố. Các bạn có nhớ chúng ta đã nói về biến tố? - Bạn chỉ ra các mối quan hệ bằng phần kết thúc của các từ. Và nếu bạn học một từ tiếng Anh đơn lẻ, chẳng hạn như “gọi” (c-a-l-l), kiểu như: chào, khỏe không? Kiểu gọi như vậy, trong tiếng Anh, từ “gọi” có bao nhiêu hình thức? call – calls- called- calling. Bạn có thể tăng lên 5 hình thức nếu may mắn và như vậy, bạn có thể nói mọi thứ: quá khứ, hiện tại, tương lai, số ít, số nhiều, bị động, chủ động, mọi thứ bạn muốn theo hàng trăm cách khác nhau chỉ bằng thứ tự của từ. Nhưng trong tiếng Latinh, bạn làm tất cả bằng một từ, bằng cách thay đổi phần cuối, không có sự khác biệt nào khi bạn thay đổi thứ tự. Và vì vậy, bạn phải học (<
Bây giờ, chẳng hạn như tiếng Anh, và điều này đúng với hầu hết các ngôn ngữ hiện đại vốn không sử dụng quá nhiều sự biến tố, được gọi là ngôn ngữ phân phối, và về cơ bản thì tiếng Anh là ngôn ngữ phân phối nhiều nhất. Tôi tin rằng tiếng Trung Quốc cũng như vậy. Ngôn ngữ phân phối thiết lập các mối quan hệ chủ yếu bằng cú pháp, bằng trật tự từ chứ không phải bằng các biến tố. Có một số biến tố trong tiếng Anh nhưng không nhiều. Tất nhiên điều này sẽ tạo ra sự khác biệt rất lớn trong ngữ pháp của bạn bởi vì rất rất nhiều quy tắc trật tự cần có trong tiếng Anh sẽ không có bản đối chiếu trong tiếng Latinh và ngược lại. Nhiều thứ sẽ bị chi phối bởi một ngôn ngữ biến tố mà không thể ứng dụng đối với một ngôn ngữ mà cơ bản không biến tố như tiếng Anh. Vì vậy, trong tiếng Anh, bạn phải nói “Jack đánh Joe”, trong tiếng Latinh, bạn có thể lấy ba từ đó và nói “Jack Joe đánh, Jack đánh Joe, Joe đánh Jack, Joe Jack đánh”, không có sự khác biệt, bạn có thể chọn ngẫu nhiên và nhận được cùng ý nghĩa vì phần cuối của mỗi từ đều được biến tấu để chỉ ra cho bạn biết mình phải làm gì với nó.
Bây giờ, đây là một điều chúng ta phải công nhận, có nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, cụ thể là có sự khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ phân phối và ngôn ngữ biến tố. Tiếng Anh là một ngôn ngữ phân phối, nó theo trật tự từ và do đó giảm đi rất nhiều sự giống nhau với tiếng Latin. Có rất nhiều lựa chọn về trật tự từ, tôi muốn nói rằng, tôi thậm chí chưa nhắc đến, nhưng tôi chỉ muốn bạn biết một ý kiến rõ ràng là bất cứ điều gì mà con người có thể làm thuộc về điều có thể hình dung hoặc thậm chí không thể tưởng tượng, để thiết lập mối quan hệ giữa các từ thì họ đã làm ở đâu đó và một số nhà ngôn ngữ học sẽ cung cấp lại cho bạn. Ví dụ, có một bộ tộc ở nơi nào đó sử dụng cao độ như một công cụ ngữ pháp. Vì vậy, họ sử dụng một âm dài cho thì quá khứ và một giọng cao cho thì tương lai, v.v. Không có sự tương đương như vậy trong tiếng Anh, ngoại trừ đôi khi chúng ta sử dụng cao độ cho các câu hỏi, “bạn đang ĐẾN?”, “bạn đang đến”. Bạn thấy đó, đôi khi bạn sử dụng nó để biểu thị một câu hỏi. Nhưng có những ngôn ngữ mà toàn bộ ngữ pháp đều thông qua cách bạn nói cao hay thấp, nhưng chúng ta không cần phải lo lắng về điều đó. Tôi chỉ đơn giản cho thấy có rất rất nhiều lựa chọn. Vậy, quan điểm nội tại đã sai, nhưng bây giờ chúng ta hãy chuyển sang quan điểm còn lại, nó không tuân theo sự việc rằng “bất cứ điều gì diễn ra”, bất kỳ sự kết hợp nào cũng được và nó là vấn đề của sự tùy tiện, nó không tuân theo... chủ nghĩa chủ quan không tuân theo. Tại sao? Bởi vì xét cho cùng, chúng ta đang nói về ‘từ’, và ‘từ’ định rõ các khái niệm có bản chất và phải được xử lý theo một cách nhất định. Trí óc con người có bản chất, tư tưởng có bản chất và nếu bạn vi phạm các yêu cầu của tâm trí, của mức độ khái niệm, của tư duy, bạn tất yếu sẽ trở nên không rõ ràng, mơ hồ, nhầm lẫn, thiếu chính xác. Tiêu chuẩn cơ bản về đúng hay sai đối với ngữ pháp đã trở nên rõ ràng về bản chất, có nghĩa là tham chiếu đến thực tế. Bản chất của tư duy có đòi hỏi nguyên tắc này để làm cho mối quan hệ về khái niệm rõ ràng, để tạo ra tính chính xác, để định rõ một cái gì đó cụ thể trong thực tế không? Mối quan tâm, tiêu chuẩn của chúng ta, những gì xác nhận các quy tắc là sự chuẩn xác, logic, tính chính xác của tư duy và có những yêu cầu nhất định cho việc này, nó không phải là vấn đề quan điểm.
Học viên: Vậy có nguyên tắc chung cho mọi loại ngôn ngữ hay không?
LP: Không nhất thiết. Những khác biệt cơ bản nhất định, như chúng ta thấy, những gì được đưa ra dưới hình thức nào đó trong mỗi ngôn ngữ đều theo từng bản chất của các khái niệm. Nhưng có rất nhiều, rất nhiều phương pháp tùy chọn phù hợp với những nguyên tắc trừu tượng đó và cái bạn thấy là trong một ngôn ngữ nào đó, có rất nhiều quy ước tệ hại được áp dụng cho ngôn ngữ cụ thể đó nhằm tuân thủ nguyên tắc khái quát bắt buộc, những quy ước đó có thể chỉ đúng trong ngôn ngữ này và không đúng với một số ngôn ngữ khác, mặc dù chúng sẽ có sự tương ứng ở một số ngôn ngữ khác, như bạn sẽ thấy khi chúng ta xem xét một số ví dụ thực tế. Chẳng hạn như, các quy tắc của tiếng Anh, trong nhiều trường hợp là có quy tắc và không thể khác biệt, nhưng nếu chúng khác biệt thì bạn đang nói một ngôn ngữ khác và trong ngôn ngữ khác đó, bạn cần các quy tắc tương đương để vẫn đáp ứng các yêu cầu cơ bản của việc tư duy logic rõ ràng. Bạn theo kịp điều đó không? Vậy, nếu bạn ghi nhớ điều này, bạn sẽ hiểu rằng cuối cùng, tất cả các quy tắc, chỉ đơn giản là những cách khác nhau để đáp ứng các yêu cầu bắt buộc thiết yếu. Và đó thực sự là câu trả lời cho ý kiến cho rằng ngữ pháp là sự tùy tiện. Bây giờ, chúng ta hãy cùng đưa ra một nội dung nào đó cho điều này.
Bây giờ, hãy để tôi làm rõ điều này. Một khái niệm đơn lẻ chưa phải là một ý. Nó đơn giản chỉ là chất liệu, công cụ của một ý. Ví dụ: nếu tôi nói “cái cửa”, tôi chưa đưa ra cho bạn một ý, tôi chỉ đưa cho bạn một từ, nếu tôi kết hợp nó với một số từ khác và tôi làm đúng cách, thì tôi có thể tìm ra một điều gì đó nhưng nó chưa phải một ý. Nếu tôi bước vào và chỉ nói “cái” hoặc “mở” hoặc “thì/là/đang”, tất cả chỉ là thành phần cấu thành của một ý, chưa phải một ý, chúng là chất liệu. Nhưng nếu tôi bước vào và nói “cánh cửa đang mở”. Tôi đã ghép các từ lại với nhau theo cách để đưa ra một ý nghĩ hoàn chỉnh. Đây không phải là tất cả những gì tôi nghĩ về nó, có lẽ tôi có đủ mọi suy nghĩ thú vị về chất liệu “cánh cửa”, tại sao nó lại mở, và tôi muốn làm gì, v.v. và tôi đã nói ra một thực thể hoàn chỉnh thực sự về mặt trí tuệ. Đây là điều chúng ta muốn nói đến một câu, đơn vị độc lập nhỏ nhất của quá trình suy nghĩ, đơn vị độc lập nhỏ nhất của quá trình suy nghĩ, và tất nhiên từ khóa chính là “độc lập” bởi vì nếu tôi chỉ nói “đang mở”, đó chưa phải là một ý, nó không độc lập, nó không tự đứng một mình được. Nhưng nếu tôi nói “cánh cửa đang mở”, thì tôi đã có một ý. Các bạn có biết các nhà ngữ pháp gọi một phần của câu, không phải thực sự là một câu, chẳng hạn như chỉ là “đang mở” là gì không? Các bạn có biết nó được gọi là gì không? Đó là khi bạn chia một câu thành hai phần, tại sao bạn nghĩ bạn gọi nó là mảnh không hoàn chỉnh (fragment). Bạn gọi nó là ‘mảnh không hoàn chỉnh’, đúng, rất tốt. Vậy, một ý hoàn chỉnh là một câu (sentence), tương phản với, ‘mảnh không hoàn chỉnh’ (fragment). Nếu tôi bước vào và nói “giữ vững”, bạn sẽ thắc mắc “giữ vững cái gì?”. Nếu tôi nói “những con đê đang được giữ vững” thì đó là một ý hoàn chỉnh. Vậy, một câu (sentence) khác với một ‘mảnh không hoàn chỉnh (fragment)’. Mặt khác, một câu cũng khác với nhiều ý hoàn chỉnh. Nói cách khác, chúng ta đã nói nó là đơn vị độc lập nhỏ nhất. Nếu tôi nói “cánh cửa đang mở, nó được sơn màu đỏ”, đó không phải là một ý, đó là hai ý. Hai câu. Nếu trong ngữ pháp, bạn đặt một loạt những cái này cùng nhau mà không có dấu câu, hãy tưởng tượng phần sau chỉ là những chữ không có dấu chấm câu, “cánh cửa đã mở nó đã sẵn sàng thật khó để bỏ lỡ” và cứ tiếp tục như vậy, đó là mặt còn lại của cùng vấn đề ‘mảnh không hoàn chỉnh’, một đống thứ chen chúc nhau, hơn là một ý. Có ai biết nó được gọi là gì khi bạn cứ tiếp tục viết thêm như thế không? Bạn biết đó được gọi là gì không?... Câu chạy (run-on). Rất tốt. Và đó là hai điểm trái với một câu. Đây là vấn đề tri thức, một vấn đề về khái niệm chứ không chỉ là vấn đề hình thức. Một câu phải thực sự là một ý nghĩ, nó phải có sự hợp nhất thực sự về mặt trí tuệ. Vì vậy, nếu bạn đưa vào một yếu tố không liên quan hoặc không được kết nối logic, nó không phải là một câu chứ đừng nói đến nó không phải là một câu hay. Nó thực sự không phải là một câu. Bây giờ, đây là một ví dụ, (nhân tiện, các nhà ngữ pháp hiện đại không chấp nhận những gì tôi đang nói, bởi vì họ đưa ra vấn đề hoàn toàn mang tính quy ước), nhưng tôi lấy điều này từ một cuốn sách ngữ pháp rất cũ mà tôi muốn khen ngợi trong giây lát. Và đối với tôi, đó là một điểm sáng. Đây là một ví dụ mà cuốn sách đưa ra, không phải là một câu. Các bạn chỉ cần nghe, không cần viết lại, nó không cần thiết, chỉ cần lắng nghe thôi. “Vào cuối tháng 9 vừa qua, các cuộc bắn phá liên tục đã buộc Warsaw7 phải đầu hàng, tôi đã trải qua kỳ nghỉ sáu năm trước ở đó”. Bất kỳ nhà ngữ pháp học hiện đại nào cũng sẽ nói đó là một câu. Nhưng thực ra không có logic cố hữu nào trong đó. Tại sao? Toàn bộ là về các cuộc bắn phá, v.v và đột nhiên bạn dành kỳ nghỉ của mình ở đó. Một phần ý về kỳ nghỉ chỉ đơn giản là ném vào, đưa vào một cách khó hiểu bên cạnh một chủ đề khác. Không có một tổng thể. Các nhà ngữ pháp hiện đại nói rằng đó là một câu dở tệ, nhưng các nhà ngữ pháp ngày xưa nói rằng: nó không phải là một ý, nó thực sự không phải là một câu. Tôi đồng ý với điều đó và tôi thấy đây là một tuyên bố rất hữu ích. Ví dụ như, ngược lại bạn có thể nói “vào cuối tháng 9 vừa qua, các cuộc bắn phá liên tục với quy mô và phạm vi lớn buộc Warsaw, v.v.” thì đó là một ý hoặc bạn có thể nói rằng “các cuộc bắn phá liên tục buộc Warsaw phải đầu hàng, trở thành một nơi chết chóc”. Bạn thấy đó, bạn đang tiếp tục cùng một khái niệm. Nhưng khi bạn đột nhiên đưa vào “bà tôi đi du lịch ở đó”, nó vô cùng đột ngột. Vấn đề là một câu phải là một đơn vị đơn lẻ hoàn chỉnh. Đây là ví dụ. Nhân tiện nếu bạn muốn có tài liệu tham khảo về cuốn sách ngữ pháp rất tuyệt này, đây là cuốn sách ngữ pháp hay nhất mà tôi từng đọc, nó là cuốn sách mà tôi được tặng khi còn là sinh viên năm nhất đại học. Thật không may là nó đã quá cũ để được tái bản nhưng nếu bạn có thể tìm thấy một bản, tôi thực sự khuyên bạn nên xem, nó có tên là “Writing and Thinking” của hai tác giả Norman Foerster và Jame Staedman, được xuất bản bởi nhà xuất bản Houghton Mifflin và ấn bản mà tôi có là năm 1941. Tôi sử dụng cuốn sách này rất thường xuyên trong khóa học này, nó là một trong những cuốn sách hay nhất để làm rõ logic và lý luận cốt yếu đằng sau quy tắc ngữ pháp.
Được rồi, hãy xem chúng ta đang ở đâu.
Học viên: Ông có đề nghị thêm quyển nào không?
LP: Có rất nhiều sách ngữ pháp mà bạn có thể sử dụng, hiện đại hơn, chuỗi sách The Harbour cũng ổn, có một danh sách các quy tắc, nhưng họ chỉ lấy chúng ra một cách máy móc, không hiểu sâu kiến thức được như cuốn sách này. Tôi không biết có cuốn nào khác giống sách này không. Có lẽ, nếu bạn có được một cuốn sách từ thế kỷ 19, khả năng có thể hay hơn. Nhưng tóm lại, bạn có thể nghĩ ‘một ý nghĩ được diễn đạt trong một câu’ giống như ‘một linh hồn với cơ thể’. Linh hồn là ‘ý’. Cơ thể là ‘nhóm từ biểu thị’. Vậy nên, một câu theo nghĩa đó giống như một sinh vật. Và do đó dấu chấm câu - mà bạn hiểu ý tôi là gì khi nói một dấu chấm không? - Một dấu chấm nhỏ ở cuối câu là một dấu cực kỳ quan trọng trong ngữ pháp, bởi vì dấu chấm có nghĩa kết thúc một đơn vị. Nó chỉ ra cho người đọc và trên thực tế chính là bạn, đây là một phần quan trọng, đây là câu đầu tiên của tôi. Nếu bạn muốn xem xét, đánh giá, lĩnh hội, thì đây là điểm dừng lại đầu tiên. Đây là điểm nhỏ nhất để bạn dừng lại và đưa ra ý kiến. Điều này rất quan trọng, chúng ta sẽ tìm hiểu xuyên suốt khóa học và nhân tiện, nếu bạn đang viết, nếu bạn nhớ ‘câu là biểu hiện của một ý’, bạn có thể thấy điều này hữu ích trong việc hiệu chỉnh. Đôi khi bạn sẽ thấy mình viết một câu, nó không ổn và bạn đang cố sửa từng từ một, kiểu chắp vá một cách máy móc với ‘cơ thể’ và bạn không thể, việc cần làm lúc đó là hãy quên ‘cơ thể’ đi và trở về với ‘linh hồn’. Hãy tự nói với bản thân ‘ý nghĩ tôi muốn truyền đạt là gì’, vứt bỏ ‘cơ thể’ này và bắt đầu lại từ cội nguồn ban đầu trong tâm trí bạn. Và bạn sẽ thường xuyên nhận thấy rằng ý nghĩ sẽ xuất hiện trong những từ mới. Bạn sẽ thấy rằng cố gắng cứu vãn cũng chẳng ích gì, những từ ngữ bạn đã viết trên giấy, bạn có thể làm tốt hơn nhiều bằng cách làm lại từ đầu. (Vâng, một khoảng trống hoàn hảo Woody).
Bây giờ, tôi muốn phân tích những gì liên quan đến cấu trúc để trở thành một câu. Điều gì tạo nên một ý hoàn chỉnh? Yêu cầu tối thiểu cần thiết để có được một ý hoàn chỉnh bằng cách sử dụng từ? Rõ ràng hai yếu tố cần có là: phải có điều gì đó bạn muốn nói và bạn nói gì về nó. Chỉ vậy thôi. Một cái gì đó mà bạn chọn ra, chỉ định, đề cập đến, nếu không bạn sẽ nói về bất cứ điều gì, bạn không thể bắt đầu và không thể nói về thứ mình đã chọn ra. Tên của cái đầu tiên là gì? Chủ đề mà bạn muốn nói, một cái tên cho chủ đề đó là gì? Nó được gọi là chủ ngữ (subject). Rất tốt. Những đặc điểm bạn mô tả cho chủ ngữ, những đặc điểm bạn khẳng định, nó được gọi là gì? Nó được gọi là vị ngữ (predicate). Đúng. Vậy, rất đơn giản, chủ ngữ là bất cứ điều gì bạn muốn nói đến, vị ngữ là điều bạn nói về chủ ngữ. Trong một câu đơn giản, toàn bộ câu có thể được chia thành hai phần, chúng ta bỏ qua một bên các trường hợp phức tạp hơn. Bây giờ, tôi sẽ đưa ra cho các bạn một câu và bạn hãy giơ tay nếu bạn biết phần nào là chủ ngữ và phần nào là vị ngữ. “Các con đê đang được giữ vững8”. Hãy để tôi thử tìm một bạn khác.
Mời bạn.
Học viên: “Các con đê” là chủ ngữ.
LP: Đúng vậy. Và vị ngữ là “đang được giữ vững”. Chính xác.
Bây giờ là một ví dụ khó hơn, chúng ta sẽ đi rất nhanh phần này.
“Các con đê ở bờ Đông đang được giữ vững”
Mời Louis.
Học viên: “Các con đê ở bờ Đông”.
LP: ... là chủ ngữ và vị ngữ là “đang được giữ vững”. Được rồi. Một cái nữa chỉ để cho bạn thấy, bạn có thể tạo ra chủ ngữ của mình, trang tiếp theo. “Những con đê ở bờ đông được xây dựng vào giữa thập kỷ trước hiện đang sụp đổ ồn ào và gây tử vong9”, chủ ngữ kết thúc ở đâu? “Thập kỷ” (decade), đúng vậy. Toàn bộ, một phần dài mà bạn muốn nói “những con đê ở bờ đông được xây dựng vào giữa thập kỷ trước”. Bây giờ bạn muốn nói gì về chúng? “Chúng đang sụp đổ ồn ào và gây tử vong”, v.v. Tất cả điều này dường như rất rõ ràng. Bây giờ, hãy nhìn vào trang10 có tên bài giảng thứ nhất hoặc ít nhất liên quan đến bài giảng thứ nhất. Mục số một - những ví dụ này để minh họa cho bạn thấy rằng bạn không thể xác định chủ ngữ và vị ngữ theo thứ tự. Không phải từ đầu tiên luôn là chủ ngữ. “Những ngày tôi gặp anh ấy thì rất nhiều11”. Bây giờ hãy nghĩ xem: chủ ngữ của câu đó là gì theo tiêu chuẩn ‘chủ ngữ là điều bạn muốn nói đến’. Có phải bạn đang nói về từ “nhiều”? Có phải bạn nói “nhiều là một từ thú vị mà tôi sử dụng nó mọi lúc”? Rõ ràng là không. Bạn đang nói về cái gì? Hãy giơ tay lên nếu biết, hãy cho tôi biết chính xác những từ chỉ rõ bạn đang nói về điều gì?
Học viên: Những ngày tôi gặp anh ấy.
LP: Vâng, “những ngày tôi gặp anh ấy” là chủ ngữ. Vị ngữ trong trường hợp này là gì? “thì rất nhiều”. Được chứ. Vậy, câu này không làm khó bạn. Còn câu “mẹ của bạn đang ở đâu?12”. Ở đây từ “ở đâu” không phải là chủ ngữ, đây là câu nghi vấn, do đó, đừng để nó đánh lừa bạn. Đây có lẽ là một câu nghi vấn trong toàn bộ khóa học, nghĩa là nó có một dấu chấm hỏi cuối câu. Chủ ngữ của câu này là gì. Vâng?
Học viên: Mẹ của bạn.
LP: “Mẹ của bạn”. Và vị ngữ là gì? - “đang ở đâu”. Vâng, là “đang ở đâu”. “Mẹ của bạn đang ở đâu”. Tiếp theo. Hãy cẩn thận với câu này13. Chủ ngữ là gì, bạn muốn đề cập đến cái gì và bạn muốn nói gì về nó. Bạn có thể sẽ bị sai ở đây, tôi biết, nhưng không sao. Đó là lý do tại sao tôi đưa ví dụ vào đây.
Mời bạn.
Học viên: “Ba con chó”
LP: Rất tốt. "Ba con chó" là chủ ngữ, đó là điều bạn muốn đề cập, bạn sẽ nói gì về nó, hãy cho tôi vị ngữ đầy đủ ngay bây giờ xem nào.
Học viên: “có ở nơi góc đường”
LP: À, “there” không thuộc phần vị ngữ, chỉ là “ở nơi góc đường”. “There” là một từ khác mà bạn nên ghi chú, một thuật ngữ mang tính chuyên môn khác. Có một số từ không thuộc ngữ pháp của câu, chúng hoạt động chỉ đơn giản là để bắt đầu câu nói, nhưng chúng không phải là một phần của cấu trúc câu. Thường là “it” hoặc “there”, và trong trường hợp này là “there”. Và bạn có biết tên của nó không? Chúng được gọi là những từ đệm (expletive). Thực sự nó không liên quan gì đến những từ đệm bị xóa, bạn biết đấy theo The Nixon Tapes, một từ đệm là một chủ từ giả, giống như “it” hoặc “there”, được sử dụng chỉ đơn giản để bắt đầu một câu mà không phải là một thành phần của chủ ngữ hoặc vị ngữ, không phải là một phần của ngữ pháp. Được rồi, nếu bạn đã hiểu điều này, không có...
Vâng, mời Kathy.
Học viên:
LP: “Nó là chưa đủ khi làm bài tập về nhà của bạn14”. Bạn phải làm cẩn thận. Cấu trúc thực tế là “Làm bài tập về nhà của bạn là chưa đủ15”. “It” đơn giản giống như một thứ làm đầy, “nó là chưa đủ”. Tôi sẽ cho bạn biết về từ “it” và sau đó bỏ “it” ra ngoài, nó chỉ là một từ giới thiệu như “there”. Đó là một từ đệm. Đôi khi, tất nhiên, “it” thường cũng là một đại từ, “nó cắn tôi16”, “nó” – it, là một sự vật không phải là một từ đệm nhưng trong trường hợp tôi đã đưa ra cho bạn thì “it” là từ đệm.
Học viên: Tại sao chúng ta phải dùng từ đệm, sao không thể trực tiếp hỏi: Có phải 3 con chó ở nơi góc đường không17?
LP: Vâng, có thể bạn nói một ngôn ngữ khác, cách này trong tiếng Anh giúp bạn bắt đầu trong một số trường hợp. Đó là cách làm chậm phần mở đầu của câu thay vì đột ngột nói ra “Ba con chó ở nơi góc đường”, đó là cách để bạn đi vào câu chậm hơn một chút nếu bạn muốn nhấn mạnh “Có ba con chó ở nơi góc đường”. Và cụm “có” (there are) quan trọng với người đọc, điều gì đó sắp đang diễn ra - có thể thấy đó là một điểm tựa nhỏ, điều này đôi khi hữu ích khi bạn muốn làm điểm nhấn hoặc nhấn mạnh, chỉ một điểm nhỏ mang tính phong cách. Được rồi, giờ bạn đã biết các từ đệm trong chủ ngữ và vị ngữ một cách sơ bộ, và chúng cùng diễn đạt một phần hoàn chỉnh, là một câu.
Bây giờ, có hai loại nhóm từ khác mà chúng ta phải phân biệt với một câu. Chúng không phải là câu. Có ai biết hai loại này không?
Học viên:
LP: Cụm từ và mệnh đề. Cụm từ (phrase) và mệnh đề (clause). Chúng ta hãy nói về cụm từ trước. Hãy để tôi đưa ra cho bạn định nghĩa về cụm từ. Đây là những từ chính xác, nó không phải là cách sử dụng mơ hồ và chúng ta sẽ cần nó để phân tích cú pháp. Cụm từ là “một nhóm từ có liên quan với nhau, có chức năng như một thành phần đơn lẻ trong câu, nhưng không có chủ ngữ và vị ngữ”, một nhóm từ liên quan, hai từ hoặc nhiều hơn, phải có ít nhất hai từ, có chức năng như một thành phần đơn lẻ trong câu nhưng không có chủ ngữ và vị ngữ. Một cụm từ là mảnh-không-hoàn-chỉnh (fragment). Nó tự có sự thống nhất với tư cách là một thành tố, nhưng nó không có cấu trúc chủ ngữ vị ngữ nên nó không phải là một ý hoàn chỉnh. Hãy nhìn vào mục số hai trên cùng một trang. “Con bò nhảy qua mặt trăng”18. Bây giờ, hãy chỉ xem xét các từ “qua mặt trăng”. “Qua mặt trăng”, chúng hoạt động như một đơn vị đơn lẻ, nó cho bạn biết về bản chất của điều gì? Con bò nhảy đi đâu? Bạn nói “con bò nhảy lên” nhưng thay vì vậy bạn nói “con bò nhảy qua mặt trăng”. Vậy, nó hoạt động như một đơn vị, ba từ kết hợp cùng nhau trở thành một thực thể, chỉ có ba từ. Có chủ ngữ và vị ngữ trong “over the moon” không? Rõ ràng là không. Không có động từ, không có thực thể làm bất cứ điều gì. Có ai biết tên loại thành phần này của câu là gì không, trong đó “over” là một ví dụ? Chúng ta chưa đề cập đến điều này và chúng ta thậm chí sẽ không đề cập cho đến tuần sau. Do đó, nếu bạn không biết, tôi sẽ không đánh giá thấp bạn đâu, nhưng nói cho vui, một từ đứng trước một từ quan trọng và chi phối nó gọi là gì? Nó đứng trước một từ quan trọng, như một từ-đứng-trước và chi phối từ “mặt trăng” tạo ra một quan hệ không gian trong trường hợp này. Vậy bạn nghĩ từ-đứng-trước này được gọi là gì? Vâng, nó được gọi là giới từ. Giờ, bạn thấy đó, nhiều tài năng trong lớp với tư cách nhà ngữ pháp học đúng không. Nếu bạn phải đặt tên cho loại cụm từ thì sẽ đặt theo cấu trúc của nó. Và bạn muốn gọi tên một cụm từ bắt đầu bằng giới từ, bạn nghĩ mình sẽ gọi là gì? Nó được gọi là một cụm giới từ (prepositional phrase). Rất tốt. Vậy, “qua mặt trăng” là một cụm giới từ. Tôi sẽ định nghĩa cho bạn về giới từ vào lần sau nhưng về cơ bản, nó là một từ diễn tả các mối quan hệ không gian hoặc thời gian, chi phối một từ quan trọng nào đó. Chúng ta sẽ đề cập đến nó vào lần sau. Được rồi, tôi sẽ xem xét phần tiếp theo.
“Con bò đang nhảy lên và xuống19”.
“Đang nhảy” là một cụm từ. Tại sao? Nó là hai từ, có chức năng như một đơn vị. Tại sao nó lại hoạt động như một đơn vị? Để tôi mời một người khác, bạn ngồi trên chiếc ghế dài xám ở đằng kia. Vâng, không may là tôi đã bắt gặp ánh mắt của bạn trước. Tại sao nó hoạt động như một đơn vị đơn lẻ “đang nhảy”?
Học viên: Nó diễn tả một hành động.
LP: Chính xác, nó đưa ra một hành động. Nó diễn ra với hai từ, bạn cũng có thể, ví dụ như nói “nhảy” (jump) sẽ là một từ, đúng không. Vậy loại cụm từ này gọi là gì? Đây không là một cụm từ giới từ, đây là một cụm từ có một động từ, đúng không. Vậy, hãy đoán xem bạn sẽ gọi là gì? Hãy nói xem nào. Một cụm động từ. Rất tốt. Được rồi. Bây giờ, tiếp tục tương tự, bạn sẽ thấy cụm từ nào khác trong câu này. “Con bò đang nhảy lên và xuống”. “Lên và xuống” (up and down) là một cụm từ, thậm chí bạn có thể nói “con bò” (the cow) là một cụm từ vì nó là hai từ có chức năng như một đơn vị đơn lẻ - chủ ngữ. Bây giờ, đây là điều tôi muốn nhấn mạnh, hai từ “lên và” (up and). Đó có phải là một cụm từ không? Không. Bạn cứ lấy hai từ bất kỳ để nói rằng đây là một cụm từ nhưng nó phải tạo thành một đơn vị logic, và “lên và” thì không. Mặt khác, cụm từ có thể có nhiều hơn hai từ, hãy xem ví dụ tiếp theo. “Nhảy lên và xuống như một kẻ điên, con bò bị đau tim20”. Ai có thể nói cho tôi cụm từ đầu tiên? Cái gì có thể được coi là một cụm từ trong cả câu đó? Hãy cho tôi một cụm dài nhất có thể, đủ điều kiện là một cụm từ.
Bây giờ, chúng ta sẽ đề cập đến các mệnh đề. Điều bạn nên làm khi bạn phân tích câu: đóng ngoặc tất cả các cụm từ, việc này sẽ giúp sắp xếp sự hỗn loạn thành một thể thống nhất bởi vì mỗi đơn vị sẽ hoạt động giống như một từ, bạn sẽ có thể dễ dàng xem xét toàn bộ. Kiểu như nói: ồ đó chỉ là một cụm giới từ và loại bỏ nó đi, đó chỉ là một phân từ hoặc bất cứ gì.
Được rồi, bây giờ là Mệnh đề, chúng ta chuyển sang mệnh đề. Mệnh đề là một nhóm từ hoặc một nhóm từ liên quan có chủ ngữ và vị ngữ, nó gần giống với một câu hơn nhưng vẫn chưa phải là một ý hoàn chỉnh. Nó khó hiểu và không thể đứng riêng lẻ được. Hãy nhớ, định nghĩa về một ý hoàn chỉnh. Một mệnh đề (rất quan trọng nếu bạn hiểu được điều này), là một nhóm từ liên quan có chủ ngữ và vị ngữ, nhưng nó vẫn chưa phải là một ý hoàn chỉnh. Nó khó hiểu và không thể tồn tại riêng lẻ. Bây giờ hãy nhìn vào ví dụ số ba. “khi tôi rời đi Paris” (when I left for Paris). Chủ ngữ của nó là gì? Thực thể bạn muốn đề cập đến là gì. Jim?
Jim: “Tôi”.
LP: “Tôi” là chủ ngữ. Chính xác. Vị ngữ là gì? Tôi nói gì về ‘tôi’, “rời đi Paris” (left for Paris) là vị ngữ. Vì vậy, “Tôi rời đi Paris” và nếu tôi chỉ đơn giản nói rằng “Tôi rời đi Paris” (I left for Paris), đó là một ý hoàn chỉnh, nó là một câu. Nhưng với từ “khi” (when), “khi” chỉ ra điều gì? Tôi không chỉ đơn giản nói rằng điều gì đó đã xảy ra, tôi muốn nói “khi” một điều gì đó khác sẽ xảy ra nhưng tôi không nói với bạn là có điều gì đó khác. Vậy, nó không tồn tại độc lập được. Do đó, đây chính xác là định nghĩa của một mệnh đề với chủ ngữ và vị ngữ nhưng nó không tồn tại độc tập được. Nó chỉ ra một một tổng thể lớn hơn ngoài chính nó. Và hãy lưu ý rằng tôi đã dùng chữ “w” thường, đó là cách thể hiện khi tôi đánh máy chữ “when (khi)”, bởi vì nó không phải là một câu nên không viết hoa chữ “W”. Tôi không chắc mình đã tuân thủ quy tắc này một cách nhất quán nhưng ít nhất thì tôi đã nhận ra điều đó, và tôi cũng không đặt dấu chấm, tôi đặt hai dấu gạch chéo, bởi vì dấu chấm chỉ dùng cho một câu, và đây chỉ là môt mệnh đề. Bây giờ, bạn thấy một mệnh đề khác, “điều anh ta đã nói” (what he said), chủ ngữ là gì? “anh ta” (he). Vị ngữ là gì? “đã nói” (said). Vậy “what” là gì? Vâng, đó chỉ là một từ giới thiệu gắn với phần còn lại. Chẳng hạn. “She knows what he said” (Cô ấy biết điều anh ta nói), vậy “điều anh ta nói” là một thành phần của “she knows” (cô ấy biết) và tạo thành một câu đầy đủ. Nhưng tự nó “điều anh ta nói” chỉ là một đơn vị với chủ ngữ, vị ngữ và nó giống như một cái móc21 xuất hiện nói rằng tôi cần một thứ khác, đây không phải là một ý hoàn chỉnh. Đó là một mệnh đề.
Các bạn có thắc mắc gì không?
Mời bạn.
Học viên: Trong câu trên, “điều anh ta đã nói” là tân ngữ của động từ
LP: Chắc chắn rồi. “cô ấy biết điều anh ta đã nói”, “điều anh ta đã nói” là tân ngữ của động từ “biết”. Chắc chắn là như vậy. Chúng ta sẽ nói đến phần đó, các mệnh đề đó có chức năng như chủ ngữ hoặc tân ngữ hoặc trạng từ, cho tôi một chút thời gian, tôi chắc chắn sẽ nói đến phần đó.
Mời bạn.
Học viên: Những câu này có thể là câu hoàn chỉnh nếu chúng là câu trả lời cho những câu hỏi có chủ ngữ có thể hiểu được.
LP: Kiểu như thế nào?
Học viên: Vâng, nếu ai đó hỏi và người ta trả lời “khi tôi rời đi Paris”.
LP: Ồ, đó là ngụ ý “nó đã xảy ra khi tôi rời đi Paris”, đó là ngụ ý một phần còn lại của câu.
Học viên: Nhưng câu trả lời “khi tôi rời đi Paris”....
LP: Không, nó không phải là một câu hoàn chỉnh. Nó không phải là một câu hoàn chỉnh cho dù thế nào đi nữa. Nhiều nhất là bạn chỉ có thể nói trong một số ngữ cảnh, nó bao hàm những từ khác khiến cho nó trở thành một câu đầy đủ. Nhưng bản thân nó không phải là một câu đầy đủ cho dù bạn dùng trong ngữ cảnh nào. Bây giờ, chúng ta tìm hiểu các loại mệnh đề mà tôi đã hứa. Mời bạn.
Học viên: Tôi muốn hỏi về định nghĩa của mệnh đề độc lập.
LP: Bạn lại đi trước tôi nữa rồi. Nhưng nói ngắn gọn, mệnh đề độc lập chỉ được gọi là như vậy khi nó được nối liền với một mệnh đề phụ, và trong ngữ cảnh đó, nó không tự tồn tại. Vâng, một câu bình thường đơn giản “Tôi rời đi Paris” sẽ không được gọi là một mệnh đề độc lập. Nó chỉ là một câu. Do đó, về mặt chuyên môn, ngay cả một mệnh đề độc lập cũng không thể tự tồn tại. Đó là một câu hỏi hay. Tuy nhiên tôi sợ chúng ta lạc đề nhưng có lẽ không. Tóm lại, các cụm từ và mệnh đề là các thành phần của câu chứ không phải là một câu, chúng không thể tồn tại độc lập như một ý hoàn chỉnh. Bây giờ, trước khi giải lao, chúng ta hãy làm nhanh một bài tập. Hãy chuyển sang phần bài tập cho bài giảng này. Và chúng ta hãy làm một vài ví dụ để củng cố bài học và sau đó chúng ta sẽ nghỉ giải lao. Có bao nhiêu mệnh đề trong ví dụ số một22? Hãy giơ tay lên nếu bạn biết, và nhớ là bất cứ khi nào có chủ ngữ và vị ngữ, bạn có một mệnh đề. Vậy câu số một có bao nhiêu mệnh đề? Hãy giơ tay khi bạn biết câu trả lời. Câu trả lời đơn giản chỉ cần đưa ra một, hai, ba bốn, một con số nào đó.
Mời Kathy.
Kathy: Hai mệnh đề
LP: Hai. Chính xác. Bạn có muốn cho chúng tôi biết hai mệnh đề là gì không?
LP: 23...một....hai. Chính xác. Chủ ngữ của mệnh đề đầu tiên là gì?
Gloria: Bốn
LP: Chà, bạn có nhiều hơn tôi rồi. Hãy xem bạn đã làm như thế nào. Hãy nói cho tôi mệnh đề số một. Tôi không thể nghe thấy bạn nói.
Gloria: Chỉ có ba mệnh đề
LP: Vâng, bạn đã giảm xuống còn ba mệnh đề. Tôi cũng thấy như vậy. Số một: “Việc học có lẽ là dễ dàng”. “Việc học” là chủ ngữ, “có lẽ dễ dàng” là vị ngữ. Số hai: “nếu bạn học từ một giáo viên giỏi” với từ “nếu” là một trong những từ như từ “khi”, và “bạn” là chủ ngữ, vị ngữ là “học từ một giáo viên giỏi”. Và số ba: “giảng dạy là một công việc”. “Giảng dạy” là chủ ngữ, “là một công việc” là vị ngữ và “nhưng” nó là gì? - “nhưng”, đó là một trong những từ đơn giản chỉ để liên kết, nó gắn các mệnh đề với nhau, nó gọi là gì? Liên từ (conjunction). Chúng ta sẽ đề cập đến nó vào tuần tới. Một chút cho vui trước khi chúng ta tạm nghỉ, hãy tìm cho tôi một cụm giới từ ở câu số một.
Mời Banader.
Banader: “vào phòng” (into the room).
LP: “Vào phòng”. Bạn có thể tìm cho tôi một cụm giới từ trong câu số bốn không?
Banader: “giảng dạy là một công việc”
LP: Không, không. Có nghĩa là một cụm từ được bắt đầu từ một động từ, “giảng dạy” là chủ ngữ, hoàn toàn không phải là một động từ. Ít nhất nó có 2 từ cùng nhau tạo thành một động từ. Mời Louis.
Louis: “đang học”
LP: “đang học”. Chính xác. Bạn có thể cho tôi biết chủ ngữ của câu thứ hai được không?
Louis: “Jack”
LP: Chính xác. “Jack”. Được rồi. “Jack”, về bản chất là đúng. Còn “đi vào phòng” thì sao? Nó ở đó như một bổ ngữ thực sự cho Jack, nó giống như “Jack bắt đầu cởi bỏ áo khoác của mình”, vậy, về mặt chuyên môn, toàn bộ chủ ngữ là “Jack đi vào phòng”, chúng ta sẽ đề cập đến nó sau.
Nguồn: ReasonVN
