Luận về triết học logic (Mệnh đề 2 -> 2.062)
2 Cái làm nên cái như thế - sự thực - chính là ở sự tồn tại của các tình tiết.
2.01 Một tình tiết là một sự kết hợp của các đối tượng (các sự vật, các thực thể).
2.011 Điểm thiết yếu của các sự vật là chúng có khả năng trở thành các cấu tử của các tình tiết.
2.012 Trong logic, không có gì là ngẫu nhiên: nếu một sự vật có thế xuất hiện ở một tình tiết thì khả năng xảy ra tình tiết đó đó đã phải được dự liệu trước ở trong chính sự vật đó rồi.
2.0121 Nói cái gì đó xuất hiện ngẫu nhiên là kiểu: giả dụ có một sự vật đang tồn tại hoàn toàn độc lập riêng rẽ, thì bổng nhiên xuất hiện một trạng thái sự việc trùng khớp vừa vặn vào sự vật đó.
Nếu các sự vật có thể xuất hiện ở các tình tiết thì khả năng này đã phải nằm trong các sự vật rồi.
(Một thực thể logic không thể chỉ là một khả thể đơn thuần. Logic xét đến mọi khả năng và tất cả các khả năng đều là các sự thực của logic.)
Đơn giản là vì chúng ta thực sự không thể tưởng tượng ra được các đối tượng không gian tách rời khỏi không gian hay các đối tượng thời gian tách rời khởi thời gian, thế nên chúng ta cũng không thể tưởng tượng ra được bất kỳ đối tượng nào tách rời khỏi khả năng kết hợp với những đối tượng khác.
Nếu có thể tưởng tượng ra được một đối tượng trong ngữ cảnh một tình tiết, thì việc tưởng tượng ra được đối tượng đó tách rời khỏi khả năng tồn tại của ngữ cảnh tình tiết đó là điều bất khả.
2.0122 Sự vật độc lập là trong chừng mực nó có thể xuất hiện trong mọi tình huống khả thể, nhưng hình thức độc lập này là hình thức có gắn kết với tình tiết, tức một hình thức phụ thuộc. (Các từ ngữ không thể xuất hiện trong hai vai trò khác nhau: đứng độc lập riêng rẽ và đứng trong một mệnh đề.)
2.0123 Nếu tôi biết một đối tượng thì tôi cũng biết mọi khả năng tồn tại của nó ở các tình tiết.
(Mỗi khả năng như thế phải nằm trong bản chất của đối tượng rồi.)
Không thể tồn tại bất kỳ khả năng mới nào lại có thể được phát hiện sau này.
2.01231 Nếu tôi muốn biết một đối tượng, tôi buộc phải biết tất cả các thuộc tính bên trong của nó, nhưng không nhất thiết phải biết những thuộc tính bên ngoài của nó.
2.0124 Nếu chúng ta biết tất cả các đối tượng, thì chúng ta cũng biết tất cả các tình tiết khả thể.
2.013 Có thể nói, dù không chính xác lắm, mỗi sự vật đều nằm trong một không gian của các tình tiết khả thể. Tôi có thể tưởng tượng ra được không gian tình tiết này rỗng, nhưng tôi không thể tưởng tượng ra được một sự vật nào đó đó khi không có không gian tình tiết đó.
2.0131 Một đối tượng có thuộc tính không gian phải nằm trong không gian vô hạn. (Một điểm trong không gian là một vị trí tham chiếu).
Một khoảng thẫm trong tầm nhìn, dù không nhất thiết phải là màu đỏ, nhưng ắt phải có một màu nào đó: vì thế, ta có thể nói là nó được bao quanh bởi không-gian-màu. Các nốt nhạc phải có độ nhấn nào đó, các đối tượng của xúc giác phải có độ nhám nào đó, v.v.
2.014 Các đối tượng chứa đựng khả năng tồn tại của tất cả các trạng thái.
2.0141 Khả năng tồn tại của đối tượng ở các tình tiết chính là dạng thức của đối tượng.
2.02 Các đối tượng đều ở thể đơn nguyên.
2.0201 Mọi phát biểu về các phức thể đều có thể phân rã thành một phát biểu về các cấu tử của chúng và thành những mệnh đề cho phép ta mô tả hoàn chỉnh các phức thể đó.
2.021 Các đối tượng hợp thành chất của Thế giới. Bởi thế, chúng không thể ở thể phức.
2.0211 Nếu giả dụ Thế giới không có chất thì việc liệu một mệnh đề có nghĩa hay không phụ thuộc vào việc liệu một mệnh đề khác có đúng hay không.
2.0212 Trong trường hợp đó chúng ta không thể phác hoạ ra được bất kỳ bức tranh nào về Thế giới (đúng hoặc sai).
2.022 Hiển nhiên là một thế giới được tưởng tượng ra, dù bất kể nó có khác với Thế giới thực như thế nào, phải có một cái gì đó chung với nó – đó chính là dạng thức.
2.023 Các đối tượng chính xác là những cấu tử của cái dạng thức bất biến này.
2.0231 Chất của Thế giới chỉ có thể định ra một dạng thức này khác, chứ không định ra bất kỳ thuộc tính vật chất nào. Bởi chỉ qua các mệnh đề, các thuộc tính vật chất mới được biểu hiện ra - chỉ nhờ cấu hình kết hợp của các đối tượng, chúng mới được hình thành.
2.0232 Nói đại khái, các đối tượng không có màu sắc.
2.0233 Nếu hai đối tượng có cùng dạng thức logic, thì thứ duy nhất khiến chúng khác biệt - ngoại trừ các thuộc tính bên ngoài của chúng - là chúng khác nhau.
2.02331 Hoặc một sự vật có các thuộc tính mà không vật nào khác có, trong trường hợp này ta có thể phân biệt nó ngay lập tức với những vật khác qua việc mô tả và tham chiếu đến nó; hoặc, ngược lại, có một số sự vật có toàn bộ các thuộc tính đều giống nhau, trong trường hợp này việc phân biệt vật này với vật kia là hoàn toàn bất khả.
Bởi nếu không có cái gì để phân biệt một sự vật với một sự vật khác, tôi sẽ không thể phân biệt được nó, vì nếu không phải vậy thì tôi đã phân biệt được rồi.
2.024 Chất [của Thế giới] là cái tồn tại một cách độc lập với cái làm nên cái như thế.
2.025 Nó vừa là dạng thức, vừa là nội dung.
2.0251 Không gian, thời gian, và màu sắc (sắc tính) là các dạng thức của đối tượng.
2.026 Chỉ khi có các đối tượng thì mới có thể có một dạng thức bất biến của thế giới.
2.027 Đối tượng, cái bất biến và cái tồn tại vĩnh viễn đều là một thứ.
2.0271 Đối tượng là cái bất biến, cái tồn tại vĩnh viễn; cấu hình kết hợp các đối tượng là cái thay đổi và không bền vững.
2.0272 Cấu hình kết hợp các đối tượng hợp thành tình tiết.
2.03 Ở một tình tiết nhất định nào đó, các đối tượng khớp vào nhau như những mắt xích.
2.031 Ở một tình tiết nhất định nào đó, các đối tượng kết hợp với nhau theo một cách thức xác định.
2.032 Cách thức các đối tượng khớp với nhau ở một tình tiết nhất định nào đó là cấu trúc của tình tiết đó.
2.033 Dạng thức là khả năng tồn tại của cấu trúc.
2.034 Cấu trúc của một sự thực được hợp thành từ các cấu trúc của các tình tiết.
2.04 Tổng thể các tình tiết tồn tại chính là Thế giới.
2.05 Tổng thể các tình tiết tồn tại cũng xác định được những tình tiết nào không tồn tại.
2.06 Sự tồn tại và sự không tồn tại của các tình tiết là thực tại.
(Chúng ta cũng gọi sự tồn tại của các tình tiết là một sự thực dương bản, và sự không tồn tại của chúng là một sự thực âm bản).
2.061 Các tình tiết độc lập với nhau.
2.062 Không thể suy ra được sự tồn tại hoặc sự không tồn tại của tình tiết này từ sự tồn tại hoặc sự không tồn tại của tình tiết khác.
2.063 Toàn bộ thực tại chính là Thế giới.
_______________________
GIẢI THÍCH CHI TIẾT
Phần giải thích chi tiết dưới đây do dịch giả (Đinh Tuấn Minh) thực hiện dưới dạng các diễn giải hoặc ví dụ minh hoạ với mục đích giúp độc giả dễ nắm bắt hơn các luận điểm mà Wittgenstein trình bày.
Mệnh đề 2
Mệnh đề này có nghĩa là cái chúng ta mô tả là như thế, như thế chính là sự thực, và nội dung mà chúng ta mô tả chính là sự tồn tại hay sự hiện diện của các tình tiết cấu thành sự thực đó. Hay nói cách khác, các tình tiết chính là thứ tạo ra nghĩa của cái như thế.
Chẳng hạn khi chúng ta mô tả là “cậu bé bụ bẫm ôm gà trống màu đỏ”, thì cái [được mô tả] như thế chính là một sự thực. Và sự thực này bao gồm các tính tiết như “cậu bé bụ bẫm”, “cậu bé ôm gà”, “con gà trống”, “con gà màu đỏ”.
Chú thích dịch thuật
What is the case == cái [làm nên cái] như thế. Câu là thuộc vào mẫu “what is A is the existence of B”, muốn nói, nghĩa của A có quan hệ với sự tồn tại của B. A có thể là một sự kiện/khái niệm, B có thể là các điều kiện để sự kiện/khái niệm đó xảy ra, khi đó sự tồn tại của B chính là cái làm nên A. Ví dụ, “cái làm nên hôn nhân chính là ở sự tồn tại của thoả thuận xã hội và pháp lý giữa hai cá nhân”.
Cụm từ “chính là ở sự” được sử dụng để chỉ cái làm nên nghĩa của cái như thế.
Existence: sự tồn tại.
State of affairs == automic fact == tình tiết. Từ này có thể được dịch là “trạng thái”, “trạng thái sự vật” hoặc “sự thực nguyên tử”. Tuy nhiên, trong tiếng Việt có từ “tình tiết” phản ánh sự thực nhỏ nhất cấu thành một câu chuyện, một vụ án, một sự việc, một sự kiện v.v. Từ “tiết” khi kết hợp với các từ khác thì đều biểu đạt một đơn vị nhỏ nhất của lớp sự việc. Chẳng hạn, tiết học là đơn vị nhỏ nhất của buổi học; tiết trời biểu đạt các trạng thái như nóng, lạnh, mát v.v.
Câu 2.01 và 2.011
Câu 2.01 định nghĩa tình tiết là gì. Lưu ý trong câu 1.1, Wttgenstein phân biệt giữa “sự thực” và “sự vật”. Tình tiết là sự thực nguyên tử. Sự vật là thứ cấu thành tình tiết. Đây là một thuộc tính cốt yếu của sự vật (câu 2.011). Như tình tiết “con gà màu đỏ” thì “con gà” và “màu đỏ” là các đối tượng, và tình tiết này chính là sự kết hợp của các đối tượng “con gà” và “màu đỏ”. Các đối tượng này có khả năng tham gia vào các tình tiết khá nhau, chẳng hạn, “con gà chín cựa” hay “Tóc màu đỏ”.
Lưu ý trong câu 2.01, sự vật, thực thể được Wittgenstein dùng trong ngoặc đơn để chỉ rằng chúng có thể được coi là những từ đồng nghĩa với từ đối tượng trong ngữ cảnh này, nhằm diễn đạt ý tưởng về các thành phần tối giản nhất của thế giới.
Như minh hoạ trong Hình A1, các điểm 1, điểm 2 v.v. là các đối tượng (hay sự vật). Đoạn 1-2 nối điểm 1 với điểm 2 là một tình tiết (đồng thời cũng là một sự thực). Ta có thể thấy, đoạn 1-2 chính là một sự kết hợp của điểm 1 với điểm 2. Điểm 2 cũng có thể tham gia vào các tình tiết khác như đoạn 2-3 hay đoạn 2-5.
Chú thích dịch thuật
Object == đối tượng; Entity == thực thể; Thing == sự vật. Đây là cách dịch phổ biến các thuật ngữ này trong tiếng Việt.
Constituent part==constituent: cấu tử. Từ này mang nghĩa là phần tử cấu thành một cái gì đó.
Essential: thiết yếu.
Câu 2.012 đến 2.0124
Câu 2.012 có nghĩa là khi có một sự vật (theo nghĩa là một thực thể cơ bản nhất của thế giới) trong thế giới thì đã bản thân trong sự vật đó đã bao gồm tất cả các khả năng kết hợp với các sự vật khác để tạo ra các tình tiết. Thế cho nên không có gì là ngẫu nhiên khi thấy một sự vật xuất hiện trong một tình tiết nào đó. Ví dụ, trong tình tiết “con gà chín cựa” thì trong bản thân sự vật “con gà” đã dự liệu trước khả năng kết hợp với “chín cựa” để tạo thành tình tiết này rồi.
Như ví dụ minh hoạ trong Hình A1, điểm 2 khi ở trong thế giới thì đã bao gồm khả năng kết hợp với điểm 1, điểm 3 và điểm 5. Thế cho nên, nếu ta nói đến tình tiết “đoạn 2-5” thì không có gì ngẫu nhiên ở đây vì khả năng xảy ra tình tiết này đã được dự liệu trước ở trong chính điểm 2 rồi.
Và nếu ta biết điểm 2 thì ta cũng đồng thời biết mọi khả năng tồn tại của nó (như trong các đoạn 2-1, đoạn 2-3, đoạn 2-5). Không thể có một khả năng nào khác bị che khuất, rồi bỗng dưng xuất hiện sau này. Thế cho nên, nếu tôi nói tôi biết một sự vật, chẳng hạn điểm 2, thì có nghĩa là tôi phải biểu được là nó có thể kết hợp với các sự vật khác, chẳng hạn điểm 1, điểm 3 và điểm 5. Và điều này có nghĩa là tôi cũng biết các thuộc tính bên trong của nó, tức cái quyết định khả năng kết hợp của nó với các sự vật khác (câu 2.0123 và câu 2.01231).
Và nếu tôi biết tất cả các điểm 1,.., điểm 10, thì tôi cũng biết tất cả các khả năng kết hợp của chúng, tức là tôi biết tất cả các tình tiết, các đoạn khả thể nối giữa các điểm, trong thế giới của Hình A1 (câu 2.0124).
“Xuất hiện ngẫu nhiên” chỉ là cách diễn tả trường hợp giả tưởng như kiểu như điểm 11, đang đứng hoàn toàn độc lập, riêng rẽ (tức không thuộc thế giới), bỗng dưng xuất hiện một đoạn nối điếm 1 với điểm 11.
Còn khi ta nói một sự vật độc lập thì ta nói về trạng thái giả định trước khi nó kết hợp với các sự vật này khác để tạo ra các tính tiết, tức là trước khi nó có thể xuất hiện trong mọi khả năng kết hợp với các sự vật khác. Hình thức độc lập như vậy thực chất là một hình thức phụ thuộc vì nó đòi hỏi phải gắn kết với tình tiết (câu 2.0122).
Cần lưu ý là thực thể logic là một đối tượng đặc biệt (đoạn mở ngoặc trong câu 2.0121). Nó không chỉ có khả năng kết hợp với một số đối tượng mà là có khả năng kết hợp với mọi đối tượng, tức tham gia vào mọi tình tiết, mọi sự thực. Thế cho nên nó không phải là “một khả thể đơn thuần”.
Như minh hoạ trong Hình A2, trích một phần của thế giới trong Hình A1, và bổ sung thêm điểm 15 là một thực thể logic. Thực thể này chính là tham chiếu đến các đoạn thẳng nối các điểm với nhau.

Hình A2
Chú thích dịch thuật
state of affaires==situation==trạng thái.
Logic entity==thực thể logic. Các thực thể logic trong logic học là các thứ như mệnh đề, quan hệ, toán tử logic, cấu trúc logic, v.v.
Possible: khả thể
Possibility: khả năng
Circumstance==situation==tình huống.
Internal quality == internal property == thuộc tính bên trong. Thuộc tính của sự vật quyết định khả năng kết hợp của nó với các sự vật khác.
External quality== external property == thuộc tính bên ngoài. Thuộc tính của sự vật nhưng quyết định khả năng kết hợp của một nó với sự vật khác.
apart from==excluded from==tách rời khỏi.
Câu 2.013 và câu 2.0131
Câu 2.013 có nghĩa là mỗi sự vật đều thuộc không gian của các tình tiết khả thể nào đó. Theo cách minh hoạ trong Hình A1, ta có thể hình dung, mỗi sự vật sẽ phải nằm trong một không gian tình tiết như thế này:
Còn như cách Wittgenstein minh hoạ trong câu 2.0131, một đối tượng có thuộc tính không gian, chẳng hạn “con gà”, phải nằm trong một không gian mà ta có thể tưởng tượng là trống rỗng, không có biên giới; một đối tượng có thuộc tính màu thì nằm trong một không-gian-màu; một đối tượng có thuộc tính xúc giác phải có độ nhám nào đó v.v.
Chú thích dịch thuật
Argument place: vị trí tham chiếu.
Câu 2.014 và 2.0141
Hai câu này có nghĩa là một sự vật hay một đối tượng bản thân nó không có một hình dạng hay dạng thức cụ thể. “Con gà” không có hình dạng cụ thể là thế này [Hình con gà] hay thế này [Hình con gà con hoạt hình] hay thế này o . Cái quyết định dạng thức của một đối tượng chính là khả năng tồn tại của đối tượng trong các tình tiết. Và khả năng này đã nằm trong bản thân sự vật hay đối tượng đó rồi.
Cái khả năng “con gà” kết hợp được vào mọi tình tiết khả thể như “con gà màu đỏ”, “con gà chín cựa”, “con gà mái”, “cậu bé ôm con gà” v.v. và v.v. mới là cái tạo ra “hình hài” hay dạng thức của nó.
Chú thích dịch thuật
state of affairs = situation == trạng thái.
contain: chứa đựng
form: dạng thức
Câu 2.02 và 2.0201
Các đối tượng đều ở thể đơn nguyên, tức là chúng ta không thể phân tích nó thành các thành phần nhỏ hơn bằng phương pháp logic. Ví dụ, con gà được hiểu là con gà khi tham gia vào mọi tình tiết khả thể trong thế giới, “như con gà màu đỏ”, “con gà chín cựa”, chứ không phải là một tập hợp {đầu, cổ, cánh, lông,...}.
Như minh hoạ trong Hình A1, các điểm 1,.., điểm 10 là các đối tượng; chúng được minh hoạ bằng các điểm trong không gian hình học, và chúng ta không thể chia nhỏ điểm thành những thứ nhỏ hơn được nữa.
Khi ta có một phát biểu gì đó về một phức thể “cậu bé ôm gà”, chẳng hạn “cậu bé bụ bẫm ôm con gà màu đỏ”, thì chúng ta có thể phân rã nó thành một phát biểu về các cấu tử, chẳng hạn “cậu bé bụ bẫm ôm con gà” và “con gà màu đỏ”, và sau đó phân rã tiếp thành các mệnh đề “cậu bé bụ bẫm”, ‘cậu bé ôm con gà”, “con gà màu đỏ”. Các mệnh đề này rõ ràng có thể mô tả phức thể “cậu bé ôm gà” một cách hoàn chỉnh.
Wittgenstein giải thích tại sao lại như vậy trong câu 2.021.
Chú thích dịch thuật
simple == thể đơn nguyên.
complex == phức thể.
statement == phát biểu.
proposition == mệnh đề.
analyse == resolve == phân rã.
Câu 2.021, 20211 và 20212
Trong các câu này, Wittgenstein đưa ra khái niệm “chất” của thế giới. Chất của thế giới hàm ý một cái gì đó đồng nhất, bất biến. Chất phải là cái giống nhau và có trong tất cả các cấu phần của thế giới.
Câu 2.021 Các đối tượng hợp thành chất của thế giới và đây chính là lý do khiến cho chúng không thể ở thể phức, tức đều ở thể đơn nguyên. Nếu một đối tượng là phức hợp, chẳng hạn con gà=={đầu, cổ, cánh, lông,..}, nó sẽ phụ thuộc vào sự tồn tại của các thành phần cấu tạo nên nó, tức phụ thuộc vào sự phụ thuộc của cổ, cánh, lông, và cả những cái {...} mà chúng ta không biết là có tồn tại hay không. Khi đó, chúng ta không chắc cái tập hợp {đầu, cổ, cánh, lông,..} trong các tình tiết khác nhau có phải là con gà hay không. Chính vì lẽ đó “gà” là “gà”, “đầu là “đầu”, “cổ” là “cổ” v.v. Chúng đều là các đơn nguyên, không thể phân chia nhỏ hơn được nữa; chúng bất biến trong mọi tình tiết khả thể mà chúng xuất hiện.
Câu 2.0211 có nghĩa là nếu thế giới không có các đối tượng ở thể đơn nguyên bất biến khi tham gia vào các tình tiết khả thể thì việc một mệnh đề có nghĩa là như thế như thế không còn độc lập nữa mà phụ thuộc vào một mệnh đề khác có đúng hay không. Tức là, câu “con gà màu đỏ” có nghĩa đúng như thế hay không phụ thuộc vào cách ta hiểu “con gà”, giả sử ở thể phức như là tập hợp của {đầu, cổ, cánh, lông,..}, trong tình tiết này có nghĩa là gì. Nó sẽ phụ thuộc vào các mệnh đề liên quan đến “đầu”, “cổ”, “cánh”, “lông”, v.v. có đúng hay không. (ví dụ, ‘đầu ở trên cổ”, “đầu có mào”, v.v.). Và điều này sẽ lại phụ thuộc vào việc các mệnh đề liên quan đến “đầu”, “cổ”, “cánh”, “lông”, v.v. có nghĩa hay không, và do đó phụ thuộc tiếp vào mệnh để về các cấu phần con của những phần tử này có đúng hay không. Đó là một vòng lặp vô tận.
Và nếu chúng ta không biết một mệnh đề nào đó về “con gà” có đúng là như thế hay không, về “cậu bé” có đúng là như thế hay không thì chúng ta không thể nào có thể phác hoạ ra được bất cứ bức tranh nào về thế giới như “con gà màu đỏ”, “cậu bé bụ bẫm ôm con gà màu đỏ”, “vinh hoa” v.v. (Câu 2.0212).
Nhưng bởi sự thật là chúng ta có khả năng phác hoạ được những bức tranh về thế giới, bất kể đúng hay sai, thế cho nên thế giới phải có chất; thế cho nên các đối tượng, những thứ hợp thành chất, phải ở thể đơn nguyên.
Ở đây chúng ta cần phân biệt giữa mệnh đề có nghĩa (have sense) với mệnh đề không mang nghĩa (senseless) và mới mệnh để vô nghĩa (non-sense). Câu “con gà màu đỏ’ là câu có nghĩa; một câu có nghĩa có thể đúng hoặc sai. Câu “con gà hoặc có màu đỏ hoặc không có màu đỏ” là câu không mang nghĩa, dù nó luôn đúng. Câu “màu gà con đỏ” (tương tự như ví dụ trong câu 4.003 của Wittgenstein ‘cái tốt đồng nhất hơn so với cái đẹp’) là một câu vô nghĩa.
Chú thích dịch thuật
form == make up == hợp thành. Dùng từ hợp thành thay vì là “tạo ra” vì bản thân các đối tượng đều đã là chất rồi nên chúng chỉ kết hợp với nhau mà thôi chứ không phải là tạo ra cái mới.
substance == chất.
compound ==composite == thể phức.
form == sketch == phác hoạ.
picture== bức tranh.
have sense == có nghĩa. Cần phân biệt với senseless==không mang nghĩa và nonsense==vô nghĩa. Have sense ở đây tương tương với meaningful.
Mệnh đề 2.022 đến mệnh đề 2.0232
Nhớ lại Mệnh đề 2.0141, “Khả năng tồn tại của đối tượng ở các tình tiết chính là dạng thức của đối tượng”, thì Mệnh đề 2.022 có nghĩa là cái có chung giữa thế giới thực và thế giới tưởng tượng (thế giới của các khả năng) là khả năng tồn tại của các đối tượng. Nếu một đối tượng có khả năng tồn tại ở thế giới thực thì nó cũng có khả năng xuất hiện ở trong tưởng tượng và ngược lại. “con gà chín cựa” hoàn còn có khả năng tồn tại trong thế giới thực.
Theo cách hiểu này dạng thức của thế giới là toàn bộ các khả năng các đối tượng có thể kết hợp được với nhau trong các tình tiết khả thể. Như minh hoạ trong Hình A1, nếu đó là thế giới, thì các kết nối giữa các điểm trong đó là toàn bộ khả năng kết hợp của các điểm, và đó chính là dạng thức của thế giới. Nó là cái bất biến và vĩnh viễn (Mệnh đề 2.023). Do cái khả năng tồn tại trong các tình tiết khả thể đã nằm trong chính các đối tượng rồi, thế nên các đối tượng (hay các điểm trong hình minh hoạ) chính là những cấu tử cấu thành cái dạng thức bất biến này.
Mệnh đề 2.0231 có nghĩa là chất của thế giới, là thứ hợp thành từ các đối tượng ở thể đơn nguyên, bất biến khi xuất hiện trong các tình tiết khả thể, chỉ có thể quy định cách thức các đối tượng có thể kết hợp với nhau theo cách này hoặc theo cách khác (tức một dạng thức này khác). Tuy nhiên, nó không định ra bất kỳ thuộc tính vật chất nào của đối tượng. Việc đối tượng “con gà” ở thể đơn nguyên không bao hàm trong nó màu sắc, khối lượng, kích thước, hay bất kỳ thuộc tính vật lý cụ thể nào. Bản thân “con gà” không có thuộc tính "màu đỏ" hay "nặng 2kg." Tức là các đối tượng, nói đại khái, không có màu sắc (câu 2.0232). Chúng ta chỉ có thể nói về các thuộc tính vật chất (ví dụ: "con gà màu đỏ") thông qua ngôn ngữ, tức là qua các mệnh đề. Khi ta nói "con gà màu đỏ", thì ta gán thuộc tính "màu đỏ" cho "con gà"; thuộc tính “màu đỏ” này được tạo ra nhờ cấu hình kết hợp giữa các đối tượng cụ thể với nhau.
Bân thân các thuộc tính vật chất không phải là một đối tượng độc lập (như “con gà”, ‘cậu bé”). Các thuộc tính vật chất này phát sinh từ cách mà các đối tượng kết hợp với nhau trong những tình tiết cụ thể. Ví dụ, "màu đỏ" không phải là một đối tượng độc lập, mà là một thuộc tính phát sinh khi các đối tượng kết hợp theo một "cấu hình" nhất định, tạo nên một trạng thái mà vật chúng ta đề cập rơi vào trong đó khiến chúng ta mô tả là "vật đó màu đỏ."
Lưu ý cụm từ “một dạng thức này khác” (a form) trong câu 2.0231. Cụm từ này có nghĩa là dạng thức của thế giới tuy là cái bất biên, vĩnh viễn nhưng không phải là một cái gì đó cụ thể, xác định. Như minh hoạ trong hình A1, nếu đó là thế giới chúng ta mô tả, thì dạng thức của nó cố định như vậy; nhưng nếu nó có thêm một số điểm khác nữa hoặc các kết nối khác giữa các điểm hiện có trong đó thì nó sẽ có dạng thức cố định như vậy. Tóm lại, chúng ta không biết hình hài cụ thể của của thế giới thế nào nhưng điều chúng ta biết chắc chắn là nó có hình hài và cái hình hài đó là bất biến và vĩnh viễn.
Chú thích dịch thuật
As constitute B == B consists of As == As là các cấu tử của B. Từ này hàm ý sự liệt kê các yếu tố (As) cấu thành nên một cái gì đó (B). Chuyển động từ thành danh từ sẽ cho nghĩa rõ hơn.
form==dạng thức. Có thể dịch là “hình thức”.
fixed form==unalterable form==dạng thức bất biến. Dùng “bất biến” thay vì “cố định”.
material property == thuộc tính vật chất.
present == represent == hiện ra.
form == produce == hình thành.
configuration: cấu hình.
colourless: không có màu sắc.
Câu 2.0233 và câu 2.02331
Trong câu 2.0233, hai đối tượng có cùng "dạng thức logic" tức là hai đối tượng có cùng một tập hợp các khả năng kết hợp với các đối tượng khác. Nếu chúng ta bỏ qua các "thuộc tính bên ngoài" của chúng như vị trí, hình dạng, khối lượng, màu sắc (tức là bỏ qua việc chúng đang thực sự kết hợp như thế nào trong các tình tiết cụ thể), vậy thì chúng khác nhau ở điểm nào? Câu trả lời là “chúng khác nhau bởi vì chúng quả thực khác nhau”, tức đơn giản chúng là những thực thể riêng biệt.
Như minh hoạ trong hình A1, điểm 4 và điểm 9 có dạng thực logic như nhau, tức đều có khả năng kết hợp chỉ với điểm 3 và điểm 8. Sự khác biệt giữa hai điểm này (hai đối tượng này) chỉ đơn giản là vì chúng là hai điểm khác nhau.
Câu 2.02331 làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm “phân biệt” (distinguish). Hai điểm 3 và điểm 8 như minh hoạ trong hình A1 là hai đối tượng khác biệt nhưng nếu chúng không có thuộc tính nào khác nhau (cả thuộc tính bên trong lẫn bên ngoài) thì chúng ta không thể phân biệt được chúng, như chúng ta không thể phân biệt được 2 nguyên tử ô-xy với nhau.
Cần làm rõ nghĩa chứ “một” trong “một dạng thức.
Chú thích dịch thuật
differentiated==distinction == khác biệt.
distinguish==phân biệt.
the totality of properties == the whole set of properties == toàn bộ các thuộc tính.
Câu 2.024
Chất theo cách hiểu của Wittgenstein không phải là vật chất mà là sự hợp thành của các đối tượng - những thứ ở thể đơn nguyên, bất biến khi tham gia vào các tình tiết khả thể. Chính vì thế nó tồn tại độc lập với cái làm nên cái như thế, tức độc lập với các tình tiết cấu thành cái như thế (câu 2).
Trong ví dụ minh hoạ, “cậu bé bụ bẫm ôm con gà màu đỏ”, bất kể các tình tiết “cậu bé bụ bẫm”, “con gà màu đỏ”, “cậu bé ôm gà” dù có đúng hay sai thì các đối tượng “cậu bé”, “con gà” vẫn tồn tại và bất biến (theo nghĩa chúng xuất hiện trong trong mối quan hệ nào đó với các đối tượng khác, chẳng hạn “cậu bé chơi với mẹ”, “con gà đẻ trứng”, v.v.).
Chú thích dịch thuật
exists independently of...== subsist independently of... tồn tại độc lập với...
Mệnh đề 2.025
Mệnh đề này có nghĩa là chất vừa là thứ tạo ra những cái khung rỗng (dạng thức), quyết định cách thức các đối tượng kết hợp với nhau; nhưng nó cũng là thứ cấu thành nên các tình tiết cụ thể, làm cho các tình tiết có ý nghĩa (tạo nên nội dung cho các tình tiết cụ thể).
Mệnh đề 2.0251
Mệnh đề này có nghĩa là các đối tượng không tự thân có các thuộc tính không gian, thời gian hay màu sắc. Hay nói cách khác “không gian”, “thời gian” hay “màu sắc” không phải là những thuộc tính bên trong của các đối tượng. “Con gà” dù ở Việt Nam hay ở Mỹ, dù ở năm 1900 hay hiện tại, dù màu đỏ hay màu trắng thì vẫn là “Con gà”; tương tự “giống gà Việt Nam” dù ở đâu, thời gian nào, màu sắc nào thì vẫn là “giống gà Việt Nam”.
Điều này có nghĩa là không gian, thời gian và màu sắc phải là các cách thức mà các đối tượng có thể liên kết với nhau để tạo thành các tính tiết. Chúng là các khung rỗng mà ở đó các đối tượng có thể "xuất hiện".
Lưu ý, chúng ta dễ dàng hình dung không gian và thời gian là các dạng thức của các đối tượng như các khung rỗng như sau:

Ta có thể điền bất cứ đối tượng nào vào hai điểm trong khung không gian rỗng, và bất cứ đối tượng nào vào khung thời gian rỗng, là ta có những tình tiết cụ thể, chẳng hạn “mẹ đứng cạnh con” hay “Wittgenstein sinh năm 1889, mất năm 1951”.
Tuy nhiên, màu sắc là một dạng thức không dễ hình dung. Bản thân Wittgenstein cũng đã viết Remarks on Color để làm rõ hơn về dạng thức này. Về cơ bản, màu sắc được hình thành từ sự kết hợp của các đối tượng với nhau theo một dạng thức nhất định (từ góc độ logic chứ không phải vật lý, hoá học, sinh học), chẳng hạn như khi “con gà”, “ánh sáng”, “lông” v.v. kết hợp với nhau theo một dạng thức logic nào đó mà ta gọi là “dạng thức màu đỏ” thì khi đó ta sẽ có “con gà màu đỏ”. Như vậy, khi ta nói “con gà màu đó” là ta ngầm định sự kết hợp giữa đối tượng “con gà” với một số đối tượng nào đó khác trong “dạng thức màu đỏ”, dẫn đến thuộc tính “màu đỏ” xuất hiện - một thuộc tính bên ngoài của “con gà”.
Chú thích dịch thuật
colouredness == being coloured ==sắc tính.
Mệnh đề 2.026
Câu này có nghĩa là sự tồn tại của các đối tượng là điều kiện bắt buộc để thế giới có một cấu trúc logic ổn định và bất biến. Nếu không có các đối tượng, tức những thứ ở thể đơn nguyên, bất biến khi xuất hiện trong mọi tình tiết khả thể, thì sẽ không có dạng thức bất biến.
Ví dụ, nếu “con gà” ở thể phức, là tập hợp của {đầu, cổ, cánh, lông, ...} thì khi đó một dạng thức như “A ôm B” để mô tả “em bé ôm gà”, “anh ôm em”, “núi ôm mây”, v.v. có thể bị biến thành dạng thức “A tung B1, B2, B3, B4” hoặc bất kỳ một dạng thức gì khác. Chúng ta hiểu “em bé ôm gà”, “anh ôm em”, “núi ôm mây” thuộc cùng dạng thức “A ôm B” khi và chỉ khi “em bé” là “em bé”, “gà” là “gà”, “núi” là “núi”, “mây” là “mây”. Hay nói cách khác, chỉ khi các đối tượng ở thể đơn nguyên.
Mệnh đề 2.027 đến mệnh đề 2.0272
Mệnh đề 2.027 nghĩa là cái gì có thuộc tính bất biến thì cũng là cái có thuộc tính vĩnh viễn và đều là đối tượng. Đó chỉ là cách nói khác nhau để chỉ cùng một thứ. Trong khi đó, sự kết hợp của các đối tượng, tức cấu hình kết hợp của chúng để tạo ra các tình tiết, lại thay đổi (Mệnh đề 2.0271 và 2.20272). Nói một cách đại khái, các nhân vật của câu chuyện không thay đổi, nhưng các tính tiết xoanh quanh các nhân vật tạo nên câu chuyện thì lại có thể xuất hiện hoặc biến mất tuỳ bối cảnh.
Chú thích dịch thuật
configuration of objects == cấu hình kết hợp các đối tượng. Dùng “kết hợp” thay vì “của” để tránh hiểu nhầm là đối tượng có cấu hình nội tại.
Mệnh đề 2.03 đến mệnh đề 2.034
Các mệnh đề này có thể dễ dàng nắm bắt qua minh hoạ ở Hình A1. Một đoạn nối điểm này với điểm khác là một tình tiết. Và ta thấy ở mỗi đoạn, các điểm nối với nhau giống như những mắt xích. Ở mỗi tình tiết, các đối tượng nối với nhau theo một cách thức xác định, giống như các điểm của các đoạn có thể nối với nhau bằng đường thẳng hoặc bằng đường cong. Cách thức nối đó (đường thẳng hay đường cong) đó chính là cấu trúc của tình tiết.
Một sự thực được hình thành từ nhiều tình tiết, giống như cụm điểm 8 trong hình A1 hình thành từ nhiều đoạn. Mỗi đoạn trong số này có cấu trúc cong, thẳng khác nhau. Và cấu trúc của cụm điểm 8 được hợp thành từ cấu trúc của các đoạn này.
Mệnh đề 2.033 cần phân tích kỹ hơn một chút. “Dạng thức là khả năng tồn tại của cấu trúc.” Câu này có thể suy ra được từ câu 2.0141, “Khả năng tồn tại của đối tượng ở các tình tiết chính là dạng thức của đối tượng”. Như minh hoạ trong Hình A1, khả năng tồn tại của điểm 7 ở trong các đoạn 7-6 và đoạn 7-8 cho ta biết đây là dạng thức của điểm 7; dạng thức của điểm 7 như thế có đoạn 7-6 thẳng và đoạn 7-8 cong. Thẳng và cong là cấu trúc của mỗi đoạn này. Như thế, dạng thức của điểm 7 cũng chính là khả năng tồn tại của thẳng và cong ở trong tình huống này.
Chú thích dịch thuật
structure: cấu trúc
hang together in == are connected in == khớp với nhau.
Mệnh đề 2.04 đến mệnh đề 2.05
Mệnh đề 2.04 có nghĩa là nếu chúng ta có một danh sách tất cả các tình tiết thì chúng ta có một mô tả hoàn chỉnh về thế giới: thế giới không có gì khác ngoài các tình tiết. Đó là bởi các sự thực được hợp thành từ các tình tiết. Như ví dụ minh hoạ ở Hình A1, mỗi tình tiết là một đoạn nối điểm này với điểm kia (như đoạn 1-2, đoạn 2-3, v.v.), và tổng thể những đoạn kết nối với nhau trong vòng tròn mô tả hoàn chỉnh thế giới.
Mệnh đề 2.05 có nghĩa là tổng thể các tình tiết tồn tại này cũng xác định được những tình tiết nào không tồn tại. Cũng trong hình minh hoạ A1, chúng ta thấy các đoạn 1-5, đoạn 1-6 không tồn tại. Và ta biết được điều này chính là từ việc ta biết tổng thể các đoạn nối các điểm với nhau.
Chú thích dịch thuật
existent == existing == tồn tại.
Mệnh đề 2.06 đến mệnh đề 2.063
Wittgenstein định nghĩa thực tại là sự tồn tại và sự không tồn tại của các tình tiết. Như minh hoạ trong hình A1, sự tồn tại của các đoạn 1-2, đoạn 2-3 v.v. và sự không tồn tại của các đoạn 1-5, đoạn 2-6 v.v. chính là thực tại.
Sự tồn tại và không tồn tại của một tình tiết là do các đối tượng cấu thành quyết định. Thế nên các tình tiết dộc lập với nhau (Mệnh đề 2.061) và từ sự tồn tại hoặc không tồn tại của tình tiết này ta không thể suy ra được sự tồn tại hoặc sự không tồn tại của các tình tiết khác (Mệnh đề 2.062). Như minh hoạ trong hình A1, sự tồn tại của đoạn 1-2 và đoạn 2-3 là hoàn toàn độc lập với nhau; từ sự tồn tại của đoạn 1-2 hay từ sự không tồn tịa của đoạn 1-5 ta không thể suy ra được sự tồn tại của đoạn 2-3 hoặc sự không tồn tại của đoạn 2-6.
Mệnh đề 2.063 nghĩa là toàn bộ thực tại, tức là toàn bộ sự tồn tại và sự không tồn tại của các tình tiết, chính là thế giới. Như minh hoạ trong hình A1, toàn bộ các đoạn nối các điểm với nhau trong hình tròn và toàn bộ những khoảng trống không kết nối các điểm trong hình tròn chính là thế giới.
Chú thích dịch thuật
the total reality == the sum-total of reality == toàn bộ. Nghĩa tương đương với “the whole of”.
positive fact == sự thực dương bản.
negative fact == sự thực âm bản.
Mệnh đề 2.1 đến mệnh đề 2.12
Lưu ý từ mệnh đề này trở đi Wittgenstein bắt đầu bàn về một loại sự thực cụ thể chứ không phải là những sự thực chung chung nữa. Đó là sự thực dưới hình thức một bức tranh tái hiện một sự thực khác.
Một bức tranh (Mệnh đề 2.11) trình bày những sự thực trong không gian logic, tức là trình bày những khả năng kết hợp của các đối tượng trong các tình tiết khả thể chứ không phải là những thứ thực sự xảy ra trong thế giới thực. Thế cho nên một bức tranh không chỉ tái hiện con gà bình thường mà có thể là con gà chín cựa hay con rồng v.v.
Một bức tranh khi trình bày các tình tiết khả thể thì cũng bao hàm trong đó những tình tiết không tồn tại. Như minh hoạ trong Hình A3, bức tranh bao gồm trong đó các tình tiết khả thể là các đoạn 3-5, đoạn 8-3, đoạn 8-7; nhưng cũng bao gồm trong đó sự không tồn tại của các tình tiết như đoạn 3-7, đoạn 5-7. Vì bức tranh tái hiện sự tồn tại và sự không tồn tại của các tình tiết, thế cho nên nó là mô hình của thực tại (Mệnh đề 2.12).

Hình A3 - Một bức tranh về một sự thực của thế giới minh hoạ trong Hình A1.
Chú thích dịch thuật
picture==bức tranh.
present==trình bày.
model == mô hình.
Nguyên tác: Tractatus-Logico Philosophicus, Ludwig Wittgenstein
Nguồn: Luận về triết học logic, Đinh Tuấn Minh dịch và chú thích. (Bản thảo v1).
