[VIDEO] Tại sao tiến bộ khoa học trong đạo đức học bị cản trở?
Một quan điểm hạn hẹp về đạo đức gây cản trở sự tiến bộ khoa học trong lĩnh vực này.
“Tại sao tiến bộ khoa học trong đạo đức học bị cản trở” được xuất bản trên trang New Ideal (Lý tưởng mới) của viện Ayn Rand, ngày 13 tháng 1 năm 2021, do Ben Bayer viết và đọc.
Tại sao nhân loại đạt được rất nhiều tiến bộ trong khoa học, nhưng lại quá ít tiến bộ trong các lĩnh vực như triết học – đặc biệt là đạo đức học?
Một lĩnh vực tiến triển khi các nhà tư tưởng làm việc trong lĩnh vực đó có những phát kiến giúp mở rộng biên giới tri thức. Trong khoa học vật lý, rõ ràng những nhân vật quan trọng (Galileo, Newton, Einstein, v.v.) đã tạo ra những bước đột phá thúc đẩy tri thức nhân loại tiến lên phía trước. Nhưng mặc dù các nhà triết học đã nêu ra và phân tích những vấn đề quan trọng về đúng và sai kể từ Socrates vào thế kỷ thứ năm trước công nguyên, thì công việc của họ có vẻ như một tổ chức tranh luận kéo dài hàng thế kỷ hơn là một đội thám hiểm, những người mở ra chân trời tri thức mới.
Lý do chính về sự thiếu tiến bộ trong đạo đức học là, nhiều nhà tư tưởng thậm chí không tán thành về việc liệu các vấn đề đạo đức có thể được trả lời hay không. Những vấn đề về đúng và sai thường được cho là mang tính phạm vi về kinh nghiệm hoặc là vấn đề quan điểm. Ý tưởng rằng có những sự thật khách quan có thể giúp chúng ta xác định, một cách khoa học, cách tốt nhất để sống cuộc đời mình khiến nhiều người thấy kỳ lạ. Nếu không có sự thật đạo đức nào để khám phá, thì rõ ràng là không thể có tiến bộ trong tri thức của chúng ta về những sự thật này.
Vì vậy, thật thú vị khi thấy rằng một nhóm mới các trí thức công chúng nổi bật gần đây đã xuất hiện cho rằng chúng ta có thể trả lời các vấn đề đạo đức bằng cách tiếp cận khoa học. Trong những năm gần đây, các nhà tư tưởng như Sam Harris, Steven Pinker và Michael Shermer đã xuất bản những cuốn sách nổi tiếng, mà toàn bộ hoặc một phần cuốn sách, đều cố gắng đặt nền tảng cho nền đạo đức mang tính khoa học.
Nhưng khi rất nhiều lập luận về khả năng tiến bộ khoa học trong đạo đức, không ai có thể nói rằng bất kỳ nhà tư tưởng nào trong số này đã có những đóng góp lớn cho lĩnh vực đã nêu. Rất ít người có ảnh hưởng trong giới cho rằng đạo đức học đã tìm thấy Galileo hoặc Newton của nó.
Việc tạo ra một bước đột phá khoa học đòi hỏi bản lĩnh để tìm ra những chân lý mới, không bị gò bó bởi định kiến, quy ước hay thành kiến. Nó có nghĩa là sẵn sàng để đặt ra những vấn đề mới, để thừa nhận rằng những đồng nghiệp của ta có thể đã nêu ra những vấn đề sai. Mặc dù Harris, Pinker và Shermer xứng đáng được ghi nhận vì đã chỉ ra rằng khoa học có thể đạt được tiến bộ về đạo đức học, nhưng những nỗ lực của họ vẫn mang dấu ấn của một giả định truyền thống, nguy hiểm về loại vấn đề mà đạo đức học hướng tới việc giải đáp.
Để biết tiến bộ khoa học thực sự về đạo đức học sẽ như thế nào, chúng ta phải lùi lại một bước từ những vấn đề mà các nhà tư tưởng đạo đức ngày nay thường nhắm đến.
Quan điểm thông thường: đạo đức đặt ra những vấn đề về các mối quan hệ xã hội
Đây không chỉ là một quan điểm của Pinker. Quyển Enlightenment Now (Khai Sáng Ngày Nay), lời ca ngợi của ông đối với những giá trị của lý trí, khoa học và tiến bộ, bao gồm một chương cuối cùng rất quan trọng về cơ sở khoa học của một nền đạo đức “nhân văn”. Mặc dù ông không đưa ra định nghĩa chính thức về “đạo đức”, nhưng hầu hết các ví dụ nổi bật của ông về hành vi đạo đức và trái đạo đức đều liên quan đến các mối quan hệ xã hội: Chúng ta nên nói dối người khác hay nói sự thật? Chúng ta nên hàn gắn họ hay hủy diệt họ? Chúng ta nên nỗ lực thiết lập các chính sách phúc lợi hay không? Ông cho rằng, khoa học có thể cung cấp cơ sở lập luận cho một hình thức đạo đức – kiểu hình thức xác định những phương tiện để đạt được mục đích ‘hạnh phúc nhiều nhất cho số đông người khác’. Tất nhiên, điều đó không có gì mới trong đạo đức học: các nhà triết học “công lợi” (utilitarian) như Bentham, Mill và Sidgwick đã đưa ra và phát triển điều đó hơn một thế kỷ trước, nhưng những người theo chủ nghĩa công lợi đã không thể thuyết phục những người không-công-lợi (non-utilitarian) rằng đó là nền tảng vững chắc đối với đạo đức học.
Gần đây, Sam Harris đã viết một nghiên cứu đầy đủ khác về cơ sở khoa học đối với đạo đức: The Moral Landscape (Bối cảnh đạo đức). Harris thậm chí còn đi xa hơn Pinker và Shermer khi thể hiện rõ ràng quan điểm của mình về chủ đề đạo đức: ông bao hàm vấn đề về những mối quan hệ phù hợp với những người khác, trực tiếp trong định nghĩa về đạo đức: “vấn đề hợp tác giữa con người dường như là vấn đề duy nhất đáng để suy nghĩ. ‘Luân lý’ và ‘đạo đức’...là những cái tên mà chúng ta đưa ra cho suy nghĩ thận trọng của chúng ta về những vấn đề này.”3
Mỗi một nhà tư tưởng trong số này cũng nhấn mạnh rằng các quy tắc đạo đức là những quy tắc không thiên vị, những quy tắc nhằm coi lợi ích riêng của một người có tầm quan trọng ngang bằng với lợi ích của những người khác. Ý chính của quan điểm này không chỉ đơn giản là đạo đức cung cấp cơ sở lý luận trong việc tôn trọng quyền bình đẳng của người khác. Điều này thậm chí còn không xem xét một vấn đề đạo đức khi người ta cân nhắc về những vấn đề quan trọng liên quan đến phúc lợi của chính mình.
Ví dụ, hãy xem xét một người đang cân nhắc nên chọn nghề nghiệp nào. Anh ta nên chọn một nghề mà mình yêu thích hoặc một nghề mà cha mẹ anh ta thấy đáng kính, hay anh ta nên gia nhập vào dòng tu mà giáo hội của anh ta cho là linh thiên? Theo quan điểm học thuật thông thường, bởi vì đây là một câu hỏi ảnh hưởng chủ yếu đến chính cuộc đời của anh ta, nên anh ta sẽ không đấu tranh với một vấn đề đạo đức nào cả. Nhưng chẳng phải vẫn có vấn đề đạo đức ở đây sao – vấn đề về việc liệu có can đảm và tử tế khi tự mình quyết định con đường riêng mình trong cuộc sống vì lợi ích của chính mình?
Quan điểm này, rằng đạo đức chỉ liên quan đến tính không thiên vị đối với lợi ích của mọi người, là một quan điểm học thuật đã hằn sâu trong từng chủ đề về đạo đức, điều mà không một ai trong số những người ủng hộ khoa học đạo đức gần đây sẵn sàng đương đầu. Nhưng liệu các nhà cải cách khoa học có đủ can đảm để thách thức những giả định đã hằn sâu về chủ đề trong lĩnh vực của họ không, đặc biệt là những giả định khiến bạn không thể tính đến việc can đảm mưu cầu hạnh phúc của chính mình như một phẩm hạnh đạo đức?
Tại sao các lĩnh vực khoa học không nên tùy tiện thu hẹp chủ đề của chúng
Việc phân định chủ đề đạo đức chỉ bao gồm hướng dẫn tốt nhất cho các mối quan hệ xã hội đúng đắn mang tính khoa học như thế nào?
Khi các nhà tư tưởng khoa học nghiên cứu một chủ đề, họ biết rằng không phải tất cả các nhà tư tưởng đều sẽ hiểu nó theo cách giống nhau. Vì vậy, thông thường, họ cố gắng giới hạn nó theo cách cho phép sự bất đồng tồn tại và từ đó sự bất đồng được giải quyết.
Ví dụ, hãy xem xét nghiên cứu của các nhà vật lý về nhiệt. Trước khi họ đi đến thống nhất về những nguyên nhân chính về nhiệt, họ phải có khả năng tách biệt hiện tượng mà họ tìm cách giải thích. Nhiệt là thuộc tính - mà việc có nó hay không - quyết định sự vật bị cháy hay đóng băng, chúng ta có cảm giác nóng hay lạnh, nhiệt kế tăng hay giảm. Một số nhà khoa học cho rằng những hiệu ứng này được gây ra bởi một chất lỏng (“caloric”), nó di chuyển qua các thực thể, trong khi những người khác cho rằng chúng là kết quả từ sự chuyển động của các hạt nhỏ (lý thuyết động học).
Hãy nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà lý thuyết nhiệt lượng định nghĩa đơn giản “nhiệt” có nghĩa là chất lỏng (fluid) mà họ đã giả thuyết. Họ sẽ coi các nhà lý thuyết động học thậm chí không phải là bất đồng với họ, mà chỉ đơn giản là thay đổi chủ đề. Ngược lại, lý thuyết động học sẽ được hiểu là việc tuyên bố rằng nhiệt không tồn tại. Để quyết định, như các nhà vật lý cuối cùng đã thực hiện, rằng lý thuyết động học là câu trả lời phù hợp cho các câu hỏi về nhiệt, thì “nhiệt” cần được hiểu khái quát đầy đủ để mô tả các hiện tượng mà những lý thuyết này bất đồng với nhau.4
Các nhà triết học về đạo đức đầu tiên cũng bắt đầu nghiên cứu của mình với một dữ kiện cơ bản: thực tế là tất cả chúng ta đều phải đối mặt với sự lựa chọn về kiểu sống mà chúng ta muốn sống. Socrates đã không ngừng truy vấn những người Athen đồng môn của mình về ý nghĩa của việc sống một cuộc sống có đạo đức, đưa ra một số câu trả lời nhưng vẫn để ngỏ nhiều vấn đề. Plato và Aristotle kế thừa ông, đưa ra các lý thuyết hoàn toàn khác nhau về ý nghĩa của việc sống một cuộc sống đạo đức: một lý thuyết tập trung vào việc có mối quan hệ đúng đắn với một chiều kích siêu nhiên, lý thuyết còn lại tập trung vào sự hạnh phúc trên Trái đất này. Nhưng họ vẫn lấy các lý thuyết khác nhau của mình để làm những lý thuyết về cùng một chủ đề.
Cho dù đó là quy tắc đạo đức tôn giáo, những lý thuyết của người Hy Lạp cổ đại, hay những lý thuyết công lợi hiện đại hơn, thì tất cả những nhà tư tưởng đạo đức này đều đang cố gắng trả lời câu hỏi cơ bản: tôi nên sống như thế nào? Tất nhiên họ có những quan điểm rất khác nhau trong câu trả lời. Thánh Augustine nói rằng chúng ta nên sống sùng kính Chúa; Aristotle nói rằng chúng ta nên sống để đạt được trạng thái tinh thần tốt (eudaemonia), hoặc sự hưng thịnh; và những người công lợi hiện đại hơn nói rằng chúng ta nên làm những gì mang lại lợi ích cho số đông người khác.
Nhưng lưu ý rằng những vấn đề này không chỉ giới hạn trong những vấn đề về mối quan hệ của chúng ta với người khác. Chúng còn liên quan đến cách chúng ta phải cùng tồn tại với Đấng tối cao mà một số người tin tưởng, hoặc thậm chí là cách chúng ta nên quản lý tính cách cá nhân của mình. Nhưng để nghĩ rằng tất cả những quan điểm này đều có điểm chung quan trọng thì đó là để có một cách tiếp cận rất khác với các nhà tư tưởng ngày nay. Và đó là sự tương đồng mà các nhà tư tưởng muốn làm cho đạo đức mang tính khoa học hơn đã không nhận thấy (theo hướng tích cực nhất) hoặc gạt bỏ (theo hướng tệ nhất).
Các điểm dữ liệu quan trọng bị quan điểm đạo đức thông thường bỏ qua
Khi các nhà tư tưởng đạo đức ngày nay cho rằng đạo đức học chỉ quan tâm đến vấn đề hạn hẹp về hướng dẫn các mối quan hệ xã hội, họ không chỉ không nhận thấy sự tương đồng. Họ còn bỏ qua các điểm dữ liệu quan trọng: những trường hợp về quan điểm và lý thuyết đạo đức mà bất kỳ lập luận khoa học nào về lĩnh vực này đều nên xem xét. Đúng là một vài lý thuyết đạo đức có ảnh hưởng nhất trong vài trăm năm qua tập trung vào các mối quan hệ xã hội. Nhưng điều này rất đáng chú ý đối với những giả định triết học trong một khoảng thời gian tương đối ngắn của lịch sử nhân loại.
Hãy xem xét một ví dụ từ nhà tâm lý học Jonathan Haidt:
“Hãy so sánh chúng ta với người Hua ở New Guinea, bộ tộc đã phát triển hệ thống cấm kỵ thực phẩm phức tạp, chi phối những gì đàn ông và phụ nữ có thể ăn. Để con trai của họ trở thành đàn ông, họ phải tránh những thức ăn giống với âm đạo, bao gồm bất cứ thứ gì có màu đỏ, ẩm ướt, nhầy nhụa, bắt nguồn từ một cái lỗ hoặc có lông. Điều này nghe có vẻ như là sự mê tín độc đoán xen lẫn với sự phân biệt giới tính có thể đoán trước của một xã hội gia trưởng...Nhưng người Hua dường như nghĩ rằng quy tắc ăn uống của họ là quy tắc đạo đức. Họ liên tục nói về chúng, đánh giá nhau bằng thói quen ăn uống, và điều chỉnh cuộc sống, bổn phận và các mối quan hệ của họ bằng cái mà nhà nhân chủng học Anna Meigs gọi là “tôn giáo cơ thể.”5
Nghĩ về đạo đức như những quy tắc để đạt được “sự thuần khiết” và tránh “sự ô nhiễm” không chỉ là đặc điểm của các bộ lạc xa xôi, hẻo lánh. Haidt lưu ý rằng Kinh thánh tiếng Do Thái cũng đưa ra hướng dẫn tương tự với nhiều điều răn về chế độ ăn uống và vệ sinh. Những người theo đạo Cơ đốc bảo thủ ngày nay cũng có những loại quy tắc chung: không uống rượu, không thủ dâm, không suy nghĩ tăm tối. Bạn có thể cho rằng những quy tắc này vẫn đề cập đến mối quan hệ của tín đồ với một thực thể khác: Chúa. Nhưng đó là một điều về sự mở rộng, đặc biệt, vì một người có tuân thủ các quy tắc này hay không, không được cho là ảnh hưởng đến Chúa. Dù thế nào, những quy tắc này chắc chắn không phải đề cập đến cách liên hệ với người khác.
Người ta có thể nghĩ rằng các quy tắc đạo đức tôn giáo quá mê tín và phi lý đến mức chúng thậm chí không nên được coi là “quy tắc đạo đức”. Mà những quy tắc có thể phi lý như vậy, cái giá phải trả cho việc nói rằng chúng thậm chí không được coi là quy tắc đạo đức là quá lớn. Nó ngụ ý rằng những người chỉ trích các quy tắc này thậm chí không bất đồng với chúng: họ không thể không đồng ý nếu họ không bất đồng về cùng một vấn đề.
Điều tồi tệ hơn nhiều là quan điểm đạo đức thông thường không quan tâm đến một số nỗ lực mang tính cách mạng nhất của các nhà tư tưởng nhằm đương đầu một cách duy lý với chủ đề về đạo đức học.
Khoa học tự nhiên, một nỗ lực có hệ thống để giải thích thế giới tự nhiên, xuất hiện trước tiên ở Hy Lạp cổ đại cùng thời với triết học phương Tây. Đây là thời kỳ các triết gia như Socrates, Plato và Aristotle đưa ra các lý thuyết triết học có hệ thống đầu tiên về đạo đức học, những lý thuyết hầu như hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự mê tín tôn giáo. Mặc dù những bộ quy tắc này bao gồm các nguyên tắc hướng dẫn sự tương tác của một người với những người khác, nhưng chúng cũng bao gồm nhiều đức tính vị kỷ một cách trọn vẹn, chẳng hạn như sự tiết độ và kiêu hãnh. Người Hy Lạp cổ đại không xem đạo đức là một tập hợp các quy tắc đơn thuần để thực hiện nghĩa vụ của chúng ta với người khác, mà là các nguyên tắc để sống một cuộc sống có đạo đức, tức là một cuộc sống tuyệt vời. Không phải ngẫu nhiên mà từ “đạo đức học” xuất phát từ từ chỉ tính cách trong tiếng Hy Lạp: tính cách của một người là khuynh hướng hành động của anh ta theo một cách nhất định – cho dù đó là khuynh hướng ăn uống điều độ hay thực thi công lý đối với người khác.
Trong thời đại của chúng ta, Ayn Rand đã xây dựng một lý thuyết đạo đức xác định một tập hợp các phẩm giá chỉ nhằm mục đích thúc đẩy riêng cho cuộc sống và hạnh phúc của chính bản thân. Theo quan điểm của bà, con người cần rèn luyện các đức tính duy lý, độc lập, chính trực, hiệu quả và kiêu hãnh, bởi vì mỗi đức tính đều liên quan đến cam kết để nhận ra những sự thật quan trọng, điều đó cần thiết để sống cuộc sống của mình thành công. Ngay cả đức tính công bằng, liên quan đến tầm quan trọng của việc thừa nhận sự thật về tính cách của người khác cũng quan trọng vì những người khác cũng giữ vai trò trong cuộc sống và hạnh phúc của ta. Dù người ta nghĩ như thế nào về lý thuyết của Rand, thì nó bao gồm một tập hợp các phẩm chất đạo đức dễ nhận biết. Thế nhưng, quan điểm đạo đức thông thường với tư cách một tập hợp các quy tắc để cư xử với người khác thậm chí không xem đó là quy tắc đạo đức, chứ chưa nói đến là quy tắc đạo đức sai lầm.
Một lý do mà đạo đức học phải được hiểu không chỉ đơn giản là những mối quan hệ của chúng ta với người khác là vì khái niệm rộng hơn về “đạo đức” cũng giải thích chức năng của các khái niệm đạo đức cụ thể trong tư duy của chúng ta. Cách chúng ta tư duy về điều đúng và điều sai có ảnh hưởng riêng biệt đến việc chúng ta cảm giác và hành động ra sao. Một người theo tôn giáo tin rằng uống rượu là sai, tuy nhiên, người uống rượu không chỉ cảm thấy thất vọng; anh ta sẽ cảm thấy tội lỗi và cố gắng ăn năn. Nếu anh ta tin rằng khoái cảm tình dục là sai, anh ta sẽ cảm thấy một loại tự hào chính đáng khi anh ta có thể thực hành một cuộc sống độc thân và lên án những người không làm như vậy. Không thể hiểu được một người áp dụng đạo đức tôn giáo sẽ cảm thấy như thế nào và hành động theo cách này khi đạo đức chủ yếu là bổn phận mà chúng ta nợ người khác. Tương tự, với tư cách là một người bị thuyết phục bởi quan điểm của Rand rằng đức tính đạo đức nhằm mục đích mưu cầu hạnh phúc của chính mình, tôi có thể nói với bạn rằng tôi đã cảm thấy tội lỗi – và tự hào – về những điều tôi đã làm mà không ảnh hưởng đến hạnh phúc của ai khác ngoài của chính tôi. Tuy nhiên, câu trả lời này sẽ không thể được giải thích bởi giả định rằng đạo đức chỉ liên quan đến mối quan hệ của chúng ta với những người khác.
Có điều gì đó đã sai với quan điểm “đạo đức” khi nó cố tình không thừa nhận một số quy tắc đạo đức nổi tiếng nhất mọi thời đại, và làm nhụt chí những người theo chủ nghĩa đạo đức, những người tin chắc rằng cuộc sống của họ có tầm quan trọng trung tâm trong đạo đức.
Một cuộc cách mạng khoa học về “đạo đức” cần phải giải phóng khái niệm
Một trong những thời điểm quyết định trong lịch sử khoa học là đề xuất của Copernicus rằng để giải thích tốt nhất cho các quan sát của chúng ta về bầu trời, chúng ta nên từ bỏ ý tưởng rằng Trái đất là trung tâm của vũ trụ. Ngược lại, ông cho rằng Trái đất chuyển động xung quanh Mặt trời, và do đó, được xếp cùng loại với các hành tinh khác đã được quan sát khi di chuyển trên bầu trời. Một phần của điều làm nên cuộc cách mạng Copernicus là sự sẵn sàng cải tổ khái niệm “hành tinh” không chỉ bao gồm những ngôi sao di chuyển như sao Hỏa, sao Kim, sao Mộc và những ngôi sao khác, mà còn chính Trái đất, hành tinh mà trước đây được hiểu là khác với các hành tinh còn lại.
Vấn đề không phải là các khái niệm mới được định dạng lại luôn tốt hơn. Trong thế giới cổ đại, có rất ít lý do để nhận thấy sự tương đồng giữa Trái đất và các hành tinh khác. Vấn đề là việc xét lại các khái niệm của chúng ta là rất quan trọng khi mà các lập luận và bằng chứng từ các nhà khoa học như Copernicus và Galileo chỉ ra một điểm tương đồng khái quát hơn hoặc một điểm khác biệt quan trọng nhưng không dễ phát hiện. Hãy thử nghĩ xem nếu các nhà khoa học sau Copernicus và Galileo phủ nhận suy nghĩ Trái đất cũng là một hành tinh. Có nhiều điều để tìm hiểu về Trái đất bằng cách nghiên cứu các hành tinh khác. Đáng chú ý nhất, Newton đã tận dụng sự liên quan này khi ông nhận ra rằng các quy luật chuyển động mà các hành tinh khác được quan sát tuân theo cũng được áp dụng cho Trái đất. Kết quả các lý thuyết cơ học của Newton đã tiếp tục cách mạng hóa không chỉ khoa học mà còn cả ngành công nghiệp và công nghệ. Nếu không nhìn thấy những điểm tương đồng giữa Trái đất và các hành tinh khác, những cuộc cách mạng này sẽ không thể xảy ra được.
Nếu những nỗ lực ngày nay để bắt đầu một cuộc cách mạng khoa học về đạo đức vẫn chưa trở thành hiện thực, thì một phần lý do chắc chắn là vì các nhà tư tưởng đạo đức ngày nay đã không sẵn lòng xét lại quan niệm về đạo đức của họ bằng cách mở rộng nó ra khỏi lập luận được đưa ra bởi một vài lý thuyết gần đây trong lịch sử. Đó là một sai lầm mà Ayn Rand gọi là “ngụy biện về sự trừu tượng bị phong tỏa” (the fallacy of the frozen abstraction), mà bà mô tả là “thay thế một điều cụ thể riêng biệt nào đó cho một lớp trừu tượng rộng lớn hơn mà nó thuộc về.”6
Điều tồi tệ hơn là, đạo đức học đã không bắt đầu bằng khái niệm hẹp hơn và chỉ không thành công mở rộng nó. Nó bắt đầu bằng khái niệm bao quát hơn đề cập đến các đức tính đạo đức và điều sai trái về mọi thứ – và khái niệm bao quát hơn này đã hoạt động trong tư duy đạo đức hàng nghìn năm. Những nhà tư tưởng ngày nay không quyết định thu hẹp chủ đề về lĩnh vực của họ, bởi vì họ đã tìm ra những lập luận mới để loại bỏ những điểm tương đồng giữa quan điểm của Mill và quan điểm của Aristotle. Họ đã làm điều đó với đầy đủ tri thức về Aristotle và về toàn bộ truyền thống Hy Lạp – và về tính liên tục của vấn đề chủ thể giữa các thời kỳ này. Vì vậy, điều này không chỉ đơn giản là không tiến bộ; mà còn là sự thụt lùi. Và đối với những người hiểu biết về lịch sử sâu rộng hơn, sự thụt lùi này đến từ sự rụt rè nhút nhát, điều này không phù hợp với tinh thần của khoa học.
Việc tùy tiện phong tỏa khái niệm đạo đức đối với những vấn đề về mối quan hệ của chúng ta với người khác, tạo ra những rào cản độc đoán cho tư duy. Nếu câu hỏi cơ bản của đạo đức không phải là ‘tôi mắc nợ những người khác cái gì?' mà là ‘tôi nên sống như thế nào?’, thì hóa ra điều tạo nên mối quan hệ tốt đẹp với người khác thực sự phụ thuộc vào những câu hỏi cốt yếu hơn về điều gì tạo nên cách sống tốt đẹp – với chính chúng ta.
Bài học ở đây không phải chúng ta nên quay trở lại những lý thuyết nguyên bản đã có từ hai nghìn
năm, mà là nếu chúng ta muốn đề xuất những câu trả lời mới và tốt hơn cho những vấn đề đạo đức
của mình, thì chúng ta cần phải hiểu rõ hơn những vấn đề cơ bản gây ra những vấn đề này ngay từ
đầu. Nhưng điều đó có nghĩa là nếu chúng ta muốn đạt được tiến bộ về đạo đức, chúng ta cần giải
phóng khái niệm đạo đức và để nó phát triển theo bằng chứng cần phải có. Lòng dũng cảm khoa
học không đòi hỏi gì hơn thế.
Nguồn: ReasonVN
