Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 5: Về sở hữu
§25. Dù chúng ta có xét đến lẽ phải tự nhiên hay không, điều vốn nói rằng con người, một khi được sinh ra, có quyền bảo toàn đối với bản thân họ, và do đó, ăn, uống và những việc khác tương tự như thế, là những nỗ lực tự nhiên cho sự tồn tại của họ; hay có xét đến Sách Khải huyền²⁶ hay không, mà nội dung cho chúng ta một kiến giải về những ban tặng mà Thượng đế đã làm nên thế giới này cho Adam, cho Noah²⁷, và cho các con trai của ông; thì hoàn toàn rõ ràng là Thượng đế, như Vua David²⁸ nói (Psalm. cxv. 16)²⁹, đã trao tặng Trái đất này cho con cái của con người; đã trao tặng nó cho cả loài người. Nhưng giả định rằng có một số người gặp phải khó khăn rất lớn để hiểu được là bằng cách nào mà một người, vào lúc nào đó lại có được sở hữu đối với một vật. [T]ôi sẽ không tạm bằng lòng để trả lời, rằng nếu việc tạo lập sở hữu là khó khăn, dựa trên giả thuyết là Thượng đế đã trao thế giới này cho Adam và con cháu của ông nói chung, thì không thể là bất kỳ ai khác ngoài một quốc vương hoàn cầu là có được sở hữu theo giả định Thượng đế đã ban tặng thế giới cho Adam và những người thừa kế ông theo tuần tự, và loại trừ quyền này đối với tất cả những con cháu khác còn lại. [T]ôi sẽ cố gắng để cho thấy rằng bằng cách nào mà người ta có thể có sở hữu ở những phần khác nhau [trong cái tổng thể] mà Thượng đế đã trao tặng cho loài người nói chung, và đó là điều mà không có bất kỳ giao ước nào của toàn thể thường dân thể hiện ra.
§26. Thượng đế đã trao tặng thế giới này chung cho tất cả mọi người, và cũng đã cho họ lý do để sử dụng nó nhằm có được sự thuận lợi nhất và sự tiện nghi cho cuộc sống. Trái đất và tất cả những gì trên đó được trao cho con người, để nuôi nấng và đem lại sung túc cho sự sống của họ. Tất cả cây trái mà nó tạo ra và thú vật mà nó nuôi ăn, một cách tự nhiên, là thuộc chung của cả loài người khi mà chúng tạo ra từ bàn tay tự phát của tự nhiên, và nguyên thủy không ai có quyền thống trị riêng của mình để có thể loại trừ phần loài người còn lại - bất kỳ ai trong số đó, vì họ cũng ở vào một trạng thái mặc nhiên như thế. [N]hưng dù có như vậy, việc trao tặng cho con người sử dụng nhất thiết phải có biện pháp để chiếm giữ chúng, theo cách này hay cách khác, trước khi chúng có thể là một vật để sử dụng, hay tối thiểu là có ích đối với một người cụ thể nào đó. Những thứ cây trái, thịt thú săn được dùng để nuôi sống một người Indian hoang dã - vốn chưa biết gì về việc rào đất lại và vẫn còn là người chủ chung của đất - phải là những thứ thuộc về người Indian này, và vì thế đó là một phần của anh ta mà người khác không còn quyền gì đối với chúng, trước khi chúng có thể đem lại lợi ích nào đó để nuôi sống anh ta.
§27. Dù Trái đất và tất cả sinh vật cấp thấp là của chung đối với mọi người, thế nhưng mỗi người vẫn có một sở hữu riêng đối với cá nhân con người mình, và không một ai có bất cứ quyền gì đối với sở hữu này ngoài anh ta. Lao động của cơ thể anh ta, sản phẩm của đôi tay anh ta - hoàn toàn có thể nói - đích thị là của anh ta. Vậy thì bất cứ thứ gì anh ta lấy ra từ trạng thái mà tự nhiên đã cung cấp và đã để mặc ở đó, anh ta đã trộn lẫn lao động của mình và đã kết gắn vào nó bằng cái gì đó vốn là của riêng anh ta, và bằng cách này mà khiến cho nó trở thành sở hữu của mình. Nó được anh ta đưa ra khỏi trạng thái tự nhiên chung, vì sự lao động này đã thêm vào nó cái gì đó khiến loại trừ quyền chung của những con người đã chết đói, cho dù có sự sung túc mà Thượng đế đã trao tặng. Chúng ta thấy là ở những vùng đất công, vốn duy trì bằng một giao ước, việc lấy đi một phần nào đó từ đó và đưa nó ra khỏi tình trạng mà tự nhiên đã để mặc như thế, là điều sẽ khởi đầu cho sở hữu. Và việc lấy đi phần này hay phần kia không phụ thuộc vào sự chấp thuận được diễn đạt ra của tất cả dân chúng. Vì thế, đám cỏ mà ngựa của tôi đã ngoạm, lớp đất mà người hầu của tôi đã xén cỏ, và số quặng mà tôi đã đào ở đâu đó, vốn là những nơi tôi có quyền chung cùng với những người khác, đã trở thành sở hữu của tôi mà không có sự chỉ định hay chấp thuận của bất kỳ ai. Lao động của tôi là cái thuộc về tôi, việc đưa những gì khỏi trạng thái chung mà chúng từng ở trong đó đã cố định sở hữu của tôi vào chúng.
§29. Với việc nhất thiết phải công khai tỏ rõ sự chấp thuận từ phía mỗi người trước bất kỳ sự chiếm giữ nào cho riêng mình của một người đối với một phần bất kỳ trong cái đã được trao tặng chung, thì con cái hay tôi tớ không thể cắt vào miếng thịt mà người cha hay chủ nhân đã chu cấp chung cho họ nếu không có sự phân chia đến từng người riêng biệt phần của người đó. Dù nước chảy trong sông suối là của chung đối với mọi người, nhưng ai lại có thể nghi ngờ rằng nước trong một cái bình là của chính người đã múc nó ra? Lao động của người này đã lấy nó ra khỏi đôi tay của mẹ tự nhiên, nơi dành chung cho tất cả và thuộc sở hữu như nhau đối với con cháu của người, và vì thế mà anh ta đã vừa chiếm giữ phần nước đó cho chính mình.
§30. Như thế, luật lý trí này khiến cho một con hươu thuộc về người Indian nào đã giết nó, cho phép nó trở thành tài sản của anh ta, là người đã đặt lao động của mình vào nó, dù trước đó nó vẫn thuộc về cái quyền chung nơi mỗi người. Và trong số những người được xem là đã khai hóa của loài người, đã làm nên và nhân rộng các luật xác thực để xác định sở hữu, thì luật tự nhiên nguyên thủy này - nhằm khởi sự cho sở hữu đối với cái đã là của chung trước đó - vẫn còn khai triển. [B]ởi thế, con cá mà ai đó bắt được ngoài biển, là một nơi rộng lớn và vẫn còn là của chung cho loài người, hay những mảng long diên hương³⁰ mà ai đó lấy được cũng từ đây, thì bằng lao động như thế đã đưa nó khỏi trạng thái chung mà tự nhiên đã để mặc đó, làm nên sở hữu cho người đã lưu tâm đến nó. Và ngay cả trong số chúng ta, con thỏ mà bất kỳ ai đang săn sẽ được cho là của người truy đuổi nó trong cuộc săn; vì với một con thú vẫn được coi là của chung và không là tài sản riêng của một ai, thì bất kỳ ai sử dụng nhiều lao động, thuộc bất kỳ loại nào, để tìm kiếm và săn đuổi nó, đều vì thế mà đã đưa nó ra khỏi trạng thái tự nhiên - dù ở bất kỳ khía cạnh nào khi nó từng là của chung - và đã vừa bắt đầu một sở hữu.
§31. Có lẽ điều vừa nói sẽ bị phản đối, rằng nếu việc lượm lặt các quả sồi hay những cây trái khác trên trái đất này mà lại đem cho người ta quyền đối với chúng, thì bất kỳ ai cũng có thể choán giữ ở mức tối đa có thể được. Về điều này, tôi trả lời là không phải thế. Cùng một luật tự nhiên, với tư cách công cụ đem lại cho chúng ta sở hữu, nó đồng thời cũng ràng buộc sở hữu đó. Thượng đế đã hào phóng cho chúng ta mọi thứ (I Tim. vi. 17)³¹, thì tiếng nói của lý trí được chứng thực bởi cảm hứng. Thế nhưng, ngài đã trao tặng cho chúng ta đến mức nào? Chính là để hưởng thụ chúng. Đến mức tối đa có thể được mà một người sử dụng đến, vì bất kỳ lợi ích nào của cuộc sống, trước khi nó hư thối, ở mức mà anh ta có thể cố định sở hữu vào đó bằng lao động của mình. Bất cứ thứ gì vượt quá điều này là cái lớn hơn phần của anh ta, và thuộc về những người khác. Không có gì được Thượng đế tạo ra cho con người để rồi lại hư thối hay tiêu hủy [vô ích]. Và vì thế, xét đến sự dồi dào của thực phẩm tự nhiên đã có từ lâu trên thế giới này so với một lượng ít người tiêu dùng, và đến phần quá nhỏ của lượng thực phẩm mà sự cần cù của một người có thể mở rộng nó đến tối đa và choán giữ số thực phẩm đó trước thành kiến của người khác; đặc biệt là việc kiểm giữ trong vòng giới hạn, do lý trí sắp đặt, đối với cái có thể phục vụ cho việc sử dụng của anh ta; thì có thể sẽ có ít chỗ cho cãi cọ hay bất đồng về việc sở hữu được thiết lập theo cách như thế.
§32. Nhưng hiện nay, vấn đề chủ yếu của sở hữu không phải là cây trái của Trái đất và thú vật sống trên đó, mà về chính Trái đất. [N]hư vấn đề đã dẫn đến, cũng như tất cả những gì kèm theo với nó, tôi cho rằng rõ ràng là sở hữu đó cũng có được như sở hữu đối với cây trái và thú vật. Càng nhiều đất đai mà một người có thể cày xới, trồng trọt, mở mang, bồi bổ, thì càng nhiều sản phẩm thuộc sở hữu của riêng mình mà anh ta có thể sử dụng. Có thể nói với lao động của mình, chính là anh đã rào phần đất này lại, tách khỏi đất chung.
[C]ũng sẽ không thể làm mất hiệu lực đối với quyền của anh ta khi nói rằng mọi người khác đều có cùng một tư cách đối với phần đất đó, và vì thế anh ta không thể chiếm giữ, không thể rào đất mà không có sự chấp thuận của tất cả thường dân đồng bào của anh, của tất cả loài người. Thượng đế, khi trao tặng cho anh ta thế giới này chung với tất cả loài người, cũng đã ra lệnh cho con người phải lao động, và cảnh cùng khổ của mình đòi hỏi người đó phải lao động. Thượng đế và lý trí của bản thân đã ra lệnh cho anh ta khai khẩn Trái đất này, tức là phải cải thiện cho nó vì lợi ích của cuộc sống, và từ đó mà đặt lên nó cái vốn là của riêng anh ta, tức lao động của bản thân. Anh này, theo mệnh lệnh như thế của Thượng đế, đã khai hoang, cày xới, gieo hạt trên một phần nào đó của Trái đất, từ đây mà đã sáp nhập vào nó cái đã là sở hữu của anh ta mà người khác không có tư cách gì, và không thể không gây phương hại nếu tách nó khỏi anh.
§33. Việc chiếm giữ như thế đối với mảnh đất bất kỳ, bằng cách cải thiện nó, cũng không có thành kiến nào đối với người khác, vì vẫn còn đủ đất, và là đất tốt, được để lại, nhiều hơn là số đất không thể sử dụng. Đến mức độ là trên thực tế, đã không bao giờ còn ít đất được để lại cho người khác do việc rào đất mà một người thực hiện cho riêng mình, vì người đó luôn để lại số đất đai nhiều bằng từng ấy số người còn lại có thể sử dụng đến, và cũng tốt đến mức họ không phải thực hiện điều gì cả. Không ai có thể nghĩ rằng người nào đó đã gây thiệt hại bằng việc uống mất phần của người khác dù anh ta có hớp được một ngụm ngon lành, khi mà có cả một dòng sông cùng một vị nước vẫn còn đó cho họ, để làm dịu cơn khát. [V]ì trường hợp của đất và nước, nơi có đủ cho cả anh ta và người khác, là hoàn toàn như nhau.
§34. Thượng đế đã trao tặng thế giới này chung cho con người, nhưng bởi ngài trao nó là vì lợi ích của họ và vì những tiện nghi cao nhất của cuộc sống mà họ có thể khai thác từ nó, nên không thể cho là ngài muốn nói rằng nó phải luôn duy trì trong trạng thái của chung và không khai phá. Ngài đã trao nó cho người siêng năng và có lý trí sử dụng (và lao động đã là tư cách của anh ta đối với nó), không phải trao cho người thích huyễn tưởng hay cho sự tham lam của những người thích cãi cọ và sinh sự. Ai có được phần đất tốt dành để tiếp tục cải thiện, như đã tiếp nhận được nó, thì không cần phải than phiền, không cần phải xen vào phần đã được cải thiện từ lao động của người khác. [N]ếu làm thế, rõ ràng là người này đã mong muốn lợi ích từ những khó nhọc của người khác, điều mà anh ta không hề có quyền. [V]à vấn đề không phải là ở đất đai Thượng đế đã trao tặng cho anh ta chung với người khác, để lao động trên đó; không phải là phần được để lại cũng tốt như phần đã chiếm hữu, là của ai; mà vấn đề đúng ra là anh ta biết phải làm gì, hay sự cần cù của anh ta có thể đạt đến đâu.
§35. Sự thật là ở đất chung ở Anh hay ở bất kỳ nước nào khác, nơi dưới sự cai quản của chính quyền là đông đảo người dân có tiền bạc và hoạt động thương mại, không ai có thể rào hay chiếm giữ phần đất nào đó mà không có sự chấp thuận của tất cả đồng bào thường dân của anh ta, vì đây là phần đất chung để lại từ thỏa ước, tức là từ luật đất đai mà không thể bị xâm phạm. Đối với một số người, dù là đất chung, nó không vì thế mà thuộc về toàn bộ loài người, mà là sở hữu chung của đất nước này hay giáo phận này. Bên cạnh đó, phần đất còn lại, sau khi đã rào như thế, sẽ không còn là phần tốt đối với số dân chúng còn lại như khi còn là phần tổng thể mà mọi người đều có thể sử dụng đối với toàn bộ đất đai.
[T]rong khi đó, vào lúc khởi đầu, và với những người đầu tiên định cư trên đất đai chung rộng lớn của thế giới, thì lại theo một cách rất khác. Luật pháp mà con người đã sống theo đó, đúng ra là dành cho sự chiếm giữ [những gì mà tự nhiên đã để mặc đó]. Thượng đế đã ra lệnh, và các nhu cầu buộc người ta phải lao động. Đó là sở hữu của một người, là cái không thể bị tước khỏi anh ta ở bất kỳ đâu, khi đã cố định sở hữu vào nó. Và từ đây, ta thấy việc khai hoang hay bồi bổ đất đai trên Trái đất và việc có quyền chiếm hữu, là được liên kết vào nhau. Vì thế mà Thượng đế, bằng mệnh lệnh khai khẩn đất đai, cũng đã trao ra một thẩm quyền xa hơn, là chiếm giữ nó. [V]à điều kiện của đời sống con người, vốn đòi hỏi lao động và chất liệu để làm việc, nhất thiết đưa đến chiếm giữ tư nhân.
§36. Về hạn mức của sở hữu, tự nhiên đã sắp đặt hợp lý từ phạm vi của hoạt động lao động của con người và tiện nghi của cuộc sống. Không có sự lao động của một ai có thể khai khẩn và chiếm giữ tất cả, mà thụ hưởng của anh ta cũng không thể dùng đến hơn một phần nhỏ. [V]ì thế mà không thể xảy ra việc ai đó, theo cách này, xâm phạm đến quyền [khai khẩn và chiếm giữ] của người khác, hay giành cho riêng mình một phần sở hữu trước sự thành kiến của láng giềng, là những người vẫn có chỗ cho một phần chiếm hữu cũng tốt và cũng rộng lớn (sau khi người kia đã lấy đi phần của anh ta) như trước khi nó bị chiếm giữ riêng. Hạn mức này đã hạn chế sự chiếm hữu của mỗi người đến một tỷ lệ vừa phải; và những gì một người có thể chiếm giữ cho riêng mình mà không gây thiệt hại cho người khác, trong những buổi đầu của thế giới này, là khi mà người ta có nhiều nguy hiểm để mất - bằng việc đi chệch ra khỏi bầu đoàn chung của họ, trong vùng hoang dại mênh mông của Trái đất khi đó - hơn là việc bị túng quẫn trước nhu cầu có chỗ để trồng trọt.
[V]à cùng một hạn mức là điều có thể được cho phép mà không gây thành kiến với bất kỳ ai, ở mức trọn vẹn mà thế giới này dường như có. Vì giả định như một người hay một gia đình, trong trạng thái giống như đợt đầu tiên định cư trên thế giới của con cái Adam hoặc con cái Noah, để cho anh ta trồng trọt ở vùng nội địa và còn bỏ không nào đó của châu Mỹ, chúng ta sẽ thấy rằng sự chiếm hữu này anh ta có thể thực hiện cho mình, theo những hạn mức mà chúng ta đã được cho, thì sẽ không là quá lớn mà cũng không có thành kiến ở phần loài người còn lại - dù là ở ngày nay, hoặc cho họ lý do để than phiền hay nghĩ rằng mình bị thiệt hại do sự xâm phạm của anh ta, dù rằng loài người nay đã trải ra khắp các ngóc ngách của thế giới và đã vượt quá xa con số nhỏ bé lúc ban đầu. Hơn nữa, phạm vi đất đai của sở hữu sẽ có rất ít giá trị nếu không có lao động, đến mức tôi nghe quả quyết rằng ở Tây Ban Nha tự một người có thể được phép cày xới, gieo hạt và thu hoạch mà không bị quấy nhiễu, trên đất đai mà anh ta không có địa vị gì khác ngoài duy trì việc sử dụng nó. Vậy mà còn ngược lại, cư dân ở đó nghĩ rằng chính họ chịu ơn anh ta, vì với sự cần cù của mình trên vùng đất hoang phí do bị bỏ bê, anh ta đã làm tăng thêm nguồn cung cấp ngũ cốc của họ, là điều mà họ muốn có. Nhưng sẽ là điều được nói đến sau đây, mà tôi còn chưa nhấn mạnh gì và là điều tôi dám liều lĩnh quả quyết, rằng cùng một quy tắc về sở hữu đó - tức là mỗi người cũng phải có ở mức tối đa để có thể sử dụng - vẫn sẽ có ảnh hưởng trên thế giới này mà không có sự khắt khe đối với bất cứ ai, vì nơi đây có đủ đất để đáp ứng cho một lượng cư dân gấp đôi, khi chưa phát minh ra tiền và thỏa thuận ngầm của con người nhằm đặt lên nó một giá trị, khiến đưa đến (từ sự chấp thuận) việc có những tài sản lớn hơn và có quyền đối với chúng. [Đ]iều này đã được thực hiện như thế nào, tôi sẽ cho thấy chi tiết hơn ngay bây giờ.
§37. Điều chắc chắn là vào lúc ban đầu, trước khi mong muốn có được nhiều hơn những gì cần đến, con người đã làm thay đổi giá trị thực chất của các sự vật, vốn chỉ phụ thuộc vào tính hữu dụng của chúng đối với đời sống của họ; hoặc họ đã đồng ý với nhau, rằng một mẩu nhỏ kim loại màu vàng, có thể cất giữ mà không bị hao mòn hay phân hủy, phải đáng giá của một miếng thịt lớn hay bằng cả một đống ngũ cốc. [Đ]iều này xảy đến dù người ta, bằng lao động của mỗi người, đã có quyền chiếm giữ cho riêng mình đến mức tối đa những vật phẩm tự nhiên mà mình có thể sử dụng, tuy sự chiếm giữ này không thể nhiều được, mà cũng không tạo nên thành kiến đối với người khác, ở nơi mà cùng một sự dồi dào vẫn còn được để lại cho những người sẽ sử dụng đến với cùng một sự cần cù.
[H]ãy để tôi thêm vào điều này, rằng người chiếm giữ đất cho riêng mình, thông qua lao động của bản thân, không làm giảm bớt mà là làm tăng thêm nguồn cung cấp chung cho loài người, vì thực phẩm dự trữ phục vụ cho việc nuôi sống con người, sản xuất từ một mẫu đất³² đã được rào lại và bồi bổ, (xét trên nhiều phạm vi) là bằng mười lần số thu hoạch được từ một mẫu tương tự, màu mỡ nhưng lại nằm trong cái chung phí phạm. Và bằng việc rào đất đó, anh ta có được tiện nghi cuộc sống từ mười mẫu đất nhiều hơn là những gì anh ta có được từ một trăm mẫu đất vốn để mặc cho tự nhiên, và thật sự có thể nói là giao chín mươi mẫu kia cho loài người, vì lao động của anh ta nay cung cấp một lượng thực phẩm từ mười mẫu bằng với lượng sản phẩm của một trăm mẫu khi còn dưới sở hữu chung. Tỷ lệ tôi đưa ra ở đây về vùng đất được cải thiện là còn rất thấp khi nói đến việc tạo ra sản phẩm của nó chỉ là mười so với một, trong khi nó rất gần với con số một trăm so với một. Tôi muốn hỏi là có hay không, trong những khu rừng hoang dại và bị bỏ lãng phí của châu Mỹ, để mặc cho tự nhiên và không có bất kỳ cải thiện nào, canh tác hay quản lý nào, nơi một trăm mẫu đất tạo ra những cư dân nghèo khổ và túng quẫn, cũng đem lại nhiều tiện nghi cuộc sống như khi làm trên mười mẫu đất màu mỡ tương đương, được bồi bổ tốt ở Devonshire³³.
Trước khi chiếm giữ đất đai, người ta hái lượm hoa quả, giết, bắt hay thuần dưỡng thú vật, ở mức thật nhiều mà một người có thể làm; vì thế mà đối với những sản phẩm tự phát của tự nhiên, anh ta dùng tâm trí của mình cho việc biến đổi chúng - theo cách nào đó - từ trạng thái mà tự nhiên đã đặt chúng vào, bằng cách đặt lao động của mình vào đó, và từ việc làm này mà đã có được sở hữu đối với chúng. [N]hưng nếu trong phần chiếm hữu của anh ta có số bị hủy hoại, không hưởng được công dụng của chúng, nếu hoa quả bị hư thối, nếu thịt săn bị thối rữa trước khi anh ta có thể dùng đến, thì anh ta đã xâm phạm đến luật tự nhiên chung và có khả năng bị trừng phạt: anh ta đã xâm lấn vào phần của người láng giềng, vì anh ta không có quyền đi xa những gì cần thiết cho sự sử dụng của mình trong số mà chúng có thể phục vụ để đem lại cho anh ta những tiện nghi của cuộc sống.
§38. Cùng những hạn mức như vậy đã chi phối đến việc chiếm hữu đất đai: bất cứ thứ gì anh ta canh tác và thu hoạch, dự trữ và sử dụng, trước khi bị hư hỏng, đó là thuộc quyền riêng của anh ta; bất cứ thứ gì anh ta đã rào lại, có thể nuôi ăn và sử dụng, gia súc và sản phẩm, cũng là của anh. Nhưng nếu
Dưới đây là toàn bộ văn bản được trích xuất đầy đủ từ hình ảnh image_2832a1.png để tiếp nối phần văn bản của trang trước:cỏ trên đất được rào của anh bị chết, hoặc cây trái trồng trọt của anh bị hư thối mà không được hái lượm hay bảo quản dự trữ, thì phần đất này, bất chấp việc rào lại của anh ta, vẫn bị xem là phí phạm và có thể là tài sản của bất kỳ ai khác.
[V]ì thế, lúc ban đầu, Cain có thể lấy một phần đất nhiều nhất mà anh ta có khả năng canh tác, biến nó thành đất của riêng mình, để phần đất còn lại đủ cho việc nuôi cừu của Abel, còn một ít mẫu đất sẽ xem như tài sản của cả hai. Nhưng khi các gia đình tăng thêm người và sự cần cù giúp mở rộng thêm các kho dự trữ của họ, nhu cầu của họ đối với tài sản trở nên lớn hơn, nhưng chúng vẫn là của chung mà không có sự cố định sở hữu nào trên vùng đất mà họ cùng sử dụng, cho đến khi họ hợp lại với nhau, định cư cùng nhau, xây dựng các đô thị, và rồi bằng sự đồng thuận, đến lúc họ phân định ranh giới cho các vùng lãnh thổ riêng biệt, đồng ý về những giới hạn giữa họ với những người láng giềng, và bằng luật pháp, họ tự giải quyết với nhau vấn đề sở hữu giữa những người sống trong cùng một xã hội. [C]húng ta thấy, trong vùng đất đó của thế giới, đã có được sự định cư đầu tiên, và vì thế, muốn là khối dân chúng tốt nhất, thậm chí là diễn ra chậm chạp như dưới thời Abraham, họ đã nhởn nhơ với đàn cừu và đám gia súc làm của cải của họ, thoải mái đi tới đi lui; và điều này Abraham đã làm, nơi một đất nước mà ông là người lạ. Do rõ ràng là ít nhất, phần đất đai rộng lớn thuộc về của chung mà cư dân ở đây đã không định giá trị cho nó, mà cũng không đòi hỏi sở hữu gì hơn là như đã sử dụng nó. Nhưng khi không còn đủ chỗ trong cùng một nơi, vì các đàn gia súc của họ được nuôi chung, bằng sự đồng thuận, như Abraham và Lot đã làm (Gen. xiii. 5)³⁴, họ tách rời nhau ra và mở rộng đồng cỏ của riêng mình, ở nơi tốt nhất mà họ muốn³⁵. Và với cùng nguyên do này, Esau³⁶ rời khỏi cha và em, đến trồng trọt tại núi Seir³⁷ (Gen. xxxvi. 6).
§39. Và vì thế, không thể có việc giả định về sự chiếm giữ riêng và sở hữu tư nào của Adam trên khắp thế giới này, ngoại trừ của tất cả những người khác, là điều không cách nào chứng minh được; mà cũng không có bất kỳ sở hữu của ai khác được tạo thành từ đó. [C]hỉ có giả định là thế giới đã được trao tặng - có thể nói như vậy - cho con cái của con người nói chung, thì chúng ta sẽ thấy lao động khiến người ta tách biệt về địa vị đối với những vùng đất khác nhau của thế giới như thế nào, do sự sử dụng tư riêng của họ. [D]ưới bất kỳ khía cạnh nào, cũng không thể nghi ngờ về quyền [xuất phát từ lao động như thế], và không có chỗ cho cãi cọ ở đây.
§40. Cũng không có gì là quá lạ khi có lẽ xem xét vừa rồi hóa ra là sở hữu của lao động có khả năng làm mất cân bằng tính cộng đồng về đất đai, vì lao động thật sự đã đặt sự khác biệt về giá trị lên mọi thứ. [H]ãy để cho người nào đó xét xem đâu là khác biệt giữa một mẫu đất trồng thuốc lá hay củ cải đường, gieo lúa mì hay lúa mạch, với cũng một mẫu như thế nhưng thuộc của chung, không có sự trông nom, trồng trọt nào trên đó, và anh ta sẽ nhận ra rằng sự cải thiện đất đai từ lao động tạo nên phần lớn hơn rất nhiều về giá trị. Tôi nghĩ, nếu chỉ tính toán khiêm nhường nhất, các sản phẩm hữu dụng của đất dành cho cuộc sống con người, chín phần mười là từ hiệu quả của lao động. [K]hông những thế, nếu đánh giá các thứ đúng như bản thân chúng khi ta sử dụng, cộng thêm vài phí tổn cho điều đó, thì cái gì trong chúng thuần túy thuộc về tự nhiên, cái gì thuộc về lao động, qua đó chúng ta sẽ nhận thấy rằng hầu hết trong số đó, chín mươi chín phần trăm, là hoàn toàn được đặt trên lý giải về lao động.
§41. Không thể có một chứng minh nào rõ ràng về điều này hơn là từ một vài dân tộc ở châu Mỹ, là những người giàu có về đất đai nhưng lại nghèo nàn trong tất cả những tiện nghi của cuộc sống, những người mà tự nhiên, như đối với bao nhiêu dân tộc khác, đã hào phóng trang bị cho những chất liệu của sự sung túc, tức là một thổ nhưỡng phì nhiêu, dễ dàng sản xuất dư dật những thứ có thể dùng làm thực phẩm, tạo ra quần áo, và đem lại niềm vui thích. [N]hưng do thiếu vắng sự cải thiện cho nó bằng lao động, họ không có lấy một phần trăm của những tiện nghi mà chúng ta hưởng được; và ông vua của một lãnh thổ rộng lớn và màu mỡ như thế lại ăn, mặc và ở còn tệ hơn là một người lao động công nhật ở Anh.
§42. Để làm cho điều này rõ ràng hơn một chút, chúng ta chỉ cần lần theo vài nguồn vật phẩm bình thường của cuộc sống, trước khi chúng được sử dụng, và xem bằng cách nào mà chúng nhận được các giá trị từ sự cần cù của con người. Bánh mì, rượu và vải vóc là những thứ được sử dụng hàng ngày và có rất dồi dào. [N]hưng dù dồi dào như vậy, thì quả sồi, nước lã, và lá cây hay da thú phải trở thành bánh mì, thức uống và đồ mặc của chúng ta, mà chính lao động cũng không cung cấp những vật phẩm gì hữu ích hơn thế; vì phần bánh mì nào cũng có giá trị hơn là các quả sồi, rượu vang thì hơn nước, còn vải hoặc tơ thì hơn lá cây, da hay rêu; và những gì có giá trị hơn này hoàn toàn là từ lao động và sự cần cù. Một vế trong số những thứ vừa nêu là thức ăn và quần áo, thì tự nhiên ở dạng không được trợ giúp [của con người] có thể cung cấp cho chúng ta, còn vế khác là nguồn của những vật phẩm mà sự cần cù và nỗ lực của chúng ta đem lại, là những cái vượt trội về giá trị so với số kia. [D]ù là ai tính toán, người ta cũng sẽ thấy rằng lao động tạo nên phần lớn nhất trong giá trị của những gì mà chúng ta hưởng thụ trên thế giới này; và đất đai [tham gia vào việc] sản xuất ra những chất liệu đó, vào một lần bất kỳ hay hầu hết những khi xét đến, hiếm khi được tính vào ngoài một phần rất nhỏ của nó, nhỏ đến mức mà thậm chí là đối với chúng ta, những vùng đất phó mặc hoàn toàn cho tự nhiên, không có cải thiện gì về chăn thả, canh tác hay trồng trọt, luôn được gọi là đất hoang - như nó thật sự là vậy; và chúng ta sẽ nhận thấy rằng lợi ích của nó không hơn gì mấy so với việc chẳng có gì.
[Đ]iều này cho thấy nhiều người được ưu ái nhắm đến những phần chiếm hữu rộng lớn; và việc gia tăng đất đai đó, cùng với quyền sử dụng chúng là nghệ thuật tuyệt vời của chính quyền. [V]à vị quân vương nào có sự thông thái và thánh tâm, bằng những luật được thiết lập về quyền tự do, nhằm bảo đảm sự bảo hộ và khuyến khích cho sự cần cù lương thiện của loài người, chống lại sự áp bức của quyền lực và tính hạn hẹp đảng phái, sẽ nhanh chóng cứng rắn với những láng giềng của ông. [N]hưng điều này chỉ là tiện thể được đề cập đến, xin trở về với lý lẽ đang được bàn.
§43. Một mẫu đất [được cải thiện] cho ra hai mươi gia lúa mì, một mẫu khác ở châu Mỹ - cùng sử dụng nông nghiệp, cũng sẽ như vậy; và không nghi ngờ gì, chúng cũng có cùng giá trị tự nhiên thực. [N]hưng lợi ích mà con người nhận được từ mười mẫu này trong một năm đáng giá năm bảng³⁸, còn từ mười mẫu ở châu Mỹ có thể không đáng một xu, nếu tất cả lợi nhuận mà một người Indian nhận được - và thổ nhưỡng ở đây nữa - là có giá trị, thì - ít ra tôi có thể nói sự thật - nó không là một phần ngàn [so với ở nơi kia]. Lao động mới là cái đặt phần giá trị lớn nhất lên đất; không có nó đất đai chắc chắn sẽ không đáng giá gì, đến mức là nó đem lại cho chúng ta phần lớn nhất trong số tất cả sản phẩm hữu dụng của đất. [V]ì tất cả những rơm, cám, bánh mì của mẫu đất trồng lúa mì đó, đáng giá hơn sản phẩm của cũng một mẫu đất tốt như thế nhưng nằm hoang phí, tất cả là từ hiệu quả của lao động. [V]ì không đơn thuần là sự cố gắng của người cày đất, cực nhọc của người gặt và người đập lúa cùng với mồ hôi của người làm bánh được tính vào trong bánh mì chúng ta ăn; lao động của người đã thuần dưỡng gia súc, của người đã đào xới và chế tác đồ sắt và đồ đá, của người đã đốn và đóng khung đồ gỗ được sử dụng cho việc cày xới, làm máy cán, lò nướng, hay bất kỳ vật dụng nào khác vốn nhiều vô số và cần thiết đối với số ngũ cốc này, từ lúc còn là hạt giống được gieo đến khi làm thành bánh mì, tất cả đều phải được trả theo một lượng lao động, được nhận lấy như là kết quả của lao động đó. [T]ự nhiên và Trái đất hầu như chỉ cung cấp những vật liệu vô giá trị - xét tự thân chúng. Nó là một cuốn sách giới thiệu lạ lùng về những thứ mà sự cần cù đã cung cấp và làm nên công dụng cho mỗi ổ bánh mì trước khi đi vào sử dụng của chúng ta. [N]ếu chúng ta phát hiện ra vết tích của những thứ như sắt, gỗ cây, da thuộc, vỏ cây, gỗ mộc, đá, gạch, than, vôi, vải, đồ nhuộm, thuốc uống, dầu hắc, nhựa đường, quả sồi, dây thừng và tất cả vật liệu khác được dùng trên tàu bè, đã tạo nên bất kỳ vật dụng nào đó, được bất kỳ người lao động nào sử dụng đối với bất kỳ phần nào của công việc, thì chúng ta đều sẽ gần như không thể, hoặc ít ra là mất rất nhiều thời gian, để tính toán tổng số [của những gì có sự tham gia của lao động vào đó để làm nên những vật dụng này].
§44. Từ tất cả những điều hiển nhiên, là dù mọi vật được trao tặng chung, nhưng con người, bằng việc là chủ nhân của bản thân và chủ sở hữu của riêng cá nhân mình và của hành động hay lao động của nó, trong tự thân mỗi người vẫn có một nền tảng cao cả cho sở hữu; và hiển nhiên là cái gì làm nên phần lớn hơn trong số những thứ mà người đó dùng cho việc nuôi dưỡng hay thỏa mãn cho sự sống của mình, khi mà phát minh và nghệ thuật đã đem lại sự cải thiện cho tiện nghi cuộc sống, thì đó là cái hoàn toàn của riêng mỗi người, không còn thuộc về của chung đối với người khác.
§45. Vì thế, lao động, vào lúc khởi đầu, đã đem lại quyền sở hữu - ở bất kỳ đâu mà một người có được sự vui thích để sử dụng đến nó - trên cái mà đã duy trì rất lâu ở trạng thái của chung, trong một vùng rộng lớn, thay vì để cho loài người làm cho nó có công dụng. Con người, vào lúc ban đầu, ở hầu hết các nơi, đã cảm thấy thỏa mãn với những gì mà một tự nhiên thuần túy đem lại cho những nhu cầu thiết yếu của họ. [T]hế nhưng sau đó, ở một số vùng của thế giới (nơi tăng thêm người và kho dự trữ, cùng với việc sử dụng tiền, đã làm cho đất đai khan hiếm, và vì thế khiến nó có một giá trị nào đó) một số cộng đồng đã cố định ranh giới cho những vùng lãnh thổ riêng biệt của họ, bằng luật pháp của cộng đồng mình mà điều tiết sở hữu tư nhân có trong xã hội; và vì thế, bằng thoả ước và sự tán thành, họ đã cố định nên sở hữu mà lao động và sự cần cù đã khởi đầu. [V]à các liên minh được tạo thành giữa một số quốc gia và vương quốc là để hoặc công khai hoặc ngầm ngầm không thừa nhận tất cả những khẳng định và quyền hạn đối với đất đai mà người khác chiếm hữu. [Khi đó, con người] bằng sự đồng thuận chung, đã từ bỏ những đòi hỏi của họ đối với quyền chung mà mặc nhiên họ đã có vào lúc khởi thủy đối với những đất nước nơi đó; và vì thế, bằng sự thỏa thuận xác thực, đã tự cố định sở hữu giữa họ với nhau, tách biệt ra các vùng lãnh thổ và các vùng đất trên Trái đất này. [N]hưng vẫn có những vùng rộng lớn khác được tìm thấy trong tình trạng hoang phí (cư dân ở đây không có sự liên kết với phần loài người kia, trong việc cùng đồng thuận sử dụng tiền tệ chung của họ), thay vì được người dân sống nơi đó dùng đến hay làm cho có công dụng; và vì thế đất đai vẫn thuộc của chung, dù điều này có thể là hiếm xảy ra trong những vùng đất mà loài người đã đồng thuận đối với việc sử dụng tiền.
§46. Đa phần trong số các vật hữu dụng thật sự cho đời sống con người, ví dụ như những thứ thiết yếu để sống, khiến những thường dân đầu tiên của thế giới quan tâm đến - như nó làm thế đối với những người châu Mỹ hiện nay, nói chung là những thứ có thời gian tồn tại ngắn; chẳng hạn nếu không được tiêu dùng chúng sẽ thối rữa và tự tiêu hủy. [V]àng, bạc và kim cương là những thứ mà sự tưởng tượng hay thỏa thuận chung đã đặt giá trị vào đó hơn là công dụng thật, và trở thành những thứ chu cấp thiết yếu cho đời sống. Những phẩm vật mà tự nhiên đã cung cấp chung cho tất cả này, nay mỗi người đều có quyền (như đã trình bày) để sử dụng, ở mức tối đa có thể được, và có quyền sở hữu đối với tất cả những gì một người tác động vào bằng lao động của mình; tất cả những gì mà sự cần cù của anh ta có thể với tới, để biến đổi chúng từ trạng thái mà tự nhiên đã đặt chúng vào, thì chúng đã là của anh ta. Anh ta hái lượm một trăm gia quả sồi hay quả táo, vì thế mà đã có sở hữu đặt vào chúng, chúng đã là tài sản của anh ngay vào lúc được hái lượm. Người này chỉ cần biết rằng mình dùng chúng trước khi chúng bị hỏng, còn không thì anh ta đã lấy nhiều hơn phần của mình và đã cướp phần của người khác. Thật sự là một điều ngu xuẩn và cũng không lương thiện khi đi tích trữ nhiều hơn mức anh ta có thể tận dụng. Nếu anh ta cho đi một phần, đến bất kỳ người nào khác, để nó dù có hư hỏng cũng không phải là tài sản vô ích của anh ta, thì số này anh cũng đã đem ra sử dụng. Và nếu anh ta bán tháo đi những quả mận sẽ hư thối trong vòng một tuần, để lấy những quả hạch có thể ăn trong vòng một năm, thì anh ta đã không gây phương hại gì, không phí phạm nguồn cung cấp chung, không phá hoại phần tài sản thuộc về người khác, miễn sao không có gì bị hỏng một cách vô ích trong tay anh ta. Lại nữa, nếu người này trao các quả hạch của mình lấy một mẩu kim loại, để thích thú với màu sắc của nó, hoặc đổi con cừu của mình để lấy những vỏ sò, hay đổi len để lấy một viên đá thạch anh lóng lánh hoặc một viên kim cương, và giữ những thứ này đến suốt đời, anh ta không xâm phạm đến quyền của người khác; anh ta có thể chất đống những thứ lâu bền này bao nhiêu tùy thích, việc vượt quá giới hạn sở hữu chính đáng của anh ta không dựa trên độ lớn tài sản anh ta có, mà vào việc có làm hỏng một cách vô ích thứ gì đó trong số này hay không.
§47. Và vì thế, người ta đã đi đến việc sử dụng tiền, một thứ bền vững để họ có thể cất giữ mà không bị hư hỏng, và là cái mà bằng sự chấp thuận hỗ tương, họ đưa vào trao đổi thay cho công dụng thật, ngoài những thứ có thể hư hỏng khác dùng để nuôi sống con người.
§48. Do mức độ cần cù khác nhau thường đem lại cho người ta những phần chiếm hữu có tỷ lệ khác nhau, nên việc phát minh ra tiền đã tạo cho họ cơ hội duy trì và mở rộng chúng. [G]iả sử một hòn đảo tách khỏi mọi hoạt động thương mại khả dĩ với phần còn lại của thế giới. [N]ơi đây, ngoài một trăm gia đình, còn có cừu, ngựa, bò và những con vật có ích khác, cùng với cây ăn trái; còn đất đai thì đủ để cung cấp ngũ cốc cho một trăm ngàn lần nhiều hơn [số người hiện có]. [N]hưng lại không có gì trên đảo thích hợp để có chỗ cho việc dùng tiền, hoặc vì tính sở hữu chung của nó, hoặc vì tính có thể thối rữa và tự tiêu hủy của cây trái và thú vật; vậy ở đây, đâu là nguyên do mà người ta có thể có để mở rộng sự chiếm hữu của mình vượt qua mức sử dụng của gia đình và đem lại sự cung cấp dồi dào cho tiêu dùng của đảo, hoặc bằng những gì mà sự cần cù của họ sản xuất ra, hoặc họ có thể trao đổi với người khác để lấy những vật phẩm có ích và dễ hư hỏng kia? Nơi đâu không có cái gì đó vừa bền vững mà cũng vừa hiếm hoi, và vì thế mà có giá trị để tích lũy, nơi đó người ta sẽ không có khuynh hướng mở rộng chiếm hữu đất đai của họ, nó đã quá dồi dào, quá tự do để họ chiếm lấy rồi. [V]ậy tôi muốn hỏi, đâu là cái mà một người sẽ định giá cho mười ngàn, hay một trăm ngàn mẫu đất tốt nhất, đã bồi bổ và cũng đã là nguồn cung cấp nhiều trâu bò, nằm sâu trong nội địa của trung phần Mỹ châu, nơi mà anh ta không có hy vọng giao dịch thương mại với những vùng khác của thế giới, để tiền bạc có thể chạy vào túi anh ta từ việc bán sản phẩm? Sẽ không đáng để mà rào đất lại, và chúng ta thấy rằng anh ta sẽ từ bỏ [đất đai chiếm hữu] để lại đến với cái đất công hoang dại của tự nhiên, thay vì sẽ cung cấp bất kỳ thứ gì cho cuộc sống tiện nghi đã có được ở đấy cho anh và gia đình.
§49. Vì vậy, vào lúc khởi đầu, toàn bộ thế giới là châu Mỹ, còn nay thì lớn hơn thế rất nhiều, vì không một vật nào như vậy với vai trò là tiền được biết đến ở bất cứ đâu. Nếu phát hiện ra cái gì đó có công dụng và giá trị của đồng tiền trong số những người láng giềng của anh ta, thì quý vị sẽ thấy rằng cùng con người đó chẳng mấy chốc sẽ bắt đầu mở rộng phạm vi chiếm hữu của mình.
§50. Nhưng từ khi vàng và bạc - vốn có ít công dụng trong đời sống con người khi so về tỷ lệ với thức ăn, quần áo và xe ngựa - có giá trị của nó chỉ từ sự thỏa thuận chung của những người mà lao động của họ phần lớn đã tạo ra phương tiện đo lường này, thì rõ ràng là những người này đã đồng ý về một sự chiếm hữu không bằng nhau và không theo tỷ lệ đối với đất đai. [H]ọ, bằng sự chấp thuận ngầm và tự nguyện, đã tìm ra cách thức mà một người có thể chiếm hữu một cách ngay thẳng nhiều đất đai hơn, so với việc tự anh ta có thể sử dụng sản phẩm vàng và bạc nhận được trong trao đổi để lấy thặng dư, là những thứ có thể được cất giữ mà không gây phương hại đến bất kỳ ai. [N]hững kim loại này không hư hỏng mà cũng không thối rữa trong tay người chủ sở hữu. Số này nằm trong những tài sản tư nhân không ngang bằng nhau mà người ta đã kiếm được bên ngoài ranh giới của xã hội và không có thỏa ước, mà chỉ bằng việc đặt một giá trị lên vàng và bạc, và ngầm đồng ý về công dụng của đồng tiền: vì ở nhiều chính quyền, luật thì điều tiết quyền về sở hữu, còn việc chiếm hữu đất đai thì được xác định bằng hiến pháp xác thực.
§51. Và như thế, tôi nghĩ rằng chúng ta rất dễ hình dung cách thức mà vào lúc ban đầu lao động khởi sự cho một địa vị sở hữu đối với các vật phẩm chung của tự nhiên, và đối với cách thức tiêu dùng mà việc sử dụng của chúng ta đã tạo nên những giới hạn cho việc này; để sau đó không có lý do gì còn tranh chấp quanh địa vị này, mà cũng không còn nghi ngờ gì về sự mở rộng chiếm hữu mà lao động đã đem lại. Quyền và lợi đã cùng bước với nhau, vì khi một người có quyền đối với tất cả, anh ta có thể đặt lao động của mình lên đó, vì thế không có sự cám dỗ nào đối với lao động hơn là việc anh ta dùng đến nó. Điều này không dành chỗ cho tranh chấp về tư cách sở hữu, mà cũng không có chỗ cho sự xâm phạm vào quyền của người khác. Dễ dàng để thấy đâu là phần mà một người đã cắt ra cho mình, và sẽ là vô dụng - mà cũng là không lương thiện - khi cắt ra cho riêng mình quá nhiều hay lấy đi nhiều hơn là nhu cầu cần đến.
²⁶ Sách Khải huyền: quyển cuối trong Tân ước.
²⁷ Noah: tổ phụ đời thứ mười (tính từ Adam). Năm Noah sáu trăm tuổi, Chúa trời quyết định trừng phạt loài người vì sự xấu xa của họ, nhưng nhận thấy ông là người chính trực, Thượng đế báo trước về tai họa sắp tới, bảo ông đóng một chiếc thuyền lớn cho gia đình và đem theo lên đó muôn thú, mỗi loài có đực và cái. Cơn đại hồng thủy một trăm năm mươi ngày ập đến, mọi vật đều chết trừ những gì có trên thuyền của Noah. Khi nước rút đi, vị trí của con thuyền này là trên ngọn núi Ararat.
²⁸ David: vua thứ hai của Vương quốc Israel thống nhất (1011?-971 TCN).
²⁹ Quyển Thánh vịnh (hay Thánh thi), Cựu ước.
³⁰ Long diên hương (ambergris): một chất giống như sáp, dễ cháy, màu tro hoặc hơi đen ở dạng bóng mờ loang lổ kiểu cẩm thạch, có trong ruột cá nhà táng; thường tìm thấy trên mặt biển ở một số vùng nhiệt đới; được dùng như chất hãm màu trong công nghệ nước hoa; nay đã tổng hợp nhân tạo được.
³¹ Quyển Timothy I, Tân ước.
³² Một mẫu Anh bằng khoảng 0,4 hecta.
³³ Devonshire: một tỉnh thuộc vùng tây nam nước Anh.
³⁴ Quyển Sáng thế, Cựu ước.
³⁵ Abraham: tổ phụ chung của tất cả người Israel Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo. Lot là cháu trai của Abraham, đã cùng Abraham và gia đình đến Ai Cập. Trong chuyến đi đến Canaan theo lệnh của Chúa trời, Lot cũng đi cùng ông, nhưng giữa chừng họ không thể tiếp tục chung đường, vì cả hai đều có đàn gia súc lớn và các mục đồng của họ thỉnh thoảng lại cãi nhau. Abraham cho Lot chọn nơi lưu trú. Lot đi theo hướng đông nam, về vùng đồng bằng gần các đô thị Sodom và Gomorrah.
³⁶ Esau: con của Isaac và Rebekah, anh song sinh của Jacob. Esau mắc bẫy của Jacob khi đổi quyền kế vị của mình (lãnh đạo Israel) cho Jacob để lấy một bát cháo hầm.
³⁷ Seir: vùng núi kéo dài dọc theo phía đông của Arabah (vùng định hình biên giới giữa Israel và Jordan ngày nay), từ điểm tận cùng đông nam Biển Chết đến gần Akabah (phía đông Biển Đỏ, thuộc tây nam Jordan); trước khi được chia cho Esau và con cháu, vùng này thuộc bộ tộc của người Hori và sau đó là Edom.
³⁸ Trong văn bản gốc, Locke không dùng chữ hay ký hiệu “bảng” như ngày nay (pound, £), mà là chữ l. trong cụm viết tắt LSD của librae, solidi, denarii (tức pound, shilling và pence theo hệ thống tiền tệ thập nhị phân ban đầu). Ký hiệu £ chính là xuất phát từ chữ L viết theo kiểu Gothic thường, sử dụng phổ biến ở khắp Tây Âu từ giữa thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XVI.
Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005
Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy
