Tổng luận thần học - Quyển 1 tập 1 (Vấn đề 2)

Tổng luận thần học - Quyển 1 tập 1 (Vấn đề 2)

Chủ đích chính của thánh khoa là trình bày sự nhận biết Thiên Chúa, không những trong chính Người, mà còn như là khởi nguyên và cùng đích của mọi vật, nhất là của thụ tạo có lý trí, như đã nói trên. Do vậy khi chủ tâm trình bày đạo lý này, trước hết chúng tôi bàn về Thiên Chúa (P.I); rồi về sự vận hành của thụ tạo có lý trí về với Thiên Chúa (P.II); về Đức Ki-tô, Đấng theo tư cách con người, là con đường để chúng ta tiến về Thiên Chúa (P.III).

Việc nghiên cứu Thiên Chúa gồm ba mục. Trước hết chúng tôi sẽ nghiên cứu những điều thuộc yếu tính; thứ đến nghiên cứu những điều liên quan đến việc phân biệt các Ngôi vị (vđ.27); ba là về việc các vật thụ tạo phát xuất từ Thiên Chúa (vđ.44). Riêng về chính yếu tính Thiên Chúa, trước hết phải nghiên cứu xem Thiên Chúa có hiện hữu chăng; thứ đến, Người hiện hữu cách nào, hay đúng hơn là Người không hiện hữu cách nào (vđ.3); ba là những điều thuộc về hoạt động của Người, nghĩa là về tri thức, về ý muốn và quyền năng của Người (vđ.14). Về điểm thứ nhất, cần tìm hiểu ba điều:

1. Phải chăng Thiên Chúa hiện hữu là điều tự hiển minh? 

2. Phải chăng đó là điều có thể chứng minh?

3. Phải chăng Thiên Chúa thực hữu?

 

MỤC 1

Phải chăng “Thiên Chúa hiện hữu” là điều tự hiển minh?

 

NGHI VẤN. Hình như “Thiên Chúa hiện hữu là điều tự hiển minh.

1. Những điều được ta biết cách tự nhiên thì được kể là tự hiển minh, như trường hợp những nguyên lý thủ yếu. Vậy thánh Damasceno quả quyết ở đầu cuốn sách của người rằng: việc nhận biết sự hiện hữu của Thiên Chúa được ghi khắc nơi mọi người cách tự nhiên. Cho nên “Thiên Chúa thực hữu" là điều tự hiển minh.

2. Những mệnh đề được nhận biết ngay khi biết các vế của chúng cũng được kể là tự hiển minh: đó là điều nhà Hiền triết gán cho các nguyên lý đệ nhất dùng để chứng minh, như hễ biết toàn thể là gì và thành phần là gì, thì biết ngay được toàn thể lớn hơn thành phần. Vậy hễ biết hạn từ Thiên Chúa là gì thì lập tức cũng biết là Thiên Chúa hiện hữu, vì với danh từ ấy ta ám chỉ điều vĩ đại nhất mà ta có thể quan niệm: nhưng điều có cả trong trí tuệ và trong thực tại thì vĩ đại hơn điều chỉ có trong trí tuệ. Bởi đó, một khi hiểu được danh từ Thiên Chúa, tức khắc Thiên Chúa có trong trí tuệ, và nhiên hậu cũng có trong thực tại. Cho nên “Thiên Chúa thực hữu” là điều tự hiển minh.

3. Mặt khác, “có sự thật” là điều tự hiển minh: ai chối rằng không có sự thật tức là thừa nhận có sự thật; vì nếu đích thị “không có sự thật” thì ít ra mệnh đề đó là thật. Vậy nếu đã có điều gì thật, ắt phải có sự thật. Mà Thiên Chúa là chính sự thật, như thánh Gioan chép: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”. Cho nên “Thiên Chúa hiện hữu” là điều tự hiển minh.

NHƯNG. Không ai có thể quan niệm ngược với điều tự hiển minh, như nhà Hiền triết đã trình bày khi bàn về những nguyên lý đệ nhất dùng để chứng minh. Nhưng người ta có thể quan niệm ngược với khẳng định “Thiên Chúa hiện hữu”, như Tv 52, 1 viết: “Kẻ ngu si tự nhủ: làm chỉ có Thiên Chúa”. Cho nên “Thiên Chúa hiện hữu” không phải là điều tự hiển minh.

LUẬN GIẢI. Một điều có thể tự hiển minh theo hai cách: một là nguyên nó chứ không đối với chúng ta; hai là nguyên nó và đối với chúng ta. Sở dĩ một mệnh đề tự hiển minh là vì thuộc từ của nó hàm chứa trong quan niệm của chủ từ, như: mệnh đề “con người là động vật” là điều tự hiển minh, vì động vật hàm chứa trong quan niệm con người. Nếu mọi người đều biết túc từ và chủ từ là gì, thì mệnh đề đó là mệnh đề hiển minh đối với mọi người: như trường hợp những nguyên lý đệ nhất dùng để chứng minh, những hạn từ của chúng là điều thông thường đến nỗi chả ai không biết, như hữu thể và phi hữu, toàn thể và thành phần, và những thứ tương tự như thế. Nhưng nếu có ai không biết nội dung của thuộc từ và chủ từ là gì, thì tuy mệnh đề ấy nguyên nó là hiển minh, nhưng không phải là hiển minh đối với những ai không biết nội dung túc từ và chủ từ của mệnh đề đó. Sở đã xảy ra như thế là vì có những quan niệm chung và tự hiển minh đối với những nhà thông thái mà thôi, như vật vô chất thì không chiếm chỗ.

Do đó, tôi cho rằng: mệnh đề Thiên Chúa hiện hữu nguyên nó là mệnh đề tự hiển minh: vì thuộc từ thì đồng nhất với chủ từ: Thiên Chúa là chính sự hiện hữu của mình, như sẽ thấy dưới đây (vđ.3, m.4). Nhưng mệnh đề đó không phải là hiển minh đối với chúng ta, vì chúng ta không biết bản tính của Thiên Chúa. Thành thử nó cần phải được chứng minh bằng những điều được ta biết rõ hơn, ấy là bằng những công hiệu, mặc dầu theo bản tính thì công hiệu lại kém phần rõ rệt.

GIẢI ĐÁP

1. Thực ra, tự nhiên chúng ta biết một cách mờ mờ là có Thiên Chúa, vì lẽ Thiên Chúa là hạnh phúc của con người: tự nhiên con người muốn được hạnh phúc, và điều gì con người tự nhiên ước muốn thì được con người nhận biết cách tự nhiên. Nhưng như thế thực sự không phải là biết Thiên Chúa hiện hữu, cũng như khi ta biết có ai đang đến, không có nghĩa là biết Phêrô, mặc dầu Phêrô là người đang đến. Vì nhiều người cho điều thiện hoàn bị của con người, tức là hạnh phúc, hệ tại tài sản; có người cho là hệ tại khoái lạc; có người cho là hệ tại điều gì khác nữa.

2. Khi nghe danh từ Thiên Chúa không hẳn mọi người đều hiểu là điều vĩ đại nhất người ta có thể quan niệm, vì có người cho Thiên Chúa là vật thể. Cho dù ai ai cũng hiểu danh từ Thiên Chúa là điều vĩ đại nhất ta có thể quan niệm đi nữa, thì cũng không tất nhiên là điều được quan niệm như thế phải có trong thực tại, nhưng chỉ có trong quan niệm của trí khôn. Cũng không thể chứng minh hữu thể đó có trong thực tại, đừng kể khi giả thiết rằng điều vĩ đại nhất, mà ta có thể quan niệm, hiện hữu trong thực tại: đó là điều những ai, chủ trương không có Thiên Chúa, cho là không có thực.

3. Hiện hữu của sự thật nói chung là điều hiển minh; nhưng sự hiện hữu của sự thật đệ nhất lại không hiển minh đối với chúng ta.

MỤC 2

Phải chăng “Thiên Chúa hiện hữu”

là điều có thể chứng minh?

 

NGHI VẤN. Hình như “Thiên Chúa hiện hữu” là điều không thể chứng minh.

1. Thiên Chúa thực hữu là một tín khoản. Nhưng những điều thuộc đức tin thì không thể chứng minh: chứng minh phát sinh trI thức, nhưng đức tin lại nhằm vào những điều ta không thấy, như thánh Tông đồ dạy. Cho nên “Thiên Chúa hiện hữu” là điều không thể chứng minh.

2. Trung hạn của một chứng minh là hạn từ cho biết chủ từ là chi. Nhưng chúng ta không thể khẳng định Thiên Chúa là Đấng nào, mà chỉ có thể phủ định những gì không phải là Thiên Chúa, như thánh Damasceno quả quyết. Cho nên chúng ta không thể chứng minh Thiên Chúa hiện hữu.

3. Nếu ta chứng minh Thiên Chúa hiện hữu thì chỉ có thể chứng minh bằng những công hiệu của Người. Nhưng những công hiệu của Thiên Chúa không cân xứng với Người. Thiên Chúa là Đấng vô hạn, còn những công hiệu thì hữu hạn: không có sự cân xứng giữa hữu hạn với vô hạn. Vậy vì không thể lấy công hiệu bất cân xứng để chứng minh nguyên nhân của nó, cho nên hình như không thể chứng minh Thiên Chúa hiện hữu.

NHƯNG. Thánh Tông đồ nói: “Những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa... thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người”. Nhưng không thể nói được như thế nếu không thể chứng minh được “Thiên Chúa hiện hữu” qua những công trình của Người: Khi tìm hiểu về một vật thì trước tiên phải xác định xem có vật ấy chăng.

LUẬN GIẢI. Có hai thứ chứng minh, một là bằng nguyên nhân, và gọi là chứng minh “vì sao”: đó là chứng minh bằng điều nguyên chúng có trước; hai là chứng minh bằng công hiệu, và gọi là chứng minh “bởi vì”: đó là chứng minh bằng những điều có trước trong lãnh vực nhận thức của chúng ta: như khi đối với chúng ta, một công hiệu hiển minh hơn nguyên nhân của nó thì ta nhờ công hiệu để nhận biết nguyên nhân. Như vậy, sự thực hữu của nguyên nhân có thể được chứng minh bởi bất cứ công hiệu nào (miễn là những công hiệu này hiển minh đối với chúng ta). Vì phi nguyên nhân bất thành hiệu quả, nên hễ có hiệu quả tất nhiên phải có nguyên nhân đã. Vậy vì “Thiên Chúa hiện hữu” là điều không tự hiển minh đối với chúng ta, nên có thể được chứng minh bởi những công hiệu hiển minh hơn đối với ta.

GIẢI ĐÁP

1. “Thiên Chúa hiện hữu” và những điều khác về Thiên Chúa mà lý trí tự nhiên có thể biết, như thánh Tông đồ nói, không phải là những tín khoản, nhưng là những khai đoạn đức tin, theo cách đó, đức tin hiểu ngậm kiến thức tự nhiên, như ân sủng hiểu ngậm tính tự nhiên, và sự hoàn thiện hiểu ngậm vật có thể được hoàn thiện. Nhưng không chỉ ngăn trở để ai đó vốn chưa biết cách chứng minh, chấp nhận như khả tín điều nguyên nó có thể được chứng minh và được nhận biết.

2. Khi lấy công hiệu để chứng minh nguyên nhân, nhất thiết phải dùng công hiệu thay cho định nghĩa của nguyên nhân để chứng minh sự thực hữu nguyên nhân: và điều này đặc biệt được áp dụng khi bàn về Thiên Chúa. Vì để chứng minh sự thực hữu của vật gì, cần phải lấy định nghĩa danh định, chứ không phải thực định, làm trung hạn: vì câu hỏi ‘vật ấy là gì đi sau câu hỏi có vật ấy chăng. Danh xưng của Thiên Chúa được các công hiệu đặt ra, như sẽ trình bày sau. Vì thế, khi chứng minh “Thiên Chúa hiện hữu” bằng công hiệu, chúng ta có thể lấy định nghĩa danh định của hạn từ Thiên Chúa làm trung hạn.

3. Mặc dầu nhờ công hiệu không cân xứng với nguyên nhân, chúng ta không thể biết hoàn bị về nguyên nhân; nhưng hiển nhiên là nhờ bất cứ công hiệu nào, chúng ta cũng có thể chứng minh là có nguyên nhân, như đã nói trên. Cho nên có thể nhờ những công hiệu mà chứng minh “Thiên Chúa hiện hữu”, mặc dầu nhờ những công hiệu ấy, không thể biết Thiên Chúa theo yếu tính của Người.

MỤC 3

Thiên Chúa có thực hữu chăng?

 

NGHI VẤN. Hình như Thiên Chúa không thực hữu.

1. Trong hai điều tương phản, hễ một điều là vô cùng, thì điều kia bị triệt tiêu hoàn toàn. Nhưng với hạn từ Thiên Chúa, ta hiểu đích thị là điều thiện vô cùng. Nếu Thiên Chúa thực hữu thì không còn điều ác nào nữa. Nhưng trong thế gian thấy có điều ác. Cho nên Thiên Chúa không thực hữu.

2. Vả lại, những chi có thể được hoàn thành do một số ít nguyên nhân thì không cần đến nhiều nguyên nhân. Vậy giả dụ Thiên Chúa không thực hữu thì hình như tất cả các vật xuất hiện trên thế giới đều có thể do những nguyên nhân khác làm ra: vì những điều tự nhiên thì quy về nguyên nhân của chúng là thiên nhiên; còn những điều tự do thì cũng quy về nguyên nhân của chúng là lý trí hay là ý muốn nhân loại. Cho nên không cần phải công nhận Thiên Chúa thực hữu.

NHƯNG. Trong sách Xuất hành Thiên Chúa tự nói về mình: “Ta là Đấng Tự Hữu”.

LUẬN GIẢI. Có thể chứng minh Thiên Chúa thực hữu bằng năm con đường. Con đường thứ nhất và minh bạch nhất căn cứ trên sự chuyển biến. Một điều chắc chắn mà giác quan có thể nghiệm thấy, đó là trong vũ trụ này có những vật chuyển biến. Nhưng phàm chi được chuyển biến là được chuyển biến do vật khác. Không chi được chuyển biến nếu không ở trong tiềm thể đối với đích mà nó được chuyển biến tới. Trái lại, làm biến chuyển điều gì thì tác căn phải ở trong hiện thể. Làm biến chuyển chẳng qua là đưa điều nào từ tiềm thể đến hiện thể: như vật nóng trong hiện thể, chẳng hạn lửa, làm cho vật nóng trong tiềm thể trở thành nóng trong hiện thể, và như vậy là làm biến chuyển và biến đổi nó. Cũng một điều không thể vừa ở trong tiềm thể và hiện thể một trật và theo cũng một khía cạnh, nhưng theo những khía cạnh khác nhau: như một vật không thể vừa nóng trong hiện thể lại vừa nóng trong tiềm thể một trật, nhưng có thể lạnh trong tiềm thể. Cho nên theo cũng một khía cạnh và dưới cũng một cách thức, một vật, không thể vừa là vật khả biến vừa là biến căn một trật, hay là tự chuyển biến chính mình. Cho nên phàm chi được chuyển biến đều do vật khác làm chuyển biến. Nhưng nếu vật làm chuyển biến vật này cũng do vật khác biến chuyển nữa, thì vật đó phải do vật thứ ba, và cứ thế cứ thế... Nhưng ở đây không thể có diễn tiến đến vô tận: chẳng vậy không có biến căn đệ nhất, vì những biến căn đệ nhị chỉ làm biến chuyển vì được chuyển biến bởi biến căn đệ nhất, như cây gậy không lay động nếu không được bàn tay lay động. Cho nên phải đi đến biến căn đệ nhất, không bị chuyển biển bởi chi hết: và biến căn này được hiểu là Thiên Chúa.

Con đường thứ hai căn cứ trên nguyên nhân tác thành. Trong các vật hữu hình ta thấy có trật tự của các tác căn: nhưng không thấy và cũng không thể thấy có vật nào là tác cặn của chính mình; chẳng vậy vật ấy đã thực hữu trước khi thực hữu, đó là điều không thể có. Vậy chuỗi các tác căn không thể diễn tiến đến vô tận. Vì trong mọi tác căn móc nối với nhau, tác căn đệ nhất là nguyên nhân của tác căn trung cấp, và tác căn trung cấp là nguyên nhân của tác căn sau cùng, dù tác căn trung cấp là một hay nhiều cũng vậy. Mà đã hủy bỏ nguyên nhân thì công hiệu cũng bị hủy bỏ. Vì thế nếu không có tác căn đệ nhất thì cũng không có tác căn sau cùng và trung cấp. Nếu chuỗi các tác căn diễn tiến đến vô tận thì sẽ không có tác căn đệ nhất; và như vậy cũng không có công hiệu sau cùng, cũng không có những tác căn trung cấp. Điều đó hiển nhiên là sai. Cho nên phải công nhận có tác căn đệ nhất, tác căn này được gọi là Thiên Chúa.

Con đường thứ ba căn cứ trên vật khả hữu và tất hữu. Con đường đó như sau. Trong các vật, chúng ta thấy có những vật có thể có và có thể không có: vì có những vật được sinh ra và bị hư hoại, và như vậy là có thể có và có thể không có. Nhưng những vật như thế không thể luôn luôn có: vì vật có thể không có thì có lúc không có. Nếu tất cả đều là những vật có thể không có, thì hẳn là có lúc không có vật nào hết. Và nếu điều đó là đúng thì hiện nay cũng chẳng có gì cả: vì vật chưa thực hữu chỉ bắt đầu thực hữu nhờ vật đang thực hữu. Bởi vậy, nếu đã không có hữu thể nào, thì không thể có chi đã bắt đầu hiện hữu, và như vậy hiện nay cũng không có chi cả. Điều đó hiển nhiên là sai. Cho nên mọi vật không thể đều là khả hữu, mà trong các vật phải có vật tất hữu. Những vật tất hữu này có được tính tất yếu hoặc nhờ nguyên nhân ngoại lai hoặc không. Và vì trong các vật tất yếu, có tính tất yếu nhờ nguyên nhân ngoại lai, không thể diễn tiến đến vô tận, như đã chứng minh về các tác căn. Cho nên phải công nhận có chi đó tất yếu tự thân, không do nguyên nhân nào khác, trái lại còn là nguyên nhân phát sinh sự tất yếu nơi các vật khác. Điều tất hữu tự thân này được gọi là Thiên Chúa.

Con đường thứ bốn căn cứ trên những cấp bậc hoàn bị có nơi các vật. Trong các vật, ta thấy có mức độ hơn kém về điều thiện, điều thật, điều cao nhã, v.v.. Nhưng mức độ hơn kém được gán cho các vật khác nhau tùy theo chúng tiếp cận cách khác nhau với một vật tuyệt đỉnh, chẳng hạn vật nóng hơn hệ tại tiếp cận với vật cực nóng. Vì vậy, phải có điều gì chân thật, thiện hảo và cao nhã tuyệt đỉnh, và do đó có hữu thể tuyệt đỉnh. Vì, như nhà Hiền triết đã nói: phàm chi là chân lý tuyệt đỉnh cũng phải là hữu thể tuyệt đỉnh. Vậy điều nào là tuyệt đỉnh trong một giống loại thì cũng là nguyên nhân của mọi vật thuộc giống loại ấy: như lửa cực nóng là nguyên nhân của mọi nhiệt lượng nơi các vật nóng, đó là điều được nhà Hiền triết nói tới trong cùng một tác phẩm. Cho nên có một hữu thể là nguyên nhân của sự hiện hữu, sự thiện hảo và mọi sự hoàn bị của tất cả các hữu thể. Hữu thể đó, chúng tôi gọi là Thiên Chúa.

Con đường thứ năm căn cứ trên sự cai quản vạn vật. Chúng ta thấy có những vật vô tri, như những vật thể tự nhiên, hoạt động vì mục đích: điều đó được giãi bày bởi sự kiện là chúng luôn luôn, hoặc thường hoạt động cách nhất mực để đạt được điều tuyệt hảo; như thế hiển nhiên chúng đạt tới đích không phải do tình cờ nhưng do chủ ý. Nhưng những vật vô tri chỉ hướng tới đích vì được định hướng bởi người hiểu biết và sáng suốt, như mũi tên bởi xạ thủ. Cho nên có hữu thể sáng suốt nào đó hướng dẫn mọi vật tự nhiên tới đích: và chúng ta gọi hữu thể đó là Thiên Chúa.

GIẢI ĐÁP

1. Như thánh Augustino nói: Vì Thiên Chúa là Đấng tuyệt hảo, nên tuyệt đối không làm ngơ cho xảy ra điều ác nào trong các công trình của Người, trừ phi Người là Đấng thật toàn năng và nhân lành, đến độ từ điều ác có thể rút tỉa ra điều thiện. Cho nên đặc tính của sự thiện hảo vô cùng nơi Thiên Chúa là làm ngơ cho xảy ra những điều ác, để từ đó rút tỉa ra những điều thiện.

2. Do sự định hướng của tác nhân cao cấp mà thiên nhiên hoạt động vì mục đích nhất định, thế nên những điều do thiên nhiên thực hiện phải quy về Thiên Chúa, như nguyên nhân đệ nhất. Cũng như những điều được thể hiện cách suy tính phải quy về nguyên nhân nào cao hơn. Nguyên nhân này không thể là trí tuệ và ý muốn nhân loại; vì trí tuệ và ý muốn đó hay thay đổi và khiếm khuyết. Cho nên mọi thứ khả biến và bất tất phải quy về nguyên lý đệ nhất bất khả biến và tất yếu, như đã được trình bày.

Nguồn: Thomas Aquinas. Tổng luận thần học. "Về một Thiên Chúa", Tập 1. Phần I, Vấn đề 1-13. Joachim Nguyễn Văn Liêm và cộng sự phiên dịch và dẫn nhập. Tp. Hồ Chí Minh, 1999.| Xem: Bản dịch tiếng Anh