[VIDEO] Các khái niệm ngữ pháp cơ bản theo góc nhìn triết học Ayn Rand (Phần 2)

[VIDEO] Các khái niệm ngữ pháp cơ bản theo góc nhìn triết học Ayn Rand (Phần 2)

Bây giờ, tôi muốn chuyển sang chủ đề về ‘Từ loại’ (parts of speech). Có tám loại. Giờ, tôi sẽ chỉ nói về những điểm quan trọng, những cái khác tôi sẽ kéo tới những tuần sau. Điều này liên quan đến những gì chúng ta đã nói trước giờ giải lao vì chúng ta sẽ thảo luận về việc phân tích cơ bản cấu trúc chủ ngữ-vị ngữ, bản chất của cấu trúc chủ ngữ - vị ngữ là gì, và bỏ qua rất nhiều điểm phức tạp, và bỏ qua như vậy, bạn có thể rút gọn câu trả lời thành một câu đơn giản. Chủ ngữ là danh từ, vị ngữ là động từ - tất cả các câu cho dù phức tạp đến mức nào, nếu bạn loại bỏ các phần phức tạp, cuối cùng đều trở thành: “chim bay, trung thực đền đáp, nhà nước ép buộc”, đó là một vài ví dụ nặng ký để làm thú vị hơn.

Chủ ngữ là danh từ, vị ngữ là động từ, không phải luôn như vậy nhưng về bản chất là vậy. Do đó, chúng ta phải biết thế nào là danh từ, và động từ là gì. Hãy xem xét một danh từ. Danh từ là một từ loại chỉ người, địa điểm, sự vật, trạng thái, đặc tính hoặc bất cứ thứ gì khác. Nói cách khác, đó là tên của một sự việc/sự vật theo nghĩa rất, rất rộng và phong phú. Rõ ràng, “ghế” và “bàn” là danh từ. Chúng đại diện cho các đối tượng. Từ “màu đỏ” là một danh từ, nó đại diện cho một đặc tính nào đó. Bây giờ, hãy xem xét điều này. Từ “việc chạy bộ” là một danh từ. Nó thể hiện một hành động, hành động chạy bộ. “Việc chạy bộ rất thú vị”. “Tình yêu” là một danh từ, thể hiện một trạng thái nhất định. “Khoảng cách” là một danh từ, nó thể hiện của một loại liên hệ. Vì vậy, bạn phải hiểu rằng chúng ta đang nói về điều này theo một nghĩa rất rất rộng; nhưng hãy nhớ, chúng ta có thể nói rằng danh từ là điều cốt yếu đối với ngôn ngữ, chúng là phương tiện chính yếu duy nhất để đề cập đến một khía cạnh của thực tại. Phần duy nhất (đây không phải là định nghĩa mà là sự thật về danh từ), đó là phương tiện chính yếu duy nhất để đề cập đến một khía cạnh của thực tại, của việc chọn ra một cái gì đó để nói đến, để thảo luận, để suy nghĩ, để giao tiếp. Để làm vậy, về bản chất, để chọn một cái gì đó từ thực tại và tập trung vào nó, cơ bản là đòi hỏi có một danh từ, và do đó, bản chất của chủ ngữ - chủ ngữ là điều bạn đang nghĩ đến - chính là một danh từ. Tôi phải nhanh chóng nói thêm, danh từ sẽ xuất hiện nhiều nơi, ngoài chủ ngữ. Ví dụ, “Jack đánh quả bóng”. “Quả bóng” là một danh từ, nhưng nó không phải là chủ ngữ, vì vậy, đừng cho rằng tất cả các danh từ đều thuộc chủ ngữ, nhưng về bản chất, chủ ngữ sẽ là danh từ. Tôi lập tức phải thêm vào, ngoại trừ, khi không phải danh từ, nói cách khác, chủ ngữ có thể không thực sự chứa danh từ, mà là một sự thay thế cho danh từ. Có nhiều cái thay thế cho danh từ hoặc tương đương danh từ. Đây là một sự thay thế rõ ràng đối với danh từ, thay vì nói “Jack đánh bóng”, tôi nói “anh ấy đánh nó”. Bây giờ chủ ngữ là “anh ấy” và đây là một từ thay thế danh từ, và nó có chức năng thay cho danh từ, hỗ trợ danh từ, do đó bạn thường gọi đó là một đại từ. Đại từ chỉ là từ làm chức năng thay thế danh từ, một sự thay thế, một sự thay chỗ cho danh từ. Và “nó” - “anh ấy đánh nó”, “nó” là đại từ chỉ quả bóng. Đó là một cách viết tắt thuộc về ngôn ngữ và do đó, một đại từ không đại diện cho bất cứ điều gì mới, nó được coi là một loại từ riêng biệt nhưng nó chỉ đơn giản là cách viết tắt để chỉ một danh từ và, thế nên, luôn có thể thay thế bởi một danh từ nếu cần thiết. Bây giờ, để tôi phân tích sâu hơn một chút, chủ ngữ của câu không nhất thiết phải là danh từ hoặc đại từ. Có nhiều cái tương đương, đó là những tổ hợp từ có chức năng như danh từ mặc dù chúng không hiển nhiên rõ ràng. Hãy để tôi đưa ra cho bạn một câu nổi tiếng như một ví dụ “nhân vô thập toàn”1 (To err is human, to forgive divine). Chủ ngữ của “là con người” (is Human) là gì? - “Phạm sai lầm” (To Err). “To Err” không phải là một danh từ hay một đại từ. Ai biết “To Err” được gọi là gì không? Bạn phải biết điều này bởi vì nó xuất hiện trong Reader's Digest2 suốt. Có ai biết “To Err” không? Loại từ đó được gọi là gì? Động từ nguyên mẫu, đúng rồi. Tôi sẽ giải thích trong một số bài giảng từ giờ, nhưng nó là sự kết hợp của các từ có chức năng như một danh từ. Đó là một cụm từ có chức năng như một danh từ trong câu này, vì vậy, nếu bạn định đặt tên cho nó, bạn có thể gọi nó là một cụm danh từ; “to err”, nó chỉ đơn giản là một cách để chỉ định quá trình mắc lỗi, bạn có thể nói “erring is human” hoặc “to err is human”, cùng một nghĩa như nhau dù hai câu diễn đạt (Nhân vô thập toàn).

Còn câu này thì sao: “điều anh ta nói đã làm tôi khó chịu 3 ”. Chủ ngữ của câu đó là gì? - “Điều anh ta nói”, phải vậy không? Nó giống như tôi nói “lời nói của anh ta làm tôi khó chịu 4 ”, câu có danh từ “lời nói”. Nhưng trong trường hợp này, thay vì vậy, tôi đã dùng ba từ cùng nhau (what he said) với tư cách là một đơn vị, tương đương với “lời nói của anh ấy” như một danh từ và có chức năng là chủ ngữ. Kiểu cấu trúc “điều anh ấy nói”, là một mệnh đề. Mệnh đề có chức năng như chủ ngữ, mệnh đề đó hoạt động như một danh từ thì bạn sẽ gọi nó là gì? Mệnh đề danh từ. Rất tốt. Bây giờ, nếu bạn đã hiểu sự phức tạp này, bạn có thể nói rằng chủ ngữ của câu luôn là danh từ hoặc tương đương với danh từ, bao gồm cả danh từ tương đương, đại từ, cụm từ và mệnh đề có chức năng như danh từ.

Bây giờ, chúng ta hãy xem xét vị ngữ, bản chất của vị ngữ là động từ. Động từ là gì? Là loại từ diễn đạt hành động hoặc trạng thái của sinh vật hay chủ thể nào đó. Động từ là loại từ thể hiện hành động của sinh vật hay chủ thể nào đó. Có hai điểm, đó là hành động và trạng thái của sinh vật. Hãy nói về hành động trước. “Anh ta chạy”, “chạy” là một động từ. “Jack đánh”, “con bò nhảy lên”, “giáo viên đã biết”, bạn thấy động từ trong tiếng Anh thường là một cụm từ. Đó là một động từ mà một số từ có chức năng như một đơn vị. Toàn bộ các từ diễn tả hành động. 

“Chạy, đánh, nhảy, biết”. Tại sao chúng ta không nói đến “trạng thái” và nói “loại từ này biểu thị hành động hoặc trạng thái”, bởi vì một số động từ không biểu thị bất kỳ hành động nào của chủ thể, nhưng chỉ đơn giản là tình trạng của chủ thể, trạng thái của nó. Ví dụ: “anh ấy đang giúp đỡ” (he is helping), “is” không chỉ ra bất kỳ hành động nào anh ấy đang làm, đó là động từ, nó chỉ đơn giản chỉ ra tình trạng anh ấy thì như vậy và tất nhiên đó là động từ “to be”5 và đó sẽ là ví dụ điển hình của động từ biểu thị trạng thái hiện hữu hơn là hành động. Và có nhiều trường hợp khác. Ví dụ, “nó có mùi thơm” (It smells good). Bây giờ “nó” chẳng hạn là cái bánh, không cần đi loanh quanh. Bạn không thể nói “nó đang có mùi thơm” (it is smelling good), có một cách đơn giản để nói là “nó thì ngon” (it is good) và bạn có thể phát hiện ra nó bằng khứu giác của mình. Vậy, nó không diễn tả hành động của chủ thể mà chỉ là tình trạng hoặc trạng thái. Hoặc “nó có vẻ ổn” (it seems okay), “seem” cũng giống như “is” (is), hoặc “nó có vị ngon” (it tastes good), “taste” cũng giống như “smell”. Có một tập hợp các động từ không diễn tả hành động mà đơn thuần diễn tả trạng thái. Và đó là lý do tại sao chúng ta đề cập đến trạng thái. Hãy nhớ điều này, vị ngữ của câu phải luôn chứa một động từ, không có cách nào khác, không có đại-động-từ 6 , giống như có đại danh từ (đại từ), không có động từ tương đương như danh từ tương đương, bạn có động từ ngoài ra không gì có thể thay thế. Không có cách nào khác.

Bây giờ, đây là vấn đề của buổi học hôm nay nếu bạn đã hiểu được các phần trên, và nếu bạn không nắm được thì sẽ không hiểu thêm được gì đâu. Hãy phân biệt, đây là sự phân biệt rất cần thiết, rất dễ dàng nhưng bạn phải biết. Bạn phải hoàn toàn phân biệt được động từ và những từ- hình–thành-từ-động-từ (verbals), động từ và những từ-hình-thành-từ-động-từ. Chúng ta đang nói về động từ. Và tôi nhắc lại một lần nữa, động từ diễn tả một hành động hoặc một trạng thái cụ thể có thể kết hợp với chủ ngữ để tạo thành câu; “chạy, đang chạy, đã chạy, đã chạy xong, sẽ chạy, sẽ đang chạy”, tất cả đều là động từ, lấy bất kỳ chủ ngữ nào và thêm nó vào là bạn có một câu. Ví dụ: “Anh ta chạy, anh ta đang chạy, anh ta đã chạy”. Bất kỳ từ nào trong tập hợp các từ chỉ hành động hoặc trạng thái mà bạn có thể kết hợp với chủ ngữ để tạo thành câu, đó là động từ. Vậy những từ-hình-thành-từ-động-từ là gì? Vâng, ví dụ, một từ đơn giản như “việc chạy” (running), nó chỉ là “chạy”, không phải “đang chạy, đã đang chạy, sẽ đang chạy”, mà chỉ là “chạy” thông thường. Bạn không thể kết hợp nó với một chủ ngữ để tạo thành câu. Không có câu nào như “Bill running”. Bạn có thể nói “Bill đang chạy/đã đang chạy” nhưng không có “Bill running”, vì vậy “việc chạy” là một từ bắt nguồn từ một động từ, đó là lý do tại sao nó được gọi là “verbal”, bản thân nó không hoạt động như một động từ. Nó không phải là một động từ. Bây giờ, có ba loại “verbal”, chúng ta sẽ có nhiều thời gian để thảo luận từ từ về chi tiết và cách sử dụng của những từ-hình-thành-từ-động-từ này. Nhưng bây giờ, bạn phải làm quen để có thể biết rằng những thứ này không phải là động từ mà là “verbal”. Các bạn hãy nhìn vào câu số bốn. Có một ví dụ đơn giản "việc chạy thì cần rất nhiều tâm huyết” (Running is a lot of work). Động từ trong câu đó là gì? Hãy giơ tay lên nếu bạn biết, động từ không phải là những từ-hình-thành-từ-động-từ mà là động từ.

Vâng, mời bạn.

Học viên: thì (is)

LP: “is”, chính xác. Vậy chủ ngữ là gì?

Học viên: “Việc chạy”

LP: “Việc chạy”, có một danh từ chỉ một hoạt động nào đó, nhưng đó là một danh từ được hình thành từ một động từ, chúng ta đã lấy động từ “chạy” (run) và chúng ta tạo ra một danh từ từ nó. Ai biết tên những từ hình thành từ động từ được sử dụng như một danh từ? Nó có một cái tên đặc biệt và tôi không thể giải thích điều này. Rất tiếc. Ý tôi là tôi không thể làm rõ ràng, tôi chắc rằng tôi có thể làm được nếu tôi biết nguồn gốc của nó nhưng tôi lại không. Ai biết tên của những từ-hình-thành-từ-động-từ được sử dụng như một danh từ như trong trường hợp này - “việc chạy”, bắt đầu bằng chữ “G”, các bạn vẫn theo bài giảng phải không? Danh động từ (gerund), một từ-hình-thành-từ-động-từ được sử dụng như một danh từ. Đó là cái đầu tiên trong số những từ-được-hình-thành-từ-động-từ nhưng không phải là động từ. Bây giờ hãy xem câu tiếp theo ở mục số bốn. “Chạy nhanh, anh ấy sớm cảm thấy mệt 7 ”. Động từ trong câu trên là gì? Rất vui khi có được một ai đó ở ngay sau trả lời.

Mời bạn.

Học viên: Mệt.

LP: Là gì? “Mệt”. Đúng rồi. “Anh ấy” là chủ ngữ. Vậy “chạy” trong câu là gì? Nó không phải là động từ, nó không phải là chủ ngữ, nó không phải là một danh từ. Vậy chức năng thực sự của nó là gì? Nó mô tả điều gì đó. Nó mô tả cái gì? “Anh ấy” hay “mệt mỏi” hay là gì? Nó mô tả “anh ấy” (he). Vậy, từ mô tả một danh từ hoặc một đại từ được gọi là? Tính từ. Rất tốt. Chúng ta hiểu được rồi đó. Một từ hình thành từ động từ được sử dụng như một tính từ được gọi là một động tính từ. Vì vậy, “chạy” trong câu thứ hai là một động tính từ, không phải là động từ. Đó là một tính từ. Và cuối cùng, về những từ-được-hình-thành-từ-động-từ: “việc chạy thật dễ thương” (to run is sweet), và chúng ta đề cập rằng “chạy” là từ-được-hình-thành-từ-động-từ thứ ba, đó là động từ nguyên thể và trong trường hợp này, nó hoạt động như một danh từ, chủ ngữ của động từ “is”. Động từ nguyên thể có thể là bất cứ thứ gì. Đó là lý do tại sao chúng được gọi là động từ vô định, chúng không bị giới hạn ở hầu như bất kỳ loại từ nào. Nếu bạn đã nắm bắt được điều này, bạn có thể đặt tất cả các loại từ-được-hình–thành-từ-động-từ sang một bên. Chúng ta đã nói đến một phần cụ thể của buổi học về sự phức tạp của những từ-hình-thành-từ- động-từ, danh động từ, v.v. Bây giờ, chúng ta chỉ đơn giản nói về từ-hình-thành-từ-động-từ và điều cơ bản có thể nhận ra chúng.

Học viên: Nếu danh động từ là một từ-hình-thành-từ-động-từ được sử dụng như một danh từ, động từ nguyên mẫu cũng là một từ-hình-thành-từ-động-từ được sử dụng như một danh từ

LP: Vâng, nhưng chúng khác nhau. Danh động từ và động từ nguyên mẫu rất giống nhau. Chúng là hai loại từ-hình-thành-từ-động-từ gần nhau nhất.

Học viên: Đó không phải là một định nghĩa chặt chẽ?

LP: Không, đó không phải là một định nghĩa chặt chẽ. Tôi sẽ đưa ra cho bạn một định nghĩa. Động từ nguyên mẫu cũng có thể được sử dụng như các loại từ khác, như bạn thấy, trong khi danh động từ chỉ có thể được sử dụng như danh từ.

Học viên: Động tính từ có được sử dụng như trạng từ không?

LP: Như một trạng từ? Không không. Động tính từ luôn là một tính từ theo định nghĩa. Bạn sẽ hiểu khi chúng ta đến phần đó. “Verbal” chỉ đơn giản là loại từ có nguồn gốc từ một động từ nhưng không phải là động từ, một từ có nguồn gốc từ một động từ nhưng bản thân nó không phải là một động từ.

Học viên: Ông đinh nghĩa “loại từ” bằng cách nào?

LP: Loại từ về cơ bản chỉ đơn giản là chức năng thiết yếu mà một từ có thể thực hiện. Loại từ luôn là điều gì đó mà một từ thực hiện, nhưng còn có những nhóm từ hoạt động như một đơn vị nữa. Một cụm từ hoặc một mệnh đề cũng có chức năng là một loại từ. Bây giờ, tôi muốn đặt ‘verbal’ sang một bên ở đây, tôi vừa đề cập đến chúng, vậy nên, các bạn hãy bỏ chúng qua một bên vào lúc này, tôi chỉ muốn quay lại với danh từ và động từ.

Bây giờ, chúng ta đã hiểu được cái gì được gọi là chủ ngữ, vị ngữ đơn giản. Chúng ta đang nói như thể chủ ngữ là toàn bộ nửa đầu và vị ngữ là nửa cuối. Và chúng ta có thể nói chính xác hơn một chút, một từ đơn lẻ chỉ chủ ngữ, luôn là một danh từ, được gọi là chủ ngữ đơn và nó chỉ có một từ. Một từ đơn lẻ hoặc những từ chỉ hành động, là động từ, được gọi là vị ngữ đơn. Và từ bây giờ, khi chúng ta sử dụng chủ ngữ và vị ngữ, chúng ta sẽ tự giới hạn trong chủ ngữ và vị ngữ đơn. Ví dụ, tôi sẽ đưa cho bạn một câu và bạn cho tôi biết chủ ngữ và vị ngữ, và từ giờ, là chủ ngữ và vị ngữ đơn, đó là những từ đơn giản nhất thể hiện bản chất của chủ ngữ và hành động, bỏ qua tất cả các chi tiết: “Con bò béo nhảy qua mặt trăng” (The fat cow jumps over the moon). Chủ ngữ là gì?

Học viên: “Con bò” (Cow).

LP: “Con bò”, phần còn lại chỉ giải thích thêm về con bò, nhưng bản chất vẫn là con bò, đó là chủ ngữ đơn. Và từ nào sẽ được coi là vị ngữ đơn, chỉ thể hiện bản chất của hành động.

Jenny.

Jenny: “nhảy”.

LP: “Nhảy”, chính xác. “qua mặt trăng” chỉ đơn thuần là một chi tiết.

Bây giờ hãy xem câu số 5 8 , giống như một bài tập ngắn là chọn ra chủ ngữ và vị ngữ đơn, bởi vì từ giờ, đó là tất cả những gì tôi sẽ nói về chủ ngữ và vị ngữ. Chủ ngữ của câu ở mục số 5 là gì? Đâu là chủ ngữ?

Học viên: “Chính phủ”

LP: “Chính phủ”, chỉ vậy thôi. Phần còn lại chỉ đơn giản là cho bạn biết các kiểu chính phủ. Có bao nhiêu, họ ở đâu v.v, nhưng cốt lõi của toàn bộ chủ ngữ là “chính phủ”. Bản chất của vị ngữ là gì? Đâu là động từ trong các từ còn lại?

Học viên: “tuyển dụng”

LP: Vâng, “tuyển dụng”. Vậy, nếu bạn rút gọn câu trên, về bản chất thì câu sẽ là “chính phủ tuyển dụng”. Được rồi. Thực hành tương tự với phần tiếp theo. Chủ ngữ đơn là gì?

Mời bạn.

Học viên: “Tôi9”

LP: “Tôi”. Bây giờ, tôi muốn biết động từ và trong trường hợp này không chỉ là một từ, động từ trong trường hợp này là một cụm từ. Bạn phải đưa ra toàn bộ động từ cho vị ngữ.

Học viên: “đã chịu đựng”

LP: Vâng, “đã chịu đựng”. Vậy câu ở đây là “Tôi đã chịu đựng”. Bây giờ, chúng ta sẽ làm nhiều hơn, nhưng bạn sẽ hiểu được. Phần còn lại chúng ta gọi là gì, giống như “hầu hết trên thế giới này đều mắc bệnh đau buồn” và tất cả những từ còn lại. Các thành phần chính khác trong câu, bên cạnh chủ ngữ và vị ngữ người ta gọi là gì? Những từ bổ nghĩa (modifier). Từ bổ nghĩa. Đó là thuật ngữ chung. Từ bổ nghĩa là những từ mô tả, giới hạn hoặc bổ nghĩa từ khác, mô tả, giới hạn, bổ nghĩa từ khác. Một từ mô tả giới hạn hoặc bổ nghĩa một từ khác. Nói cách khác, nó không gọi tên một sự vật hoặc chỉ ra một hành động như cách một danh từ hoặc động từ thực hiện. Về bản chất, nó chỉ ra đặc tính của một cái gì đó hoặc một hành động. Và tất nhiên có hai loại từ bổ nghĩa, đó là tính từ và trạng từ. Hãy xem xét theo thứ tự. Tính từ là loại từ bổ nghĩa cho một danh từ hoặc một đại từ. “Người tốt, tốt, khôn ngoan, quyển sách to, nhiều học sinh, máy tính này”– “máy tính” là một danh từ, “này” là một tính từ. Tại sao? Nó giới hạn. Tôi không nói bất kỳ cái máy tính nào. Tôi định rõ nó là cái này. Bất kỳ từ nào có chức năng liên quan đến một danh từ, để phân định, thu gọn, thu hẹp nó theo một cách nào đó, đủ tiêu chuẩn là một tính từ. Vậy, nếu tôi nói “Tôi đã nhìn thấy người đàn ông này”. Tính từ trong câu là gì? - “này” là một tính từ, bạn có thể tin hay không, đó là một tính từ xác định, người ta nói với bạn về tất cả những người đàn ông trên thế giới, và đây là người mà tôi đã từng nhắc đến trước đây. Nếu tôi nói “Tôi đã nhìn thấy một người đàn ông”. Hãy cho tôi một tính từ trong câu đó.

Học viên: “một”

LP: “một”, cho bạn thấy là có một người và tôi chưa bao giờ gặp anh ta trước đây. Đó được gọi là mạo từ không xác định nhưng điều đó không liên quan. Vậy cái gì liên quan ở đây? Bất kỳ từ nào như ‘làm điều gì đó với danh từ để thu hẹp nó lại’ thì nó được gọi là tính từ. Tất nhiên, nếu bạn muốn cho lạ và đặc biệt, bạn có thể nói có tất cả các loại khác nhau của tính từ, ví dụ, một tính từ được sử dụng để thể hiện, chẳng hạn như “máy tính này”. Vậy loại tính từ này có tên gọi là gì? Để thể hiện, để chứng minh, chúng là tính từ chỉ thị. Bạn không cần chia nhỏ tất cả các loại tính từ miễn là bạn nắm được ý chính. Vậy, tính từ không có gì phức tạp. Thực tế, bạn luôn có thể nói tính từ bổ nghĩa cho một danh từ hoặc đại từ.

Về cơ bản, một trạng từ bổ nghĩa cho mọi thứ khác có thể bổ nghĩa, trạng từ làm được nhiều việc hơn là tính từ. Có bốn cái mà trạng từ bổ nghĩa hoặc có thể bổ nghĩa. Rõ ràng, trạng từ chủ yếu bổ nghĩa cho động từ, bất kỳ từ nào cho bạn biết một hành động được thực hiện như thế nào, khi nào, ở đâu, theo cách nào, trong điều kiện nào, trong hoàn cảnh nào, đều là trạng từ. “Anh ta chạy nhanh, chậm, một cách đột ngột”, v.v. Tất cả đều là những trạng từ. (Tôi nghĩ, âm thanh đó đang làm một số người mất tập trung). Dấu hiệu của trạng từ trong những câu vừa nêu là gì? “nhanh, chậm, đột ngột, nhanh chóng, dữ dội, bạo lực”. “_ly” là một biến tố trạng từ trong tiếng Anh, khi ghép hai từ lại với nhau. Tất nhiên, cũng ngoại trừ nhiều từ là trạng từ không kết thúc bằng “_ly” như từ “bây giờ”. Tại sao “bây giờ” là một trạng từ? – Khi nó xảy ra. Cũng có những từ kết thúc bằng "_ly" nhưng không phải là trạng từ. Do đó, không phải lúc nào cũng là thử nghiệm chính xác. Ví dụ, “Anh ấy là một người đàn ông nam tính”. “Nam tính” là một tính từ miêu tả người đàn ông. Nó không giống như “nhanh chóng” - “anh ta chạy trông không nam tính”. Vì vậy, không phải lúc nào trạng từ cũng đi với “_ly”. Nhưng hiểu nôm na thì đây là một chức năng đơn giản của trạng từ. Tiếp theo, nó chỉ ra rằng loại từ này không chỉ bổ nghĩa cho động từ mà còn bổ nghĩa cho tính từ. Do đó, trạng từ cũng bổ nghĩa cho tính từ. Ví dụ: “anh ấy khá sáng sủa”. “Sáng sủa” là một tính từ và “khá” cho bạn biết anh ấy ‘sáng’ ở mức độ nào. Nó bổ nghĩa cho tính từ theo định nghĩa ‘một từ bổ nghĩa cho tính từ là trạng từ’. Tôi sẽ đưa cho bạn một câu và bạn cho tôi một trạng từ bổ nghĩa tính từ trong câu đó. “Anh ấy khá khỏe mạnh”. (- “Khá”). “Anh ấy rất nghèo.”

Học viên: “rất”

LP: “Rất”. Đúng rồi. Nó chỉ ra rằng cùng một từ bổ ngữ cho động từ và tính từ cũng có thể bổ ngữ các trạng từ khác. “Anh ấy đến rất nhanh chóng”. “Nhanh chóng” là trạng từ, và “rất” cho biết nó nhanh như thế nào, vì vậy, nó bổ nghĩa cho từ “nhanh chóng”, và từ bổ nghĩa cho trạng từ cũng là trạng từ. “Bạn đã thực sự làm rất tốt”. “Tốt” cho biết bạn đã làm như thế nào, đó là một trạng từ, và “thực sự” cho biết bạn đã làm tốt như thế nào, vậy nó bổ nghĩa một trạng từ, vậy nên, từ “thực sự” là một trạng từ. Bây giờ, bạn có thể tự hỏi cái còn lại là gì? Chức năng thứ tư của trạng từ là gì? Và câu trả lời là: một trạng từ cũng có thể bổ nghĩa cho toàn bộ một câu hay một mệnh đề, không chỉ một từ như động từ, v.v., mà là cả một nhóm từ. Nó có thể hoạt động như từ bổ nghĩa cho một câu hoặc bổ nghĩa cho một mệnh đề. Và các trạng từ, các từ tương tự cũng làm được điều đó. Bây giờ, nếu bạn nhìn vào mục số 6. Tôi muốn các bạn chú ý bởi vì nó sẽ làm khó bạn trong việc phân tích cú pháp. “Thành thật mà nói thì cô ấy gần như luôn luôn cẩu thả 10”. Giờ, “thành thật” (honestly) không bổ nghĩa cho động từ “thì” (is) hoặc “cẩu thả”. Nó được coi là một bổ ngữ cho câu, “thành thật” ý nói mọi thứ khác sau đó là đúng, hãy chú ý điều tôi nói. Tôi không đùa đâu. Và lưu ý rằng nó kết thúc bằng “ly”, là phần kết thúc của trạng từ. Vì vậy, “thành thật mà nói” là một trạng từ bổ nghĩa cho toàn bộ câu. Bây giờ, hãy nhìn vào phần tiếp theo, xem bạn có thể tìm thấy một từ hay không, chỉ có năm từ, vì vậy, xác suất nằm một trong năm từ đó, đó là một trạng từ có chức năng bổ ngữ cho toàn bộ mệnh đề. “Anh ấy đã lừa dối vì vậy anh ấy đã thất bại 11”. Bây giờ, bạn hãy chọn trong năm từ. “Anh ấy” là một đại từ nên không thể là nó được, “lừa dối” và “thất bại”, chúng đều là động từ, không còn gì có thể là trạng từ trong câu, nhưng từ “vì vậy” và từ “vì vậy” trong trường hợp này là trạng từ bổ ngữ cho toàn bộ mệnh đề “anh ấy đã thất bại”. Logic đằng sau lý thuyết này là gì? Tại sao? Thực tế là nó chỉ ra cho bạn, toàn bộ ý tiếp theo “anh ấy thất bại” được coi là hệ quả của quá trình, từ “vì vậy” ở đó để bổ nghĩa cho toàn bộ mệnh đề “anh ấy đã thất bại”, không chỉ “anh ấy” hay “thất bại”, mà là “anh ấy thất bại”, là kết quả, và do đó, một lần nữa, đó là trạng từ.

Bây giờ, điều này rất quan trọng bởi vì khi chúng ta đề cập đến các liên từ, nhiều trạng từ có khả năng bổ nghĩa cho toàn bộ mệnh đề, có chức năng như trạng từ - tôi xin lỗi- có chức năng như liên từ. Và nếu bạn hiểu điều này, bạn sẽ thấy dễ hiểu. Được rồi, bạn đã biết các loại từ cơ bản: danh từ, đại từ, động từ, tính từ, trạng từ và tất nhiên là có những loại từ ít quan trọng hơn mà chúng ta sẽ tiếp tục là giới từ, liên từ tôi đã đề cập. Và tôi sẽ không bận tâm với thán từ như là “aha”, đó cũng là một loại từ nhưng chúng không quá quan trọng. Những gì bạn hiểu, liên quan đến loại từ, là loại từ được xác định bởi cách sử dụng từ ngữ trong câu. Bạn không thể - tôi lặp lại điều này, bạn không thể lấy một từ và nói đây là loại từ nào. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào cách sử dụng từ trong câu. Bây giờ, nhìn vào mục số bảy 12: “nhà”. Hãy nắm cách sử dụng và bạn cho tôi biết nó là loại từ gì? Số bảy. “Nhà của tôi là của bạn”. Hãy giơ tay nếu bạn biết “nhà” là loại từ nào.

Vâng. Ai ở đằng kia. Jennifer phải không. Không phải, ở góc đối diện. Vâng, mời bạn. Tôi muốn ‘loại từ’, chủ ngữ trong câu, loại từ - bạn chỉ được chọn: danh từ, đại từ, động từ, tính từ, trạng từ.

Danh từ. Chính xác. Được rồi. “Ngôi nhà trong kế hoạch trả thù13”. Loại từ là gì? Động từ. “Cả đội đã thua trận 14”. Tính từ, cho bạn biết rằng là đội nào. “Tôi về nhà ăn tối 15” – “tôi về” đâu, mô tả hành động, là một trạng từ. Chính xác. Được rồi. Một bài tập khác, ngay sau từ “vòng (round)”. Điều này chỉ để bạn thấy rằng tất cả những từ này có thể có nhiều chức năng, có thể là nhiều loại từ khác nhau tùy thuộc vào chức năng của chúng. “Chúng ta đã thua vòng đấu này16”, nói ngay nếu bạn biết “vòng đấu” là loại từ gì.

Jim

Jim: Danh từ.

LP: Tôi phải suy nghĩ để sắp xếp lại những thứ này. Ồ đây rồi. “cô ấy đã đi vòng qua khúc cua17”. Câu này chúng ta chưa chính thức đề cập, “round” là một trong những từ chỉ mối quan hệ và chi phối danh từ, “round” là một giới từ - “vòng”. “Anh ta đi vòng vòng18”. Hai từ “round” trong đó. Anh ta đã đi đâu? - Trạng từ. “Chúng tôi vòng qua góc đường vào buổi trưa19”. Động từ. “Vai anh ta thật tròn20”. Tính từ. Được rồi. Bạn đã hiểu rồi đó. Được rồi.

Vâng, mời bạn.

Học viên: Những từ bổ nghĩa cho danh từ là tính từ, còn lại là trạng từ phải không?

LP: Không, vì có từ bổ nghĩa cho đại từ. Tính từ bổ nghĩa cho danh từ hoặc đại từ. Còn trạng từ bổ nghĩa những cái khác.

Học viên: Ý tôi là có những trường hợp đặc biệt của danh từ.

LP: Của một danh từ. Vâng, chính xác. Về cơ bản, trạng từ là một từ bổ nghĩa, và đặc biệt bổ nghĩa cho danh từ là tính từ. Đúng rồi. Bạn có thể thấy trạng từ là bốn trong một, vì vậy, rất có thể bạn thấy trạng từ nhiều hơn tính từ.

Học viên: Danh từ là chủ ngữ, nhưng ông cũng có nói danh từ không phải là chủ ngữ?

LP: Chắc chắn.

Học viên: Tôi không hiểu tại sao câu “Tôi đã đi về nhà”. Tại sao “nhà” không phải là một danh từ?

LP: Bởi vì nó cho bạn biết bạn đã đi đâu, nó có chức năng chỉ hướng đi. “Tôi đã đi”. Tôi cũng có thể nói “đến nhà của tôi” (to my home) trong trường hợp đó “nhà” sẽ là một danh từ, bị chi phối bởi giới từ, nhưng bản thân ở đây, nó có chức năng là từ “nhà”, nó cũng có chức năng chỉ hướng hành động. Vì vậy, nó là từ bổ nghĩa. Nếu bạn muốn danh từ, bạn phải nói “Tôi đã đi đến nhà của tôi” (I went to my home), khi đó bạn có một cụm giới từ, “đến”, “của tôi” là tính từ và “nhà” là danh từ. Nhưng trong cấu trúc này, không có lý do gì để như vậy. Những gì làm bạn thấy băn khoăn là về nguồn gốc, nó là một danh từ, chúng ta nói “tôi đã đi đến nhà của tôi”, nhưng sau đó, bạn nhận ra rằng “đến” “của tôi” là không cần thiết. Bạn chỉ cần nói “Tôi đã đi về nhà”, và bây giờ, nó có chức năng đơn giản là bổ nghĩa cho việc bạn đi đâu, bổ nghĩa cho việc “đi”, bản thân nó không đề cập đến một thực thể cụ thể. Ý tôi là, nó theo bản chất ý nghĩa chứ không theo hình thức ngữ pháp, nó có chức năng đơn giản là ‘danh từ như một trạng từ’ hơn là một danh từ, dù nguyên bản là danh từ. Tóm lại, danh từ hoạt động như một trạng từ, bạn sẽ thấy điều đó xuyên suốt ngữ pháp, rằng những thứ nguyên bản đã đổi sang dạng cú pháp khác.

Học viên: Cách khác để nói là nó viết tắt cho một cụm trạng từ sao?

LP: Vâng. Đúng. Vâng, đó hoàn toàn là một cách khác mà bạn có thể nói, đó là viết tắt của một cụm trạng từ, nhưng đó là cách viết tắt mà giờ chúng ta hầu như không thể tái tạo lại và trong hàng trăm năm tới cũng không thể tái tạo, điều đó dường như hoàn toàn tự nhiên: “Tôi đi ra ngoài. Tôi đi xung quanh. Tôi về nhà”.

Bây giờ, nếu đã hiểu được, chúng ta sẽ xem xét rằng, quay trở lại các loại từ trong cấu trúc câu, rằng một câu điển hình sẽ bao gồm một danh từ với nhiều từ bổ nghĩa khác nhau - là một tính từ nào đó và một động từ với các từ bổ nghĩa khác nhau. Và đó là những gì tôi đưa ra cho các bạn về câu. Nhìn vào số 8, “những chàng trai cao lớn này đọc một cách dễ dàng và nhanh chóng21”. Chủ ngữ đơn giản ở đó là “những tràng trai”, đó là danh từ. Những tính từ bổ sung cho “các chàng trai” là gì? 2 tính từ: “này” và “cao lớn”. Động từ là gì? “Đọc”. Các từ bổ nghĩa là gì? Có bao nhiêu từ bổ nghĩa? Hai từ nào? “Dễ dàng, nhanh chóng” - hai trạng từ. Vậy “và” là gì? Đó là một trong những từ liên kết các từ khác, trong trường hợp này là nối liền hai trạng từ. Vậy, nó là một liên từ. Chúng ta sẽ hiểu điều đó trong bài tới. Nhìn vào câu tiếp theo. “Nhiều người thì quá chăm học 22”, danh từ là từ nào? – “Người”; “nhiều” là loại từ gì? - Tính từ bổ nghĩa cho “người”. Động từ là từ nào? - “thì” (are); tính từ trong vị ngữ miêu tả “người” - “chăm học”. “Quá” là loại từ gì? Hãy giơ tay lên nếu bạn biết. Jennifer. Rất tốt. Đó là một trạng từ. Tại sao nó là một trạng từ? Bởi vì nó bổ nghĩa cho một tính từ, cho bạn biết mức độ chăm học. Vâng, đây là tất cả những gì liên quan đến một câu, chỉ là chủ ngữ và động từ với các từ bổ nghĩa của chúng.

Bây giờ, chúng ta cần phải thêm một thành phần khác, bạn sẽ rất vui khi biết đó là thành phần cuối cùng. Nhìn này, tôi nói “John cầm lấy” và ngừng nói và bạn nghĩ ngay lập tức, bạn sẽ vô cùng thắc mắc “John cầm cái gì", đúng không. Một cái gì đó phải có ở cuối để diễn tả hành động “cầm lấy”, nhận lấy nó để hoàn thành câu. Hoặc tôi bước vào và nói, “anh trai tôi có vẻ” và ngồi xuống, bất kỳ gì, chủ ngữ là “anh trai” và động từ “có vẻ”, nhưng rõ ràng là nó không đầy đủ. Hay “Tôi đã gặp”, câu hỏi rõ ràng, ai, gặp ai? Chúng ta vẫn chưa đạt được điều đó. Vậy trong nhiều trường hợp câu cần một cái gì đó để hoàn chỉnh. Danh từ. Không, có cái gì đó sẽ hoàn thành nó. Bạn cần thành phần để hoàn chỉnh nó, để sau đó không cần bổ sung gì nữa, nó đã hoàn thành. Hiểu chứ. Nó được gọi là bổ ngữ (complement) và “complement” hiển nhiên là “ple”, “pli” (compliment) có nghĩa là khen ngợi một ai đó. Ở đây là “ple” - bổ ngữ có nghĩa là bổ sung, những từ được sử dụng để hoàn thành cấu trúc sau động từ, để hoàn thành một ý cơ bản. Không phải câu nào cũng có phần bổ ngữ. Nó không phải là một phần cốt yếu như chủ ngữ và vị ngữ. Ví dụ, “mặt trời mọc” là một câu hoàn chỉnh không có bổ ngữ hay “chim bay”, hoàn tất, vẫn được. Nhưng nhiều câu đòi hỏi phải có bổ ngữ và mục số chín đưa ra cho bạn một số ví dụ cơ bản. “John đánh quả bóng này.23”. Bổ ngữ ở đây là “quả bóng”, hoàn thành câu, nó là một danh từ với tính từ “này”. Nếu bạn có thể gọi tên thì bổ ngữ được gọi là gì khi nó đứng sau một động từ, chỉ định hành động thay vì trạng thái. Đó là tân ngữ (object). Chính xác. Chỉ vậy thôi. Tân ngữ là một dạng bổ ngữ. Nó là bổ ngữ khi động từ diễn tả một hành động. “John đánh”, anh ta đánh cái gì? Cái gì nhận hành động đó? – “quả bóng này”. Vì vậy, “quả bóng” là tân ngữ.

Học viên: Vậy tân ngữ là gì?

LP: Tân ngữ là bổ ngữ đứng sau động từ diễn tả một hành động. “John đánh nó” Tân ngữ là gì? “Nó”. “Anh ấy thích việc chạy bộ”. Tân ngữ là gì? “Việc chạy bộ”. “Anh ta muốn đi”. Tân ngữ là gì? “đi”. “Anh ấy đang hạnh phúc”, đây là trường hợp duy nhất mà túc từ không thể áp dụng, vì đây là một trạng thái. Không có hành động nào được đưa ra và do đó, “hạnh phúc” là một bổ ngữ thuần túy. Nó không thể được gọi là một tân ngữ và trong trường hợp này nó là một tính từ.

Học viên: “thích24” và “chạy25” thì sao?

LP: được xem là quá trình tâm lý thay vì tân ngữ. Cái duy nhất không sử dụng tân ngữ là những động từ chỉ trạng thái mà tôi đã đưa ra như “có vẻ, nếm, ngửi 26”. Những từ mà tôi nêu ra, chỉ có sáu hoặc tám từ như vậy.

Học viên: Ý của ông là gì khi nói đến trạng từ?

LP: Ý của tôi là gì khi nói đến trạng từ? Học viên: “Anh ấy đang hạnh phúc27.”

LP: “Hạnh phúc” không phải là một trạng từ. “Hạnh phúc” mô tả “anh ta”– nói về anh ta. Học viên: Chúng ta có thể dùng “hạnh phúc thì (happy is)”?

LP: Không, không, động từ “thì” (is) không phải là trạng thái về việc bạn hạnh phúc, ngược lại, nó nói về bạn. Đây chỉ đơn giản là mô tả một thuộc tính của anh ta. “Anh ta”, người đang hạnh phúc với chính mình, và động từ to be “is” chỉ đơn giản là thể hiện sự tồn tại. Vì vậy, bạn không thể bổ nghĩa động từ “to be”, động từ “to be” ở đây - “thì (is)”- được gọi là động từ liên kết (copula), trong trường hợp này nó liên kết một đại từ và một tính từ. Mời bạn.

Học viên: Tôi chưa hiểu vì sao bổ ngữ là một mục riêng biệt.

LP: Vì đó là tất cả phần còn lại, nếu vị ngữ về cơ bản là động từ và đó là cái tôi đề cập đến bây giờ, chủ ngữ và động từ là không đủ, trong nhiều câu bạn cần một cái gì đó để hoàn thành cấu trúc nếu không bạn sẽ chỉ như câu ví dụ tôi đã đưa ra “anh trai tôi có vẻ như”. Bạn sẽ không có được một câu hoàn chỉnh, chúng ta muốn có cấu trúc của một câu đầy đủ và nhiều câu yêu cầu phần bổ ngữ để hoàn thành ngữ pháp cơ bản. Học viên: Vậy ta có thể nói bổ ngữ được tạo thành từ trạng từ và tính từ...?

LP: Vâng, có rất nhiều khả năng, nó có thể là một danh từ, hãy nhìn vào những ví dụ này, một danh từ, một đại từ, một danh động từ, một động từ nguyên thể, một tính từ, nó có thể là bất cứ thứ gì.

Học viên: Vậy đó là tất cả các loại từ.

LP: Đó là bất kì và tất cả các loại từ có chức năng hoàn thành ngữ pháp trong ngữ cảnh đó. Và nếu động từ diễn tả hành động, thì bổ ngữ được gọi là tân ngữ. Louis.

Louis: Bổ ngữ không được xem xét là một phần của chủ ngữ hay vị ngữ?

LP: Không, không. Không phải theo nghĩa hẹp rằng chủ ngữ là danh từ hoặc đại từ, và vị ngữ là động từ, thì bổ ngữ không phải là một phần của chủ ngữ hay vị ngữ. Nó chỉ là một phần của vị ngữ nếu bạn chia cả câu thành chủ ngữ hoặc vị ngữ.

Học viên: Như vậy, ông thực sự đã xem bổ ngữ là một phần của vị ngữ hoàn chỉnh.

LP: Nó là một phần của cả vị ngữ. Được chứ. Bây giờ, chúng ta đã có cấu trúc cơ bản của một câu: Danh từ là chủ ngữ, động từ, sau đó là tân ngữ, với một loạt các từ bổ nghĩa được xâu chuỗi xung quanh. Đó là cú pháp tiếng Anh cơ bản. Danh từ, động từ, túc từ hoặc bổ ngữ và sau đó là tất cả các từ bổ nghĩa. Đó là những gì bạn thường thấy nhất, có thể danh từ được thay bằng đại từ, có thể động từ sẽ là một cụm từ dài, có thể bổ ngữ sẽ phức tạp nhưng về bản chất nó sẽ gồm ba phần đó. “John đánh bóng này”. Bạn nói “John” –danh từ-chủ ngữ; đánh– động từ -vị ngữ; “quả bóng” - danh từ - túc từ; “này” tính từ xác định danh từ. Đó là một ví dụ đơn giản.

Học viên: Đó cũng là cấu trúc cơ bản của bất kì loại ngôn ngữ nào phải không?

LP: Không, tôi không biết đủ tất cả ngôn ngữ để nói như vậy, nhưng tôi không... tôi đoán bằng cách nào đó nó có thể là như vậy nhưng dưới hình thức nào thì tôi không dám chắc. Bây giờ, tôi muốn nói đến vấn đề quan trọng cuối cùng. Chúng ta đã nói về các loại từ và chúng ta đã nói về các cụm từ và mệnh đề. Bây giờ, tôi muốn kết hợp hai chủ đề đó lại với nhau. Cả cụm từ và mệnh đề, hãy nhớ rằng chúng ta đã nói chúng có chức năng như một đơn vị. Điều đó có nghĩa là một loại từ trong một câu. Một cụm từ, toàn bộ cụm từ có thể được sử dụng như một tính từ hoặc một trạng từ hoặc danh từ. Một mệnh đề có thể được sử dụng như một tính từ, một trạng từ và một danh từ. Vì vậy, điều chúng ta phải làm bây giờ là xem xét cách các loại từ khác nhau có thể ứng dụng, không chỉ là những từ đơn lẻ mà còn kết hợp lại để thực hiện chức năng như một đơn vị. Bạn nắm được chứ. Bạn hiểu rồi phải không. Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào mục số 10. “Người đàn ông đến từ Denver”. “Từ Denver” là một cụm từ, một cụm giới từ, cụm từ đó có chức năng như một loại từ liên quan đến “người đàn ông”? Một tính từ cho bạn biết về người đàn ông này. Vậy, “từ Denver” sẽ được gọi là một cụm giới từ, là tính từ. Từ ví dụ tiếp theo ở mục số 10, hãy nói cho tôi biết một cụm tính từ khác. Tôi biết các bạn đang cảm thấy mệt nhưng sẽ không lâu nữa trước khi kết thức, và sau đó bạn sẽ có một số từ vựng cơ bản nếu bạn có thể học hết đến phần cuối cùng.

Mời Arleene..

“của các loại rau củ màu xanh28” là một cụm từ giới từ có chức năng như một tính từ mô tả “mấy cái thùng”. Thêm một cụm giới từ có chức nănng như một tính từ ở mục số 10.

“Để cắt thịt 29”, đúng không nào. Loại dao nào? Bạn hiểu nó rồi đấy. Thật đơn giản đúng không. Nó là ba từ nhưng chúng có chức năng như một tính từ, nó cũng là một giới từ. Bây giờ “cắt” là loại từ gì? Có ai biết không? Nó có nguồn gốc từ một động từ và nó được sử dụng như một danh từ chỉ quá trình cắt. Đó là một danh động từ. Có một danh động từ trong một cụm giới từ, hoạt động cùng nhau như một giới từ bổ nghĩa cho từ “con dao”. Vậy, bạn thực sự có thể tạo ra một câu văn ấn tượng khi bạn biết hết những điều này rồi.

Bây giờ, mục số 11 đưa ra cho bạn các ví dụ về các cụm trạng từ, đó là các cụm từ được sử dụng như trạng từ và cũng là một cụm giới từ. Hãy nói cho tôi câu đầu tiên ở mục số 11. “dưới nước 30”, nơi bạn chết. Câu tiếp theo. Hãy giơ tay nếu bạn thấy một cụm từ trạng từ.

Louis.

“Dài 6 feet31”, - làm thế nào anh ta đã vượt qua bức tường. Vậy nó mô tả hành động “vượt qua”. Bây giờ, tôi muốn xem liệu bạn có thể tìm thấy một cụm trạng từ trong phần tiếp theo không. Nó khó thấy hơn một chút nhưng rất logic. Ai có thể tìm thấy cụm giới từ là trạng từ trong câu tiếp theo.

Mời bạn.

Vâng, “luôn luôn32”. Rất tốt. Tại sao đó là một trạng từ? Bổ nghĩa cho cái gì? Không, không. Bạn phải cho tôi biết nó bổ nghĩa cho cái gì.

Học viên: “thừa nhận”

LP: Không phải “thừa nhận”, không thể nói “anh ấy luôn thừa nhận” mà phải là “luôn không bao giờ thừa nhận”, nói cách khác, nó cho bạn biết ‘kiểu của việc bạn sẽ không bao giờ đề cập đến’. Đây không phải là không bao giờ trong tuần tới. Nó là không bao giờ, “không bao giờ” là loại từ gì? Đó là một trạng từ. Vậy, bạn gọi từ bổ nghĩa cho một trạng từ là gì? Một trạng từ, “luôn luôn” bổ nghĩa cho “không bao giờ”. Vậy, đây là một cụm từ bổ nghĩa cho trạng từ, vì vậy, nó không phải là một cụm từ động từ. Hiểu rồi chứ.

Louis.

Học viên: Tại sao chúng ta không gọi cả cụm “luôn không bao giờ”.

LP: Bởi vì bạn đang cố gắng phân tích nó, phân tích cả câu, cả cụm là một câu, nhưng ý tưởng ở đây là phân tích ra. Học viên: Đó là một cụm từ phức tạp.

LP: Vâng, đó là một cụm từ phức tạp. Cả cụm là “luôn không bao giờ”, đó là cụm trạng từ nhưng “luôn luôn” trong đó bổ sung cho “không bao giờ”. Bây giờ, cụm trạng từ trong câu tiếp theo là gì, “nó quá gần để cảm thấy thoải mái33”, “quá” đó là một trạng từ nhưng đó không phải là một cụm từ. Không phải nó. Còn những từ còn lại. Học viên: “để cảm thấy thoải mái”

LP: “để cảm thấy thoải mái”, tại sao đó lại là một trạng từ. Học viên: Nó cho biết ‘gần ra sao’.

LP: Rất tốt, và từ loại gì?

Học viên: Trạng từ.

LP: Không phải, “nó thì gần”.

Học viên: tính từ.

LP: Tính từ. Và bạn gọi cụm từ bổ nghĩa cho một tính từ là gì? Một trạng từ. Vậy, “để cảm thấy thoải mái” là một cụm trạng từ vì nó bổ nghĩa cho một tính từ.

Học viên: Không phải như ví dụ trước, nó có bổ nghĩa cho từ “quá” không, tại sao lại dùng từ “quá”?

LP: Không, nó bổ nghĩa cho từ “gần”, cho bạn biết gần như thế nào, gần cái gì, cảm thấy như thế nào? Không phải cho cụm “để cảm thấy thoải mái”. Nó cho bạn biết, nó phân định, kiểu “gần” mà bạn đang nói đến. Bạn phải hiểu như vậy, nó không...

Học viên: Nó giải thích tại sao quá nhiều.

LP: Nó giải thích tại sao quá nhiều, điều đó đúng nhưng nói một cách trực tiếp, nó cho bạn biết bạn nghĩ gì về các kiểu “gần”, gần để quan hệ, gần để kiểm tra bằng kính hiển vi, gần để có cái nhìn tổng quan, gần để thoải mái hoặc điều gì, bạn thấy đó. Vì vậy, theo nghĩa đó, nó phân định từ “gần” theo cách nó được mô tả về mặt chuyên môn. Tôi không nghĩ rằng nó thực sự tạo ra sự khác biệt lớn nếu bạn muốn giải thích từ “quá”, nhưng về mặt chuyên môn thì đây là một cách. Học viên: “Quá gần để cảm thấy thoải” có thể xem toàn là một tính từ.

LP: “Quá gần để cảm thấy thoải” có thể xem toàn bộ như là một đơn vị, là một tính từ. Đúng. Nhưng nó là một tính từ được tạo thành từ một tính từ với một trạng từ ở phía trước và một cụm trạng từ ở cuối. Không sao đâu. Bạn đã hiểu rất tốt. Bây giờ, mục số 12. Cho đến nay, chúng ta chỉ làm các cụm từ giới từ. Một lần nữa, đây là các cụm từ có chức năng như loại từ khác nhưng chúng không phải là các cụm từ giới từ, chỉ để mở rộng sự hiểu biết của bạn. Hãy nhìn vào mục số 12, “lao lên tường, con chuột thoát thân34”. Vâng, tôi đã đưa ra câu trả lời. Cụm từ “lao lên tường”. Tại sao đó là một cụm từ? Vì không có chủ ngữ và vị ngữ. Tại sao đó là một cụm phân từ? Bởi vì nó bắt đầu bằng một phân từ, tại sao đó là một tính từ, nó bổ nghĩa cho cái gì? “Những con chuột”. Vậy, đó là một cụm từ không phải là giới từ mà một phân từ được sử dụng như một tính từ. Tiếp theo, “tiếng gõ cổng thật khó chịu”. Cái gì cơ? <>Không, không. Bạn phải hiểu điều này, khi chúng ta thảo luận về phân từ là khi nó cuối cùng sẽ đi vào tâm trí bạn, nhưng tại thời điểm này, bạn phải cố gắng nắm bắt. Phân từ bổ nghĩa chỉ danh từ hoặc đại từ. Chúng là từ được hình thành từ động từ bổ nghĩa cho danh từ hoặc đại từ và câu trên không nói rằng “trốn thoát là lao lên tường”. Nó nói rằng “con chuột đã lao lên tường”, nhưng chính xác thì nó không nói đến con chuột, nó nói con chuột đã trốn thoát, con chuột nào, tại sao lại lao lên tường? Vì vậy, để phân định “con chuột”, bất cứ thứ gì phân định danh từ đều là một tính từ, đó là theo định nghĩa.

Học viên: Giống “John đi vào phòng35”

LP: Đúng vậy, nó cũng giống như “John đi vào phòng”. Bạn phải tuân theo hình thức của từ, bạn không thể tự nghĩ, nó thực sự cho bạn biết làm thế nào con chuột trốn thoát, bởi vì nó trốn thoát bằng cách lao lên tường, hình thức của từ yêu cầu bạn giải thích theo cách này nếu bạn muốn hiểu mình đang nói gì. Về mặt ngữ pháp, bạn sẽ phải nói “con chuột trốn thoát và đã làm như vậy bằng cách lao lên tường”, trong trường hợp đó “bằng cách lao lên tường” sẽ là một cụm giới từ, bổ nghĩa cho việc “làm”.

HV: “Con chuột trốn thoát lao lên tường” thì sao ạ?

LP: Cũng giống nhau, nó không có gì khác biệt cả. “Việc chạy trốn”, một trạng từ bổ nghĩa, chỉ ra cho bạn cách một hành động được thực hiện như thế nào, giống như “anh ta trốn thoát nhanh chóng, anh ta trốn thoát đột ngột, anh ta trốn thoát ngày hôm qua”. Nếu nó “lao lên tường” thì đó là điều gì đó về một con chuột, phân định con chuột, và do đó, bạn phải coi nó như một tính từ. Tôi nghĩ bạn sẽ hiểu rõ hơn khi chúng ta làm thêm ví dụ.

Học viên: Ông có thể phân biệt, nếu ông nói: “Con chuột trốn thoát bằng cách lao lên tường36”
với....

LP: Thì đó là một điều khác, đó là một ngữ pháp khác. Nếu bạn nói “bằng cách lao thẳng lên tường” thì khi đó “lao lên tường” là một cụm giới từ cho bạn biết cuộc chạy trốn đã được thực hiện như thế nào, nó sẽ là một cụm giới từ là trạng từ. Nhưng trong trường hợp này, diễn ra đúng theo những gì đã nêu, không phải tự bạn cảm nhận ý nghĩa, nó là con chuột. Con chuột nào? Con chuột lao lên tường trốn thoát, vì vậy, nó có chức năng như một tính từ. Tôi muốn đưa ra thêm một vài ví dụ ở đây.

Hãy nhìn câu tiếp theo, “tiếng gõ tại cánh cửa thật khủng khiếp 37”. Cụm từ ở đây là “tiếng gõ cửa”, đó là chủ ngữ và nó có chức năng như một danh từ, toàn bộ cụm đó. Tất nhiên, danh từ thực sự, danh từ then chốt đó là “tiếng gõ”, đó là một động danh từ, “tại cánh cửa” là một cụm giới từ, bổ nghĩa cho “tiếng gõ” như thể một tính từ, nhưng toàn bộ hoạt động như một cụm danh động từ, chủ ngữ của động từ “was”. “Cô ấy đặt một chiếc bánh vào lò để nướng38”. Bây giờ “nướng” là một động từ nguyên mẫu. Hãy nhớ tôi đã nói với bạn về động từ nguyên mẫu được gọi như vậy bởi vì nó không giới hạn ở bất kỳ công dụng nào, nó vô hạn trong việc sử dụng nhiều hay ít. Và đặc biệt, bạn có thể sử dụng một động từ nguyên mẫu làm trạng từ và tính từ và danh từ. Và đây là ba ví dụ. “Cô ấy đặt một chiếc bánh vào lò để nướng”; “để nướng” là một cụm từ và là một động từ nguyên mẫu, và nó mô tả như thế nào, nó mô tả hành động gì. Đó là mục đích của hành động. Tôi biết không thể nói mục đích là một trạng từ, và cơ chế là một tính từ nhưng nó đã xảy ra trong ví dụ về con chuột. Nếu bạn kiên nhẫn, bạn sẽ hiểu nó dễ dàng. “Anh ấy là một người đàn ông đáng tin cậy 39”. Kiểu đàn ông như thế nào? Đáng tin cậy. Vì vậy, “đáng tin cậy” là một động từ nguyên mẫu hoạt động như một tính từ. “Chất vấn diễn giả 40” đó là một cụm từ nguyên mẫu có chức năng như một chủ ngữ. Động từ nguyên thể “chất vấn” là một danh từ. Tân ngữ của từ “chất vấn” là gì? Tân ngữ là “diễn giả”. Vậy, bạn có một danh từ là tân ngữ của động từ nguyên mẫu, và cả cụm từ là chủ ngữ của “is”, đúng chưa. Nói cách khác, hãy hiểu rằng cụm từ có chức năng như một loại từ và bạn có thể sắp xếp chúng như một danh từ, trạng từ, tính từ.

Bây giờ, điều cuối cùng chúng ta phải xem xét, các mệnh đề cũng tương tự như vậy. Đây thực sự là ý cuối cùng tôi muốn truyền tải đến các bạn hôm nay. Các mệnh đề cũng hoạt động như một loại từ, chúng có thể là tính từ, trạng từ hoặc danh từ. Bỏ qua dấu gạch dưới và nhìn vào mục số 13. “Tôi cần một chiếc mũ cái mà nhẹ nhưng ấm41”. Lấy mệnh đề “cái mà nhẹ nhưng ấm”. Đó là một mệnh đề. Nó không thể tồn tại độc lập nhưng nó có chủ ngữ và vị ngữ, “cái mà” và “nhẹ nhưng ấm” là bổ ngữ. Chúng ta có một chủ ngữ và một vị ngữ, đó là một mệnh đề. Nhưng cả mệnh đề “cái mà nhẹ nhưng ấm” có chức năng gì? Bổ nghĩa cho từ cái mũ. Và do đó, “cái mà nhẹ nhưng ấm” được gọi là một mệnh đề tính từ, nó giống như cách nói “tôi cần một chiếc mũ nhẹ và ấm”. Chúng ta chỉ đang đưa ra một cấu trúc cho toàn bộ tính từ của chúng ta. Nhưng về cơ bản, nó vẫn chỉ đơn giản là một tính từ. Đó là một mệnh đề tính từ. Bây giờ, làm cho vui, hãy nhìn vào từ “cái mà” (that) trong câu này, “tôi cần một cái mũ cái mà”. Đây là chữ thay thế cho từ cái mũ. Vậy nó là một từ thay thế cho một danh từ và liên hệ danh từ đó với phần còn lại của mệnh đề. Vậy, từ thay thế cho danh từ hoặc đại từ chúng ta gọi là gì? Đại từ liên kết với một mệnh đề thì bạn gọi là gì? Quay lại danh từ liên kết một mệnh đề, trở lại danh từ trước đó - Đại từ quan hệ, chúng ta sẽ thảo luận vào tuần tới. “Sau khi anh ấy suy nghĩ về vấn đề, anh ấy đã xin lỗi”. Mệnh đề bạn nghĩ đến là gì? “Sau khi anh ấy suy nghĩ về vấn đề”. Nó cho bạn biết điều gì? Khi nào một hành động nào đó diễn ra, khi nào lời xin lỗi được thực hiện, nó bổ nghĩa cho việc xin lỗi, do đó, nó là một trạng từ, mệnh đề trạng từ. Toàn bộ phần “sau khi anh ấy suy nghĩ về vấn đề này” giống như một trạng từ mặc dù bản thân nó có chủ ngữ “anh ấy” và vị ngữ “suy nghĩ” v.v. “Điều anh ấy quyết định là quan trọng”. “điều anh ấy quyết định” là loại từ gì? Nó có chủ ngữ là “anh ấy”, vị ngữ là “quyết định”, nhưng toàn bộ cùng hoạt động như một chủ ngữ. Vậy, chức năng thực sự là gì? Nó kiểu như “quyết định của anh ấy là quan trọng” nhưng chúng ta diễn đạt nó bằng mệnh đề thay vì như một danh từ, và mệnh đề đó có chức năng như một danh từ. Vậy, đó là một mệnh đề danh từ. “Điều anh ấy quyết định” là một mệnh đề danh từ và trong trường hợp này nó là chủ ngữ. Trong câu tiếp theo, “Cô ấy biết điều anh ta sẽ quyết định”, “điều anh ta sẽ quyết định” - danh từ, có điều nó bây giờ là tân ngữ thay vì chủ ngữ. Bây giờ, điều cuối cùng tôi muốn bạn biết ở mục số 13 là trong mỗi trường hợp này, nếu có một mệnh đề hoạt động như một tính từ, hoặc một trạng từ, hoặc một danh từ thì cũng có một mệnh đề cơ bản là một câu thuần túy và đơn giản, nó không phải đơn thuần là câu với một tính từ, và trạng từ hoặc danh từ mà nó là ý chính yếu và nó được gọi là mệnh đề chính và đó là điều tôi đã nhấn mạnh. “Tôi cần một cái mũ”, đó là ý chính, nó có thể tồn tại độc lập như một câu hoàn chỉnh. Tôi có thể chỉ cần bước vào và nói rằng “tôi cần một cái mũ” và sau đó “cái mà nhẹ nhưng ấm” giống như một tính từ bổ sung. Hoặc “anh ấy đã xin lỗi”, đó là ý chính và sau đó “sau khi anh ấy suy nghĩ” cho bạn biết rằng khi nào nó xảy ra, giống như một trạng từ. Vậy “anh ấy đã xin lỗi” là mệnh đề chính. Câu tiếp theo: “Điều anh ấy sẽ quyết định là quan trọng”; “là quan trọng” bản thân nó không phải là mệnh đề chính vì nó không có chủ ngữ. Mệnh đề phải có chủ ngữ và vị ngữ. Thực sự bạn phải phân tích “điều” là cái mà anh ấy sẽ quyết định, và “cái anh ấy sẽ quyết định” là mệnh đề và “điều đó là quan trọng” là mệnh đề chính. Và “cô ấy biết 42” trong ví dụ cuối cùng là mệnh đề chính và phần còn lại chỉ là tân ngữ cho điều cô ấy biết. Chúng ta sẽ thảo luận về mệnh đề chính và phụ vào lần sau nhưng cơ bản chỉ để chuẩn bị cho bạn bất cứ điều gì bạn có thể hiểu được nhiều hơn một mệnh đề trong câu. Một trong số chúng sẽ là trọng tâm của câu và phần còn lại giống như một danh từ và tính từ và trạng từ đơn lẻ. Mệnh đề trọng tâm của câu là mệnh đề chính và là bản chất của việc viết hay liên quan đến việc đưa được ý chính của bạn vào mệnh đề chính. Đó là điều mà chúng ta sẽ bắt đầu thảo luận lần sau, nhưng hãy để tôi kết thúc bằng cách cho các bạn bài tập về nhà.

Bài tập về nhà hiện có trên trang ngay sau đó và nó nói rằng phân tích cú pháp các câu dưới đây, về cơ bản phân tích cú pháp có nghĩa là cho tôi biết mọi thứ cần biết về bảy câu này. Đó là tôi muốn biết về mỗi loại từ, chủ ngữ và vị ngữ của mỗi mệnh đề, có bao nhiêu cụm từ, loại cụm từ, chức năng của chúng là gì, chức năng của mệnh đề là gì, hay nói cách khác là mọi thứ chúng ta đã nói hôm nay áp dụng cho bảy câu này. Bốn câu đầu tiên trong số chúng là tôi tự viết ra, câu thứ năm từ Lincoln, câu số sáu là tóm tắt của Kant, câu số bảy là từ Atlas. Nếu bạn có thể làm được bảy câu trên, bạn có thể làm tất cả. Bạn sẽ thấy tôi áp dụng kỹ thuật về một số lý thuyết mới trong các bài tập, vì vậy, dưới câu số ba, bạn sẽ thấy một phần về đồng vị ngữ, chỉ cần bỏ qua, đó là điều tôi sẽ giải thích khi chúng ta đi đến phần đó. Về cơ bản, hãy xem qua tất cả, tìm mệnh đề chính ở bất kỳ câu nào có nhiều hơn một mệnh đề. Ở bên dưới, bạn sẽ thấy và xác định bất kỳ lỗi sai nào trong việc sử dụng các từ bổ nghĩa, đây không phải là các lỗi mà chúng ta đã thảo luận, nhưng chúng ta đã nói về các từ bổ nghĩa và trong những câu này có lỗi sai. Vậy nên, tôi chỉ muốn xem bạn có thể tự làm những gì. Có một số lỗi nghiêm trọng nào đó phạm phải trong ba câu này, vì vậy, hãy tìm hiểu ngắn gọn nếu bạn có thể tìm những lỗi sai đó. Tôi có thể cho bạn biết rằng câu hai và ba là cùng một lỗi và câu một là một lỗi khác, đừng tốn quá nhiều thời gian, chúng ta sẽ giải quyết tất cả những điều đó vào lần sau và chúng ta sẽ nói đến chủ đề rất quan trọng subordination (phụ thuộc) và coordination (phối hợp) vào lần sau. Cảm ơn bạn rất nhiều. Vâng, nếu bạn có câu hỏi quan trọng, bạn có thể hỏi ngắn gọn trước 10 giờ.

Hãy tiếp tục.

Mời bạn.

Tôi không thể nghe bạn nói.

Học viên: Những từ-được-hình-thành-từ-động-từ có phải là loại từ không?

LP: Đó không phải là loại từ mà là những từ có chức năng như một loại từ, một phân từ có chức năng như một tính từ, một danh động từ có chức năng như một danh từ, và một động từ nguyên mẫu, một danh từ, một trạng từ hoặc một tính từ. Chúng không phải là loại từ mà chúng là những từ có nguồn gốc từ động từ có thể đảm nhiệm các chức năng khác nhau. Vâng, tôi gọi chúng là “verbal”, chúng không phải là một loại từ, mà chỉ nói đến nguồn gốc của từ, loại từ là chức năng của chúng. Được chứ.

Nguồn: Reason VN

Dịch giả:
Reason Việt Nam