Chính thể đại diện - Chương 18: Về sự cai trị các nước phụ thuộc bởi một nhà nước tự do
Các Nhà nước tự do, cũng như các nhà nước khác, có thể chiếm hữu các nước phụ thuộc, giành được do chinh phục hay xâm chiếm thuộc địa; và trường hợp của chính chúng ta là một thí dụ lớn nhất về loại này trong lịch sử hiện đại. Vấn đề quan trọng nhất là những nước phụ thuộc như vậy phải được cai trị như thế nào.
Không cần phải thảo luận trường hợp các vị trí đồn trú nhỏ bé, như là Gilbraltar, Aden, hay Heligoland, là những nơi được giữ chỉ như những vị trí của hải quân hay quân đội. Mục tiêu của quân đội hay hải quân trong trường hợp này là tối thượng, và phù hợp với điều này thì các cư dân không thể được hưởng quyền cai quản địa phận; dù rằng họ nên được cho phép có tất cả các quyền tự do và các đặc quyền tương hợp được với sự hạn chế này, bao gồm cả việc điều hành tự do các công việc của thành phố tự trị; và như một sự bồi thường cho việc phải hy sinh cục bộ vì sự thuận tiện của Nhà nước cai trị, họ phải được hưởng các quyền bình đẳng với các thần dân cùng quê hương với họ, sống tại mọi địa phận khác của đế chế.
Các lãnh thổ xa xôi có kích cỡ và số dân nào đó, được duy trì như các nước phụ thuộc, nghĩa là những lãnh thổ ít nhiều bị lệ thuộc vào các hành động của quyền lực tối cao ở bộ phận của chính quốc mà không được đại diện một cách bình đẳng (nếu như được đại diện chút ít nào) tại cơ quan lập pháp của nơi đó, các lãnh thổ như thế có thể chia làm hai loại. Một số nào đó bao gồm dân chúng có nền văn minh tương tự với nền văn minh của nước cai trị, có khả năng và đã chín muồi cho chính thể đại diện: như là các lãnh thổ thuộc Anh tại châu Mỹ và châu Úc. Số khác, giống như Ấn Độ, hãy còn ở khoảng cách rất xa với tình trạng này.
Trong trường hợp của các nước phụ thuộc loại trên, đất nước này rốt cuộc đã thực hiện, hiếm khi đầy đủ, nguyên tắc đích thực của chính thể. Nước Anh đã luôn cảm thấy có nghĩa vụ ở một mức độ nhất định với những người dân ở nơi xa xôi như thế của mình, một số là những người cùng một dòng máu và cùng một ngôn ngữ giống như mình, một số khác không được như thế, tất cả đều phải có được những thiết chế đại diện, hình thành noi gương theo những thiết chế của chính nước Anh; thế nhưng cho đến thế hệ hiện nay, nước Anh vẫn còn ở mức thật tồi tệ giống như các nước khác về mức độ tự cai trị được phép thực thi thông qua các thiết chế đại diện mà nó thừa nhận cho họ được có. Nước Anh yêu sách được làm trọng tài tối cao ngay cả trong những mối liên quan thuần túy nội bộ của họ, theo những ý tưởng của chính nước Anh chứ không phải của họ, về việc những mối liên quan ấy có thể được điều chỉnh thế nào thì tốt nhất. Việc thực hành này là một hệ luận đương nhiên từ cái lý thuyết đồi bại của chính sách thực dân – một thời là chung cho toàn châu Âu, và vẫn còn chưa bị bất cứ dân chúng nào khác từ bỏ hoàn toàn – cái chính sách coi các thuộc địa như thứ có giá trị, vì là những thị trường cung cấp hàng hóa cho chúng ta, nên có thể được giữ lại hoàn toàn cho chúng ta: một đặc quyền mà chúng ta đánh giá thật cao, đến mức chúng ta cho rằng đáng phải giành lấy bằng cách cho phép các thuộc địa được có cùng độc quyền thị trường của chúng ta đối với các sản phẩm của chính họ, cái độc quyền mà chúng ta yêu sách cho các hàng hóa của chúng ta tại thị trường của họ. Cái kế hoạch đáng chú ý ấy, nhằm làm giàu cho họ và cho chính chúng ta bằng cách khiến cho mỗi bên phải trả những món tiền khổng lồ, đồng thời ném bỏ xuống dọc đường một phần to lớn nhất, đã bị từ bỏ một thời gian. Thế nhưng cái thói quen xấu xa can thiệp vào việc cai trị nội bộ của các thuộc địa đã không thể kết thúc ngay được, khi chúng ta đã từ bỏ ý tưởng kiếm lợi bằng việc này. Chúng ta tiếp tục giày vò họ, không phải vì lợi ích nào đó cho chúng ta, mà vì lợi ích của một tầng lớp hay bè phái trong bọn thực dân: và cái thói áp chế ngoan cố này khiến chúng ta chịu tổn thất vì một cuộc nổi loạn ở Canada trước lúc chúng ta đã may mắn nghĩ đến chuyện từ bỏ nó. Nước Anh giống như một người anh lớn tuổi hơn mà kém giáo dục, cứ ngoan cố áp chế những người em ít tuổi hơn chỉ đơn thuần theo thói quen, cho đến lúc một trong những người em ấy, bằng một cuộc kháng cự đầy anh dũng, dù với sức mạnh kém hơn, đã khiến cho người anh nhận ra phải chừa đi. Chúng ta đã đủ khôn ngoan để không đòi hỏi phải có một lời cảnh cáo thứ hai. Một thời đại mới trong chính sách thực dân đối với các dân tộc đã bắt đầu với bản báo cáo của Huân tước Durham; tượng đài bất tử của sự dũng cảm cao quý, của lòng ái quốc cùng tư tưởng tự do đầy khai sáng, và của trí tuệ cùng sự minh mẫn đầy thực tế thuộc về những đồng tác giả là ông Wakefield và ông Charles Buller đáng thương(*).
Hiện nay một nguyên tắc ổn định trong chính sách của nước Anh, công khai trong lý thuyết và được trung thành giữ vững trong thực hành, đó là các thuộc địa của Anh với các chủng tộc châu Âu được quyền bình đẳng cùng chính quốc trong các biện pháp đầy đủ nhất để tự cai trị các công việc đối nội của mình. Họ đã được phép tạo ra những hiến pháp đại diện tự do của riêng mình bằng cách sửa đổi lại, theo bất cứ cung cách nào họ thấy là thích hợp, những hiến pháp hiện đã rất phổ biến rồi mà chúng ta trao lại cho họ. Mỗi thuộc địa được cai trị bởi nền lập pháp và hành pháp của riêng mình, được thành lập dựa trên những nguyên tắc mang tính dân chủ cao. Quyền phủ quyết của Ngôi vua và Nghị viện [Anh], tuy vẫn được duy trì trên danh nghĩa, chỉ được thực thi (và rất hiếm khi) trong những vấn đề liên quan tới đế chế chứ không phải chỉ liên quan riêng tới một thuộc địa đặc biệt nào. Việc phân biệt giữa các vấn đề thuộc-về-đế-chế và thuộc-về-thuộc-địa đem lại một sự giải thích hào phóng như thế nào, đã được chứng tỏ bởi sự kiện, ấy là toàn thể những miền đất chưa được khai thác tại những vùng sâu của các thuộc địa châu Mỹ và châu Úc, đều đã được trao lại cho các cộng đồng thuộc địa tùy ý sử dụng không có kiểm soát; dù cho cũng không phải là bất công, nếu những miền đất ấy có nằm trong tay của Chính quyền Đế chế để quản lý vì lợi ích lớn lao nhất cho những người nhập cư đến từ khắp nơi thuộc đế chế trong tương lai. Như vậy mỗi thuộc địa đều có được quyền lực thật đầy đủ đối với các công việc của riêng họ, như họ đã có thể có được nó, nếu họ là thành viên của một liên bang lỏng lẻo nhất; và còn đầy đủ nhiều hơn [so với trường hợp] nếu giả sử quyền lực ấy thuộc về họ theo Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc, vì họ được quyền tự do đánh thuế theo ý muốn của họ ngay cả vào những hàng hóa nhập khẩu từ mẫu quốc. Liên minh của họ với nước Anh thuộc loại liên kết liên bang mong manh nhất, mẫu quốc giữ lại cho mình những quyền lực của một Chính quyền Liên bang, nhưng trên thực tế đã giảm thiểu chúng tới những giới hạn hẹp nhất. Sự bất bình đẳng này như trong hiện trạng tất nhiên là điều bất lợi cho các nước phụ thuộc, vì họ không được có tiếng nói trong chính sách đối ngoại, mà bị trói buộc theo những quyết định của chính quốc. Họ bị bắt buộc phải tham gia chiến tranh theo nước Anh, mà không hề được hỏi ý kiến trước đó trong việc lôi kéo họ vào cuộc chiến.
Những ai (may mắn là hiện nay không phải ít) cho rằng sự công bằng cũng là điều bắt buộc với các cộng đồng, giống như là bắt buộc với các cá nhân, và rằng người ta không được phép làm những điều đối với các nước khác vì lợi ích giả định cho đất nước của mình, mà những điều ấy là không biện minh được khi làm đối với những người khác vì lợi ích của riêng mình, những người đó đều cảm nhận thấy là, ngay cả chút ít lệ thuộc có giới hạn về hiến pháp ấy đối với phía các nước thuộc địa, cũng vẫn là một sự vi phạm nguyên tắc, và họ luôn bận tâm xem xét đặng tìm ra biện pháp để tránh được điều này. Với quan điểm này, một số người đã kiến nghị để các thuộc địa được bầu các đại diện vào cơ quan lập pháp của nước Anh; một số khác kiến nghị rằng các quyền lực của Nghị viện của bản thân chúng ta, cũng như của họ, phải được giới hạn trong công việc nội trị, và cần phải có một hội đồng đại diện khác nữa dành cho các mối liên quan thuộc về đối ngoại và đế chế, trong hội đồng này các nước phụ thuộc của nước Anh phải được đại diện theo cùng một cung cách và với cùng một sự đầy đủ giống như bản thân nước Anh. Trong một hệ thống như vậy hẳn sẽ có được một liên bang hoàn toàn bình đẳng giữa mẫu quốc và các nước thuộc địa, đến lúc ấy sẽ không còn các nước phụ thuộc nữa.
Những cảm nhận về tính công bằng, và những quan niệm về đạo nghĩa chung, vốn là ngọn nguồn cho những kiến nghị này, rất đáng để mọi người ca ngợi; thế nhưng chính bản thân các kiến nghị lại rất không nhất quán với các nguyên tắc hợp lý của chính thể, khiến cho khó tin được là một nhà tư tưởng biết suy luận nào đó lại cho đó là một khả năng [hiện thực], nếu nó được chấp nhận một cách nghiêm chỉnh. Các đất nước phân cách nhau cả nửa địa cầu, không có được những điều kiện tự nhiên để có thể cùng ở chung dưới một chính quyền, hay thậm chí như các thành viên của một liên bang. Giả sử họ có cùng chung những lợi ích đủ giống nhau, thì họ lại không có, và chẳng bao giờ có đủ thói quen cùng nhau bàn bạc. Họ không phải là một bộ phận của cùng một công chúng; họ không thảo luận và bàn bạc kỹ lưỡng trên cùng một vũ đài, mà riêng rẽ với nhau, và chỉ có được một sự hiểu biết rất không đầy đủ về những gì diễn ra trong đầu óc của người này đối với người kia. Họ không biết được các mục tiêu của nhau và cũng chẳng tin cậy vào những nguyên tắc xử sự của nhau. Hãy hỏi bất cứ một người Anh nào, xem anh ta có thích để cho số phận của mình phải phụ thuộc vào một hội nghị lập pháp mà một phần ba là người châu Mỹ thuộc Anh, và một phần ba khác là người ở Nam Phi và châu Úc. Vậy mà đó là cái sẽ phải đến, nếu như có một chút gì đó giống như sự đại diện công bằng và bình đẳng, và chẳng phải là mọi người sẽ cảm thấy rằng, những vị đại diện của Canada và châu Úc có thể không biết rõ hay không cảm thấy phải quan tâm đầy đủ đến những lợi ích, ý kiến và nguyện vọng của người Anh, người Ireland và người Scotland, ngay cả trong những chuyện mang tính chất của đế chế hay sao? Ngay cả chỉ đối với riêng những mục đích liên bang không thôi, cũng không tồn tại những điều kiện, mà chúng ta đã xem là thiết yếu cho một liên bang. Không có các thuộc địa thì nước Anh vẫn đủ để tự mình bảo hộ cho mình; và sẽ ở vào một vị thế còn mạnh hơn cũng như đường hoàng hơn nữa, nếu tách riêng ra khỏi các thuộc địa, còn hơn là so với vị thế khi bị quy giản thành một thành viên đơn lẻ của một liên bang Mỹ, Phi và Úc. Ngoài chuyện thương mại, là thứ mà nước Anh có thể được hưởng ngang bằng sau khi tách riêng ra, thì nước Anh cũng chẳng được lợi bao nhiêu từ các nước phụ thuộc, ngoài cái thanh thế; và chút lợi ích được hưởng đó nước Anh phải trả phí tổn quá nặng và phải dàn trải hải quân và quân đội ra, mà trong trường hợp chiến tranh hay có mối e ngại thực sự về nó, thì phải tăng lực lượng lên gấp hai hay ba lần so với lực lượng cần thiết để bảo vệ cho riêng một đất nước này thôi.
Thế nhưng, tuy nước Anh không có các thuộc địa vẫn hoàn toàn có thể tự vận hành được, và tuy dựa trên mọi nguyên tắc của đạo lý và công bằng thì nước Anh nên tán thành tách ra khỏi các thuộc địa, thời điểm đó có lúc rồi sẽ phải đến, sau khi đã thử đầy đủ hình thức liên minh tốt đẹp nhất và các nước thuộc địa đã cân nhắc kỹ lưỡng việc mong muốn được chia cắt – thì vẫn có những lý do mạnh mẽ để duy trì mối liên kết mong manh trong chừng mực nó còn chưa gây khó chịu cho cảm nhận của bất cứ bên nào. Chừng nào nó vẫn tiến triển, thì đó là bước đi hướng đến hòa bình thế giới và sự hợp tác hữu nghị chung giữa các quốc gia. Nó khiến cho chiến tranh trở thành không thể có được giữa phần đông các cộng đồng có tính độc lập về các mặt khác; hơn nữa nó còn cản trở bất cứ cộng đồng nào trong số họ khỏi bị ngoại ban thôn tính và khỏi trở thành nguồn gốc bổ sung sức mạnh thêm cho cường quốc đối địch nào đó, hoặc là chuyên chế nhiều hơn, hay ở gần hơn, mà có thể không phải lúc nào cũng không có tham vọng hay ưa chuộng hòa bình như nước Anh. Ít nhất nó cũng giữ cho thị trường của những nước khác nhau được mở cửa cho nhau và ngăn chặn việc loại trừ nhau bằng các chế độ thuế quan thù địch, là điều vẫn chưa có cộng đồng lớn nào của nhân loại chịu loại bỏ nó hoàn toàn, ngoại trừ nước Anh. Và trong trường hợp chiếm hữu của nước Anh thì có một lợi thế, đặc biệt giá trị vào thời hiện tại, của sự bổ sung thêm vào ảnh hưởng đạo đức và tầm quan trọng của các hội đồng thế giới từ một Cường quốc có sự hiểu biết tốt nhất về tự do trong số tất cả các cường quốc hiện hữu – và dù cho những lỗi lầm của nó trong quá khứ có là gì đi nữa, nó cũng đã đạt tới có lương tâm và nguyên tắc đạo đức nhiều hơn trong việc quan hệ với những người nước ngoài, hơn bất kỳ một quốc gia to lớn nào khác có vẻ khả dĩ chịu chấp nhận hay thừa nhận chuyện ấy như điều đáng mong ước. Vì thế cho nên liên minh chỉ có thể tiếp tục trên cơ sở của một liên bang bất bình đẳng, chừng nào nó quả thực còn tiếp tục, điều quan trọng là phải xem xét các biện pháp như thế nào đặng ngăn chặn cái sự bất bình đẳng nhỏ bé ấy gây phiền hà và làm nhục những cộng đồng đang còn giữ một vị thế kém cao quý hơn.
Sự yếu kém duy nhất vốn nhất thiết phải có trong trường hợp này, ấy là việc mẫu quốc quyết định về vấn đề chiến tranh và hòa bình cho cả bản thân mình lẫn cho các thuộc địa. Bù lại, các thuộc địa được mẫu quốc nhận trách nhiệm đẩy lùi những cuộc xâm lược chống lại họ: thế nhưng, trừ trường hợp cộng đồng đàn em quá yếu đến mức sự bảo hộ của một cường quốc mạnh hơn là không thể thiếu được đối với nó, nghĩa vụ ngược lại không hoàn toàn tương đương do không thừa nhận tiếng nói trong các cuộc bàn cãi. Cho nên lẽ tự nhiên là trong tất cả các cuộc chiến tranh, ngoại trừ những cuộc chiến giống như cuộc chiến ở Caffre hay ở New Zealand, là cuộc chiến phải gánh chịu vì một thuộc địa riêng biệt, thì những người dân thuộc địa không phải bị động viên (mà không có sự thỉnh cầu tự nguyện của họ) để đóng góp bất cứ chi phí nào, ngoại trừ những gì được yêu cầu vì mục đích đặc thù cho sự phòng thủ địa phương đối với các hải cảng, bờ biển và biên giới của chính họ nhằm chống lại sự xâm lấn. Hơn thế nữa, vì mẫu quốc đòi đặc quyền tự do làm theo ý mình trong việc thi hành các biện pháp hay theo đuổi một chính sách, mà khiến cho các thuộc địa có thể bị đặt vào tình thế bị tấn công, cho nên chính mẫu quốc sẽ phải cam kết chịu phần đáng kể trong chi phí quốc phòng của các thuộc địa ngay cả trong thời bình; toàn bộ chi phí trong chừng mực chi phí ấy phụ thuộc vào một quân đội thường trực.
Tuy nhiên, ở đây có một biện pháp còn hữu hiệu hơn cả những biện pháp trên, nhờ biện pháp này, và nói chung chỉ nhờ riêng biện pháp này thôi, có thể trao cho cộng đồng nhỏ bé hơn một thứ tương đương đầy đủ để đánh chìm tính cá thể của nó, như một sức mạnh trọng yếu trong các quốc gia, vào trong một tính cá thể lớn lao hơn cả một đế chế rộng lớn và hùng mạnh. Cái kế sách không thể thiếu được này, mà đồng thời lại đủ đáp ứng được những đòi hỏi của sự công bằng và nhu cầu cấp bách ngày càng tăng của chính sách, ấy là mở ngỏ cho cư dân của các Thuộc địa được thu nhận vào làm việc phục vụ Chính quyền trong tất cả các ban ngành của nó, và tại bất cứ địa phận nào của đế chế, trên quan hệ hoàn toàn bình đẳng. Tại sao xưa nay không ai nghe thấy một tiếng thì thào không trung thành nào từ các Hòn đảo trong Eo biển nước Anh? Theo sắc tộc, tôn giáo và vị trí địa lý những hòn đảo ấy thuộc về nước Anh ít hơn là nước Pháp. Thế nhưng, một khi họ được hưởng, giống như xứ New South Wales, sự kiểm soát hoàn toàn đối với các công việc nội trị và đánh thuế của họ, bất cứ lễ nghi hay chức tước nào được Ngôi vua ban tặng xuống đều rộng mở tự do cho thổ dân của vùng Guernsey hay Jersey. Các Tướng lĩnh, Đô đốc, Thượng nghị sĩ của Vương quốc Anh được tôn phong, và chẳng có gì ngăn cản phong chức thủ tướng cho những người thuộc các hòn đảo tầm thường ấy. Một hệ thống như vậy, được khởi đầu liên quan tới các Thuộc địa nói chung bởi một vị Tổng trưởng Thuộc địa đầy khai sáng. Ngài William Molesworth, dù bị thất bại quá sớm, khi Ngài bổ nhiệm ông Hinckes, một chính khách hàng đầu của Canada vào chính quyền miền Tây Ấn Độ. Đó là một quan điểm rất nông cạn của những động cơ hành động chính trị trong một nhóm người vẫn còn cho rằng, những chuyện như thế không mấy quan trọng, vì rằng số người ở vào vị thế được hưởng lợi thực sự bởi sự nhân nhượng, có thể không được nhiều lắm. Cái số người hạn chế ấy hẳn sẽ bao gồm chủ yếu những người có uy lực đạo đức nhiều nhất đối với số người còn lại: và người ta không phải là thiếu ý thức về sự làm mất danh giá tập thể, để đến nỗi không cảm thấy được sự từ chối điều lợi ngay cả cho một người cũng là sự sỉ nhục đối với mọi người, bởi vì anh ta có chung một hoàn cảnh cùng với mọi người. Nếu chúng ta ngăn cản những người lãnh đạo của một cộng đồng đứng ra trước thế giới như những vị thủ lĩnh và những đại diện trong hội đồng toàn thể của nhân loại, chúng ta mắc nợ họ cả về tham vọng chính đáng của họ cũng như về lòng tự trọng hợp lẽ của cộng đồng, để phải nhượng bộ lại cho họ có được một cơ hội ngang bằng chiếm cùng một địa vị nổi bật trong một quốc gia có sức mạnh và tầm quan trọng lớn lao.
Cho đến nay [ta bàn] về những nước phụ thuộc mà dân chúng đã ở trạng thái đủ tiên tiến để thích ứng với chính thể đại diện. Nhưng cũng còn có dân chúng ở các nước khác vẫn chưa đạt tới tình trạng ấy và những nước ấy, nếu vẫn còn duy trì được chút nào, nên được cai trị bởi một đất nước ưu trội hơn, hay bởi những người mà đất nước ưu trội phái tới vì mục đích ấy. Cái kiểu cách cai trị này cũng chính đáng như các kiểu cách khác, nếu trong trạng thái văn minh hiện tại của dân chúng lệ thuộc, nó là một kiểu cách tạo được thuận lợi nhiều nhất cho sự chuyển tiếp họ lên giai đoạn cao hơn của sự cải tiến. Như chúng ta đã thấy, có những điều kiện xã hội mà một nền chuyên chế mạnh tự thân nó là kiểu cách cai trị tốt nhất, nhằm huấn luyện cho dân chúng những gì họ còn thiếu, để họ có khả năng đạt tới nền văn minh cao hơn. Còn có những kiểu cách khác nữa, mà chỉ riêng sự kiện có nền chuyên chế thực ra lại chẳng có hiệu quả lợi ích nào, những bài học nó dạy cho đã được học quá đầy đủ rồi; nhưng trong những kiểu cách này không có căn nguyên cho sự cải tiến tự phát ở trong bản thân dân chúng, hy vọng hầu như duy nhất của họ để có được những bước tiến bộ nào đó phụ thuộc vào những cơ hội của một bạo quân tốt. Dưới nền chuyên chế bản địa thì một bạo quân tốt là sự ngẫu nhiên hiếm có và chỉ nhất thời: thế nhưng khi quyền lực thống trị họ là quyền lực của một dân chúng văn minh hơn, thì phải có khả năng cung cấp bạo quân tốt một cách thường xuyên. Đất nước thống trị phải có khả năng làm mọi điều có thể làm được cho các thần dân của mình, bằng việc kế vị thay ông vua độc đoán, bằng sức mạnh áp đảo bảo đảm chống lại tính bấp bênh của sự hưởng dụng phục vụ cho những nền chuyên chế man rợ, và nhờ những anh tài của mình nên có đủ khả năng tiên liệu mọi điều mà trải nghiệm đã dạy bảo cho quốc gia tiên tiến hơn. Đấy chính là sự cai trị lý tưởng của một nhân dân tự do đối với một dân chúng man khai hay bán khai. Chúng ta không nhất thiết phải kỳ vọng nhìn thấy lý tưởng đó được thực hiện; thế nhưng, trừ phi có một sự gần giống nào đó, các nhà cai trị sẽ phạm tội không làm tròn trách nhiệm đối với sự tin cậy tinh thần cao nhất mà một quốc gia có thể trao cho họ: và nếu họ thậm chí còn không hướng tới mục đích này, thì họ là những kẻ chiếm đoạt đầy vị kỷ, ngang hàng về tính chất trọng tội với bất cứ bọn người nào mà tham vọng và tính tham tàn của chúng đã đùa cợt với số phận của đa số nhân loại từ thời này qua thời khác.
Đã trở thành nhận định chung và đang có khuynh hướng nhanh chóng trở thành quy tắc phổ quát, ấy là thân phận của những tập hợp dân chúng lạc hậu hơn phải hoặc là bị giữ trong sự khuất phục trực tiếp bởi những tập hợp dân chúng tiên tiến hơn, hoặc là phải chịu ở dưới uy thế chính trị hoàn toàn của họ; vào thời kỳ này trên thế giới có ít vấn đề nào quan trọng hơn là vấn đề: làm sao để sự thiết lập quy tắc này tạo nên một điều tốt thay vì một điều xấu xa cho dân chúng bị lệ thuộc, để đảm bảo cho họ có được chính quyền tốt nhất hiện nay khả dĩ đạt được, và có được những điều kiện thuận lợi nhất cho sự cải tiến vững chắc trong tương lai. Thế nhưng kiểu cách chính thể thích ứng được với mục đích ấy tuyệt nhiên không phải là cái vẫn thường được hiểu như là những điều kiện của chính thể tốt trong một dân chúng có khả năng tự cai trị chính mình. Chúng ta có thể nói rằng người ta chưa hiểu nó chút nào hết.
Vấn đề có vẻ như hoàn toàn dễ dàng đối với những người quan sát thiển cận. Nếu Ấn Độ (lấy ví dụ) không thích đáng để tự mình cai trị, thì họ cho rằng tất cả những gì cần đòi hỏi ở đây chỉ là phải có một vị bộ trưởng để cai trị nước này: và cái vị bộ trưởng ấy, giống như mọi vị bộ trưởng khác của nước Anh, sẽ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện Anh. Thật không may là cái kiểu cách này gần như là thứ tồi tệ nhất, dầu là thứ đơn giản nhất trong mưu toan cai trị một nước phụ thuộc; bộc lộ ra trong những người biện hộ cho nó một sự hoàn toàn thiếu hiểu biết về những điều kiện của một chính thể tốt. Cai trị một nước trong trách nhiệm đối với nhân dân của nước đó, và cai trị một nước trong trách nhiệm đối với nhân dân của một nước khác, là hai thứ rất khác biệt nhau. Cái làm cho cách cai trị thứ nhất trở thành ưu tú, ấy là tự do được ưa chuộng hơn chuyên chế: còn cách cai trị thứ hai chính là chuyên chế. Trường hợp thừa nhận chỉ một lựa chọn thôi, thì đó là sự lựa chọn chuyên chế: và không hề chắc chắn rằng nền chuyên chế của một số ít người, hay của một người. Nhưng hoàn toàn chắc chắn rằng, nền chuyên chế của những người chưa hề nghe thấy, chưa hề nhìn thấy, cũng không hiểu biết chút nào về những thần dân của mình sẽ có nhiều khả năng là tồi tệ hơn nền chuyên chế của những người có nghe thấy, nhìn thấy và có hiểu biết họ. Người ta không thường hay cho rằng những tay chân gần gũi của nhà cầm quyền cai trị tốt hơn, vì chúng cai trị thay mặt cho ông chủ vắng mặt, và thay mặt cho cái người có hàng ngàn mối quan tâm nhiều thúc bách hơn phải lo toan. Ông chủ có thể giữ cho chúng phải chịu trách nhiệm nghiêm ngặt, thúc ép chúng bằng những hình phạt nặng nề; nhưng rất đáng ngờ vực là không biết liệu những hình phạt ấy có nhằm đúng chỗ hay không.
Việc một đất nước có thể được cai trị bởi những người nước ngoài bao giờ cũng gặp khó khăn lớn và rất không hoàn hảo; ngay cả khi không có sự quá chênh lệch trong các thói quen và quan niệm giữa người cai trị và kẻ bị trị. Những người ngoại quốc không cảm nhận được cùng với dân chúng. Họ không thể phán xét theo cái quan niệm mà sự vật xuất hiện trong tâm trí của bản thân họ, hay theo cái cung cách mà sự vật ấy tác động lên những cảm xúc của họ, [để biết được] sự vật ấy sẽ tác động thế nào lên những cảm xúc, hay xuất hiện thế nào trong tâm trí của dân chúng lệ thuộc. Điều mà một người dân bản địa có khả năng thực tiễn loại trung bình biết rõ, như theo bản năng, thì những người ngoại quốc phải rất lâu mới học được bằng cách nghiên cứu và trải nghiệm, mà nói cho cùng cũng chẳng được hoàn hảo. Những luật lệ, những tập quán, những mối quan hệ xã hội mà họ phải làm thành luật, thay vì quen thuộc với họ ngay từ thuở nhỏ, thì tất cả lại đều lạ lùng đối với họ. Họ phải phụ thuộc vào thông tin của những người bản địa để có được những hiểu biết chi tiết; và rất khó cho họ để biết được phải tin cậy vào ai. Dân chúng e ngại, nghi kỵ và có lẽ không ưa họ; hiếm khi thăm hỏi họ, trừ phi có mục đích riêng; họ thường có xu hướng cho rằng kẻ dễ phục tùng một cách hèn hạ là đáng tin cậy. Mối nguy cho họ là ở thói khinh miệt dân bản địa; mối nguy cho dân bản địa là ở sự không tin tưởng rằng bất cứ việc gì mà người xa lạ làm, lại có thể có dụng ý tốt đối với họ. Đây chỉ là một phần của những khó khăn mà bất cứ những người cai trị nào cũng phải tranh đấu, nếu họ thành thực có ý định cai trị tốt đẹp một đất nước, mà ở đó họ là những người ngoại quốc. Để vượt qua được những khó khăn này ở bất cứ mức độ nào, luôn luôn sẽ là một công việc đầy nỗ lực, đòi hỏi một tài năng rất cao ở vị đứng đầu quyền hành và tài năng trên trung bình ở những người dưới quyền, cũng như một sự tổ chức tốt nhất chính thể sao cho sẽ đảm bảo tốt nhất cho công việc, phát triển được tài năng và đặt những mẫu người tài năng cao nhất vào vị thế được tin cậy nhất. Sự gánh vác trách nhiệm đối với một nhà cầm quyền mà không từng trải qua một sự lao động, không hề có tài năng gì và phần nhiều cũng chẳng ý thức được sự cần thiết của những điều này ở bất cứ mức độ đặc thù nào, sẽ không thể được xem là phương sách rất hiệu quả để hoàn thành được những mục tiêu này.
Sự cai trị một tập hợp nhân dân bởi chính nó có một ý nghĩa và một hiện thực; thế nhưng cái thứ như là sự cai trị một tập hợp nhân dân này bởi một tập hợp nhân dân khác là không hiện hữu và không thể hiện hữu. Một nhóm nhân dân này có thể giữ một nhóm nhân dân khác như một chỗ sống của đàn thỏ, hoặc để dành cho mình sử dụng, một nơi để làm ra tiền, một trại nuôi người như súc vật để bắt làm việc kiếm lợi cho chính cư dân của nó. Nhưng nếu điều tốt cho người bị trị là công việc thực sự của một chính quyền, thì hoàn toàn không thể nào lại để cho một nhóm nhân dân [của nước cai trị] phải trực tiếp lo toan chuyện này. Cái nhiều nhất họ có thể làm là ủy nhiệm cho vài người tốt nhất nào đó của họ chăm sóc chuyện này; đối với những người này, thì dư luận của chính đất nước họ không thể là sự chỉ dẫn trong việc hoàn thành trách nhiệm của họ, cũng không phải là một phán xét có thẩm quyền về kiểu cách hoàn thành nhiệm vụ. Hãy để bất kỳ ai đó xem xét việc chính những người Anh phải được cai trị ra sao, nếu giả sử họ hiểu biết và lo toan cho công việc của mình không nhiều hơn họ hiểu biết và lo toan cho công việc của người Hindu. Ngay cả sự so sánh này cũng không đưa ra được quan niệm đầy đủ về thực trạng của trường hợp: vì một dân chúng mà vô cảm đến như thế về tất cả mọi việc chính trị, thì hẳn cũng sẽ đơn giản phục tùng theo và để mặc cho chính quyền một mình: trong khi ấy ở trường hợp Ấn Độ, một nhân dân đầy tích cực về chính trị như nhân dân Anh, trong quá trình đi đến sự đồng ý quen thuộc, rất thường hay can thiệp vào, và hầu như luôn luôn không đúng chỗ. Những nguyên nhân thực sự quyết định sự phồn vinh hay nghèo khổ, sự cải tiến hay hư hỏng xấu đi, của những người Hindu, là quá xa vời vượt ra ngoài phạm vi hiểu biết của họ. Họ không có được tri thức cần thiết để hoài nghi về sự hiện hữu của những nguyên nhân này, và còn ít hiểu biết hơn nữa để phán xét về tác động của những nguyên nhân ấy. Những lợi ích thực chất nhất của đất nước [Ấn Độ] có thể được quản lý tốt mà không cần nhận được sự tán thành nào của họ, hoặc bị quản lý tồi hết mức mà cũng chẳng khiến họ có ý kiến.
Những mục đích, khiến họ bị cám dỗ nhiều trong việc can thiệp và kiểm soát cách thức hành động của các đại biểu của họ, có hai loại. Một là muốn nhồi nhét các quan niệm kiểu Anh vào họng những người dân bản địa; thí dụ như các biện pháp bắt quy đạo, hay những hành vi xúc phạm tới những cảm xúc tôn giáo của dân chúng. Sự định hướng sai của dư luận tại nước thống trị được minh họa để làm bài học (càng phải thế bởi vì chẳng có gì có ý nghĩa ngoài công lý và sự ngay thẳng, và phải kỳ vọng có thật nhiều tính không thiên vị như có thể có ở nơi những người thực sự tin tưởng) bởi sự đòi hỏi nay đã là chung ở nước Anh, ấy là đòi phải dạy Kinh Thánh theo lựa chọn của những học trò, hay cha mẹ của chúng, tại những trường Công lập. Theo quan điểm của châu Âu thì không có phương diện nào công bằng hơn, hoặc có vẻ như ít bị phản đối hơn, bằng căn cứ của tự do tôn giáo. Trong con mắt của châu Á thì đó là chuyện hoàn toàn khác. Không một dân chúng châu Á nào xưa nay tin rằng một chính quyền lại đưa vào vận hành các viên chức được trả lương và bộ máy công quyền, trừ phi nhất quyết nhằm vào một mục tiêu; và một khi đã nhất quyết nhằm vào một mục tiêu rồi, thì không người Á châu nào tin rằng chính quyền sẽ theo đuổi nó một cách nửa vời, ngoại trừ một chính quyền nhu nhược và đáng khinh. Nếu các nhà trường Công lập và các thầy giáo dạy Ki Tô giáo, dù sự giảng dạy Ki Tô giáo có đưa ra những hứa hẹn gì đi nữa riêng chỉ cho những người tự phát tìm kiếm Ki Tô giáo, thì không có bằng chứng nào lại thuyết phục nổi các bậc cha mẹ, rằng không hề có sử dụng những biện pháp sai trái để biến các con cái họ thành tín đồ Ki Tô giáo, hoặc ít nhất cũng thành những người bị ruồng bỏ khỏi Hindu giáo. Nếu giả sử cuối cùng họ được thuyết phục tin vào điều ngược lại, thì đó cũng sẽ chỉ là một sự thất bại hoàn toàn của các nhà trường vốn được điều hành để tạo ra những người cải đạo. Nếu giả sử việc giảng dạy có được chút ít hiệu quả nào trong việc xúc tiến mục tiêu của nó, thì nó tất làm tổn thương không những tính hữu ích và ngay cả sự hiện hữu của nền giáo dục công lập, mà có lẽ còn cả sự an toàn của bản thân chính quyền nữa. Một tín đồ Tin Lành người Anh hẳn sẽ không dễ bị xúi giục từ bỏ sự quy đạo mà để cho con cái họ vào học ở một trường dòng Công giáo La Mã: những tín đồ Công giáo người Ireland sẽ không gửi con mình đến những trường học mà ở đó có thể biến con họ thành tín đồ Tin Lành: dường như chúng ta lại chờ đợi là, những tín đồ Hindu giáo, những người tin tưởng rằng các đặc ân của Hindu giáo có thể sẽ bị tước bỏ mất chỉ đơn thuần bằng một hành vi vật thể, những người đó sẽ vứt con cái họ vào mối hiểm nguy bị biến thành tín đồ Ki Tô giáo!
Đó là một trong những kiểu cách mà công luận của nước thống trị có khuynh hướng tác động có hại hơn là có lợi, lên những vị thống đốc được đất nước ủy nhiệm. Về các phương diện khác, có vẻ như sự can thiệp của công luận rất thường hay được thực thi ở nơi nó được đòi hỏi dai dẳng nhất, và được nhân danh lợi ích nào đó của những người Anh đến lập nghiệp ở thuộc địa. Những người Anh đến lập nghiệp ở thuộc địa có bạn bè ở nhà, có các cơ quan ngôn luận, có lối vào với công chúng; họ có ngôn ngữ chung và những quan niệm chung với những người ở trong nước: bất cứ lời phàn nàn nào của một người Anh cũng được lắng nghe với nhiều thiện cảm hơn, ngay cả khi không có ưu ái thiếu công bằng nào được cố ý gán cho nó. Giờ đây, nếu có một sự thực đã được trải nghiệm qua mọi thử thách, thì ấy là khi một đất nước giữ một đất nước khác trong sự lệ thuộc, lúc đó những cá nhân của dân chúng thống trị làm giàu được nhờ vào nước ngoài, sẽ là những kẻ cần phải bị giữ nhiều nhất, hơn mọi kẻ khác, ở trong sự kiềm chế mạnh mẽ nhất. Họ luôn luôn là một trong những khó khăn chủ yếu của chính quyền. Được vũ trang bởi uy danh và chất nặng tính hống hách đầy khinh miệt của quốc gia đi chinh phục, họ có những cảm nhận được kích động bởi quyền lực tuyệt đối mà không có ý thức trách nhiệm với quyền lực ấy.
Trong một tập hợp dân chúng giống như dân chúng Ấn Độ, những nỗ lực tối đa của giới công quyền là không đủ để bảo hộ hữu hiệu cho kẻ yếu chống lại kẻ mạnh; và những kẻ từ châu Âu đến lập nghiệp ở thuộc địa là mạnh nhất trong những kẻ mạnh. Ở bất cứ nơi nào mà hiệu quả phá hoại đạo đức của hoàn cảnh ở mức độ đáng kể nhất không được sửa chữa bởi tính cách riêng của cá nhân, những kẻ ấy cho rằng dân chúng của nước đó chỉ là rác rưởi dưới chân chúng mà thôi: chúng cảm thấy cái chuyện có những quyền nào đó của những người bản địa phải ngăn cản chúng trong những yêu sách nhỏ nhoi nhất, là chuyện kỳ quái đầy phi lý: cái hành vi đơn giản nhất của sự bảo hộ cho những cư dân chống lại bất cứ hành vi sức mạnh nào từ phía bọn họ, cái mà bọn họ có thể xem như hữu ích cho những mục tiêu thương mại của mình, thì bọn họ lại phản đối kịch liệt và thành thực xem đó là sự đối xử bất công. Cái tình trạng này của sự cảm nhận trong hoàn cảnh của bọn họ là thật tự nhiên, đến nỗi ngay cả sự can ngăn từ phía chính quyền cai trị từ trước tới nay cũng chẳng thể nào vĩnh viễn khiến cho cái tinh thần đó ít nhiều khỏi bùng phát ra. Chính quyền, bản thân không bị nhiễm tinh thần ấy, nhưng chưa bao giờ đủ khả năng kìm giữ được nó trong giới trẻ tuổi và còn non nớt thiếu kinh nghiệm, ngay cả trong những nhân viên dân sự và quân sự của mình, là những người mà Chính quyền có được nhiều sự kiểm soát hơn là những cư dân độc lập.
Chuyện xảy ra với người Anh ở Ấn Độ là chuyện, theo những bằng chứng đáng tin cậy, cũng xảy ra với người Pháp ở Algeria; cũng như vậy với người Mỹ tại những xứ sở chinh phục được của Mexico; có vẻ cũng như thế với những người châu Âu tại Trung Hoa, và thậm chí cũng đã từng như vậy rồi ở Nhật Bản; chẳng cần phải nhớ lại chuyện đã xảy ra thế nào với những người Tây Ban Nha ở Nam Mỹ. Trong tất cả những trường hợp ấy, chính quyền, mà những kẻ phiêu lưu cá nhân bị lệ thuộc vào, đều tốt hơn những kẻ này, và đã làm nhiều nhất những gì nó có thể làm, để bảo hộ cho những người bản địa chống lại bọn này. Ngay cả Chính quyền Tây Ban Nha cũng đã làm điều này một cách thành thực và sốt sắng, mặc dù thật không hiệu quả, như mỗi người đọc sách dạy lịch sử của ông Help đều biết rõ. Giả sử như Chính quyền Tây Ban Nha phải giải trình trực tiếp với công luận Tây Ban Nha, chúng ta có thể hỏi không biết liệu chính quyền ấy có cố thử làm hay không: vì người Tây Ban Nha chắc chắn sẽ đứng về phía những bạn bè và bà con Ki Tô giáo của họ hơn là đứng về phía những người Tà giáo. Những kẻ đến lập nghiệp ở thuộc địa, chứ không phải những người bản địa, có được tai nghe của công chúng ở nhà; chính bọn họ là những người có lời phản kháng chắc sẽ được truyền miệng đi như sự thật, bởi vì chỉ bọn họ mới có cả phương tiện lẫn động cơ để kiên trì áp đặt những lời phản kháng ấy vào đầu óc không chú ý và không quan tâm của công chúng. Sự phê phán đầy ngờ vực mà những người Anh vốn hay quen phóng chiếu lên hành vi của đất nước mình đối với những người nước ngoài, nhiều hơn bất cứ dân chúng nào khác, vẫn được họ thường xuyên duy trì đối với cung cách hành động của giới công quyền. Trong tất cả các vấn đề giữa chính quyền và một cá nhân, thì sự đoán chừng trong đầu óc mỗi người Anh đều là chính quyền sai trái. Và một khi cư dân Anh đưa những khẩu pháo của hành động chính trị kiểu Anh gí vào bất cứ bức tường thành nào được dựng lên để bảo hộ những người bản địa chống lại những xâm phạm vào họ, thì quyền lực hành pháp với những ý chí mới chớm, tuy thực lòng nhưng đầy yếu ớt, nhằm cải thiện điều gì đó cho tốt hơn, thường nhận ra rằng, để an toàn hơn cho lợi ích nghị viện của họ và khỏi bị rắc rối nhiều nhất, thì nên từ bỏ quan điểm đang còn tranh cãi hơn là bảo vệ nó.
Điều làm cho mọi chuyện trở nên xấu hơn, ấy là khi đầu óc của công chúng được cầu khẩn đến (cũng phải ghi nhận cho họ là đầu óc người Anh luôn cực kỳ mở rộng ra [cho sự cầu khẩn]) nhân danh công bằng và bác ái, thay mặt cho cộng đồng hay sắc tộc bị lệ thuộc, thì rất có khả năng họ sẽ bắn không trúng mục tiêu. Vì trong cộng đồng bị lệ thuộc thì cũng có kẻ đàn áp và người bị đàn áp; những cá nhân hay giai cấp đầy sức mạnh và những nô lệ phủ phục trước bọn chúng; và chính bọn trên kia, chứ không phải những người sau, mới là những kẻ có phương tiện thâm nhập vào được công chúng Anh. Một bạo chúa hay một kẻ dâm dục, kẻ đã bị đoạt mất quyền lực mà hắn vẫn lạm dụng, và thay vì bị trừng phạt, lại được ủng hộ thật hết sức dồi dào và huy hoàng như hắn chưa từng bao giờ được hưởng; một lũ địa chủ được đặc quyền, những kẻ đòi hỏi Nhà nước phải từ bỏ quyền dành riêng cho việc thuê lại những đất đai của chúng, hay những kẻ oán giận với bất cứ cố gắng nào nhằm bảo hộ cho đám đông khỏi bị chúng bóp nặn, cứ như là mưu toan sai trái; bọn này dễ dàng kiếm được lời biện hộ đầy vụ lợi và thật ủy mị tại Nghị viện cũng như trên báo chí nước Anh. Đám đông hàng chục ngàn người câm lặng chẳng nhận được lời biện hộ nào.
Những quan sát trên đây minh họa cho sự vận hành của một nguyên lý – hẳn đã có thể được gọi là một nguyên lý hiển nhiên, nếu như không phải chẳng mấy người có vẻ ý thức được nó – ấy là, trong khi việc gánh trách nhiệm trước người bị cai trị là sự đảm bảo lớn nhất trong mọi đảm bảo cho một chính thể tốt, thì việc gánh trách nhiệm trước một ai đó khác không những không có chiều hướng ấy, mà có vẻ như sản sinh ra cả điều xấu cũng như điều tốt. Việc gánh trách nhiệm của những người Anh cai trị Ấn Độ trước quốc gia Anh là hữu ích, chủ yếu bởi vì bất cứ hành vi nào của chính quyền cũng bị lôi ra chất vấn, điều này đảm bảo cho tính công khai và sự thảo luận; tính hữu ích của nó không đòi hỏi rằng công chúng rộng rãi phải nhận thức thấu đáo được vấn đề, mà chỉ cần có được những cá nhân nào đó trong họ làm điều này thôi; vì rằng, việc gánh trách nhiệm chỉ riêng về tinh thần, không phải chịu trách nhiệm trước tập thể dân chúng, mà trước mỗi con người riêng rẽ nào đó, sẽ tạo ra sự phán xét trong dân chúng, các ý kiến có thể được cân nhắc cũng như được tính đến, và sự tán thành hay phản đối của một người thành thạo với vấn đề có thể có nhiều giá trị hơn là hàng ngàn người chẳng hiểu biết gì hết về vấn đề. Chắc chắn đó là một sự kiềm chế hữu dụng đối với những người cai trị trực tiếp, khiến cho họ phải bị đặt vào thế phòng vệ, và một hay hai vị trong ban hội thẩm sẽ tạo nên ý kiến đáng có về sự điều hành của họ, dù cho ý kiến của số người còn lại tệ hơn nhiều so với chẳng có ý kiến gì. Tình trạng đúng là vậy, đó chính là thực chất lợi lộc cho Ấn Độ nhờ vào sự kiểm soát mà Nghị viện và nhân dân Anh thực thi đối với chính quyền tại Ấn Độ.
Không phải cứ cố cai trị trực tiếp một nước giống như Ấn Độ, mà phải trao cho nước ấy những người cai trị tốt, như thế nhân dân Anh mới có thể thực hiện được bổn phận của mình đối với đất nước này; và họ chắc là không thể trao cho nó một thứ tệ hơn là Nội các nước Anh, cái nội các chỉ suy tư về chính trị nước Anh chứ không phải chính trị Ấn Độ: nội các này hiếm khi giữ nhiệm vụ được đủ lâu dài để có được mối quan tâm đầy trí tuệ trong một vấn đề thật phức tạp; chịu tách động của những công luận mang tính bè phái nêu ra tại Nghị viện, bao gồm vài ba diễn giả ăn nói lưu loát, đóng kịch với nhiều sức thuyết phục cứ y như thật; trong khi ấy anh ta chẳng hề chịu ảnh hưởng của một sự rèn luyện hay địa vị nào, khả dĩ dẫn dắt hay chuẩn bị điều kiện cho anh ta hình thành được một quan điểm trung thực nhất của chính anh ta. Một đất nước tự do mà cố cai trị một nước phụ thuộc ở xa cách, có một dân chúng không tương đồng cư ngụ, bằng phương tiện là một nhánh hành pháp của chính mình, sẽ hầu như không thể tránh được thất bại. Cái kiểu cách duy nhất có được cơ may nào đó giành được thành công khả dĩ chấp nhận được, ấy là cai trị thông qua một hội đồng được ủy quyền có tính cách tương đối cố định; cho phép Chính quyền Nhà nước mang tính đổi thay chỉ duy nhất được có một quyền thanh tra, và một tiếng nói phủ định. Cái hội đồng như vậy đã từng tồn tại trong trường hợp Ấn Độ; và tôi e ngại rằng cả Ấn Độ và nước Anh đều sẽ phải gánh lấy hậu quả hết sức tai hại vì chính sách thiển cận, bởi do chính sách ấy mà cái công cụ trung gian này của chính quyền đã bị tống khứ đi.
Thật chẳng ích lợi gì khi nói rằng một hội đồng được ủy nhiệm như vậy không thể có được mọi thứ cần thiết cho một sự cai trị tốt; trên tất cả mọi thứ, hội đồng ấy không thể có được tính đồng nhất hoàn toàn và thường xuyên có hiệu lực về quyền lợi với người bị cai trị, thật khó mà có được tính đồng nhất ấy ngay cả tại nơi mà dân chúng bị thống trị trên một mức độ nào đó thuộc loại cần phải chăm sóc cho công việc của chính họ. Chính thể tốt đẹp thực sự không tương thích được với những điều kiện như thế. Tuy nhiên có sự lựa chọn trong những thứ không hoàn hảo. Vấn đề là xây dựng được một hội đồng cai trị, sao cho dù có những khó khăn của vị thế, nó vẫn quan tâm đến việc cai trị tốt thật nhiều và cai trị tồi tệ thật ít như có thể được. Hiện nay thì những điều kiện ấy được tìm thấy ở một hội đồng trung gian. Một chính quyền được ủy nhiệm luôn luôn có được ưu thế này hơn là một chính quyền trực tiếp, ấy là vì dẫu có thế nào đi nữa thì chính quyền được ủy nhiệm cũng không có nghĩa vụ nào phải hoàn tất, ngoài nghĩa vụ đối với những người bị cai trị. Nó không phải xem xét những lợi ích nào ngoài lợi ích của họ. Cái quyền lực của bản thân nó trục lợi từ việc cai trị sai trái có thể làm cho giảm thiểu được – trong việc thành lập Công ty Đông Ấn quyền lực này đã được giảm thiểu – tới một mức cực nhỏ: và có thể làm minh bạch sự thiên vị của bất kỳ một ai do những lợi ích cá nhân hay giai cấp.
Một khi chính quyền và Nghị viện ở chính quốc bị chao đảo bởi những ảnh hưởng thiên vị ấy trong việc thực thi quyền lực, vốn được dành cho họ như phương sách cuối cùng, thì hội đồng trung gian là người bênh vực và tranh đấu đôi chút cho nước phụ thuộc trước tòa án của đế chế. Hơn thế nữa, theo lẽ tự nhiên thì hội đồng trung gian chủ yếu bao gồm những người có tri thức chuyên nghiệp về bộ phận này của những mối liên quan với đất nước của họ; là những người đã được huấn luyện ngay tại chỗ cho công việc này và đã biến việc cai quản nước phụ thuộc thành nghề nghiệp chính trong cuộc đời họ. Được trang bị với những khả năng như thế và không phải lo mất chức do những rủi ro chính trị tại chính quốc, họ sẽ đồng nhất tính cách và sự quan tâm của mình với sự giao phó đặc biệt cho họ và họ sẽ có nhiều hơn lợi ích lâu dài trong sự thành công của sự cai trị của họ, cũng như trong sự phồn vinh của đất nước mà họ cai trị, nhiều hơn là một thành viên của Nội các theo một hiến pháp đại diện có thể có được trong việc cai trị tốt bất cứ đất nước nào, ngoại trừ đất nước mà họ phục vụ. Trong chừng mực mà sự lựa chọn của những người đang điều hành được trao tại chỗ cho hội đồng này, thì các bổ nhiệm phải được giữ ở ngoài cơn lốc chạy chức của đảng phái hay nghị viện mà không bị những động cơ này ảnh hưởng tới việc lạm dụng sự đỡ đầu, để ban phát ân thưởng cho những kẻ gắn bó trung thành, hoặc đút lót cho những người mà nếu không thế ắt sẽ là địch thủ, đối với các chính khách có sự trung thực ở mức trung bình thì những thứ này thường mạnh hơn là ý thức lương tâm về bổn phận phải bổ nhiệm những người thích đáng nhất. Đặt loại bổ nhiệm này thật xa cách nhiều nhất với cung cách gây hại là việc có hệ lụy nhiều hơn so với việc tồi tệ nhất có thể xảy ra với mọi cơ quan khác của nhà nước; vì rằng trong mỗi ban ngành khác, nếu viên chức không có trình độ, thì công luận chung của cộng đồng ở một mức độ nhất định sẽ hướng ban ngành ấy tới việc phải làm: thế nhưng ở vào địa vị của những người cầm quyền tại nước phụ thuộc, nơi mà dân chúng không thích hợp để tự mình trực tiếp kiểm soát, thì tính cách của việc cai trị hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, đạo đức và trí tuệ của cá nhân các nhân viên chức năng.
Không thể cứ nhắc đi nhắc lại mãi, rằng tại một nước như Ấn Độ mọi chuyện đều phụ thuộc vào phẩm chất và tài năng cá nhân của những thuộc hạ của chính quyền. Chân lý này là nguyên tắc cốt yếu của việc cai trị Ấn Độ. Cái ngày, mà đến lúc sẽ phải nghĩ đến việc chuyển sự bổ nhiệm các cá nhân sang theo tình trạng được tín nhiệm, từ sự bổ nhiệm theo các động cơ thuận tiện, vốn đã là việc phạm tội ở nước Anh, [nhưng] có thể thực hành ở Ấn Độ mà không hề bị trừng phạt, cái ngày ấy sẽ là khởi đầu cho sự suy tàn và sụp đổ của đế chế chúng ta tại đây. Ngay cả với ý định chân thành ưu tiên cho ứng viên tốt nhất, thì cũng không nên trông chờ vào may mắn để có được những người thích hợp. Hệ thống phải tính toán để tạo ra họ. Cho đến nay việc đó đã có làm; và nhờ có được làm mà sự thống trị của chúng ta tại Ấn Độ mới được kéo dài, và đã thành một nền thống trị có sự cải tiến ổn định, nếu chưa phải là rất nhanh chóng, trong sự phồn thịnh và quản trị tốt. Hiện nay, vừa có nhiều sự cay đắng biểu hiện ra chống lại hệ thống này, vừa có sự hăm hở phô trương ra nhằm lật đổ nó, cứ như là việc giáo dục và huấn luyện công việc cho những viên chức chính quyền đã là một việc hoàn toàn không hợp lý và không thể bảo vệ được, một sự can thiệp không thể biện bạch được vào quyền được ngu dốt và không có kinh nghiệm. Có một âm mưu ngấm ngầm giữa những kẻ thích được làm việc ở các chức vụ hàng đầu tại Ấn Độ vì có những mối quan hệ ở đó, và những kẻ đã đương ở Ấn Độ rồi, muốn đòi được thăng tiến từ xưởng nhuộm chàm hay văn phòng thầy cãi, lên quản trị tư pháp hay định mức trả tiền của hàng triệu người phải nộp cho chính quyền. Cái “độc quyền” về Dịch vụ Dân sự, bị công kích chống lại nhiều đến thế, thì cũng giống như cái độc quyền có vành móng ngựa của tòa án; và bãi bỏ độc quyền này hẳn cũng giống như mở ngỏ chiếc ghế nghị viện ở Westminster Hall cho người đến đầu tiên, để bạn bè hắn chứng thực rằng hắn thỉnh thoảng vẫn nhìn kỹ vào Blackstone(*). Giả sử như xưa nay vẫn chấp nhận cái đường lối cử người đi từ đất nước này, hay khuyến khích họ xuất ngoại, tự tiến cử mình vào những chức vụ cao mà không học làm công việc bằng cách trải qua những chức vụ thấp, thì hẳn là những chức vụ quan trọng nhất ắt đã bị quẳng cho những người anh em họ Scotland và những kẻ phiêu lưu, chẳng có cảm nhận chuyên nghiệp nào gắn kết với đất nước hay công việc, cũng không có được tri thức sơ đẳng, chỉ hăm hở kiếm tiền thật nhanh chóng rồi trở về nhà.
Sự an toàn của đất nước là ở chỗ, những người quản trị đất nước là những người được cử đi ra ngoài lúc còn trẻ chỉ như là các ứng viên, phải bắt đầu từ bậc thang cuối cùng, và bước lên cao được hay không là tùy theo sự việc họ được chứng minh là có trình độ, sau một quãng thời gian thích hợp. Khiếm khuyết của hệ thống Công ty Đông Ấn trước đây là ở chỗ, tuy rằng những người tốt nhất được tìm kiếm cẩn trọng để đưa vào những vị trí quan trọng nhất, nhưng nếu một viên chức còn ở lại chỗ làm, thì dù thăng tiến có bị trì hoãn đi nữa, cuối cùng cũng vẫn sẽ đến ở dạng này hay dạng khác, cho cả người thạo giỏi ít nhất cũng như người thạo giỏi nhiều nhất. Nên nhớ rằng theo cách nhìn và căn cứ của cấp trên, thì ngay cả người xếp hạng kém trong đoàn thể nhân viên chức năng như vậy, cũng vẫn ở trong số những người đã từng được dạy dỗ làm bổn phận của mình, và cũng đã từng thực hiện những bổn phận ấy trong nhiều năm ở vị trí thấp nhất mà không bị cách chức. Tuy chuyện này có làm giảm bớt điều xấu, nhưng dẫu sao điều xấu vẫn còn đáng kể. Một người, mà không bao giờ có thể trở thành thích hợp nhiều hơn là ở một chức trách hợp lý, thì phải ở chức vụ trợ lý suốt đời, và những người cấp dưới của anh ta phải được thăng tiến vượt qua anh ta. Với ngoại lệ này, tôi không biết tới một khiếm khuyết thực sự nào trong hệ thống cũ của những bổ nhiệm tại Ấn Độ. Hệ thống này đã nhận được một cải tiến lớn lao nhất mà nó có thể tiếp thu được, ấy là sự chọn lựa những ứng viên khởi đầu bằng một kỳ thi tuyển, sự lựa chọn này, ngoài ưu điểm lấy thêm được những người siêng năng tài giỏi bậc cao, thì còn có điểm tốt là không có mối quan hệ cá nhân nào, ngoại trừ sự tình cờ, giữa các ứng viên cho chức vụ và những người có tiếng nói trong việc phong chức cho họ.
Tuyệt nhiên không có gì là không công bằng trong sự việc, là các viên chức công được chọn lọc và huấn luyện như thế, chỉ riêng họ có đủ tư cách giữ các nhiệm vụ đòi hỏi phải có tri thức và kinh nghiệm đặc biệt về Ấn Độ. Nếu bất cứ cánh cửa nào để đi vào những chức vụ cao hơn mà không phải qua những chức vụ thấp hơn, đều được mở ra cho việc thu dụng vào dịp đặc biệt, thì ắt sẽ có sự gõ cửa liên tục bởi những người có ảnh hưởng, đến nỗi không thể nào còn đóng cửa lại được nữa. Việc bổ nhiệm vào chức vụ cao nhất trong tất cả các chức vụ phải là ngoại lệ duy nhất. Chức Phó vương Ấn Độ thuộc Anh phải là một người được chọn lọc từ tất cả những người Anh do tài năng cai trị giỏi nhất. Nếu ông ta có tài năng ấy, ông ta sẽ nhận ra được ở những người khác, và sẽ hướng về cho ông ta sử dụng, cái tri thức và óc phán đoán đặc biệt trong những công việc địa phương, là thứ mà bản thân ông ta trước đây đã không có cơ hội thu nhận được. Có những lý do xác đáng vì sao (trừ những trường hợp ngoại lệ) chức Phó vương không nên là một thành viên có chức vụ chính quy. Mọi chức vụ đều ít nhiều có những định kiến giới chức của mình, theo đó thì người cầm quyền tối cao phải được miễn trừ. Cũng chẳng có những người, dù có tài năng và kinh nghiệm đến đâu đi nữa, sống suốt đời ở châu Á, mà lại có được những quan niệm tiên tiến nhất của châu Âu về nghệ thuật chính trị tổng quát; những quan niệm ấy người cầm quyền chủ chốt phải xúc tiến cùng với ông ta, và hòa trộn với những kết quả của trải nghiệm tại Ấn Độ. Hơn nữa, là một người thuộc tầng lớp khác, và đặc biệt nếu là được một giới quyền uy khác chọn ra, ông ta hiếm khi lại có những thiên vị cá nhân nào để làm sai lệch việc ông ta bổ nhiệm các chức vụ. Sự an toàn rất lớn này cho việc phong chức trung thực nhất của cấp trên đã từng tồn tại, hiếm khi hoàn hảo, dưới chính quyền hỗn hợp của Ngôi vua và Công ty Đông Ấn. Những người phân phát tối cao các chức vụ, vị Toàn quyền và các Thống đốc, được bổ nhiệm, trên thực tế chứ không phải theo hình thức, bởi Ngôi vua, tức là bởi Chính quyền chung chứ không phải bởi một hội đồng trung gian: dường như một viên chức lớn của Ngôi vua chắc không có mối quan hệ cá nhân hay chính trị nào tại nhiệm sở địa phương: trong khi ấy hội đồng được ủy nhiệm, mà phần đông bản thân những người này đã từng phục vụ tại đất nước [Ấn Độ], đã và chắc là phải có những quan hệ như vậy.
Sự đảm bảo này cho tính vô tư có thể bị sút kém đi, nếu những nhân viên dân sự của Chính quyền, ngay dù đã được gửi ra nước ngoài từ lúc nhỏ tuổi chỉ như các ứng viên chờ tuyển dụng, rồi đây sẽ phải được cung cấp, theo một tỷ lệ đáng kể nào đó, bởi các giai tầng xã hội đã cung cấp các vị Phó vương và các Thống đốc. Ngay cả kỳ thi tuyển khởi nghiệp khi ấy cũng không còn đủ an toàn nữa. Nó hẳn sẽ loại bỏ riêng bọn ngu dốt và bất tài; nó hẳn sẽ bắt các thanh niên dòng dõi thế gia phải bắt đầu cuộc đua với cùng một mức kiến thức và tài năng như những người khác; cậu con ngu dốt nhất không thể được đưa vào công sở tại Ấn Độ giống như cậu ta có thể được đưa vào Giáo hội; nhưng ở đây chẳng có gì ngăn chặn được sự ưu ái không xứng đáng về sau này. Sẽ không còn là những người, mà vị trọng tài quyết định số phận của họ không biết đến và chưa hề nghe thấy, một bộ phận công việc hẳn sẽ mang tính cá nhân, một số nhiều hơn nữa sẽ mang tính chính trị trong mối quan hệ mật thiết với vị trọng tài ấy. Những thành viên của một số gia đình nào đó thuộc các giai tầng cao hơn và nói chung là có các mối quan hệ nhiều ảnh hưởng, sẽ thành đạt nhanh chóng hơn những người tranh đua với họ, và thường được giữ ở những vị trí mà họ không xứng đáng hoặc được đặt vào những vị trí mà những người khác xứng đáng hơn. Cũng những ảnh hưởng như thế hẳn có phát huy tác động tới những thăng tiến trong quân đội: và chỉ riêng những người tin rằng những thăng tiến ấy là vô tư, mới kỳ vọng vào tính vô tư của những thăng tiến này tại Ấn Độ, nếu giả sử ở đây có những điều huyền diệu ngây thơ như thế. Tôi e ngại rằng nó chẳng thể chữa trị được bằng biện pháp chung nào khả dĩ tiến hành được dưới hệ thống hiện nay. Không có thứ gì sẽ đem lại một mức độ an toàn khả dĩ so sánh được với cái thứ, mà một thời đã bắt nguồn một cách tự phát từ cái được gọi là chính thể kép.
Cái vẫn được xem là một ưu điểm lớn đến vậy trong trường hợp hệ thống chính thể Anh quốc ở quê nhà thì lại thành điều tai họa cho hệ thống này tại Ấn Độ – ấy là nó tự phát triển ra thế chứ không phải theo một đề cương định trước, nhưng lại bằng những thủ đoạn kế tiếp nhau và bằng sự thích nghi của bộ máy vốn khởi thủy được tạo nên nhằm mục đích khác. Vì cái đất nước nuôi dưỡng nó không phải là cái đất nước có những nhu cầu sản sinh ra nó, nên những lợi ích thực tiễn của nó đã không quay trở về với tâm trí của đất nước ấy, và có lẽ cần có những lời khuyên bảo lý thuyết để nó trở nên có thể chấp nhận được. Không may, đó lại chính là cái còn thiếu: chắc chắn những lý thuyết phổ biến về chính thể đã không cung cấp được cho nó những thứ như thế, vì những lý thuyết ấy dựng lên cho những tình trạng hoàn cảnh khác biệt với trường hợp được quan tâm về tất cả những điểm đặc trưng quan trọng nhất. Tuy nhiên, trong vấn đề chính thể, cũng như trong mọi ngành về hoạt động của loài người, hầu hết tất cả các nguyên lý đã đứng vững được lâu bền, thoạt tiên cũng đã được kiến nghị dựa trên sự quan sát trường hợp riêng nào đó, mà các định luật chung của tự nhiên vận động trong sự kết hợp mới mẻ, hay trước đây chưa được nhận ra, của nhiều tình huống. Những thiết chế của nước Anh và những thiết chế của Hợp Chúng Quốc đã có tính độc đáo trong việc kiến nghị phần lớn những lý thuyết chính thể, mà đến nay, sau khi trải qua mọi may rủi trong quá trình khái quát hóa, đang đánh thức đời sống chính trị tại các quốc gia châu Âu. Đó chính là số phận của sự cai quản Công ty Đông Ấn, đã kiến nghị được cái lý thuyết xác thực về sự cai trị một nước phụ thuộc bán khai bởi một nước văn minh, và sau khi đã làm điều đó rồi thì bị diệt vong. Hẳn đó sẽ là một vận mệnh dị thường, nếu như, sau hai hay nhiều thế hệ qua đi, mà cái kết quả có tính chất ước đoán này vẫn là cái thành quả duy nhất còn lại của uy thế nước ta tại Ấn Độ; nếu hậu thế sẽ nói về chúng ta, rằng đã tình cờ gặp được những xếp đặt tốt hơn những xếp đặt mà sự minh triết từ xưa tới nay của chúng ta đã nghĩ ra được, thì điều ích lợi đầu tiên chúng ta làm được từ lý trí được thức tỉnh, ấy là phá hủy những lý thuyết đó và cho phép bỏ đi cái tốt đang trong tiến trình thực hiện và vứt bỏ nó hoàn toàn vì sự xuẩn ngốc của những nguyên lý mà nó phụ thuộc vào. Di meliora(*): nếu cái định mệnh thật đáng thẹn cho nước Anh và cho nền văn minh có thể được ngăn chặn lại, thì việc này phải nhờ vào những khái niệm chính trị rộng rãi hơn nhiều so với sự thực hành thuần túy kiểu Anh hay kiểu châu Âu có thể cung cấp và phải nhờ vào một sự nghiên cứu kinh nghiệm Ấn Độ cùng với các điều kiện của việc cai trị Ấn Độ một cách sâu sắc hơn nhiều, so với sự nghiên cứu mà cả các chính sách nước Anh lẫn những người cung cấp ý kiến cho công chúng Anh, từ trước tới nay đã tỏ ra có mong muốn nào đó định làm.
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
