Cuộc cách mạng ngược trong khoa học - Lời giới thiệu

Cuộc cách mạng ngược trong khoa học - Lời giới thiệu

F.A. Hayek (1899-1992) được ghi nhận là học giả có những đóng góp to lớn cho nhiều chuyên ngành khoa học xã hội khác nhau như kinh tế lý thuyết, tâm lý lý thuyết, chính trị học, triết học về kinh tế chính trị, và lịch sử kinh tế. Nhưng điều đáng nể phục nhất là hầu như tất cả những đóng góp học thuật của ông đều dựa trên cùng một hệ thống phương pháp luận nhất quán do chính ông xây dựng trên nền tảng của những nhà tư tưởng tiền bối người Áo, đặc biệt là Carl Menger và Ludwig von Mises.

Cuộc cách mạng ngược trong khoa học là tác phẩm Hayek trình bày đầy đủ nhất hệ thống phương pháp luận của mình. Cuốn sách gồm ba phần, tương ứng với ba bài luận được ông đăng trên chuyên san Economica trong giai đoạn 1941-1944. Phần đầu đưa ra những khác biệt nền tảng về đối tượng và phương pháp nghiên cứu giữa lĩnh vực khoa học xã hội và lĩnh vực khoa học tự nhiên, và lý giải tại sao việc áp dụng một cách mù quáng phương pháp nghiên cứu của lĩnh vực sau vào lĩnh vực đầu – thái độ mà ông gọi là chủ nghĩa duy khoa học (scientism) – lại dẫn đến sai lầm. Phần hai là một nghiên cứu về lịch sử tư tưởng của chủ nghĩa duy khoa học. Hayek chỉ ra rằng cái nôi của sự ngạo mạn duy khoa học là Trường Đại học Bách khoa Paris; Saint-Simon là người ươm mầm các ý tưởng của chủ nghĩa này; Auguste Comte và những người theo chủ nghĩa Saint-Simon là những người phát triển và truyền bá tư tưởng. Phần ba của cuốn sách là một nghiên cứu so sánh tư tưởng của hai triết gia thế kỷ XIX, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, người Đức, và Auguste Comte, người Pháp. Ông cho rằng mặc dù hai triết gia này rất khác nhau trên phương diện triết học cũng như tuổi đời, họ lại cùng chia sẻ những quan niệm cơ bản của chủ nghĩa duy khoa học, và đó là nguyên nhân khiến cho triết lý về nhà nước toàn trị của họ tương tự nhau.

Xét trên khía cạnh đóng góp về mặt phương pháp luận thì phần I của cuốn sách đáng chú ý cũng như “khó đọc” hơn cả. Ông tổng hợp những tư tưởng của Carl Menger và Ludwig von Mises, đưa thêm ý tưởng trung tâm của ông về sự phân hữu tri thức, và trình bày các nội dung về phương pháp luận dưới dạng đối sánh giữa các điểm đặc trưng của phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực tự nhiên và các điểm đặc trưng phương pháp nghiên cứu đúng đắn. Phương pháp tiếp cận các hiện tượng xã hội mà ông đưa ra dựa trên một quan niệm rõ ràng về hiện tượng xã hội; đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội; những tiên đề để tiếp cận hiện tượng xã hội; và cách thức tiếp cận đối với các hiện tượng xã hội. Trên cơ sở đó ông đưa ra những luận đề quan trọng trong lĩnh vực phương pháp luận, trong đó đặc biết nhấn mạnh việc áp dụng mù quáng cách tiếp cận các vấn đề tự nhiên vào lĩnh vực xã hội sẽ gây ra những sai lầm nghiêm trọng như thế nào.

*

*       *

Tương tự các nhà kinh tế Áo tiền bối, đối với Hayek, hiện tượng xã hội là kết quả của các hành động có ý thức của con người, các hành động đòi hỏi người hành động phải lựa chọn giữa nhiều mục tiêu và phương tiện mà anh ta có thể tiếp cận. Khi chúng ta nói về các hiện tượng xã hội chúng ta không nói về các thuộc tính hay các mối quan hệ vật lý của các sự vật và con người, về các phản xạ hoặc quá trình vô thức của con người, và về hành động của những người mất trí. Cái mà chúng ta quan tâm là “tất cả những thứ mà mọi người biết và tin tưởng về chính mình, về người khác, và về thế giới xung quanh, tóm lại là tất cả những hiểu biết và niềm tin về tất cả những gì quyết định hành động của con người, trong đó bao gồm cả bản thân khoa học” (p. 35)[1]. Điều này có nghĩa là hành động của con người dựa trên bất kỳ niềm tin nào, dù phù hợp với khoa học hay không, chẳng hạn việc lập đàn để cầu cho mùa màng tươi tốt do tin tưởng vào phép màu của tà thuật, đều cấu thành đối tượng của nghiên cứu xã hội.

Mặc dù hiện tượng xã hội gắn liền với hành động có ý thức của con người nhưng Hayek lại cho rằng mục đích nghiên cứu của khoa học xã hội không phải là giải thích hành động có ý thức. Đấy là nhiệm vụ của tâm lý học. Mục đích của khoa học xã hội là “giải thích các kết quả không định trước hoặc không được thiết kế từ trước nảy sinh từ hành động của nhiều người” (p. 36). Theo nghĩa này, khoa học xã hội không có nhiệm vụ tìm kiếm các nguyên nhân nội tâm khiến một số người lại có hành vi ăn cắp còn một số người lại không. Tuy nhiên, nó sẽ quan tâm tới việc khám phá các thiết chế xuất hiện để duy trì được trật tự xã hội khi có người ăn cắp.

Tuy việc lý giải hành động có ý thức không phải là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực khoa học xã hội, nhưng những luận đề trong lĩnh vực tâm lý học thường lại trở thành các tiền giả định ban đầu để nghiên cứu các hiện tượng xã hội. Hayek xác lập hai tiền giả định quan trọng về nhận thức luận trong nghiên cứu về tâm lý học lý thuyết của mình: tiền giả định về việc con người có một cấu trúc tâm trí chung và tiền giả định về việc con người phân loại các hiện tượng bên ngoài theo cách riêng của mình. Đây là hai tiền giả định được Hayek nhắc đến trong cuốn Cuộc cách mạng ngược (p. 31, chú thích 8; pp. 31-32, chú thích 9) và được triển khai chi tiết trong cuốn Sensory Order [Trật tự cảm giác] (1952). Tiền giả định đầu lý giải tại sao chúng ta lại có thể giao tiếp được với nhau, có thể hiểu nhau được và có thể hình thành được những quy tắc hành xử chung, trong khi tiền giả định sau lý giải tại sao mỗi chúng ta lại có những hiểu biết khác nhau về thế giới bên ngoài, thậm chí về cùng một khách thể. Chúng là hai vế của luận đề nổi tiếng của Hayek về sự phân hữu tri thức (division of knowledge) trong xã hội, rằng các cá nhân sở hữu tri thức riêng phần khác nhau và sự tương tác tự nguyện của các cá nhân trong xã hội sẽ mang lại lượng tri thức lớn hơn bất cứ lượng tri thức mà một cá nhân nào có thể sở hữu.

Với việc xác định phạm vi đối tượng nghiên cứu và việc xác lập hai tiền giả định nền tảng về tâm lý, Hayek đã rút ra ba điểm đặc trưng của phương pháp nghiên cứu ‘đúng đắn’ (đối lập với những nét đặc trưng tương ứng của chủ nghĩa duy khoa học) về các hiện tượng xã hội trong cuốn Cuộc cách mạng ngược: (i) tiếp cận đối tượng theo chủ quan luận (đối lập với cách tiếp cận theo khách quan luận), (ii) tiếp cận đối tượng theo cá thể luận (đối lập với cách tiếp cận tập thể luận), và (iii) tiếp cận mang tính giả thuyết (hypothetical) đối với các đối tượng lịch sử (đối lập với cách tiếp cận duy sử luận).

Bởi các hiện tượng xã hội là kết quả của các hành động có ý thức của con người nên các dữ kiện mà người nghiên cứu thu thập để nắm bắt các hiện tượng xã hội phải là các quan niệm chủ quan của người hành động về thế giới xung quanh mình chứ không phải là các thuộc tính tự nhiên của các sự vật. Khi nghiên cứu cái “búa” trong khoa học xã hội, chúng ta quan tâm đến công dụng của nó theo quan điểm của người sử dụng nó chứ không phải là các thuộc tính lý hoá của nó. Ông đúc kết: “Chừng nào chúng ta còn quan tâm tới các hành động con người, thì các sự vật là những thứ mà những người đang hành động nghĩ rằng chúng là như thế” (pp. 40-41). Hơn nữa, vì chúng ta quan tâm đến quan niệm của người hành động nên chúng ta phải chấp nhận một sự thật là quan niệm của các cá nhân khác nhau về cùng một sự vật có thể khác nhau. Chính những quan niệm và suy nghĩ khác nhau của những cá nhân trong xã hội mới là thứ cấu thành đối tượng nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Để có thể nắm bắt được các hiện tượng mang tính chủ quan như thế, Hayek chỉ ra rằng nhà nghiên cứu xã hội cần phải tiếp cận bằng phương pháp nghiên cứu khoa học theo cá thể luận và phương pháp compozit. Phương pháp nghiên cứu theo cá thể luận là cách tiếp cận dựa trên quan niệm cho rằng chúng ta chỉ có thể hiểu được đúng đắn các hiện tượng xã hội thông qua việc tái dựng lại các hiện tượng đó từ các hành động độc lập của các cá nhân cũng như những thứ gắn với hành động cá nhân như niềm tin, thái độ, mong muốn, kỳ vọng v.v.. Đấy là những phần tử cơ bản mà chúng ta, những người nghiên cứu, và những người hành động trong cuộc đều hiểu được vì con người có cùng một cấu trúc tâm trí. Chúng ta tiến hành việc tái dựng các hiện tượng xã hội bằng cách tìm ra các loại động cơ, niềm tin, hay thái độ đằng sau các hành động cá nhân liên quan đến hiện tượng mà chúng ta muốn nghiên cứu, coi chúng như là dữ liệu, rồi sau đó sắp xếp những dữ liệu này theo một hệ thống mối quan hệ nhân quả nhất định để giải thích hiện tượng mà chúng ta quan tâm. Quy trình nghiên cứu này được Hayek gọi là phương pháp compozit (compositive method) hay phương pháp nhân-quả-di-truyền (causal-genetic) như các nhà kinh tế sau này gọi. Để minh hoạ, ta có thể xem ví dụ đơn giản mà Hayek đưa ra về hiện tượng hình thành những con đường mòn ở nông thôn (pp. 70-71). Việc lý giải quá trình hình thành những con đường này bắt đầu bằng việc chỉ ra hành động của các cá nhân trong việc thử nghiệm dò tìm các con đường khác nhau để đạt mục đích di chuyển từ nơi này đến nơi kia. Sự khai phá của các cá nhân tiên phong sẽ giúp cho các cá nhân đi sau có cơ hội học hỏi kinh nghiệm hoặc dấu ấn để lại từ những người đi trước. Nhờ sự học hỏi đó, một con đường hợp lý nhất dần dần được hình thành. Ta thấy, trong ví dụ này, việc giải thích đi từ nhu cầu di chuyển của các cá nhân và cách thức thực hiện để thỏa mãn nhu cầu đó. Người phân tích xâu chuỗi các kết quả tạo ra từ các hành động cá nhân với nhau theo một trình tự nhất định để giải thích con đường mòn được hình thành như thế nào. Tất nhiên, bất cứ ai cũng có thể đưa ra cách lý giải này khác về sự hình thành của con đường. Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu theo cá thể luận, và gắn với nó phương pháp compozit (hay nhân quả-di-truyền), cho phép người nghiên cứu có thể đưa ra được một bức tranh chính xác hơn về hiện tượng so với kinh nghiệm đại chúng thông thường, một bức tranh cho ta biết về nguyên nhân phát sinh và quá trình hình thành hiện tượng đó thay vì chỉ mô tả trạng thái của hiện tượng đó.

Điểm đặc trưng cuối cùng mà Hayek đưa ra trong việc tiếp cận đúng đắn các hiện tượng xã hội – nhìn nhận các thực thể lịch sử là các thực thể mang tính lý thuyết (hypothetical characteristic) hay nhân tạo – hàm ý rằng các thực thể lịch sử mà chúng ta thường nói tới không tồn tại dưới dạng vật thể để quan sát một cách tổng thể như chúng ta quan sát một cái cây hay một hòn đá. Ý niệm của chúng ta về các thực thể lịch sử phụ thuộc vào các lý thuyết hay các mô hình mà chúng ta xây dựng về chúng, tức các cấu trúc mối quan hệ nhân quả giữa các loại động cơ, niềm tin, hay thái độ ẩn đằng sau các hành động cá nhân cấu thành các thực thể này. Trong xã hội hiện đại ngày nay, các “mức giá cả”, “tiền tệ”, “chu kỳ kinh doanh”, “nền kinh tế” v.v... mà chúng ta cho là đã và đang xuất hiện đều là những thực thể kinh tế nhân tạo được các nhà khoa học tạo dựng nên một cách nhất quán từ những loại phần tử tâm trí nhất định, gắn kết bởi những nguyên lý nhất định, chứ không phải là những thứ có thể quan sát trực tiếp được. Hay nói một cách khác, không tồn tại những “tổng thể xã hội” hay “tổ chức xã hội” ngoài những mô hình hay cấu trúc lý thuyết được chúng ta tạo dựng về hệ thống các mối quan hệ bền vững giữa những phần tử cơ bản (niềm tin, thái độ, kỳ vọng, ước muốn v.v...) gắn với các hành động cá nhân mà mọi người đều biết đến.

Trong thập kỷ 1960 và 1970, F.A. Hayek đã tổng hợp và phát triển các luận điểm của mình về phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội lên một tầm cao mới. Dưới ảnh hưởng của Karl Popper, Hayek thừa nhận rằng sự khác biệt giữa nghiên cứu lý thuyết trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là không quá nhiều. Cả hai đều phải dựa vào phương pháp diễn dịch thay vì qui nạp. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc tính chủ quan của các hiện tượng xã hội và đặc tính phân hữu tri thức trong xã hội, Hayek cho rằng hiện tượng xã hội là hiện tượng phức (complex phenomena) theo nghĩa để mô tả một hiện tượng xã hội cụ thể chúng ta phải cần một số lượng vô hạn các biến số, khác với các hiện tượng tự nhiên, nơi ta có thể sử dụng một số lượng hữu hạn các biến số để mô tả[2]. Đối với các hiện tượng phức, chúng ta không thể áp dụng các thí nghiệm trong những điều kiện lý tưởng để kiểm nghiệm các lý thuyết khác nhau, qua đó tìm ra được các lý thuyết tốt hơn. Qui trình nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội phải tiến hành theo cách khác. Nhờ có cấu trúc tâm trí giống nhau, những nhà nghiên cứu xã hội khi nghiên cứu một hiện tượng nào đó có thể tự chiêm nghiệm để tìm ra các phần tử tâm trí đơn giản có liên quan mà mọi người đều quen thuộc, sau đó cẩn thận áp dụng phương pháp compozit để tìm ra các nguyên lý chi phối sự hình thành hiện tượng quan tâm từ những loại phần tử tâm trí đơn giản đó. Các nhà nghiên cứu xã hội phải chấp nhận việc hầu như không thể dùng các biện pháp thực nghiệm để phủ chứng (falsify) một lý thuyết nào đó về các hiện tượng phức[3].

*

*       *

Việc phát hiện ra bản chất của hiện tượng xã hội là hiện tượng phức, nhưng lại là hiện tượng được cấu tạo từ những phần tử tâm trí mà chúng ta có thể hiểu được vì chúng ta đều có một cấu trúc tâm trí chung, đã đưa Hayek đến những luận đề quan trọng.

Trước hết, Hayek khẳng định sự tồn tại của một hệ thống lý thuyết thuần tuý, tổng quát về các hiện tượng xã hội. Hệ thống lý thuyết này không phụ thuộc vào lịch sử. Ngay từ khi loài người có lịch sử thì cấu trúc tâm trí của con người thời đó với chúng ta bây giờ phải là giống nhau. Con người tiền sử ắt cũng có hành động có chủ đích, có niềm tin, có mong muốn, có kỳ vọng v.v... Và bởi khoa học xã hội là khoa học nghiên cứu về những hiện tượng hình thành từ các hành động có chủ đích của con người nên những lý thuyết xã hội được xây dựng một cách đúng đắn hoàn toàn có thể giải thích được những hiện tượng ở những thời điểm khác nhau miễn là sự kết hợp của những phần tử tâm trí mà lý thuyết đó mô tả xuất hiện tại thời điểm mà lý thuyết muốn giải thích. Như Hayek viết: “Nơi mà hiểu biết của chúng ta không thể vươn tới, nơi mà chúng ta không còn có thể nhận ra được các phạm trù của tư duy, rằng chúng tương tự như những phạm trù mà chúng ta dùng để suy nghĩ, thì đấy là nơi mà lịch sử không còn thuộc lịch sử nhân loại. Và chính xác tại điểm đó, và chỉ tại điểm đó, các lý thuyết tổng quát của lĩnh vực khoa học xã hội mới không còn hợp lệ nữa” (pp. 144-145). Kết luận này của Hayek đã góp phần quan trọng vào việc bác bỏ duy sử luận, thứ luận thuyết cho rằng các lý thuyết xã hội chỉ có thể đúng trong từng giai đoạn đoạn lịch sử, rằng bản thân lịch sử xã hội diễn tiến theo những quy luật nhất định từ thấp lên cao. Nó đã góp phần không nhỏ vào việc đánh đổ hệ tư tưởng của chủ nghĩa toàn trị trong thế kỷ XX.

Luận đề quan trọng tiếp theo là lý thuyết về hiện tượng xã hội cần phải hướng vào hệ thống các quy tắc hành xử (rules of conduct) trong cộng đồng. Như đã đề cập, hiện tượng xã hội được cấu thành từ các phần tử tâm trí như niềm tin, mong muốn, kỳ vọng, niềm tin v.v... của các cá nhân. Nhưng những phần tử có vai trò quan trọng trong việc tạo ra trật tự của hiện tượng xã hội lại chịu sự chi phối bởi một số lượng nhất định các quy tắc ứng xử trong xã hội. Chính những quy tắc đó mới đóng vai trò giúp cho tương tác giữa các cá nhân diễn ra theo một trật tự nhất định, giúp các cá nhân đối mặt với sự bất trắc của thế giới xung quanh do sự khiếm khuyết về tri thức mang tính bản thể của mình[4]. Chúng là tri thức xã hội cho phép các cá nhân điều chỉnh các kế hoạch hành động của mình qua các quá trình học hỏi sao cho các kế hoạch của họ trở nên ngày càng tương hợp với nhau, nhờ đó các trật tự tự phát trong xã hội được hình thành và phát triển. Trong vai trò những nhà nghiên cứu, chúng ta chỉ có thể tái dựng lại được cấu trúc có trật tự của hiện tượng xã hội bằng cách khám phá các quy tắc hành xử chi phối hành động của các cá nhân; đó cũng chính là đóng góp thực sự của các nhà nghiên cứu cho khoa học xã hội, vì rằng cá nhân bình thường hiếm khi nhận ra được mình đang bị chi phối bởi những quy tắc hành xử gì và vì thế anh ta chỉ có thể đưa ra được những quan niệm đại chúng về các hiện tượng xã hội. Hayek chính là người đã dấn thân nghiên cứu về sự tiến hoá của các hệ thống các quy tắc hành xử trong suốt cuộc đời còn lại của mình qua các tác phẩm Law, Legislation and Liberty [Luật, luật pháp, và tự do] (1973, 1976, 1979) và The Fatal Conceit: The Errors of Socialism [Sự tự phụ chết người: những sai lầm của chủ nghĩa xã hội] (1988). Trong những tác phẩm ấy, ông đã chỉ ra rằng một xã hội tự do hoàn toàn có thể vận hành trong trật tự dựa trên những quy tắc, những luật lệ minh bạch và phổ quát, được các cá nhân chọn lọc qua quá trình thử sai khi tương tác với nhau trong cuộc sống hàng ngày thay vì bị dẫn dắt và chỉ huy bởi một trí tuệ cá nhân hoặc tập thể nào đó.

Luận đề quan trọng thứ ba là, lý thuyết về hiện tượng xã hội cần phải là lý thuyết về quá trình hình thành hiện tượng (process theory). Luận đề này được rút ra từ việc phương pháp nghiên cứu đúng đắn các hiện tượng xã hội phải là phương pháp compozit hay nhân-quả-di-truyền. Trong con mắt của Hayek, mọi lý thuyết đều tước bỏ một phần sự thật, nhưng lý thuyết tĩnh về trạng thái cân bằng của xã hội lại là lý thuyết tước bỏ đi phần sự thật chính yếu nhất bởi nó loại bỏ tính nhân-quả của hiện tượng[5]. Theo phương pháp nhân-quả-di-truyền, để hiểu được hành động con người chúng ta phải xuất phát từ các mong muốn và niềm tin ẩn sau hành động. Các mong muốn và niềm tin này sẽ khiến cho con người xây dựng kế hoạch để thoả mãn các mong muốn đó, và sau đó thực hiện một loạt các hành động để hoàn thành kế hoạch đặt ra. Tương tự, để hiểu được các kết quả của thị trường, chúng ta cũng phải xuất phát từ các mong muốn và niềm tin của các cá nhân tham gia vào thị trường, xem xét sự hình thành các kế hoạch cá nhân dựa trên những niềm tin nhất quán nhằm thoả mãn các mong muốn của họ, xem xét việc các cá nhân khám phá những sai sót trong niềm tin khi việc thực thi kế hoạch không thành công, và xem xét việc họ sửa chữa lại các kế hoạch để khắc phục các sai sót[6]. Khái niệm trạng thái cân bằng động mà Hayek xây dựng có lẽ là ví dụ tiêu biểu nhất trong số những đóng góp của ông về lý thuyết quá trình hình thành hiện tượng trong lĩnh vực kinh tế. Trong bài luận “Economics and Knowledge” (1937), ông đã từ bỏ khái niệm cân bằng tĩnh tại truyền thống trong kinh tế học rằng cân bằng là một trạng thái tại đó mức cung hàng hoá và mức cầu hàng hoá ngang bằng nhau. Thay vì đó, ông mô tả cân bằng là một trạng thái tại đó các kế hoạch của các cá nhân tương hợp với nhau sao cho ước muốn của tất cả đều thoả mãn[7]. Điều này giúp ông và các nhà kinh tế sau này đưa được các yếu tố về sự truyền tải và sử dụng tri thức vào trong các mô hình lý thuyết kinh tế để mô tả thị trường như là một quá trình liên tục, tại đó các cá nhân khám phá ra các sai sót và khắc phục sai sót, sao cho các kế hoạch của mình tương hợp với kế hoạch của các cá nhân khác[8]. Trong giai đoạn sau của cuộc đời, ông tiếp tục mở rộng ý tưởng này sang việc mô tả sự tiến hoá của hệ thống các quy tắc hành xử trong xã hội, rằng xã hội tự do là xã hội tại đó các quy tắc hành xử đúng đắn hơn sẽ được các cộng đồng thử nghiệm, lựa chọn và lan truyền rộng khắp.

Luận đề quan trọng cuối cùng trong hệ thống phuơng pháp luận của Hayek mà tôi muốn đề cập ở đây là tính hạn chế của lý thuyết xã hội trong việc giải thích và dự báo các hiện tượng xã hội trong thực tế. Bởi các hiện tượng xã hội là hiện tượng phức, được kết thành từ một số lượng vô cùng lớn các mối quan hệ giữa các phần tử đơn lẻ, chúng ta không thể nào quan sát được chúng dưới dạng tổng thể. Cái mà chúng ta có thể làm là nhận biết được các loại mối quan hệ và mô tả một loại hiện tượng nào đó như là một tập hợp của một số lượng nhất định các mối quan hệ bền vững giữa các phần tử. Chúng ta cần lưu ý rằng mối quan hệ ở đây chính là quy tắc hành xử hay tri thức chung mà các cá nhân chia sẻ. Trong kinh tế học, các mức giá cả của các loại hàng hoá khan hiếm chính là một trong các loại quy tắc hành xử như vậy. Căn cứ vào các mức giá cả cũng như sự thay đổi của chúng, các cá nhân tự động điều chỉnh kế hoạch của mình để phản ánh tình trạng khan hiếm nguồn nhiên liệu, sự thay đổi công nghệ và sự thay đổi sở thích của người tiêu dùng. Một số nhà kinh tế, như Léon Walras chẳng hạn, đã sử dụng hệ thống các phương trình đồng thời để thể hiện các mối quan hệ chung giữa các mức giá cả và khối lượng hàng hoá được bán hay mua để mô tả sự vận hành của nền kinh tế. Chúng ta cần lưu ý, trong ví dụ này, hệ thống phương trình đồng thời của Walras chỉ cho chúng ta biết về mô thức các mối quan hệ kinh tế nhất định trong xã hội, nhưng nó lại không cho chúng ta biết gì về một tình trạng cụ thể của nền kinh tế bởi vì chúng ta không thể nào biết được các hệ số gắn với các biến số của các phương trình ở một thời điểm cụ thể nào đó[9]. Việc chúng ta chỉ biết được các mối quan hệ bền vững giữa các phần tử cấu thành hiện tượng phức nhưng lại không biết được các hệ số xác lập các mối quan hệ cụ thể đã dẫn Hayek đi đến kết luận rằng trong lĩnh vực nghiên cứu các hiện tượng phức, các dự báo chính xác là không thể; điều chúng ta có thể làm là “dự báo mô thức” cũng như “giải thích nguyên lý vận hành” của hiện tượng. Khi các nhà kinh tế nói rằng, giả sử các yếu tố khác giữ nguyên (ceteris paribus assumption), mức tiêu thụ một sản phẩm nào đó sẽ giảm nếu chính phủ đánh thuế tiêu thụ hàng hoá đó, thì đó là một dự báo mô thức vì họ không thể dự đoán được tiến trình sắp tới của các mức giá cụ thể trong thực tế tiếp theo sẽ như thế nào do có nhiều yếu tố tác động mà mô hình dự báo của họ không kiểm soát được. Tương tự, khi các nhà kinh tế nói về các kết cục cụ thể, chẳng hạn khi một số doanh nghiệp tham gia vào một cartel, thì đó là một giải thích nguyên lý chi phối quá trình tương tác giữa các doanh nghiệp chứ không phải là khẳng định về một tiến trình tương tác diễn ra trong thực tế giữa các doanh nghiệp. Có quá nhiều yếu tố chi phối sự hình thành của một hiện tượng thực tế mà chúng ta không biết hoặc không thể kiểm soát được khiến cho chúng ta không thể nói chắc được về điều gì diễn ra trong thực tiễn[10].

*

*       *

Hayek viết cuốn Cuộc cách mạng ngược trong khoa học trong những năm khốc liệt nhất của Thế chiến thứ II với mong muốn làm sang tỏ một sự thật hiển nhiên: sự hữu hạn bẩm sinh của tâm trí con người. Bất cứ khi nào chúng ta không chịu chấp nhận sự thật ấy, không coi đó là xuất phát điểm để định hướng tư duy và hành động của mình, chúng ta ắt sẽ phạm phải sai lầm cả trên bình diện học thuật lẫn trên bình diện thực tiễn.

Rất may là con người lại có khả năng phân hữu tri thức, nhờ đó sự khiếm khuyết của cá nhân này lại được cá nhân khác bù đắp. Đấy chính là nền tảng để hình thành các trật tự tự phát, tại đó các cá nhân, dù theo đuổi các mục tiêu cá nhân của mình, nhưng kết cục lại đem lại lợi ích cho những người khác. Trật tự đó được tạo ra từ hoạt động của con người nhưng lại không do một cá nhân nào thiết kế ra. Trật tự tự phát chính là nguyên lý để xây dựng một xã hội hiện đại vì tự do, hoà bình, và thịnh vượng.

Ông đã kiên trì xây dựng hệ thống phương pháp luận của mình trên dòng triết lý này và triển khai các luận đề chống lại xu hướng duy khoa học trong nghiên cứu xã hội, vốn bắt chước một cách mù quáng cách tiếp cận trong nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên. Về mặt lý thuyết, đóng góp của ông đã tạo ra một nền tảng vững chắc về phương pháp luận để nhánh kinh tế thể chế mới, kinh tế thông tin, kinh tế về hiện tượng phức, và lý thuyết trò chơi phát triển sau này. Những luận đề của ông cũng góp phần dẹp bỏ được ảo tưởng về sự tồn tại của một “học thuyết” khoa học xã hội nào đó để dự báo hoặc làm “kim chỉ nam” để thiết kế hay cải tạo xã hội. Chúng ta có thể xây dựng các lý thuyết về các hiện tượng xã hội, nhưng ứng dụng của chúng chỉ dừng ở mức độ giải thích nguyên lý hay dự báo mô thức, hoặc góp phần vào điều chỉnh các định chế có tính phổ quát trong xã hội theo hướng hiệu quả hơn. Về mặt thực tiễn, các phân tích của ông về sự kém hiệu quả của hệ thống kinh tế tập thể đã được khẳng định vào cuối thập kỷ XX, với sự sụp đổ gần như hoàn toàn của các nền kinh tế hoạch định tập trung, từ châu Âu cho tới châu Á. Cũng sẽ không quá bất ngờ nếu như: “hoàn toàn có thể là kinh tế học của thể kỷ XXI sẽ còn chịu ảnh hưởng của Hayek nhiều hơn kinh tế học của thế kỷ XX”[11].

 


[1] Những trích dẫn tác phẩm của Hayek trong bài giới thiệu này nhưng không ghi nguồn cụ thể đều thuộc tác phẩm Cuộc cách mạng ngược.

[2] Thực ra thì tính phức của các hiện tượng xã hội được ông đề cập nhiều lần trong cuốn Cuộc cách mạng ngược. Tuy nhiên, chúng không được trình bày một cách hệ thống như ở những bài luận trong cuốn The Studies (1967), Studies in Philosophy, Politics and Economics.

[3] Nguyên văn Hayek viết: “do vậy, tiến bộ khoa học phải tiến bước theo hai nhánh: một mặt dĩ nhiên chúng ta phải cố gắng tiến hành phủ chứng các lý thuyết của chúng ta ở mức độ cao nhất có thể, thì mặt khác chúng ta phải tiến về cái lĩnh vực nơi mà chúng ta càng đạt được tiến bộ thì chúng ta phải chấp nhận mức độ phủ chứng thấp hơn. Đây là cái giá mà chúng ta phải trả để có được tiến bộ trong lĩnh vực nghiên cứu hiện tượng phức.” (Hayek, 1967, ibid., p. 29).

[4] Hayek viết: “Các qui tắc là các dụng cụ giúp chúng ta đương đầu với sự vô minh có tính cấu tạng (constitutional ignorance) của chúng ta” (Hayek, 1976, Law, Legislation, and Liberty, Vol. 2: The Mirage of Social Justice, London: Routledge & Kegel Paul, p. 8). Hay ở một nơi khác, “Sự cần thiết phải tin vào các qui tắc trừu tượng để duy trì một trật tự tự phát là hệ quả của việc vô minh và bất trắc” (ibid., p. 127).

[5] Theo Cadwell, B. (2001), “HES Presidential Address: Hayek: Right for the Wrong Reason?”, Journal of the History of Economic Thought, 23:2, 141-151.

[6] Xem Cowan, R. (1994), ‘Causation and Genetic Causation in Economic Theory’, trong Boettke, Peter J. (ed.), The Elgar Companion to Austrian Economics, Hants, England: Edward Elgar, pp. 63-71.

[7] “Kỳ thực khái niệm cân bằng chỉ đơn thuần hàm ý rằng viễn kiến của các thành viên khác nhau trong xã hội theo một nghĩa hẹp sẽ trở nên chuẩn xác. Nó phải chuẩn xác theo nghĩa kế hoạch của từng người được xây dựng dựa trên kỳ vọng về những hành động được dự định thực hiện bởi những người khác và tất cả những kế hoạch hành động này được dựa trên kỳ vọng về cùng một tập các dữ kiện bên ngoài, sao cho dưới một số điều kiện nhất định không ai có bất kỳ lý do gì để thay đổi các kế hoạch của mình. Do vậy, viễn kiến chuẩn xác không phải là một điều kiện ban đầu, bắt buộc phải tồn tại để có khả năng xuất hiện sự cân bằng như người ta đôi khi vẫn được hiểu. Thay vì thế, nó là điểm đặc trưng cố hữu của một trạng thái cân bằng.” (Hayek, F. A. (1948 [1937]), ‘Economics and Knowledge’, trong Individualism and Economic Order, Chicago: The University of Chicago Press, 33-56, p. 42).

[8] Xem Hayek (1978), op. cit.

[9] Hayek, F. A. (1967), op. cit., pp. 22-42.

[10] Nguyên văn Hayek viết: “Trong khi chúng ta có thể giải thích được cái nguyên lý chi phối các hiện tượng nhất định và có thể từ tri thức đó loại trừ khả năng dẫn đến những kết cục nhất định, chẳng hạn các sự kiện xảy ra đồng thời nhất định, thì tri thức của chúng ta sẽ vẫn chỉ có tính loại trừ; nghĩa là nó sẽ chỉ đơn thuần cho phép chúng ta loại trừ được trước một số kết cục nào đó nhưng không cho phép chúng ta thu hẹp được vùng khả năng xảy ra các kết cục ở mức độ đủ lớn sao cho chỉ còn lại duy nhất một trường hợp.” (p. 74)

[11] Caldwell, B. (2001), op. cit.

Nguồn: Friedrich A. Hayek, Cuộc cách mạng ngược trong khoa học: Các nghiên cứu về sự lạm dụng lý tính, NXB Tri Thức, 2007