Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 2: Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 4)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 2: Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 4)

17. “VIỆC DIỄN GIẢI SỰ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI” ĐỐI LẠI “VIỆC VẠCH KẾ HOẠCH CHO SỰ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI”

Thuyết sử luận về phát triển xã hội không hề dẫn đến thuyết định mệnh lẫn tình trạng trì trệ - mà hoàn toàn ngược lại. Xu hướng “tích cực” được bộc lộ rất rõ ở hầu hết các nhà sử luận (xem mục 1). Thuyết sử luận hoàn toàn thừa nhận rằng những ước nguyện và suy nghĩ của chúng ta, những giấc mơ và suy luận của chúng ta, những lo âu và kiến thức của chúng ta, những quyền lợi và sinh lực của chúng ta, tất cả đều là những lực lượng trong sự phát triển của xã hội. Nó không răn dạy chúng ta rằng không có gì được tạo dựng; nó chỉ tiên lượng rằng cả những mơ ước lẫn những gì chúng ta tạo dựng lên bằng lí trí của mình đều vĩnh viễn không bao giờ đúng với kế hoạch. Chỉ có những kế hoạch phù hợp với dòng chảy chính của lịch sử mới là những kế hoạch hữu hiệu. Giờ đây chúng ta có thể nhìn ra một cách chính xác loại hình hoạt động mà các nhà sử luận chấp nhận là hữu lí. Tất cả các hoạt động chỉ có thể được coi là hữu lí khi chúng phù hợp với, và thúc đẩy, những biến đổi đang sắp xảy đến. Công việc của một bà đỡ xã hội là hoạt động duy nhất hoàn toàn hữu lí mà chúng ta được lãnh trách, hoạt động duy nhất có thể tiến hành dựa trên sự nhìn xa trông rộng một cách khoa học.

Mặc dù không một lí thuyết khoa học nào có thể trực tiếp cổ vũ cho hoạt động (nó chỉ có khả năng răn đe những loại hoạt động được coi là phi thực tế), nhưng lại có thể vô hình trung cổ vũ cho những ai cảm thấy mình phải làm một điều gì đó. Lời cổ vũ như vậy được thuyết sử luận sẵn sàng đưa ra. Nó thậm chí sẵn sàng gán cho ý chí con người một vai trò; bởi vì với cách lập luận khoa học, khoa học xã hội theo thuyết sử luận là thứ khoa học duy nhất có thể nói cho chúng ta biết cần phải hướng bất cứ hoạt động hữu lí nào của mình cho trùng với xu hướng của những biến đổi đang sắp xảy ra.

Tiên tri lịch sử và diễn giải lịch sử phải là nền tảng của mọi hành động xã hội thực tế và có trù tính. Do đó, diễn giải lịch sử phải là nhiệm vụ trung tâm của tư duy duy lịch sử; và trên thực tế nó đã là như vậy. Tất cả suy nghĩ và hoạt động của các nhà sử luận đều nhằm mục đích diễn giải quá khứ, để hướng tới tiên đoán tương lai.

Liệu thuyết sử luận có thể mang lại niềm hi vọng hay sự khích lệ cho những ai muốn chứng kiến một thế giới tươi đẹp hơn hay không? Chỉ có nhà sử luận mới mang lại được một niềm hi vọng như vậy mà thôi, vì người đó có một cái nhìn đầy lạc quan đối với sự phát triển của xã hội, tin rằng sự phát triển xã hội về bản chất là “tốt đẹp” hoặc “có lí tính”, hiểu theo nghĩa nó phải căn bản hướng tới một trạng thái sự việc tốt đẹp hơn, hợp lí hơn. Nhưng cách nhìn này lại có cơ dẫn đến niềm tin vào những phép mầu của xã hội và của chính trị, bởi lẽ nó phủ nhận sức mạnh của ý chí con người trong việc tạo dựng một thế giới hợp lí hơn. Thực tế cho thấy, một vài ngòi bút sử luận có sức thuyết phục đã lạc quan tiên đoán về sự ra đời một vương quốc của tự do, ở đó mọi công việc của con người được hoạch định một cách có lí tính, và rồi họ truyền dạy rằng bước quá độ từ vương quốc của tất yếu, là vương quốc trong đó nhân loại hiện đang chịu khổ nhục, sang vương quốc của tự do và lí tính không thể được tiến hành trên cơ sở lí tính mà - phi thường thay - chỉ có thể trên cơ sở của tính tất yếu thô cứng, của những định luật mù quáng và vô cảm của sự phát triển lịch sử mà họ khuyên chúng ta phải tuân theo.

Những ai muốn nhìn thấy một sự ảnh hưởng của lí tính trong đời sống xã hội chỉ có thể nhận được một lời khuyên từ thuyết sử luận rằng hãy nghiên cứu và diễn giải lịch sử nhằm phát hiện ra những định luật phát triển. Nếu việc diễn giải ấy bộc lộ những biến đổi phù hợp với ước nguyện của họ đang đến gần. thì có nghĩa ước nguyện ấy là một ước nguyện hợp lí, vì nó khớp với lời tiên đoán khoa học. Nếu chẳng may sự phát triển trước mắt đi theo một hướng khác thì lúc này ước nguyện xây dựng một thế giới hợp lí hơn sẽ biến thành một ước nguyện hoàn toàn phi lí; nhà sử luận gọi đó là một giấc mơ Không Tưởng. Thuyết hành động chỉ có thể được biện minh một khi nó hướng tới những biến đổi đang sắp xảy ra và góp phần thúc đẩy những biến đổi đó.

Như trên đã nói, thuyết sử luận cho rằng phương pháp duy tự nhiên luận dẫn đến một lí thuyết xã hội học tất định - theo đó xã hội không phát triển hay biến đổi đáng kể. Vậy mà bây giờ ta lại thấy phương pháp sử luận cũng dẫn đến một lí thuyết xã hội học tương tự đến lạ lùng - theo đó xã hội hiển nhiên phải biến đổi nhưng là biến đổi theo một lối mòn không thay đổi đã được định trước, thông qua những thời kì đã được định trước bởi tính tất yếu vô cảm.

“Một khi xã hội đã phát hiện ra cái định luật tự nhiên đang định đoạt sự vận động của bản thân nó thì nó không thể bỏ qua những giai đoạn tiến hóa tự nhiên của mình, và cũng không thể gạt bỏ chúng khỏi thế gian bằng một nét sổ. Nhưng điều sau đây thì có thể làm được nhiều: có thể giúp rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ.” Công thức do Marx đề ra này (lời tựa cuốn Tư Bản Luận) đã thể hiện một cách hoàn hảo lập trường sử luận. Mặc dù không cổ vũ thái độ thụ động cũng như không truyền bá thuyết định mệnh đích thực nhưng thuyết sử luận lại rao giảng sự phù phiếm của mọi nỗ lực chống lại những biến đổi đang sắp xảy ra, một biến thể khác thường của thuyết định mệnh, có thể nói là một thứ thuyết định mệnh của những xu thế lịch sử. Xem ra như vậy, lời tuyên bố mang tính hành động “Các triết gia xưa nay chỉ biết tìm mọi cách diễn giải thế giới, trong khi cái chính là phải cải tạo nó” (lời tuyên bố này cũng của Marx trong phần cuối mục 1 cuốn Luận cương về Feuerbach) chiếm được nhiều sự đồng cảm của các nhà sử luận (với cách hiểu “thế giới” ở đây là xã hội loài người đang phát triển) bởi nó chú trọng tới sự biến đổi. Nhưng nó lại mâu thuẫn với phần lớn các học thuyết sử luận. Bởi với những gì ta hiểu, câu nói đó có thể được trình bày lại như sau: “Nhà sử luận chỉ có thể diễn giải sự phát triển xã hội và trợ giúp cho nó bằng nhiều cách; trong khi chính anh ta lại cho rằng không ai thay đổi được nó.”

18. KẾT LUẬN CỦA PHÉP PHÂN TÍCH

Tôỉ tự cảm thấy cách trình bày trên đây của mình đã đi chệch khỏi ý đồ được thú nhận ban đầu muốn phác họa càng rõ nét và càng thuyết phục càng tốt lập trường sử luận trước khi đi vào phê phán nó.

Bởi vì với cách trình bày ấy, tôi muốn chỉ rõ rằng những giáo huấn của một số nhà sử luận về thuyết lạc quan và thuyết hành động đã bị thất bại bởi chính kiểu phân tích theo lối sử luận, có thể có cảm tưởng làm như vậy là gán cho thuyết sử luận một trách nhiệm mà nó không ý thức được, và rồi mọi người có thể phản đối rằng phê phán và nhạo báng theo lối đánh lén như vậy là không công bằng.

Tôi cho lời trách cứ đó không hợp lí. Chỉ những ai ban đầu theo thuyết lạc quan và theo thuyết hành động, rồi về sau trở thành nhà sử luận mới coi những nhận xét của tôi như những nhận xét phê phán theo nghĩa phản đối mà thôi (sẽ có rất nhiều người có cảm giác như vậy: đó là những người bị thuyết sử luận cuốn hút ban đầu chỉ vì ủng hộ những giáo huấn của nó về thuyết lạc quan và thuyết hành động). Còn với những ai nguyên là các nhà sử luận thì những nhận xét của tôi dường như không hề mang tính phê phán đối với những học thuyết sử luận của họ, mà chỉ mang tính phê phán đối với nỗ lực tìm cách liên kết những học thuyết đó với thuyết lạc quan và thuyết hành động.

Chắc chắn không phải tất cả các dạng thuyết hành động đều bị phê phán là không tương hợp với thuyết sử luận, mà chỉ có một vài dạng quá khích trong đó mà thôi. Nhà sử luận thuần túy hẳn sẽ lí luận rằng, cũng tương tự phương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên, thuyết sử luận không cổ vũ cho hành động vì nó chú trọng đến sự biến đổi, đến quá trình, đến sự vận động; tuy thế nó đương nhiên không khuyến khích một cách mù quáng mọi loại hoạt động được coi là hợp lí xét từ một quan điểm khoa học nào đó; rất nhiều hoạt động khả dĩ nhưng lại không mang tính hiện thực, và khoa học cũng có thể thấy trước sự thất bại của chúng. Nhà sử luận hẳn sẽ nói đó là lí do vì sao anh ta và những nhà sử luận khác phải đặt ra những giới hạn cho lĩnh vực hoạt động mà họ gọi là hữu ích, và vì sao việc chú trọng đến những giới hạn như vậy lại rất cần thiết đối với mọi sự phân tích rành mạch về thuyết sử luận. Và rồi anh ta có quyền dám chắc rằng hai câu nói được trích dẫn của Marx (ở mục trên) không có gì mâu thuẫn, mà là bổ sung cho nhau; mặc dù câu thứ hai (và là câu nói sớm hơn) nếu xét riêng có thể có vẻ hơi “duy hành động” quá, nhưng câu thứ nhất lại đã định ra cho nó những giới hạn thích hợp; câu thứ hai có thể hấp dẫn đối với các nhà hoạt động cấp tiến và khiến họ ủng hộ thuyết sử luận, nhưng câu thứ nhất hẳn sẽ lại dạy cho họ biết những giới hạn thích hợp của mọi hoạt động, mặc dù điều đó có thể khiến họ bớt đi thiện cảm đối với chủ thuyết này.

Tôi có cảm tưởng vì những lí do ấy mà cách trình bày của tôi không có gì là không công bằng, nó chỉ là công việc dọn quang những gì còn vướng víu đến thuyết hành động. Tương tự, tôi không nghĩ những nhận xét khác của mình ở mục trước về việc thuyết lạc quan sử luận phải đơn thương độc mã (vì lí tính bị tước mất vai trò tạo dựng một thế giới hợp lí hơn) lại bị coi là một sự phê phán chống lại thuyết sử luận. Cùng lắm nó chỉ có thể chống lại những ai vốn trước tiên là những người ủng hộ thuyết lạc quan hoặc vốn là các nhà duy lí. Còn nhà sử luận kiên định thì hẳn chỉ có thể tìm thấy ở cách phân tích này một lời cảnh báo hữu ích chống lại tính lãng mạn và không tưởng; của cả thuyết lạc quan lẫn thuyết bi quan dưới những dạng thông thường của chúng, và cả của thuyết duy lí nữa. Nhà sử luận sẽ kiên quyết khẳng định rằng thuyết sử luận khoa học phải độc lập với những thành phần như vậy; anh ta nói chúng ta đơn giản chỉ buộc phải tuân theo những định luật phát triển sẵn có, không khác gì phải tuân theo định luật hấp dẫn.

Thậm chí nhà sử luận còn có quyền đi xa hơn, có quyền bổ sung rằng thái độ hợp lí nhất cần có là phải điều chỉnh sao cho hệ thống giá trị của mình phù hợp với những biến đổi đang sắp xảy ra. Được như vậy, người ta sẽ đạt tới một thứ thuyết lạc quan được biện minh đầy đủ, vì lúc này mọi thay đổi đều tất yếu sẽ là thay đổi nhằm tiến tới cái tốt đẹp hơn xét theo hệ thống giá trị đó.

Những ý niệm kiểu ấy đã được một số nhà sử luận ủng hộ, và cũng đã được phát triển thành một lí thuyết đạo đức sử luận khá nhất quán (và khá phổ biến): đạo đức tốt đẹp là đạo đức tiến bộ, có nghĩa đạo đức tốt đẹp là thứ đạo đức đang ở phía trước, phù hợp với những chuẩn mực hành vi sẽ được chấp nhận trong giai đoạn sắp tới.

Có thể mô tả lí thuyết đạo đức theo thuyết sử luận này như một thứ “lí thuyết hiện đại về đạo đức” hay “thuyết vị lai về đạo đức” (mà bản sao của nó là chủ thuyết hiện đại hay chủ thuyết vị lai thẩm mĩ). Thuyết này hoàn toàn nhất trí với thái độ chống bảo thủ của thuyết sử luận; nó còn có thể được coi như một lời giải đáp cho một số câu hỏi về giá trị (xem mục 6 về tính khách quan và cách đánh giá). Trên hết, nó phải được xem như một chỉ báo cho thấy thuyết sử luận - một lí thuyết chỉ có thể được nghiên cứu và khảo sát một cách nghiêm túc khi xem nó như một học thuyết về phương pháp - có thể được bàn rộng và phát triển thành một hệ thống triết học hoàn chỉnh. Hay nói cách khác: dường như không có gì sai khi nói gốc rễ của phương pháp sử luận hoàn toàn có thể là một phần của cách diễn giải thế giới mang tính triết học. Bởi chắc chắn rằng, dù không đứng trên quan điểm logic mà chỉ trên quan điểm lịch sử, những vấn đề phương pháp luận thường là sản phẩm phụ của các quan điểm triết học. Tôi có ý sẽ xem xét và phân tích những triết lí của thuyết sử luận này trong một dịp khác. Trước mắt, tôi chỉ muốn phê phán các luận thuyết sử luận như vừa được mô tả ở trên mà thôi.

Khi viết những dòng này thì cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” cũng đồng thời được xuất bản (London 1945; tái bản có sửa chữa, Princeton 1950, London 1952,1957; tái bản lần thứ ba, London 1961). Ở đây, tôi đặc biệt có ý ám chỉ Chương 22 mang tựa đề “Lí thuyết Đạo đức của thuyết sử luận” của cuốn sách đó

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.