Đạo đức của sự tự do
Quyền Tự do và phong trào Khai Sáng
Hôm nay, tôi muốn nói về sự trỗi dậy và sự suy tàn của quyền tự do, quyền tự do với tư cách một học thuyết triết học, một mục tiêu triết học, và về cơ bản, sự trỗi dậy của quyền tự do bắt đầu từ thời kỳ Khai Sáng, nói về những lập luận về quyền tự do và rồi tại sao, sau thời kỳ Khai Sáng, quyền tự do trở thành một mục tiêu thực sự thất bại, và nó là...đây là một lý tưởng, một lý tưởng chính trị, một lý tưởng đạo đức bị loại bỏ và bị công kích vào thế kỷ 19. Đây là một đoạn giới thiệu ngắn về sự trỗi dậy và suy tàn của quyền tự do từ góc độ triết học. Có nhiều góc nhìn khác nữa mà các bạn có thể thực hiện, bạn có thể xem xét từ góc nhìn lịch sử, từ góc nhìn khoa học, kinh tế và kinh tế chính trị, như nó đã được mô tả trong thế kỷ 18 và 19. Ở đây, chúng ta sẽ đề cập đến quyền tự do, trọng tâm tập trung vào các trường hợp trong triết học và sau đó là các lập luận chống lại quyền tự do.
Và tôi muốn bắt đầu bằng một câu hỏi, câu hỏi mà nhiều người nghĩ rằng họ biết câu trả lời và câu hỏi đó là: Có phải tất cả mọi người đều khao khát quyền tự do không? Có lẽ đúng khi nói về một người nào đó rằng nếu anh ta hiểu được giá trị của quyền tự do, anh ta có thể sống tốt hơn trong một hệ thống tự do, sự tự do của anh ta được chính phủ bảo vệ, khi anh ta hiểu giá trị của sự tự do; nhưng đó là một quan điểm khác với việc nói rằng mọi người theo bản năng đều khao khát tự do, tôi nghĩ điều này không đúng. Và nếu bạn nhận ra rằng nó không đúng, thì đây là một vấn đề thú vị và đáng suy ngẫm. Vâng, có những giai đoạn mà bạn có thể nói rằng phần lớn hoặc đông đảo cộng đồng người thực sự khao khát quyền tự do. Họ nỗ lực để đạt được điều đó. Đó là điều mà họ tìm kiếm như một mục tiêu thực sự và rồi tìm kiếm các phương tiện để thực hiện và thiết lập tự do ở đất nước hoặc quốc gia của mình. Và theo tôi, có những thời kỳ như vậy, và thời kỳ đáng chú ý nhất, khi mà quyền tự do trở thành lý tưởng chính trị thống trị và là mục tiêu chủ đạo mà những người lãnh đạo, đặc biệt là các nhà tư tưởng hàng đầu và các nhà triết học tiên phong ở thời kỳ này đã đấu tranh và ủng hộ, đó chính là thời kỳ Khai Sáng.
Thật chính xác khi nói về thời kỳ Khai Sáng, ít nhất là đối với các nhà tư tưởng tiên phong và những nhà lãnh đạo ở các quốc gia này, trong thời gian đó, điều họ tìm kiếm là quyền tự do, điều họ tìm kiếm là sự tự do. Và tôi muốn giải thích một chút tại sao lại là “quyền tự do” (liberty) và “sự tự do” (freedom) - tôi sử dụng những thuật ngữ này như những từ đồng nghĩa, tại sao “tự do” trở thành một lý tưởng chính trị và là một mục tiêu trong thời kỳ Khai Sáng? Và để trả lời câu hỏi này, tôi nghĩ điều bạn cần phải hỏi là: “Vậy, ‘tự do’ theo họ có nghĩa là gì?”. Tự do có nghĩa là không có chướng ngại, không có sự cản trở, xiềng xích, và không có thứ gì đó trói buộc, kìm hãm bạn. Tự do là được giải thoát khỏi một điều gì đó. Vì vậy, khi chúng ta nói về tự do, ở thời kỳ Khai Sáng, người ta ủng hộ sự tự do và tự do chính trị, thì câu hỏi bạn phải thắc mắc là: Họ muốn được giải thoát khỏi điều gì? Họ đang tìm cách loại bỏ chướng ngại hay cản trở nào để giải thoát bản thân? Và tôi nghĩ lời giải đáp cho câu hỏi trên, từ góc nhìn triết học, câu trả lời cơ bản cho câu hỏi “Họ đang tìm cách thoát khỏi cái gì?” là: họ đang tìm cách thoát khỏi “quyền lực” (authority) và “sự tuân theo” (obedience), và bạn có thể đặt chúng cạnh nhau, họ đang tìm cách thoát khỏi “sự tuân theo quyền lực”. Và điều này theo nghĩa bao quát hơn thì bạn có thể nói đến quyền lực về mặt chính trị, nhưng nó cũng bao gồm quyền lực về mặt đạo đức và triết học. Họ muốn được tự do để không phải tuân theo những điều này. Vậy, tôi nghĩ, cách dễ nhất để hiểu được quan điểm này là: họ muốn được giải phóng khỏi nhà vua, bạn có thể xem vua như một đại diện của quyền lực chính trị, và toàn bộ hình ảnh về một vị vua; dân chúng, thần dân quỳ gối trước nhà vua, bạn không thể chất vấn ông ta, bạn không tranh luận với ông ta, bạn phải tuân lệnh, đó là ‘sự tuân theo’ theo nghĩa chính trị đối với nhà vua. Và bạn cũng có thể nói về Giáo hoàng, một lần nữa, đó là sự tuân theo Giáo hoàng, ông ta được cho là không thể sai lầm, ông ta là người có thẩm quyền về các vấn đề khoa học, ví dụ như vấn đề về bản chất của hệ mặt trời - “trái đất là trung tâm của hệ mặt trời”. Lời nói của ông ta có sức ảnh hưởng bởi vì ông ta được cho là không thể sai lầm, ông ta là người trực tiếp nói chuyện với Đấng tối cao, ông ta không bị nghi ngờ, và ông ta là người có thẩm quyền đạo đức, điều ông ta nói về cái đúng cái sai đều sẽ được chấp nhận mà không có nghi ngờ. Đó là sự tuân theo, nghĩa là vâng lời không cần thắc mắc hay tuân theo một cách mù quáng. Và đây là điều mà phong trào Khai Sáng nổi dậy phản đối, họ nổi dậy chống lại toàn bộ khái niệm cho rằng cuộc sống là sự tuân theo quyền lực, tuân theo nhà vua hoặc giáo hoàng.
Bản chất của phong trào Khai Sáng
Vậy, nếu bạn biết khái niệm về phong trào Khai Sáng vào thời kỳ này, họ nghĩ gì về sự tự do, thì bạn cần phải hiểu họ nổi dậy chống lại điều gì. Họ muốn thoát khỏi quyền lực và sự tuân theo quyền lực. Và nếu bạn hiểu rằng thực chất điều đó chính là “tinh thần”, khi chúng ta nhìn về mặt đạo đức chính trị ở thời kỳ Khai Sáng, thì đây là tinh thần tiến bộ trong thời kỳ này. Tôi nghĩ, các bạn đã có thể hiểu được ý kiến tại sao không đúng khi nói rằng bất kỳ ai tại bất kỳ thời điểm nào đều khao khát tự do, rằng con người bẩm sinh hoặc sẵn có loại mong muốn này. Bởi vì điều đó có nghĩa là họ mong muốn được thoát khỏi quyền lực và thoát khỏi sự tuân theo; nhưng nó không chỉ không đúng về mặt lịch sử, và tôi muốn nói, nếu các bạn nhìn xung quanh rất nhiều người ngày nay, thì điều đó cũng không đúng với họ. Nhiều người còn muốn có các nhà cầm quyền trong cuộc sống của mình và họ tự hỏi: “Làm thế nào bạn có thể hành động ngay cả khi không có quyền lực nào đó nói cho bạn biết phải làm gì, bạn sẽ phải tuân theo một quyền lực nào đó chứ?”
Ví dụ, nếu bạn nghĩ về nước Mỹ, cụ thể là trong thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, nó đã thu hút một lượng lớn người nhập cư từ khắp nơi trên thế giới, thuộc mọi tầng lớp, người giàu và người nghèo, những người nói tiếng Anh và không nói tiếng Anh, hàng trăm ngàn, hàng triệu người đã đến Mỹ. Và nếu bạn hỏi: “Tại sao họ lại đến Mỹ?”, hẳn nhiên, đúng là nhiều người đến để tìm kiếm nền kinh tế thịnh vượng, vì họ gặp khó khăn về kinh tế ở quốc gia nơi họ được sinh ra, nên họ muốn tìm kiếm một cuộc sống có kinh tế tốt hơn, và họ đã đến Mỹ. Nhưng đó không phải là lý do duy nhất mà mọi người đến Mỹ. Có rất nhiều người nhập cư giỏi giang, và nước Mỹ đã thu hút người giàu, người nghèo và cả tầng lớp trung lưu, từ mọi mức thu nhập và hoàn cảnh kinh tế. Người ta muốn đến Mỹ; họ muốn đến vì sự tự do. Và đối với họ, khái niệm đó không chỉ có ý nghĩa là tự do kinh tế, mà còn có nghĩa là họ được giải thoát khỏi sự giáo hóa của chính mình, nhiều nơi trên thế giới rất độc tài. Ví dụ, xuất thân của tôi một phần là người Ấn Độ, nhiều người từ Ấn Độ đã nhập cư vào Mỹ, Canada, Bắc Mỹ, họ tìm cách thoát khỏi sự giáo hóa của mình. Và nếu bạn biết đôi chút về sự giáo hóa truyền thống của Ấn Độ, mà điều này cũng đúng với hầu hết các nền giáo hóa truyền thống trước thời kì Khai Sáng. Ở đó, các bạn phải có đủ mọi kiểu tôn kính, đối với nam giới hay với cha của bạn, hay với những người lớn tuổi trong thị trấn, có một khuôn khổ bao la về các kiểu thứ bậc, quyền lực, ai được cho là phải tuân theo và vâng lời ai, và một lần nữa điều này được cho là hiển nhiên, thực sự “chỉ cần làm theo lời của họ”. Và nhiều sự giáo hóa có kiểu cấu trúc độc tài như vậy, mà nước Mỹ, nói một cách tương đối là không có. Người ta đến Mỹ vì họ muốn thoát khỏi việc bị các quyền lực giáo hóa như vậy điều khiển. Chẳng hạn như, tôi là “sản phẩm” của một cuộc hôn nhân hỗn hợp, một sự pha trộn các chủng tộc. Trong nhiều nền văn hóa truyền thống, đây là điều cấm kỵ, bạn không được làm điều này. Và nếu bạn thắc mắc: “Ồ, tại sao tôi không được làm điều này? Tại sao lại sai?” thì bạn không nhận được câu trả lời thực sự, câu trả lời sẽ là: “À, vì chúng tôi nói điều đó là sai”. Đó là chủ nghĩa độc tài, và người ta phải tuân theo nó. Mọi người đến và nhập cư vào Mỹ để thoát khỏi kiểu cấu trúc độc tài như vậy. Nhưng nhiều người vẫn ở lại. Và đây là vấn đề, nhiều người ở lại bởi vì điều họ muốn trong cuộc sống là kiểu tuân theo này, và họ sẽ thắc mắc: “Ồ, nếu một ai đó không nói cho bạn biết phải làm gì, thì bạn nên nghĩ gì và không nên nghĩ gì, cái gì đúng và cái gì sai, và rồi bạn nên sống cuộc đời của mình như thế nào? Nếu ai đó không nói cho bạn biết bạn phải hành động như thế nào thì bạn sẽ lạc lối, thế giới sẽ hỗn loạn”. Và bức tranh những kẻ độc tài vẽ ra về thế giới vắng bóng nhà cầm quyền: Nó sẽ chỉ trở nên hỗn loạn, mọi người sẽ không biết phải làm gì, trật tự sẽ bị phá vỡ. Và phong trào Khai Sáng phản đối kiểu quan điểm như vậy, cho rằng, không có nhà cầm quyền thì bạn sẽ không biết cách hành động và thế giới sẽ trở nên hỗn loạn, phân rã, những tin tức tồi tệ không chỉ về mặt kinh tế, mà còn càng lan rộng nhiều hơn, cả phương diện văn hóa nữa. Phong trào Khai Sáng đã đưa ra quan điểm rằng nếu bạn không hành động theo nhà cầm quyền, không vâng lời và tuân theo quyền lực trong các vấn đề về đúng sai, về khoa học, về sự thật và không tuân theo quyền lực về lẽ phải và sự sai trái, về đạo đức, về luân lý, “bạn phải hành động như thế nào, nếu không tuân theo quyền lực?”, và phong trào Khai Sáng cũng đã có lời giải đáp rõ ràng cho câu hỏi này. Và cách để nắm bắt được câu trả lời của vấn đề như vậy là đặt câu hỏi...ai...nếu các bạn xem qua các nhà tư tưởng và các nhà lãnh đạo khác nhau trong phong trào Khai Sáng, thì ai là người được hầu hết mọi người ngưỡng mộ như một người hùng, người mà bạn có thể nói đó thực sự là người hùng thuộc phong trào Khai Sáng? Và có một nhân vật được mọi người ngưỡng mộ, và không ai không ngưỡng mộ những thành tựu của ông, người đó là Isaac Newton, người được ủng hộ như thể đây là hình mẫu vĩ đại của con người. Ông là hình mẫu về một người không tuân theo quyền lực. Những gì ông đạt được trong lĩnh vực khoa học, mang đến cho chúng ta sự hiểu biết về bản chất của ánh sáng, bản chất của sự chuyển động, tạo ra một tập hợp dữ kiện lớn, phi thường về sự chuyển động, kiểu chuyển động dường như hỗn nguyên và không dễ để có thể hiểu được. Ánh sáng, tất nhiên được xem như một loại bí ẩn nào đó. Ông ấy đã mang lại sự hiểu biết, một sự soi sáng thực sự, và đây là lý do tại sao gọi là phong trào Khai Sáng, người ta dùng hình ảnh ẩn dụ về ánh sáng, và người ta nói về việc Newton mang ánh sáng đến cho những nơi trước đây là bóng tối, nơi mà trước đây chúng ta sống trong sự không hiểu biết, không có tri thức - một lượng tri thức khổng lồ. Và ông đã làm điều đó không phải bằng cách tuân lệnh nhà vua, không phải bằng cách nghe theo giáo hoàng, không phải bằng cách coi một số người nào đó là những nhà cầm quyền mà người ta đã mù quáng tuân theo. Ông đã thực hiện điều đó bằng cách làm theo lý trí của chính mình, trí tuệ logic của riêng mình, tuân theo minh chứng, những minh chứng cho việc ông hình thành nên các kết luận, các nguyên tắc tổng quát, và một hệ thống vật lý sâu rộng. Và ông được xem như một người hùng chính vì điều này. Vậy nên, nếu bạn nghĩ đến những người hùng trong thế giới của chúng ta ngày nay, thường là người nào đó kiểu một nhân vật thể thao như Michael Jordan4 , thì trong thời kỳ Khai Sáng, bạn cũng có thể kể đến những người hùng của họ, và người hùng lỗi lạc nhất là một nhà khoa học, người được xem là hình mẫu của lý trí. Như vậy, để chống lại việc hành động theo quyền lực hoặc sự tuân theo, phong trào Khai Sáng đã đưa ra một quan điểm tích cực thay thế, một lý tưởng tích cực được vận hành bởi lý trí. Và điều này rất quan trọng để hiểu được tại sao tự do trở thành lý tưởng chính trị và là mục tiêu đạo đức trong thời kỳ Khai Sáng.
Sự áp bức và lý trí
Tôi nói một chút về Newton, được biết đến như một người hùng trong thời kỳ Khai Sáng. Hai ví dụ khác mà tôi nghĩ cũng rất quan trọng đáng để suy ngẫm và nắm bắt được tinh thần của các thời đại. Newton được xem như một hình mẫu vĩ đại, một tấm gương vĩ đại về một người hành động theo lý trí. Nhưng tôi đã đề cập đến vấn đề lý trí so với quyền lực, hoặc bạn có thể nói theo nghĩa chính trị là sự tự do đối lập với quyền lực, quyền tự do đối lập với quyền lực. Nếu bạn nghĩ đến những ví dụ mà người ta đã sử dụng trong thời gian này, và thực tế là hình ảnh mà họ sử dụng để đề cập đến sự xung đột giữa lý trí và quyền lực, hoặc quyền tự do và quyền lực trông như thế nào, tôi muốn đưa ra hai ví dụ. Galileo, một nhà khoa học tầm cỡ Newton nhưng hoạt động trong thời kỳ trước Newton, đã bị đưa ra trước Tòa án dị giáo vì những lý thuyết và kết luận mà ông đã trình bày và thuyết giảng. Tôi sẽ nói một chút về điều này sau, một trường hợp là Galileo trước Tòa án dị giáo, và một trường hợp khác là Socrates, và cách mà nền dân chủ Athena đã đối xử với Socrates, đưa ông ra xét xử, cố bịt miệng ông vì đã chống đối, vì đã thuyết giảng, vì những quan điểm và những học thuyết của ông, và cuối cùng, ông đã bị xử tử, bị xử tử bằng thuốc độc. Và nếu bạn nhớ đến hai trường hợp này, bạn có thể nghĩ về họ theo cách này: Galileo là ai? Ông là một nhà cải cách khoa học, ông đưa ra những kết luận mới về sự thật, về điều đúng điều sai, và ông đã bác bỏ...trong quá trình này, ông đã bác bỏ những quan điểm truyền thống phổ biến vốn có sức mạnh của quyền lực đằng sau chúng. Ông ủng hộ hệ thống Copernic5 , đưa ra những bằng chứng và lập luận mới cho nó, ông bác bỏ ý niệm cho rằng “trái đất là trung tâm của hệ mặt trời”, ông bác bỏ quan điểm mang tính tôn giáo đó, ông có những giáo thuyết mới về bản chất của Mặt trăng, những khám phá về các mặt trăng của sao Mộc, ông phản đối quan điểm đã được thiết lập, cái quan điểm được hỗ trợ bởi sức mạnh của quyền lực. Và sức mạnh của quyền lực giáng xuống ông, sức mạnh quyền lực sử dụng vũ lực, sử dụng sự cưỡng chế để bịt miệng ông lại, họ quản thúc ông tại gia, đưa ông vào tù, và buộc ông phải công khai rút lại những gì ông thực sự nghĩ, những gì ông thực sự tin tưởng. Do đó, trong lĩnh vực sự thật, lĩnh vực khoa học, cái đúng cái sai, Galileo là đại diện cho người tìm kiếm chân lý, tri thức về sự thật, những khám phá khoa học bằng lý trí, và bị vấp phải trở ngại, vấp phải sự cản trở rất lớn từ các quyền lực sử dụng sức mạnh vũ lực và cưỡng chế. Đó là trường hợp đầu tiên.
Socrates, bạn có thể không biết quá nhiều về ông, ông không phải là một nhà khoa học giống như cách người ta nghĩ về Galileo, ông là một nhà triết học, và đặc biệt, điều ông đã làm...điều ông đã làm ở Athens là đưa ra những quan điểm mới và thuyết giảng những quan điểm mới, thảo luận và ủng hộ những quan điểm mới về cái đúng cái sai, về bản chất của giá trị. Vậy, Galileo hướng về mặt sự thật, còn Socrates hướng về mặt giá trị, mang những ý tưởng đạo đức mới, những chân lý đạo đức mới đến với thế giới. Và một lần nữa, ông lại vấp phải sức mạnh của quyền lực muốn bịt miệng ông, và sức mạnh quyền lực dùng sự cưỡng chế để ép buộc, họ truy bắt ông, ông không chấp nhận, nên họ nói với ông rằng: Vậy thì ngươi phải rời khỏi thành phố này, ta sẽ trục xuất ngươi”. Ông không muốn rời thành phố thì họ: “Ồ, vậy ta sẽ giết ngươi”. Và họ đã xử tử Socrates vì những phát kiến về đạo đức của ông. Vì vậy, cả trong lĩnh vực sự thật và lĩnh vực giá trị, điều mà phong trào Khai Sáng nói đến là: bạn cần phải hành động theo lý trí, bằng các lập luận, bằng việc thu thập bằng chứng và hình thành nên những kết luận được cân nhắc hợp lý, để chống lại việc tuân theo quyền lực. Bạn cũng có thể nói rằng, Galileo đã đương đầu với quyền lực của Giáo hoàng - người tự cho mình là không thể sai lầm về các vấn đề khoa học, về các vấn đề đúng sai, về sự thật. Socrates cũng đã đương đầu với các nhà chức trách, những người nói rằng: “Ta biết cái gì đúng và cái gì sai, ta biết điều gì có giá trị và không có giá trị, ta biết tất cả những lời thuyết giảng của ngươi đều sai và ta có thể bịt miệng ngươi”. Vì vậy, ở cả lĩnh vực sự thật và giá trị, những người thuộc phong trào Khai Sáng đã đưa ra quan điểm về ý nghĩa của việc hành động theo lý trí, và sự lựa chọn là như thế nào, và khi quyền lực xâm nhập vào những lĩnh vực này với sự hỗ trợ bởi sức mạnh của súng, nhà tù và xử tử thì sự việc diễn ra ra sao. Và trên thực tế, đây là một cuộc xung đột, phong trào Khai Sáng, theo khía cạnh cơ bản nhất, người ta nghĩ về xung đột giữa tự do và thiếu tự do, sự tự do đối lập với quyền lực - cái chi phối lĩnh vực sự thật và chi phối lĩnh vực giá trị. Do đó, bạn có thể thấy hai trường hợp Galileo và Socrates, họ có số phận rất khác với Newton, người hoạt động trong thời kỳ Khai Sáng, Newton được tôn vinh như một người hùng, ông được tổ chức tang lễ của một người hùng, ông được mọi người ngưỡng mộ, kính trọng và những chướng ngại, những cản trở đã không xảy ra với Newton như những trở ngại người ta đã tạo ra đối với Galileo và Socrates - người đã bị xử tử. Điều này dẫn đến...Vì vậy, ta có thể nói là: quyền tự do đối lập với quyền lực, lý trí đối lập với quyền lực, điều này dẫn đến toàn bộ quan điểm và lập luận của phong trào Khai Sáng chống lại sự cưỡng chế, và tại sao sự cưỡng chế lại tồi tệ. Bạn có thể nghĩ, đó là bởi vì họ cho rằng lý trí là tốt, và một người nên hành động bằng cách sử dụng lý trí của mình, bằng lý lẽ, bằng các nhận định được xem xét chu đáo. Sự cưỡng chế hoặc ép buộc bị coi là xấu xa, bởi vì cái nó tìm cách để thực hiện là: chính quyền sử dụng sức mạnh vũ lực, sức mạnh của súng và nhà tù – cái họ tìm cách để làm là gạt bỏ những nhận định được xem xét kĩ của một người, gạt bỏ lý lẽ của họ. Nhưng họ không thể gạt bỏ và không thể hoàn thành bất kỳ cái gì, vậy nên, họ bỏ tù Galileo, và buộc ông phải công khai rút lại điều mình tin tưởng, nhưng điều đó không phải để thuyết phục ông rằng ‘ông đã sai, ông đã sai lầm trong lý luận của mình, các kết luận khoa học của ông là vô lý’, họ đã không thuyết phục được Galileo bằng cách sử dụng sức mạnh cưỡng chế, bằng cách quản thúc tại gia, bằng cách đưa ông vào tù. Họ chẳng tạo ra được gì nếu tri thức là mục tiêu, hay như thời kỳ Khai Sáng đã nói rằng: Nếu sự khai sáng là mục tiêu, thì tâm trí được khai sáng, giờ đây, không còn sự không hiểu biết mà là hiểu biết và sở hữu tri thức, họ đã không làm mọi cách để thuyết phục Galileo, và nếu vì sự cưỡng chế mà ông không có bất kỳ ý tưởng nào mới, không có tri thức mới, vậy, sự cưỡng chế thậm chí còn tệ hơn. Tất cả những gì họ làm là khiến Galileo khiếp sợ khi tiến hành các cuộc nghiên cứu khoa học, bởi vì ông không biết những sức mạnh quyền lực nào sẽ giáng xuống đầu mình, những quyền lực cưỡng chế nào sẽ giáng xuống đầu mình. Nhưng họ không thuyết phục được Galileo bất kỳ điều gì. Với Socrates cũng vậy. Nền dân chủ Athena...nền dân chủ không thuyết phục được Socrates rằng ông sai, họ không đưa ra được những lập luận, họ không cho ông thấy được tại sao quan điểm mới của mình về cái đúng cái sai, về đạo đức, không có ý nghĩa gì, điều đó đã không xảy ra, mà chỉ là: “Ta sẽ đày ải ngươi hoặc xử tử ngươi”, điều đó không thuyết phục được ông về bất kỳ điều gì. Vì vậy, nếu điều mà người ta tìm kiếm trong cuộc sống, nếu điều quan trọng trong cuộc sống là tri thức, là sự khai sáng, thì sức mạnh của sự cưỡng chế thậm chí còn gây ra điều tồi tệ hơn, gây bất lợi cho việc theo đuổi tri thức. Và đó là lý do tại sao con người trong phong trào Khai Sáng, trong thời kỳ Khai Sáng, họ hoàn toàn phản đối việc sử dụng sự cưỡng chế cả trong việc theo đuổi sự thật và theo đuổi các giá trị. Bạn không thể thuyết phục bất kỳ ai những vấn đề về sự thật, về cái đúng cái sai bằng cách sử dụng sức mạnh của nắm đấm, súng, nhà tù, bạn không thể thuyết phục...và đó là hình ảnh của Galileo hoặc biểu tượng của Galileo. Và bạn cũng không thể thuyết phục bất cứ ai về các vấn đề giá trị, thiện ác bằng cách dùng đến nắm đấm, súng hoặc nhà tù, và đó là hình ảnh hoặc biểu tượng của Socrates. Chính vì người ta cho rằng cả lĩnh vực sự thật và lĩnh vực giá trị đều mở ra lý trí, do đó, họ nói rằng sự cưỡng chế không thể xâm nhập vào những lĩnh vực này, và đó là toàn bộ lý lẽ phản đối sự cưỡng chế của họ. Và kết quả là trong thời kỳ Khai Sáng, bạn có thể nghĩ những gì họ ủng hộ là sự tự do, nhưng nó không chỉ có ý nghĩa là tự do về kinh tế, mà còn có nghĩa là tự do về trí tuệ của một người, sự tự do của Galileo để có thể hành động mà không bị ai đó cố bịt miệng ông lại, khủng bố ông. Nó còn có nghĩa là tự do về đạo đức, hay tự do chính trị đạo đức, ở đây là hình ảnh của Socrates bị đưa ra trước các nhà chức trách chính trị, yêu cầu ông phải công khai rút lại hoặc bác bỏ những quan điểm đạo đức của mình. Và nó cũng bao gồm tự do về kinh tế, vì lý do tương tự, họ kiểm soát kinh tế bằng cách cố gắng điều khiển một người, điều khiển quan điểm của anh ta về phải-trái là đúng hay sai.
Bây giờ, chúng ta hãy lấy một ví dụ rất đơn giản về một biện pháp kiểm soát kinh tế: luật tiền lương tối thiểu. Những người ủng hộ luật tiền lương tối thiểu nói về việc thông qua luật về mức lương tối thiểu sẽ là: “Thật sai lầm, điều này sẽ tạo ra tình trạng thất nghiệp hoặc nhiều người thất nghiệp hơn nữa”, họ nói...nhiều người nói rằng: “Không, thật sai lầm khi nói điều đó sẽ xảy ra”. Nhưng có một lập luận trong kinh tế học cho rằng không thể tránh khỏi việc bạn sẽ tạo ra tình trạng thất nghiệp. Nếu một người được thuê với mức 5 đô la một giờ và các doanh nghiệp có thể tạo ra lợi nhuận khi thuê người đó với mức 5 đô la một giờ, nhưng doanh nghiệp không thể tạo ra lợi nhuận nữa nếu họ phải trả cho anh ta 7 đô la một giờ. Nếu bạn thông qua luật mức lương tối thiểu, nghĩa là, bạn có mức lương tối thiểu là 7 đô la, thì người chỉ kiếm được 5 đô la cảm thấy rất khó khăn, thực sự không thể tìm được việc làm trong nền kinh tế như vậy, và điều đó có nghĩa là bây giờ, anh ta bị thất nghiệp, trước đó anh ta không thất nghiệp. Cũng có cả một lập luận kinh tế cho rằng điều này là sai, luật tiền lương tối thiểu không tạo thêm tình trạng thất nghiệp, người nghĩ như vậy nên phản đối quan điểm này, anh ta cho rằng luật tiền lương tối thiểu là vô hại, chúng không tạo ra tình trạng thất nghiệp, anh ta có một cái nhìn khác, anh ta nghĩ họ sai, mình mới đúng. Anh ta có thể hành động dựa trên tri thức về những gì anh ta cho là đúng và sai không? Không. Nếu bạn áp đặt kiểm soát kinh tế về mức lương tối thiểu là 7 đô la một giờ, mọi người đều phải tuân theo ý kiến đó. Và đó là sự tuân theo, ngay cả khi bạn nghĩ nó sai, bạn vẫn phải tuân theo. Vậy, loại kiểm soát kinh tế như vậy xâm phạm vào quan điểm của một người về cái đúng và cái sai. Nó cũng xâm phạm quan điểm của một người về điều gì là lẽ phải và điều gì là sai trái. Một góc nhìn khác, người ủng hộ luật tiền lương tối thiểu vẫn nói rằng: “Luật này rất hay, có lợi cho mọi người, những điều luật đó không gây ảnh hưởng cho ai, chúng rất hay”. Một lần nữa, có một lập luận kinh tế cho rằng: “Không, rõ ràng là mọi người ta đều bị ảnh hưởng, người đã thuê một ai đó, người chủ đã thuê ai đó với mức lương 5 đô la một giờ, bây giờ thì không thể nữa, vậy, ông ta mất đi người làm, và người được tuyển dụng với mức 5 đô la một giờ bởi vì anh ta chỉ mới bắt đầu, chưa có kỹ năng, anh ta làm việc chưa có hiệu suất cao, bạn chỉ có thể thuê anh ta với mức 5 đô la một giờ, bạn không thể thuê ở mức 7 đô la, anh ta cũng bị ảnh hưởng, vì bây giờ, anh ta không thể tìm được việc làm. Vì vậy, những người này, cả hai phía đều bị ảnh hưởng, nó gây ra thiệt hại, khó khăn thực sự”. Vậy, có một lập luận được đưa ra rằng “những điều luật này thật tồi tệ, thật sai lầm, chúng không có giá trị, chúng thật tai hại”. Nhưng một lần nữa, bạn có thể hành động dựa trên quan điểm đó về điều gì đúng và sai không? Không. Nếu người ta đã thông qua và kiểm soát, nghĩa là, luật tiền lương tối thiểu là 7 đô la một giờ, và bạn phải trả số tiền đó bất kể bạn nghĩ rằng nó gây ảnh hưởng đến mọi người và ảnh hưởng đến chính mình khi làm theo cách đó. Vì vậy, kiểm soát kinh tế xâm phạm đến cả quan điểm của một người về điều gì là đúng, điều gì là sai, lẽ phải và sai trái. Và điều này dẫn đến các trường hợp về sự tự do trong thời kỳ Khai Sáng, đây chỉ là những khía cạnh...tự do về trí tuệ, tự do về chính trị, tự do về kinh tế chỉ là những khía cạnh lập luận triết học cơ bản cho lý do tại sao tự do là cần thiết và đáng khao khát.
Quan điểm của phong trào Khai Sáng về cách con người nên sống như thế nào.
Bạn có thể nghĩ rằng những gì phong trào Khai Sáng đã ủng hộ và đấu tranh là nhu cầu và khát vọng tự do chính trị, và đỉnh điểm là việc hình thành một quốc gia rõ ràng dành riêng cho lý tưởng tự do, bảo đảm quyền tự do cho công dân, tất nhiên, đó là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với bản Tuyên ngôn Độc lập đã thực sự nắm bắt quan điểm Khai Sáng, chính phủ hướng đến phục vụ cá nhân, phục vụ công dân, đó là một “người phục vụ” đắc lực của nhân dân. Các bạn có thể thấy ở đó một hình ảnh rất khác so với chính quyền mà bạn phải tuân theo. Chính phủ là “đầy tớ” của nhân dân, bảo vệ quyền của mỗi người dân. Và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thực sự là thành tựu cuối cùng của thời kỳ Khai Sáng, là đất nước ra đời nhờ những lý tưởng được đưa ra trong thời kỳ Khai Sáng. Nếu bạn muốn nắm bắt được những gì phong trào Khai Sáng đã làm khi hình thành nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, dẫn đến thành tựu chính trị này, thì bạn cần hiểu bức tranh toàn cảnh về những gì tôi đã đề cập. Tôi đã nói rằng họ có quan điểm của thời kì Khai Sáng, và thực sự bạn có thể thấy trong thời kỳ Khai Sáng, họ có cái nhìn về cuộc sống được khai sáng là như thế nào. Đây là một khái niệm đạo đức của cách sống đúng đắn về mặt đạo đức. Và nếu bạn hiểu được điều đó, những gì khi đó họ đấu tranh, đó là một kiểu hệ quả chính trị, một kết luận chính trị, một hệ quả không thể tránh khỏi, rằng nếu bạn muốn sống cuộc sống được khai sáng, thì điều bạn cần là sự tự do chính trị. Đây là loại cấu trúc triết học cơ bản của thời kỳ Khai Sáng, và điểm chủ đạo là quan điểm của họ về một cuộc sống được khai sáng.
Vậy một cuộc sống được khai sáng là gì? Mục tiêu hoặc nguyên nhân cơ bản của cuộc sống như thế là sự tự bảo vệ bản thân, đây là một cách mà họ nói. Và tôi sẽ sử dụng tất cả các thuật ngữ mà John Locke6 đã sử dụng, Locke thực sự là nhà triết học thuộc phong trào Khai Sáng. Nếu bạn phải chọn ra một triết gia để nắm bắt được những gì độc đáo và đặc biệt của thời kỳ này, thì đó là John Locke. Và ông ấy nói về việc tự bảo vệ là mục tiêu cơ bản, là điều bạn tìm kiếm, là điều mà bạn cố gắng phấn đấu vì nó. Và nếu đó là mục tiêu của bạn, thì bạn cần thể hiện hai đặc tính quan trọng hơn hết, đây không phải là những đặc tính quan trọng duy nhất cần phải thể hiện, chúng không phải là những phẩm chất quan trọng duy nhất hình thành nên tính cách của bạn, nhưng chắc chắn, đối với lập luận của Locke, chúng rất quan trọng, và ông sử dụng mô tả như sau: “Bạn cần phải có lý trí và bạn cần phải siêng năng”. Ta hãy đặt lý trí lên trước và đó là điều chính yếu. Điều bạn cần tìm kiếm trong cuộc sống là ‘tri thức cần thiết để có thể sống’. Và tri thức đó đến từ việc thực hành sử dụng lý trí của bạn một cách hợp lý đối với việc hình thành nên các phán xét được cân nhắc, việc tư duy thấu đáo mọi thứ, việc đi theo các bằng chứng cho dù nó dẫn đến đâu. Đó là toàn bộ bức tranh về cuộc sống lý trí như thế nào, nếu bạn thực hiện, nếu bạn thực sự sử dụng lý trí của mình. Và về mặt triết học, trong giai đoạn này, bạn có được tất cả các loại hoạt động mà trên thực tế là các nghiên cứu về bản chất của lý trí, và làm thế nào để sử dụng nó đúng cách so với tất cả những cách bạn có thể sử dụng không đúng, làm thế nào bạn có thể sử dụng lý trí của mình đúng cách hoặc không đúng cách. Ví dụ như Locke có bài luận về “Sự hiểu biết của con người”, chính xác là như thế này: “Bản chất của lý trí là gì? Làm thế nào để sử dụng tốt lý trí? Ta sử dụng lý trí sai cách ra sao? Mọi người đã sử dụng sai cách như thế nào?” Đó là những gì ông ấy đề cập đến. Và đây thực sự là lý tưởng của phong trào Khai Sáng, hướng dẫn mọi người làm thế nào để trở nên lý trí. Nó không dễ dàng, nó không hiển nhiên, nó không rõ ràng lý trí là như thế nào, nhưng sẽ khả dĩ nếu bạn hiểu lý trí là gì, làm thế nào để sử dụng trí óc đúng cách. Vậy nên, đây là một khía cạnh quan trọng đối với cuộc sống được khai sáng, và quan trọng nếu bạn đang tìm kiếm sự tự bảo vệ. Một tính cách quan trọng khác là phải siêng năng, nghĩa là bạn phải tạo ra mọi thứ, bạn phải sử dụng tri thức của mình và làm ra mọi thứ, tạo ra những thứ mà cuộc sống đòi hỏi, bạn phải làm việc hiệu quả, bạn phải...Và đã có một sự phát triển đáng kinh ngạc về thương mại, công nghiệp, kinh tế trong thời kỳ này, và ngày nay, bạn có được một nền kinh tế toàn cầu hóa.
Những người như Adam Smith8 quan tâm đến điều đại loại như thế này, họ quan tâm đến ngành công nghiệp, sự phân công lao động, công nghiệp hoá như thế nào, và phát triển công nghiệp khả dĩ ra sao. Và điều này đòi hỏi một người phải tận tâm với loại công việc như vậy, một kiểu nỗ lực trong cuộc sống, nó đòi hỏi nỗ lực, nó không tự động có, nhưng nhắc lại là, điều này khả dĩ. Vậy, cần phải có lý trí và siêng năng; đây lại là những nội dung của Locke: “Nếu bạn quan tâm đến sự tự bảo vệ bản thân, thì kết quả của những điều này..., nếu bạn quan tâm đến sự tự bảo vệ bản thân, sự lý trí, sự siêng năng của bạn, kết quả là bạn sẽ đạt được một cuộc sống hạnh phúc, bạn sẽ đạt được hạnh phúc trong cuộc đời này, trên thế giới này, nếu bạn thể hiện được những tính cách trên và bạn có mục tiêu tự bảo vệ bản thân”. Và tóm lại điều này, ý tôi là bạn có thể nói nhiều hơn nữa nhưng tóm lại, đây là bức tranh về một cuộc sống khai sáng mà bạn có thể thấy được trong thời kỳ Khai Sáng. Trên thực tế, lập luận của họ về quyền tự do chính trị là: “Nếu đây là cuộc sống mà bạn cố gắng hướng tới, nếu đây là cuộc sống khai sáng, thì về mặt chính trị, có những điều quan trọng mà bạn phải có tự do để thực hiện”. Và toàn bộ quan điểm này được gói gọn trong học thuyết mà bạn có được trong thời kỳ Khai Sáng về quyền con người. Và có những hệ quả trực tiếp, có những mối liên hệ trực tiếp từ những gì tôi vừa nói về sự tự bảo vệ bản thân, sự lý trí, sự siêng năng, và hạnh phúc, đến cái mà họ cho là quyền con người. Một lần nữa, nếu bạn nhớ đến câu nói, được sử dụng vào thời điểm hình thành nước Mỹ: “đó là quyền sống, quyền tự do, quyền tài sản và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Bốn quyền này liên kết mật thiết với cái gọi là cuộc sống khai sáng theo phong trào Khai Sáng.
Quyền sống là quyền thực hiện tất cả những hành động cần thiết để tự bảo vệ bản thân, quay trở lại với lý tưởng đạo đức cho rằng “đạo đức là tự bảo vệ mình”, vì vậy, quyền sống được gắn liền với điều đó. Trong lĩnh vực chính trị, đó là khả năng bạn có thể thực hiện các hành động mà sự tự bảo vệ bản thân đòi hỏi, bạn được tự do làm như vậy, nghĩa là không có sự cản trở nào, đặc biệt là trở ngại từ một quyền lực nói cho bạn biết bạn phải sống như thế nào và bạn phải sống vì ai. Đó là quyền sống, quyền tự do. Nó có nghĩa là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do giao thiệp, điều này được kết nối với bức tranh toàn cảnh về cái bạn cần để tồn tại, nói về mặt đạo đức thì đó là sự lý trí nếu bạn đang hướng đến một cuộc sống khai sáng. Nếu bạn muốn trở nên lý trí thì bạn phải có tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, điều mà Socrates hay Galileo không có được. Bạn phải có quyền tự do kết giao với người bạn muốn, điều mà Galileo ở trong tù không có được. Vậy nên, những quyền này, tức là quyền tự do, có liên hệ mật thiết với bức tranh về yêu cầu cần phải trở nên lý trí, cần phải siêng năng để làm ra mọi thứ, để tạo ra mọi thứ.
Vậy quyền tài sản là gì? Là quyền sử dụng và định đoạt, bao gồm cả việc mua bán nó cho người khác tiêu thụ nó, quyền sử dụng, định đoạt những gì mà một cá nhân đã tạo ra, những gì anh ta làm cho chính mình. Người ta ủng hộ quyền tài sản, một lần nữa điều đó có nghĩa là quyền lực không thể lạm dụng. Quyền lực không thể huỷ bỏ hoặc phân phát phần tài sản của một người. Đó là quyền tài sản, bởi vì nói về mặt đạo đức, đó là tiêu chuẩn của họ về sự siêng năng.
Và điều tối thượng trong sự hạnh phúc, về mặt chính trị, có nghĩa là bạn phải có quyền mưu cầu hạnh phúc của riêng mình, cấu trúc và sắp xếp cuộc sống của mình theo cách bạn nghĩ là tốt nhất, để mỗi ngày trôi qua đều thực sự hạnh phúc.
Vì vậy, các quyền của con người chính là hệ quả của quan điểm khai sáng về cuộc sống, hay đạo đức của phong trào Khai Sáng, hay đó là bức tranh của thời kỳ Khai Sáng về một cuộc sống đúng đắn. Và quan trọng là phải hiểu điều này, phải hiểu tại sao mục tiêu tự do với tư cách là một mục tiêu chính trị lại xuất hiện trong thời kỳ Khai Sáng. Nó không phải là mục tiêu chính, nó xuất phát từ một quan điểm đạo đức, một nền tảng đạo đức nhất định, hoặc những trụ cột đạo đức làm cơ sở cho mục tiêu tự do.
Sự thoái trào của lý tưởng tự do
Khi bạn hiểu những điều trên như là những trụ cột đạo đức của mục tiêu tự do chính trị trong thời kỳ Khai Sáng, như là nhu cầu về sự tự do, nhu cầu về quyền con người và điều mà chính phủ hướng tới là đảm bảo và bảo vệ những quyền này, và đó là tất cả những gì chính phủ hướng tới, đó là chức năng của chính phủ, chức năng duy nhất của nó; đó là một chức năng vô cùng quan trọng nhưng là chức năng được giới hạn, thì đây là lúc bạn hiểu được ý niệm về chính phủ bị giới hạn hoặc chính phủ bị hạn chế. Vậy các giới hạn đó là gì? Đó là các giới hạn được đặt ra bởi những quyền con người mà bạn không thể xâm phạm, và chính phủ cũng không thể xâm phạm quyền cá nhân của một người.
Tại sao những lý tưởng về quyền tự do và quyền con người lại thoái trào vào thế kỷ 19
Vậy tại sao điều này xảy ra? Tại sao ngay khi hình thành Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, chúng ta lại thấy lý tưởng về quyền tự do chính trị và quyền của con người suy tàn. Và theo tôi, lời giải đáp cho câu hỏi này, câu trả lời thực sự gồm có hai phần, có hai điều liên quan mà khi bạn xem xét chúng cùng với nhau sẽ đưa ra lời giải thích về sự thay đổi thực sự mạnh mẽ này.
Phần đầu tiên của câu trả lời là, tôi đã nói về các trụ cột của phong trào Khai Sáng, quan điểm nền tảng của phong trào Khai Sáng, tôi đã đề cập đến quan điểm về lý trí và đạo đức của họ dẫn dắt họ nghĩ về quyền tự do như một lý tưởng chính trị, nhưng tôi đang dẫn chứng trường hợp tốt nhất, trường hợp điển hình nhất mà bạn có thể đưa ra về những gì họ đấu tranh và các kiểu lập luận mà họ đem lại; tuy nhiên, khi bạn nhìn vào các nhà tư tưởng Khai Sáng thực sự, và khi bạn đọc các tác phẩm của họ, trường hợp điển hình nhất không phải là tất cả những gì họ lập luận. Họ thực sự... khi bạn nhìn vào toàn bộ quan điểm triết học, có rất nhiều sai sót trong lập luận, có thể nói là có rất nhiều kẽ hở, và những sai sót đó đã tạo thành một lỗ hổng thực sự. Nếu bạn xem xét vấn đề lý trí trước tiên, hãy chọn Locke, vì ông ấy thực sự là nhà tư tưởng quan trọng nhất của phong trào Khai Sáng, quan điểm của ông ấy về bản chất lý trí bị pha trộn với loại thuyết hoài nghi, và cụ thể là thuyết hoài nghi về khả năng trí óc của con người hiểu biết thế giới bên ngoài trí óc, hiểu biết về thế giới tồn tại độc lập với con người. Locke đặt ra những câu hỏi về việc: “Liệu trí óc có thể thực sự đạt đến loại tri thức này không?” và đó là một kiểu hoài nghi, liệu trí óc thực sự có thể đạt được loại tri thức này không. Và rồi quan điểm của Locke trong suốt thời kỳ Khai Sáng ngày càng bị đẩy đi xa hơn nữa vào con đường của thuyết hoài nghi. Và nếu bạn tua nhanh qua nhiều thập kỷ sau đó, đến một nhà tư tưởng người Anh khác là David Hume, thì bạn sẽ thấy một triết lý rất rất hoài nghi, triết lý nghi ngờ khả năng hiểu biết về thế giới của con người. Hume nghi ngờ về khả năng nhận biết thế giới bên ngoài của con người. Ông nghi ngờ khả năng của con người đối với việc nắm bắt nguyên nhân và kết quả, và ông ấy nghi ngờ về khả năng của con người đối với việc hành động bằng lý luận khoa học quy nạp. Đây là tất cả những điều mà các nhân vật, các nhà khoa học thuộc phong trào Khai Sáng tin tưởng và ông nghi ngờ chúng bằng một triết lý hoài nghi thực sự. Đó là vấn đề lý trí.
Bây giờ, nếu bạn đề cập đến vấn đề đạo đức, như tôi đã nói Locke và phong trào Khai Sáng nói chung, hướng về khía cạnh: điều mà cá nhân nên quan tâm là sự tự bảo vệ bản thân và theo đuổi hạnh phúc của mình, đó là điều họ cố gắng bảo vệ. Nhưng nếu bạn xem xét toàn bộ những lập luận của Locke, cái bạn thấy được không chỉ là đòi hỏi lý trí, mà nền tảng quan điểm đạo đức chính của ông, ông nói rằng: “Nó còn dựa vào sự cầu nguyện Chúa trời”, điều đó có nghĩa là khẩn cầu quyền lực, điều này mâu thuẫn trực tiếp với toàn bộ ý nghĩa và tinh thần của phong trào Khai Sáng. Tôi đã nói những gì phong trào Khai Sáng hướng đến là lý trí và phản đối quyền lực. Và Locke chắc chắn cố gắng làm điều đó. Nhưng khi bạn đi sâu vào nền tảng quan điểm đạo đức của ông thì vẫn còn cần đến quyền lực, vì vậy, có một lỗ hổng ở chỗ này. Và khi bạn nhìn lại, lướt qua phong trào Khai Sáng một lần nữa, tôi nghĩ đây là kiểu ủng hộ sự phát triển quyền lực, hoặc ít nhất cái phát triển là sự nghi ngờ “liệu lý trí có thể tìm ra các vấn đề đạo đức hay không?”. Và một lần nữa, khi bạn đến giai đoạn của David Hume, điều mà ông ta lập luận về đạo đức là “Lý trí có một vị trí rất nhỏ. Đạo đức là về tình cảm, cảm giác, cảm xúc, đó là cái sẽ dẫn dắt bạn, chứ không phải lý trí”. “Lý trí là nô lệ của những đam mê” là một tuyên bố nổi tiếng của ông. Bây giờ, bạn thấy có sự nghi ngờ, liệu lý trí có thể hoạt động trong lĩnh vực đạo đức, đúng sai, thiện ác không? Vậy, ở cả hai vấn đề quan trọng mà tôi đề cập, quan điểm về lý trí và quan điểm về đạo đức, đều có những vấn đề thực sự, những sai sót thực sự trong quan điểm của phong trào Khai Sáng và trong những lập luận được đưa ra cho cả hai lý tưởng này, có thể nói rằng, lý tưởng về lý trí và lý tưởng đạo đức nói về việc tự bảo vệ bản thân và mưu cầu hạnh phúc. Vậy, biểu hiện hoặc sự bảo vệ cho những ý tưởng này bị nghi ngờ, nó có lỗ hổng, và đó là điều đầu tiên bạn cần biết để hiểu tại sao lý tưởng về quyền tự do chính trị biến mất trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20. Vậy, vấn đề đầu tiên hoặc khía cạnh đầu tiên trong việc cố gắng trả lời câu hỏi: tại sao quyền tự do với tư cách một lý tưởng chính trị lại biến mất trong thế kỷ 19 và thế kỷ 20. Vấn đề đầu tiên tôi đã nói: bạn phải hiểu rằng các lập luận tiến bộ của các nhà Khai Sáng trong việc bảo vệ quan điểm của họ là có vấn đề, thực sự có những sai sót trong các lập luận. Có lỗ hổng thực sự được tạo ra như vậy. Và vấn đề thứ hai là người ta lợi dụng lỗ hổng đó, vì vậy, bạn dễ bị công kích và cuộc tấn công đã sớm ập đến, và chúng xảy ra trong suốt thế kỷ 19 từ tất cả các nhà tư tưởng lớn, đặc biệt là các nhà tư tưởng triết học. Vì vậy, các nhà triết học của thế kỷ 19 đã tấn công khả năng lí trí về thế giới của con người, họ tiếp tục củng cố sự hoài nghi xuất hiện trong thời kỳ Khai Sáng, rằng con người không thể biết được thế giới tồn tại bên ngoài, và họ nghi ngờ đạo đức thời kỳ Khai Sáng, đạo đức không phải là sự tự bảo vệ bản thân, đạo đức không phải là để mưu cầu hạnh phúc. Do đó: 1- bạn có một lỗ hổng, và 2 - mọi người sử dụng nó để tấn công, đó là sơ hở để tấn công phong trào Khai Sáng. Vậy, nếu bây giờ chúng ta quay trở lại quan điểm về cuộc sống khai sáng mà tôi đã nói về việc tự bảo vệ bản thân, sự lý trí, siêng năng, mưu cầu hạnh phúc cá nhân của chính mình, thì trong thế kỷ 19, tất cả những thứ đó đều bị loại bỏ và bị tấn công. Người ta cho rằng điều đó là sai, rằng chúng ta cần một quan điểm khác. Vậy, hãy xem xét vấn đề tự bảo vệ bản thân, vâng, những lý tưởng mà bạn đã nắm bắt, cuộc sống theo các nhà tư tưởng thế kỷ 19 đều là sự tuân theo nghĩa vụ, và chúng ta thấy ý tưởng về sự tuân theo lại xuất hiện, và đó là quan điểm của Kant. Kant đã viết vào cuối thế kỷ 18, và bây giờ nó trở thành quan điểm chủ đạo. Kant trở thành một trong ba nhà triết học thực sự có ảnh hưởng lớn vào thế kỷ 19; tất nhiên, ở Đức, Hegel thực ra là học trò của Kant, Marx là học trò của Hegel, họ thay đổi quan điểm của Kant nhưng không thay đổi tư tưởng cơ bản, rằng điều mà cuộc sống hướng đến là tuân theo nghĩa vụ, không phải sự tự bảo vệ mà là tuân theo nghĩa vụ.
Ở Anh, bạn thấy sự trỗi dậy của những người theo thuyết vị lợi, Bentham, James Mill, John Stuart Mill, lý tưởng trở thành “lợi ích xã hội” cái được cho là “bạn phải tập trung hoàn toàn vào xã hội và những gì hữu ích, có lợi cho xã hội nói chung”. Một lần nữa, nó không phải là về việc tự bảo bệ, nó không tập trung vào bản thân mà là xã hội, và những người theo thuyết vị lợi cho rằng lợi ích xã hội là mục tiêu cơ bản trong cuộc sống của họ. Ở Pháp, nếu bạn đi từ Anh sang Pháp, bạn sẽ thấy có ý niệm về “lòng vị tha” (altruism). Thuật ngữ ‘vị tha’ được đặt ra vào thế kỷ 19 bởi Comte, một nhà tư tưởng người Pháp, và nghĩa đen được dịch ra từ tiếng Pháp là “sống vì người khác”, vì vậy, nó đối lập với sự tự bảo vệ. Sự tự bảo vệ, trên thực tế, có thể được coi là sống cho chính mình, giờ, ý tưởng trở thành “sống cho người khác” và “altruism” có nguồn gốc từ tiếng Latinh nghĩa là “triết lý vì người khác”, chính là sống vì người khác. Vì vậy, sự tự bảo vệ với tư cách là mục tiêu cơ bản đã bị loại bỏ và phản đối vào thế kỷ 19. Và kết quả là những tính cách bạn nên thể hiện, những gì đạo đức thể hiện không phải lý trí, không phải lý lẽ. Lý trí bị công kích về mặt triết học. Kant nói, và tôi nghĩ nó đúng với những gì ông ta làm, Kant đã nói ở lời mở đầu của một trong những tác phẩm quan trọng chính yếu của mình, “The Critique of Pure Reason” 10 rằng: “Tôi thấy cần phải phủ nhận tri thức để nhường chỗ cho đức tin” hoặc có thể nói là “Tôi thấy cần phải phủ nhận lý trí để nhường chỗ cho đức tin”. Đó là một sự công kích đối với việc ‘về cơ bản, một người nên hành động bằng cách tuân theo lý trí’, còn có những thứ khác nữa. Vậy, cái các bạn thấy được trong thế kỷ 19 là đức tin, và một cách khái quát hơn, là cảm xúc - cái mà bạn nên tuân theo là cảm xúc, những yếu tố cảm xúc, “động lực 11”, “bản năng”, v.v. Đây là những cái bạn phải tuân theo trong cuộc sống. Và lý trí thì rất hạn chế, nó không phù hợp để hướng dẫn, nó phải được thay thế bằng một thứ gì đó sâu sắc hơn, đó là yếu tố cảm xúc, được cho là tồn tại trong con người như một điều chính yếu, và nó sẽ dẫn dắt ta trong cuộc sống của bản thân. Vậy, đức tin và cảm xúc thay thế cho lý trí. Sự siêng năng cũng bị tấn công vì những lý do triết học. Toàn bộ ý niệm ủng hộ công nghiệp, thương mại, đã bị phỉ báng và loại bỏ vào thế kỷ 19. Ngành công nghiệp, thương mại và kinh doanh bị coi là một hoạt động thấp kém, không xứng đáng với một con người thực sự có đạo đức, thực sự có linh hồn, người luôn phấn đấu vì những lý tưởng trong cuộc sống. Và những gì bạn thấy được trong thế kỷ 19 là sự hoài niệm về quá khứ, về quá khứ tiền-công-nghiệp, về thời Trung cổ, về “những kẻ hoang dã cao quý” 12 - một tư tưởng trở nên rất nổi bật trong thế kỷ 19, về phong trào trở-lại-bản-chất, thực chất là trở lại thời kỳ tiền-công-nghiệp, đó là điều được ngưỡng mộ và những người kinh doanh và toàn bộ cuộc cách mạng công nghiệp bị khinh thường như một thứ gì đó dơ bẩn, thấp kém, tồi tệ. Vì vậy, cả lý trí và sự siêng năng đều bị công kích nặng nề vào thế kỷ 19, và hệ quả của tất cả những điều này là sự tự bảo vệ, lý trí, siêng năng được cho là điều hạnh phúc ở thời kỳ Khai Sáng cũng bị công kích, rằng đó không phải là lý tưởng. Lý tưởng là “hoàn thành trách nhiệm của mình”, đây là kiểu quan điểm của Kant ở Đức. Lý tưởng là “đạt được hạnh phúc lớn nhất của phần đông đa số” - quan điểm của những người theo thuyết vị lợi ở Anh. Lý tưởng là “phải sống và hy sinh cho người khác”, có được sự tôn kính của mọi người, đó là câu Comte sử dụng, đó mới là lý tưởng. Vậy nên, lý tưởng về hạnh phúc cá nhân và rằng đó là một cuộc sống đạo đức, được khai sáng sẽ đưa đến – rằng điều đó cũng bị loại bỏ và công kích vào thế kỷ 19.
Và nếu tất cả những thứ đó bị công kích thì điều gì sẽ xảy ra về mặt chính trị? Quyền của con người sẽ bị coi là “điều này là vô ích, vô nghĩa, bởi vì tất cả đều sai về mặt triết học”, các quyền của con người, quyền sống được xác định dựa trên sự tự bảo vệ, nhưng đó không phải là mục tiêu cơ bản trong đạo đức mà chúng ta biết bây giờ, vì vậy, nó bị loại bỏ. Quyền tự do, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do giao thiệp và hội họp, nó phụ thuộc vào quan điểm của một người, “anh ta nên sống bằng lý trí của mình”, nhưng nó trở thành “phải sống bằng đức tin và cảm xúc”. Nhưng có một loạt các nhà tư tưởng công kích quyền sở hữu, và một lần nữa, “nếu cuộc sống không hướng đến công nghiệp, và tạo ra mọi thứ, tại sao cần quyền sở hữu, tại sao nó lại quan trọng, tại sao chúng ta lại phấn đấu vì nó?” Và quyền mưu cầu hạnh phúc như Tuyên ngôn Độc lập đã nêu, vâng, nếu nói về mặt đạo đức, cuộc sống không phải là về hạnh phúc, sống là thực hiện nghĩa vụ của bạn, hạnh phúc lớn nhất là của mọi người, không phải hạnh phúc cá nhân của riêng bạn, phải hướng đến sự tôn kính của mọi người và hy sinh cho nhân loại, vậy thì tại sao lại cần quyền mưu cầu hạnh phúc? Vì vậy, tất cả các cơ sở triết học hoặc nền tảng về quyền của con người đã bị công kích vào thế kỷ 19 bằng triết học. Và kết quả là chúng bị loại bỏ và chúng bị loại bỏ vì vô nghĩa, một số nhà tư tưởng sử dụng từ “vô nghĩa” đối với quan điểm cho rằng ‘có các quyền của con người’. Và kết quả là tư tưởng về quyền tự do chính trị không còn là lý tưởng chính trị của cuộc thập tự chinh trong thế kỷ 19 và tất nhiên cả thế kỷ 20.
Ayn Rand và phong trào Khai Sáng
Vậy, tóm lại, tôi nghĩ đây là những gì tôi thực sự muốn đưa ra cho các bạn trong phần tóm tắt này, đây là những gì tôi nghĩ về sự trỗi dậy của quyền tự do là như thế nào trong thời kỳ Khai Sáng, và sự suy tàn của nó vào thế kỷ 19 và sau đó là thế kỷ 20, sự suy tàn của nó với tư cách một lý tưởng triết học về mặt chính trị; tại sao nó lại suy tàn, và điều tôi muốn nói là, vì những lý do triết học... đạo đức triết học trong thế kỷ 19, đó thực sự là một cuộc công kích vào lý trí ở thế kỷ 19 và nó là cuộc tấn công vào sự tự bảo vệ, đó là cái dẫn đến việc bác bỏ quyền tự do với tư cách một ý tưởng chính trị vào thế kỷ 19.
Rõ ràng, đây chỉ là một bản phác thảo về những gì đã xảy ra; trên thực tế, những gì tôi đang cố gắng đưa ra cho các bạn là một bản đồ tư duy về các tranh luận qua lại, cấu trúc, cuộc đấu tranh và các tranh luận diễn ra như thế nào từ thời kỳ Khai Sáng đến thế kỷ 19 và sau đó là hệ quả chính trị vào thế kỷ 20. Đối với điều này...để quyết định xem điều này có thực sự có ý nghĩa hay không, bạn phải thực sự kiểm tra những chỗ thích hợp, tôi đã đưa ra bản đồ, đây là một cái nhìn tổng quát, nhưng để quyết định xem điều này thực sự có ý nghĩa hay không, bạn phải thực sự đi đến những nơi đó và xem liệu bản đồ có thực sự giúp bạn định hướng địa hình hay không. Và đi đến các chỗ thích hợp, thực tế có nghĩa là hãy đọc về các nhà tư tưởng trong thời kỳ Khai Sáng, đọc triết học thế kỷ 19, suy ngẫm về cách họ hồi đáp các học thuyết của thời kỳ Khai Sáng, họ đã nói gì về hạnh phúc, họ đã nói gì về quyền con người, họ đã nói gì về ngành công nghiệp và thương mại và xem liệu nó có thực sự đúng hay không, theo ý tôi, đó là những gì bạn phải làm để đủ sức thuyết phục, còn điều tôi đưa ra, như tôi nói, chỉ là một cái nhìn tổng thể thôi.
Và bây giờ, điều tôi muốn làm trong vài phút cuối là đặt triết lý của Ayn Rand vào cuộc tranh luận này, hay đặt vào cuộc xung đột này. Bà xem mình là người ủng hộ mạnh mẽ sự tự do, quyền tự do với tư cách một lý tưởng chính trị, điều mà đã đạt được thành công bằng học thuyết về quyền của con người. Và bà cũng là người bảo vệ mạnh mẽ cho khái niệm về quyền cá nhân, và đã tranh luận rộng rãi về bản chất của quyền cá nhân và nền tảng triết học của quyền cá nhân như thế nào. Và cách suy nghĩ về những gì Ayn Rand làm trong triết học, về mục đích của bà, tôi nghĩ bạn có thể mô tả những gì Rand làm hoặc những gì bà ấy tìm cách để làm, những gì bà ấy muốn cố gắng thực hiện là khôi phục những lý tưởng của phong trào Khai Sáng. Bạn có thể nghĩ về triết lý của bà, mà bà ấy gọi là Chủ nghĩa Khách quan, với tư cách là sự đấu tranh và bảo vệ quan điểm cơ bản về một cuộc sống Khai Sáng, điều mà tư tưởng Khai Sáng đã đưa ra. Điều Rand cho rằng cần thiết, là một lập luận triết học mới cho những lý tưởng mà phong trào Khai Sáng đã đấu tranh, cho điều mà họ đã chiến đấu. Vì vậy, những lý tưởng của thời Khai Sáng, như tôi đã nói về chúng, đó là lý tưởng về sự tự bảo vệ và mưu cầu hạnh phúc, lý trí là “người hướng dẫn” quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn, và một cuộc sống chăm chỉ, là tính siêng năng. Đây là những điều mà phong trào Khai Sáng đề cập đến, đây là quan điểm của họ về một cuộc sống Khai Sáng. Và điều mà Rand đấu tranh, là bạn cần một lời giải thích mới, những lập luận mới, và cách bảo vệ mới cho những quan điểm này.
Đầu tiên, hãy nói đến vấn đề tự bảo vệ. Rand đưa ra một cách giải thích mới về nền tảng đạo đức, trong quan điểm, cách giải thích và trong các lập luận của bà, không khẩn cầu quyền lực, không khẩn cầu thần thánh hay bất kỳ đấng siêu nhiên và chiều kích siêu nhiên nào - đấng siêu nhiên với tư cách là điều bạn cần để có đạo đức, để hiểu thế nào là đạo đức, thế nào là thiện và ác; đúng hơn là, theo quan điểm của bà, đạo đức mang tính cá nhân, và nó tồn tại vì cuộc sống của chính cá nhân đó, toàn bộ quan niệm và ý niệm về giá trị, tốt xấu, đúng sai, thiện ác tồn tại bởi vì bạn đang sống, và bạn phải làm điều gì đó, đặc biệt, bạn phải thực sự hành động tư duy duy lý để thực hiện sự tự tồn tại hoặc tự bảo vệ chính mình như tư tưởng Khai Sáng đã đề cập, và vì hạnh phúc của chính bạn. Vậy nên, cái gì đúng sai, tốt xấu đến với cuộc sống của mỗi cá nhân, con người tìm kiếm và con người có thể đạt được những giá trị thông qua đó, con người đạt được những điều tốt đẹp có nghĩa là tốt cho mình, giúp nâng cao cuộc sống của mình, nâng cao sự tự bảo vệ bản thân và giúp mình phát triển trong cuộc sống. Hoặc con người có thể làm những điều tồi tệ hay xấu xa, và đó là những điều chống lại khả năng tồn tại, khả năng phát triển, khả năng đạt được hạnh phúc của bản thân. Đây là những gì đạo đức đề cập đến từ đầu đến cuối, vì vậy, Rand đưa ra một sự giải thích mới về đạo đức, bà gọi nó là “một lập luận về tính tư lợi duy lý”, hoặc có thể sử dụng tựa đề của một trong những cuốn sách của bà: “Đạo đức vị kỷ” (The Virtue of Selfishness) và khi nói ‘tính tư lợi, hay vị kỷ duy lý’, ý của bà không phải là loại nhiệm vụ lợi dụng người khác, mà là nhiệm vụ đạt được những giá trị để thúc đẩy cuộc sống của bạn, làm giàu nó và giúp cho bạn đạt được hạnh phúc. Như vậy, các bạn có thể thấy một quan điểm mới về đạo đức được đưa ra, ý tôi là hầu hết mọi người ngày nay nghĩ rằng vị kỷ là một thói xấu, là cái ác, nhưng ở đây, đó là một đức tính đạo đức theo quan điểm của Rand và đó là một phần của toàn bộ mục đích đạo đức.
Phong trào Khai Sáng đấu tranh cho lý trí, Ayn Rand đã nói về triết lý của mình, về bản chất của triết lý: “Đó là sự lý giải và bảo vệ về lý trí của con người, về bản chất của lý trí, ý nghĩa của việc tuân theo lý trí và không tuân theo lý trí, việc hành động một cách phi lý hoặc chống lại lý trí bằng nhiều cách khác nhau nói lên điều gì”. Như vậy, bà muốn khôi phục toàn bộ quan điểm đó, và bà cố gắng đưa ra câu trả lời, bà thường mô tả triết lý của mình là ‘đáp lại sự công kích lý trí của Kant’. Ông “cố phủ nhận lý trí để nhường chỗ cho đức tin”. Ayn Rand cố gắng khôi phục rằng con người nên chấp nhận lý trí như một điều tuyệt đối, không có chỗ cho những thứ như đức tin hoặc những thứ như ‘cảm xúc trở thành yếu tố chính yếu dẫn dắt bạn trong cuộc sống’. Vì vậy, bà tranh luận cho điều đó, cho lý tưởng Khai Sáng. Vậy nên, khi Rand bảo vệ vấn đề lý trí, bà ấy đang phản đối hai kiểu giải thích khác nhau về việc con người không có khả năng hiểu được thế giới và không có khả năng sử dụng lý trí để định hướng bản thân. Lời giải thích đầu tiên, có thể nói là, Rand thường nói “nó mang tính thần bí”, nhưng như tôi đã nói, đó là sự khẩn cầu quyền lực – “Ta không thể biết được, vậy nên, ai đó phải cho ta biết điều cần làm”. Và tôi đã nói rằng một phần của quan điểm Khai Sáng, đặc biệt là về đạo đức, nếu đó là một lời khẩn cầu đối với thần linh, “chúng tôi thực sự không biết gì, chúng tôi chỉ biết khi ai đó nói cho chúng tôi biết phải làm gì”. Vậy, bạn không được định hướng bởi lý trí, bạn bị dẫn dắt bởi quyền lực. Rand tất nhiên phản đối điều này. Nhưng mặt còn lại bà cũng không tán thành, thường có kiểu quan điểm này: “Vâng, nếu không có quyền lực nào cho bạn biết phải làm gì, bạn không biết phải làm gì, bạn không thể biết được”, và đó là mặt chủ nghĩa hoài nghi. Vậy, “hoặc quyền lực nói cho bạn, hoặc bạn không biết gì”, và chủ nghĩa hoài nghi là “bạn không biết gì cả”, và bà phản đối toàn bộ vấn đề của thuyết hoài nghi. Rand lập luận bảo vệ lý trí, rằng con người có thể biết được thế giới bên ngoài. Con người có thể hiểu được quan hệ nhân quả, có thể hành động theo khoa học, suy luận quy nạp; con người có thể khái quát hóa từ những quan sát và những kinh nghiệm của mình như các nhà khoa học vẫn làm hàng ngày, và con người có thể hiểu được thiện ác, đúng sai, bằng cách sử dụng trí óc và sử dụng lý luận của riêng mình. Đó không phải là vấn đề về cảm giác hay cảm xúc, và cũng không phải là vấn đề về việc khẩn cầu quyền lực. Do đó, Rand phản đối điều mà thời kỳ Khai Sáng phản đối, rằng chúng ta cần quyền lực và bà cũng phản đối rằng ‘không có quyền lực thì bạn sẽ trở nên hoài nghi’.
Khai Sáng nói về sự siêng năng, nói về việc làm ra, sáng tạo ra mọi thứ, Rand cũng vậy nhưng bà không dùng từ ‘siêng năng’ mà dùng từ “hiệu quả”, theo tôi, đây là một khái niệm bao quát hơn ý nghĩa của từ “siêng năng” trong thời kỳ Khai Sáng. Và bà ấy nói về “đức tính” hiệu quả, và ý nghĩa của điều đó là gì, và lý do đây là điều trung tâm, cốt lõi của một cuộc sống đúng đắn hay tốt đẹp, một cuộc sống đạo đức, một cuộc sống được khai sáng. Rand thực sự là nhà tư tưởng đạo đức đầu tiên ca ngợi tính hiệu quả như một vấn đề đạo đức sâu sắc, rằng đó là bản chất của những gì tốt đẹp về một người nếu anh ta thực sự tốt. Như vậy, Rand là nhà tư tưởng đầu tiên tôn vinh các nhà phát minh, nhà khoa học, nhà kinh doanh, nhà công nghiệp, nghệ sĩ, kiến trúc sư vì họ là những người tốt, họ là những hình mẫu đạo đức với tư cách là nhà khoa học, nhà phát minh, doanh nhân, nhà kỹ nghệ, kiến trúc sư, nghệ sĩ. Bà ca ngợi khả năng tạo ra giá trị của bộ óc con người, tạo ra những giá trị thúc đẩy cuộc sống của chính mình và đó chính là tính hiệu quả. Vậy nên, cuối cùng thì đó là một khái niệm bao quát hơn nhiều. Phong trào Khai Sáng đề cập đến vấn đề về sự siêng năng, còn đối với Rand, vấn đề về tính hiệu quả trở thành một vấn đề đạo đức thực sự, và là bản chất cốt yếu của đạo đức. Vì vậy, bà đấu tranh cho điều đó, và tất nhiên, bà cũng đấu tranh cho việc mưu cầu hạnh phúc, rằng sống là đạt được hạnh phúc trong chính cuộc đời mình, từng ngày, từng năm, đó là điều bạn nên tìm kiếm, phấn đấu, và đó là điều bạn có thể đạt được, nếu bạn có một cuộc sống thích hợp, đó chính là hạnh phúc. Như vậy, đó là bức tranh về cuộc sống Khai Sáng thực sự, Rand đấu tranh cho cuộc sống như thế, nhưng bà ấy đưa ra những lập luận triết học khác, những lập luận triết học mới cho những lý tưởng này, và bà đưa ra những lý lẽ mới cho chúng, bởi vì bà ấy nghĩ rằng có rất nhiều vấn đề, rất nhiều kẽ hở, thực sự có rất nhiều điểm trái ngược và mâu thuẫn trong triết lý Khai Sáng. Vì vậy, Rand đấu tranh cho đức tính vị kỷ, cho việc mưu cầu hạnh phúc cá nhân, cho sự tối thượng của lý trí, nó phải là kim chỉ nam cho bạn trong cuộc sống, và đấu tranh cho tính hiệu quả. Đây mới là một cuộc sống thực sự tốt đẹp theo quan điểm của Rand. Và các bạn có thể thấy những điểm tương đồng thực sự giữa điều này và điều mà các nhà Khai Sáng đã đấu tranh khi họ nói về việc tự bảo vệ, tính siêng năng, lý trí, mưu cầu hạnh phúc, nhưng điều thực sự khác biệt là Rand đưa ra những lập luận tiến bộ cho những điều này.
Thực sự là vào thế kỷ 19, phong trào Khai Sáng đó đã bị tấn công, và trên thực tế, tất cả đều bị nghi ngờ, và tất cả những ý niệm trung tâm của nó về việc tự bảo vệ bản thân, về sự lý trí, sự siêng năng, mưu cầu hạnh phúc, tất cả những điều này đều có thể bị loại bỏ. Rand nghĩ điều đó có thể xảy ra bởi vì các lập luận, các luận cứ triết học, hoàn cảnh triết học cho những lý tưởng này vẫn còn thiếu trong thời kỳ Khai Sáng. Có đủ loại vấn đề, đó là lý do tại sao bà nghĩ chúng ta cần một triết lý mới. Họ đã đi đúng hướng trong những gì họ cố gắng làm, nhưng họ đã sai hoặc họ đã đi chệch hướng khi thực sự tiến hành. Vì vậy, về chi tiết, khi bạn xem xét chi tiết triết lý của Locke, Rand cho rằng có tất cả các kiểu vấn đề, đủ các loại lý do mâu thuẫn trong quan điểm của ông về việc tự bảo vệ bản thân và ngay cả trong quan điểm của ông về sự hạnh phúc. Và nó phải được tu chỉnh, và đó là những gì bà cố gắng làm, theo nghĩa, tôi nghĩ bạn có thể cho rằng, về mặt triết lý, Rand đang cố gắng khôi phục thời kỳ Khai Sáng.
Và nếu bạn muốn có một bức tranh miêu tả mới của Ayn Rand đối với đạo đức, đối với những gì bà ấy nghĩ về ‘một cuộc sống thực sự, một cuộc sống được định hướng bởi lý trí là như thế nào’, thì nơi tốt nhất để tìm thấy điều này là đọc tiểu thuyết của Rand, đặc biệt là đọc “The Fountainhead” 13 và “Atlas Shrugged” 14, chúng đưa ra bức tranh về một cuộc sống đạo đức, ở đời sống hàng ngày và trong thực tế, và đây là lập luận mới của Rand về một cuộc sống khai sáng và ta nên phấn đấu vì điều gì.
Nguồn: ReasonVN
