[VIDEO] Bảo vệ tri giác
Đây là lớp học thứ ba trong loạt bài giảng - bài này có tiêu đề là “Bảo vệ tri giác”
Lần trước chúng ta đặt câu hỏi “quá trình nhận thức cơ bản- nền tảng cho những vấn đề khác là gì?” Và chúng ta đã kết luận rằng quá trình đó chính là tri giác, bởi vì tri giác là sự nhận thức về thực tại dưới dạng thức được quyết định bởi bản chất sinh lý học thuộc về các giác quan của chúng ta, và vì vậy, nó mang tính quyết định chứ không phải do ý chí, nó là nguồn nguyên thuỷ của mọi nguyên liệu. Vậy tri giác là thứ được trao sẵn, tất cả mọi lựa chọn, những thứ bạn có thể kiểm soát trong tâm tưởng đều phải điều chỉnh cho phù hợp với những gì được nhận biết- đó chính là tiêu chuẩn của mọi nhận thức. Và tôi đã đưa ra định nghĩa của mình về tri giác như vầy: là một sự ý thức liên tục về các thực thể tách biệt, ở các vị trí cụ thể của chúng, trong không gian, đạt được bằng cách chủ động tiếp nhận nguồn cảm quan từ thực tại. Vậy đó là phần tóm tắt lại nội dung chính của phần trước nhé.
Tôi muốn làm rõ hơn một tí bằng cách đưa vào một câu nói của Aquinas1 . Chính Aristotle là người thấu hiểu rằng tri giác là thứ được trao sẵn, và tri giác chính là nền tảng mà mọi thứ khác phải dựa theo để điều chỉnh, đây chính là một thành tựu vĩ đại của ông. Aquinas đã thấm nhuần tư tưởng này và đúc kết nó thành một câu nói quen thuộc với mọi nhà, các bạn chắc biết rồi: “nihill in intellectu...gì gì đó...”. Các bạn biết câu này mà đúng không? Ở đây có bao nhiêu bạn là ‘nihil in intellectu’, không ai theo Thiên Chúa Giáo ở đây cả sao? À, câu đó là vầy: “Nihil in intellectu quod non sit prius in sensu”, có nghĩa là “Không có gì trong trí tuệ mà không xuất phát từ các giác quan”. Đương nhiên, ban đầu, nó không xuất hiện trong các giác quan với cùng dạng thức. Nếu bạn tưởng tượng một ngọn núi vàng, dù bạn chưa từng trông thấy một ngọn núi vàng nhưng bạn đã thấy vàng rồi, và bạn cũng đã thấy núi rồi, cho nên bạn sẽ kết hợp những gì bạn đã thấy lại với nhau. Cho nên, không có nghĩa là nó được sắp xếp cùng một cách thức nhưng có nghĩa là những chất liệu nền tảng của tri thức được cung cấp hoàn toàn bởi các giác quan.
Chủ đề mà chúng ta sẽ bàn tới là câu trả lời cho sự phản bác – “Ừ cho là vậy đi, tri giác là nền tảng, nhưng nếu tri giác sai thì sao?” Descartes có nói: “Có thể nội dung của tri giác đều sai, có thể những gì tâm trí chúng ta dung nạp là do một ác thần, một con quỷ xấu xa, một linh hồn quỷ dữ với quyền năng vô hạn đã cấy vào.” Sau đó, ông đã xoá bỏ sự ngờ vực này bằng phát biểu: “À, thì thực sự có Chúa, và Chúa có thể đùa cợt chúng ta nhưng Ngài sẽ không lừa gạt chúng ta một cách triệt để theo cách đó”. Vậy, ta biết rằng những gì mình nhận biết được thật sự tồn tại bởi vì Chúa là một người khá tốt và Ngài sẽ không khiến ta rối tung đến độ biến cả thế giới thành một ảo giác. Lập luận tuyệt vời, phải không nào.
Nhưng tôi sẽ cho thấy tri giác là inerrant- thuật ngữ chuyên môn có nghĩa là ‘không thể sai’. Có thể bạn thắc mắc vậy tại sao không dùng từ infallible- tri giác không thể thất bại? À, vì tri giác vẫn có thể thất bại theo một nghĩa cụ thể nào đó. Tri giác không thể cung cấp thông tin bạn thực sự cần có. Tri giác chỉ có thể đem đến cho bạn những thông tin trong khả năng của nó. Xét tình huống cụ thể mà bạn đang gặp phải, bạn hoàn toàn có thể thất bại nếu hành động dựa theo tri giác giác quan. Ví dụ, mấy con chim đâm vào cửa sổ bằng kính vì tri giác của chúng không thể phân biệt được giữa kính trong suốt và không khí cho nên về mặt này chúng thất bại. Nên, từ “fallibility” không phải là một sự lựa chọn tốt để nói đến những gì giác quan không thể làm được. Từ “inerrant” tốt hơn, và chúng ta dùng từ này để nói về tri giác vì tri giác không thể phạm một sai lầm không gây ra lỗi. Khi tôi nói “chúng ta” có nghĩa là tôi và các triết gia khác đã bắt đầu sử dùng từ “inerrant” này trong vòng 10-15 năm gần đây. Tôi không ám chỉ nó là Chủ nghĩa Khách quan, nhưng sự thật, thuật ngữ “inerrant” này chỉ mới xuất hiện thôi, tuy ý tưởng thì đã có từ lâu rồi.
Galt2 phát biểu: “Giác quan không thể lừa con người...các cơ quan tri giác... không có tính tự do ý chí, không có năng lực phát minh hay bóp méo,... chứng cứ mà các cơ quan giác quan mang đến cho con người là tuyệt đối”. Cho nên dù chúng ta dùng thuật ngữ nào để miêu tả, thì nó cũng không thể nào mang tính chủ nghĩa khách quan chính thống hơn được nữa.
Chúng ta sẽ đối chất với 3 trường phái lập luận khác nhau chống lại các giác quan trong lịch sử triết học. Và tôi nghĩ các bạn đều đã quá quen thuộc với chúng, ngoại trừ cái thứ 3. Mà thực ra lập luận thứ 3 này ở một mức độ nào đó cũng không còn lạ lẫm với mọi người. Mục đích của việc đối chất với những lập luận phản bác này không phải để hạ gục những kẻ hoài nghi. Chúa biết tôi thích hạ gục những kẻ hoài nghi cỡ nào, nhưng còn có một điểm tích cực khác, bạn sẽ hiểu rõ hơn tri giác là gì, vai trò của tri giác cũng như tri thức là gì, trong việc đối diện với những lập luận phản bác này, đặc biệt đối với cái cuối cùng. Cho nên, việc đương đầu với những thách thức này thực sự có lợi và mang đến cho chúng ta nhiều thách thức.
Đầu tiên, luận điểm của trường phái Ảo Tưởng. Những con kiến-ảo ảnh, ý tưởng về hình ảnh này tôi lấy từ một trang web- anh chàng nọ đã sử dụng chất thức thần LSD hay gì đó và rồi khi nhìn lên bàn tay mình, anh đã thấy “những con kiến vốn không hề có thật”. Thôi, ta hãy chuyển qua một ảo tưởng khác vui vẻ hơn so với hình ảnh lũ kiến bò lổn ngổn lên tay chân mình đi. Là vầy, một anh chàng nhìn thấy Julie Andrews3 trong bộ phim “Giai điệu hạnh phúc4 ”, cho dù bà ấy không hề có mặt ở đó. Câu trả lời là, khi nhìn thấy ảo ảnh thì trong trường hợp đầu là bạn không hề nhìn thấy lũ kiến và trong trường hợp sau thì bạn không hề nhìn thấy Julie Andrews, bạn chỉ có một trải nghiệm nội tại chứ không phải là tri giác. Gặp ảo giác thì không thể là nhận biết được. Có những lập luận cho rằng: “Làm sao bạn biết mình đang gặp ảo ảnh?”. Nhưng mà không liên quan. Vấn đề là khi bạn gặp ảo ảnh thì không phải là bạn đang nhìn thấy- khi bạn nhìn thấy có nghĩa là bạn có liên hệ với thực tại. Khi gặp ảo ảnh, kết quả cho ra không phải thuộc về nhận thức luận. Tôi sẽ tìm cách này hay cách khác để kiểm tra, ví dụ như đi khám. Nhận thức luận đặt giả định rằng bạn tỉnh táo, còn thức và không ở trạng thái ảo tưởng về các ảo ảnh. Nếu bạn rơi vào các trạng thái đó, giải pháp là, à mà nếu bạn mất trí thì không có giải pháp nào cả. Nếu bạn đang ngủ mê thì hãy tỉnh dậy, nếu bạn đang gặp ảo ảnh thì phải đi gặp bác sĩ ngay. Vậy, câu trả lời cho luận điểm từ thuyết Ảo tưởng như sau: nó chỉ là sự tái hiện của một hệ thần kinh bị méo mó, biến dạng, bệnh hoạn- chắc chắc có gì đó bị hỏng hóc. Có một nguyên do cho trải nghiệm của bạn nhưng nguyên do đó không phải là một khách thể trong thực tế, có khả năng kích thích các giác quan của bạn, tạo ra một tri giác. Nguyên do trong trường hợp ảo tưởng là một lỗi hỏng trong hệ thần kinh và trải nghiệm của bạn không phải là một tri giác. Vậy đó là câu trả lời cho luận điểm này. Rất đơn giản.
Tiếp theo là một luận điểm khác thú vị hơn- luận điểm từ trường phái Ảo Giác mà chắc ai cũng đã nghe qua: nhúng phân nửa một cây que thẳng vào cốc nước, nó sẽ trông như bị cong- đây quả thực là một ví dụ triết học lâu đời. Aristotle đặt tên cho giải pháp đối với trường hợp này là- từ “giải pháp” có đúng không nhỉ? Ông đã đưa ra một sự phân tích chính xác cho những gì xảy ra trong trường hợp này. Ông khẳng định tri giác của bạn không bị sao cả, vấn đề nằm ở cách đánh giá của bạn, ở sự nhận dạng ý niệm rằng “đó là một cây que cong”. Khi bạn nói đó là một cây que cong, tôi cố tình dùng từ “nói”. Khi bạn phát ra câu này trong tâm trí, hoặc thành lời nói, bạn đang phân loại tri giác của mình và đưa ra một phát biểu về tương lai chứ không đơn thuần về khoảnh khắc tri giác ở hiện tại. Ví dụ, bạn dự đoán rằng khi bạn lấy cây que ra khỏi cốc nước thì nó sẽ trông như thế này- là hình ảnh này: 1 cây que cong dù đã lấy nó ra khỏi cái cốc và nước trong đó. Vậy, bạn mong đợi hoặc dự đoán, nhận định rằng nó là một thể ở thực tại, trông như vậy trong những điều kiện này. Và sai lầm nằm chỗ đó. Vậy, đối với một người quan sát ngây thơ, sẽ có những tri giác sai lạc, có nghĩa là những tri giác khiến bạn đưa ra một nhận định sai lầm. Tri giác không có lỗi mà chính thứ sai lạc kiểu như “bạn nhận biết sai” mới có lỗi, bạn bị thôi thúc đưa ra một nhận định sai, sai phạm nằm ở nhận định như thế. Có hàng ngàn ảo giác giác quan như vậy và chúng được gọi là ảo giác tri giác- những ảo giác khó tin mà bạn có thể tìm thấy trên trang các trang web, nhưng chúng là gì thì thật sự không quan trọng: từ những sắc màu nhạt trông đậm hơn cho đến những độ dài trông khác đi nhưng thực chất là giống nhau, những thứ to lớn hơn nhưng lại trông nhỏ bé hơn...không quan trọng chúng là gì nhưng tất cả đều rơi vào công thức chung như vậy về mặt triết lý: Các giác quan cho chúng ta biết như vầy-như kia nhưng như vầy- như kia lại không phải là cái thực sự, vì vậy, giác quan bị phạm lỗi. Đúng chưa? Giác quan của bạn cho bạn biết cây que bị cong trong khi nó không hề cong, vậy, giác quan của bạn đã sai lầm. Vấn đề nằm ở ngay phát biểu đầu tiên, tiền đề đầu tiên; không, giác quan đâu cho chúng ta biết như vầy-như kia, giác quan có nói gì đâu. Nếu chúng ta bỏ luôn phần sau, khi kết luận về giác quan, chúng ta sẽ có được kết luận như vầy: “Trong những điều kiện này, nó sẽ trông có vẻ như vậy” – như là cây que nhúng phân nửa trông cốc nước sẽ giống như trong tấm hình thứ nhất; và “trong những điều kiện khác thì nó sẽ trông khác đi”. Kết luận như vậy thì đâu còn gì nói nữa. Cho nên lỗi sai trong luận điểm của trường phái Ảo Giác chính là sự lẫn lộn giữa nhận dạng ý niệm rằng “đây là một cây que cong” với tri giác rằng “đây chính là thứ tôi nhìn thấy”. Tri giác không bao gồm bất kì phát biểu hay nhận định nào. Tri giác thậm chí không bao gồm bất cứ sự dự đoán nào. Dựa trên những trải nghiệm trong quá khứ, bạn có thể, dù không nói ra, cũng giống như một con vật có thể dự đoán một cách phi khái niệm từ một trải nghiệm tri giác nào đó rằng điều gì sẽ xảy ra. Sự dự đoán này có thể sai nhưng tri giác của bạn thì không. Chỉ những dự đoán về sự nhận biết tương lai mới có thể sai mà thôi. Được rồi, đó là tất cả những gì cần nói về luận điểm của thuyết Ảo giác, và tôi nhấn mạnh rằng bạn được trao ảo giác gì cũng không quan trọng, nó đều bao hàm việc so sánh tri giác được trao sẵn với một tri giác khác, nhưng cái tri giác được trao sẵn không cho bạn biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Tri giác được trao sẵn chỉ cho biết “đây là việc đang xảy ra ở hiện tại”.
Luận điểm thú vị và hay ho nhất để theo đuổi chính là luận điểm về tính tương đối của tri giác. Luận điểm này cho rằng: tri giác chỉ có tính tương đối, điều chúng ta nhận biết được hoàn toàn do chúng ta. Tôi tin rằng người Hy Lạp cổ cũng đã biết đến luận điểm này. Và đây là ví dụ: bạn nhúng một tay vào xô nước lạnh, tay kia vô xô nước ấm và chờ trong 2 phút. Sau đó bạn nhúng cả 2 tay vào xô nước ở nhiệt độ bình thường nằm giữa 2 xô nóng-lạnh. Chuyện gì xảy ra? Cùng xô nước đó thôi nhưng bàn tay đã ở trong xô nước lạnh sẽ cảm thấy ấm, còn bàn tay đã nhúng trong xô nước ấm sẽ cảm thấy lạnh. Bạn biết mà, đây đâu phải khoa học gì ghê gớm: những gì bạn đã quen thuộc sẽ trở thành tiêu chuẩn cho tri giác của bạn. Bàn tay đã quen với nước lạnh sẽ cảm thấy ấm khi nhúng qua xô nước ở giữa, còn bàn tay quen với nước ấm sẽ thấy lạnh. Chuyện dễ hiểu thôi. Tôi để câu này lên trên bức hình: “Tôi gọi chúng như chúng vốn-là”. Mà khoan, tôi nhận được những dấu hiệu đối lập, cùng một xô nước mà giác quan của tôi lại cho tôi kết quả ấm-lạnh khác nhau. Vậy, đâu thể nói “Tôi gọi chúng như chúng vốn-là” được vì chúng vừa ấm vừa lạnh mà. Như vậy là mâu thuẫn rồi. Vậy các giác quan không thể mang đến cho bạn sự thật thực sự được, chúng chỉ cung cấp cho bạn sự thật tương đối với chúng, đúng không? Lập luận của họ là vậy đó. Luận điểm này phá sản nguyên tắc trung gian đầu tiên, quan điểm truyền thống: “Tôi gọi chúng như chúng vốn-là”, ý là gì?- là phương pháp nhận thức, tôi biết quả bóng là gì- hoặc là lỗi bóng ra ngoài hoặc là lỗi đánh trượt bóng, và nó sao thì tôi gọi nó vậy. Bạn “gọi nó như nó vốn-là” vì bạn không còn cách nào để biết nó là gì ngoại trừ phải dựa vào cách bạn nhận biết nó. Bạn nhận biết dựa trên bản chất của các cơ quan giác quan. Nếu tình trạng của cơ quan giác quan thay đổi, tri giác của bạn thay đổi theo. Nếu bạn là một con dơi- có vài ông trọng tài bị phán là nhìn kém như dơi- nếu bạn là một con dơi, bạn sẽ nhìn bằng những tiếng vang của sóng siêu âm. Nó sẽ ra sao? Nhìn thấy không phải bằng ánh sáng mà bằng, không phải gọi là radar được mà phải gọi là dao động âm được tạo ra khi dơi phát ra các tiếng kêu, những tiếng kêu với tần số rất cao. Những tiếng kêu này sẽ dội về và giúp dơi có thể nhìn thấy được những vật mỏng như dây đàn piano. Tôi dùng từ “thấy” vì nó có khả năng nhận biết bằng âm thanh những vật mỏng như dây đàn piano thông qua những tiếng vang dội lại. Nó giống như sóng siêu âm- chính là vậy, nó y như sóng siêu âm trên tàu ngầm. Sở dĩ việc nhận biết khác nhau là do các cơ quan cảm giác khác nhau, trong trường hợp này là nguồn năng lượng được sử dụng để truy xuất thông tin trong môi trường là khác nhau. Tóm lại, sự công kích ở người theo thuyết hoài nghi là: Vậy chúng ta không biết được thế giới như thế nào; chúng ta chỉ biết thế giới ra sao theo cảm nhận của riêng ta; chúng ta chỉ biết được trạng thái nội tại của mình. Nội dung của tri giác tuỳ vào chúng ta, tuy nó mơ hồ. Và đây là bài học tích cực lớn chúng ta có thể rút ra, đây chính là điểm quan trọng nhất của bài giảng; khi nói nội dung của tri giác là tuỳ vào mình, chúng ta cần phải phân biệt được dạng thức của tri giác với khách thể của tri giác. Luận điểm làm mập mờ ranh giới giữa cách chúng ta nhận biết – dạng thức tri giác và khách thể chúng ta nhận biết – thực thể trong thực tại. Cụ thể, trong ví dụ về 3 xô nước, cảm giác ấm hay lạnh khi bạn nhúng cả hai tay vô chỉ là một cảm giác, đó là một dạng thức tri giác. Trong khi đó, khách thể của tri giác chính là nhiệt độ của nước. Chính vì sự thay đổi nguồn nước của hai tay mà cùng một nhiệt độ trong xô ở giữa lại được cảm nhận với hai trạng thái khác nhau, bởi hai cơ quan cảm nhận được thích nghi khác nhau. Dạng thức mà ta nhận biết khách thể lệ thuộc một phần vào bản chất của các giác quan, một phần khác là dựa vào bản chất của khách thể, và cả bản chất của những điều kiện xảy ra tri giác, ví dụ như trong điều kiện mù sương hay quang đãng, sáng sủa hay tù mù. Dạng thức mà chúng ta nhận biết tuỳ thuộc phần nào vào bản chất các giác quan của chúng ta nhưng khách thể mà chúng ta nhận biết thì không. Nhiệt độ của nước không do các cơ quan giác quan của ta quyết định. Trái táo mà chúng ta nhận biết- trong ví dụ về trái táo đã nói ở phần trước- được nhận biết theo một dạng thức nhất định, một dạng tròn, màu đỏ, bóng láng...nhưng trái táo không tuỳ thuộc vào dạng thức tri giác. Chúng ta có thể nhận biết nó bằng cách đó và nếu mà chúng ta có là lũ dơi đi nữa thì chúng ta cũng nhận biết cùng một khách thể đó thôi.
Lũ ong có thể nhìn thấy tia cực tím còn chúng ta thì không. Giả sử như có một tính chất nào đó của quả táo được phản chiếu bằng tia cực tím thì chúng ta không thấy được nhưng mấy con ong thì có thể. Nhưng trái táo thì vẫn là trái táo đó thôi- Khách thể vẫn vậy. Chúng ta có thể có những phản hồi khác biệt từ lũ ong hay lũ dơi và từ những sinh vật khác. Không quan trọng. Tất cả mọi dạng thức tri giác đều có giá trị. Không phải lũ ong hay lũ dơi mới có dạng thức tri giác đúng và chúng ta thì sai, hoặc ngược lại.
Tất cả mọi dạng thức của tri giác đều có giá trị bởi vì tất cả đều là dạng thức của tri giác. Giống như ngôn ngữ vậy. Bạn đâu thể tuyên bố: “Tiếng Pháp mới là ngôn ngữ chuẩn mực.” (À thì người Pháp có nói vậy thiệt). Tiếng Pháp mới đúng trong khi Tiếng Anh sai, tiếng Navajo sai, còn tiếng Trung mới đúng và tiếng Hindi cũng sai. Làm gì có ngôn ngữ nào đúng hay sai. Tất cả đều là phương tiện để diễn đạt suy nghĩ. Tất cả đều có giá trị. Tất cả đều hoàn thành mục tiêu của chúng, cho nên chúng ta cũng không thể nhận xét tiêu cực về các dạng thức tri giác.
Giờ nói qua ví dụ quen thuộc về sự mù màu. Bạn có thể phân biệt được số lượng thông tin các giác quan mang đến cho bạn nhưng bạn không thể phân biệt được chất lượng, thông tin vẫn là thông tin thôi. Bạn chỉ có thể nói bạn nhận được nhiều hay ít thông tin chứ không thể nói thông tin này xấu hay thông tin kia tốt. Thực tế là bạn đang thu nhận. Một người bị mù màu sẽ thấy 2 sắc màu không có điểm khác biệt và tôi xếp chúng vô chung đại khái là màu xám. Tôi không rõ lắm một người mù màu thì thấy màu đỏ khác xanh lá như thế nào. Nhưng nếu bạn nhìn màu đỏ với xanh lá thì bạn phân biệt được chứ, trừ phi bạn hoàn toàn mù màu đỏ với xanh lá. Tôi có hơi bị mù màu- giữa xanh lá với đỏ, nhưng mà không phải hoàn toàn mù. Bạn thấy đấy, bạn có thể phân biệt 2 màu nhưng hình bên phải thì trông như nhau đối với một người bị mù màu đỏ-xanh lá. Đối với họ hai màu này như nhau. Chúng trông như chỉ là 1 màu và anh ta không thể phân biệt nổi 2 màu mà chúng ta có thể. Cho nên với chúng ta, những cá nhân không mù màu, sẽ nhận được nhiều thông tin hơn. Đâu có ai sai hay đúng. Vấn đề là làm sao phân biệt được thôi. Tương tự, đối với người mù hoàn toàn. Bạn đâu thể nói: Ồ, xảy ra một vấn đề triết học bởi vì một người mù có cách nhận biết khác với người sáng mắt. Đâu phải, người mù thì không thể cảm nhận bằng mắt, và người mù màu thì không nhận biết được một vài khác biệt. Không phải họ thấy một thực tại khác. Họ chỉ có được ít thông tin hơn về cùng một thực tại. Nhưng mà thông tin họ có được, dù là gì đi nữa, cũng là thông tin.
Một điểm khác cực kì quan trọng. Dạng thức tri giác không tương đồng với khách thể, cảm giác ấm không tương đồng với nhiệt độ. Các giác quan cũng như những công cụ vật lý. Tôi có một cái nhiệt kế ở đây và độ cao của thuỷ ngân trong đây chỉ mức 60: đây chính là dạng thức xác định nhiệt độ. Độ cao không tương đồng với nhiệt độ. Nhiệt độ là động năng trung bình thuộc về các chuyển động của các hạt cấu thành vật chất. Bạn đâu thể nói nhiệt độ giống như độ cao? Khác mà.
Bạn không thể so sánh dạng thức với khách thể. Dạng thức là cách bạn nhận biết khách thể. Khách thể thì có thuộc tính. Các giác quan của bạn có thể hoặc không thể nhận ra hay ghi nhận thuộc tính đó, và khi có thể, thì các giác quan sẽ thực hiện theo một hình thức nào đó. Nếu bạn cảm nhận hơi nóng, nhiệt độ dưới dạng là sự chuyển động của các hạt cấu thành vật chất thì đó hoàn toàn là một dạng thức phản hồi có giá trị với cùng một hiện thực.
Nếu bằng cách nào đó bạn có thể “thấy” được nhiệt độ, bạn biết khi nào vật nóng lên lên đủ độ, và bạn thấy được ánh sáng toả ra. Có như vậy thì bạn cũng không thấy được nhiệt độ, bạn chỉ thấy được một thứ gì đó nóng đỏ rực lên. Một mặt nào đó bạn nhận biết được hơi nóng nhưng hai chuyện không giống nhau. Giả sử bạn chỉ cần nhìn vào một khách thể và nói được nó nóng bao nhiêu độ thì đó hoàn toàn là một dạng thức tri giác có giá trị chứ.
Lấy một ví dụ triệt để khác. Giả sử bạn thiết lập lại não bộ để mọi thứ thay đổi màu hết: cái gì từng là màu vàng giờ đây sẽ thành màu xanh. Bầu trời màu vàng, chuối thành màu xanh, màu đỏ với xanh lá cũng đổi vị trí cho nhau. Đại khái mọi thứ biến thành màu đối lập với nó. Giả sử điều này xảy ra tại một thời điểm trong cuộc đời mà bạn đã quen với hệ thống màu cũ thì nó sẽ khá là kinh ngạc, đúng không? Nhưng bạn vẫn sẽ nhận được những nội dung thông tin như trước đây về cùng một thực tại. Nhưng nếu vừa mới sinh ra bạn đã được thiết lập não bộ như vậy thì những gì bạn nhận biết cũng đâu khác biệt gì với người khác. Tại sao? Bởi vì bạn học từ “màu vàng” khi mẹ bạn chỉ vào những vật như là trái chuối, nội tại bạn hình thành nên dạng thức này, bởi vì não bộ bạn thiết lập đã thiết lập khác đi, bạn có cùng một dạng thức phản hồi như mẹ mình khi bà nhìn thấy bầu trời xanh. Nhưng bạn thì nghĩa tới từ “màu vàng” trong trường hợp đó, cho nên, khi bạn nhìn bầu trời mà theo mẹ bạn là “màu xanh”, thì đối với bạn, nó cũng như trái chuối trong cách nhìn của bà vậy (màu vàng). Không quan trọng, bạn gọi nó là “màu xanh” thì nó là màu xanh. Nội tại bạn cảm nhận màu sắc đó với dạng thức nào không quan trọng. Bạn vẫn có những tên gọi khái niệm, những phạm trù, chủng loại như mọi người khác thôi. Và bạn cũng không thể nói rằng “à có thể các giác quan bị lỗi và cho bạn một kết quả sai”. Lấy ví dụ cái nhiệt kế đi. Bạn biết đó, thỉnh thoảng sẽ xuất hiện một khoảng hở không khí trong mực thuỷ ngân. Bạn đã thấy qua rồi đúng không? Cụ thể là với loại nhiệt kế bạn có thể đặt trong miệng đấy, đôi khi thuỷ ngân bị tách ra và bạn sẽ gặp vấn đề. Cho nên, rõ ràng là trong trường hợp nhiệt kế bị hư thì nó sẽ cho bạn một kết quả sai. Vậy, nó có giống như giác quan bị lỗi không? Không. Giác quan không mang đến kết quả sai. Nó mang đến một kết quả mà bạn có thể đánh giá không đúng nếu như bạn không biết chuyện gì đang xảy ra. Vấn đề không nằm ở kết quả... à, xin lỗi, vấn đề không nằm ở độ cao của thuỷ ngân. Độ cao của thuỷ ngân là một thực tế vật lý được xác định bởi hiện thực. Vấn đề nằm ở sự chia độ của nhiệt kế khi có các bong bóng không khí xuất hiện trong thuỷ ngân. Trong ví dụ này, bạn phải phân độ lại nhiệt kế sao cho nó tương đồng với sự xác định về mặt khái niệm của khách thể. Cho nên khi xảy ra vấn đề là bạn phải phân độ lại nhiệt kế, miễn sao mỗi mức nhiệt sẽ cho ra một độ cao tương ứng của mức thuỷ ngân. Bạn có một cái nhiệt kế đầy đủ tính năng thì đâu còn lỗi gì nữa.
Đây là một ví dụ khác về sự khác biệt giữa dạng thức và khách thể. Hi vọng bạn có thể nghe thấy âm thanh này vì đây là một phần của ví dụ. Tôi đang xào bộ bài tây, bạn có thể nghe không? Tôi xào các lá bài, bạn nghe thấy, bạn nhìn thấy, bạn thấy và nghe cùng một hành động. Tôi thì cảm nhận được. Tôi nghe và cảm nhận được cùng một sự việc trong thực tế, 3 dạng thức tri giác khác nhau cho cùng một sự việc. Ví dụ đơn giản hơn nhé: Hãy cung tay lại thành nắm đấm. Tay còn lại hãy làm như vầy: cảm nhận hình dạng nắm đấm của tay kia. Thấy không? Bạn thấy nắm đấm với bạn cảm nhận (sờ) hình dáng nắm đấm là hai trải nghiệm rất khác nhau chứ. Nhưng mà khách thể trong thực tế chỉ có 1 thôi. Vậy, những phương thức cảm giác khác nhau mang đến cho bạn những dạng thức khác nhau của cùng một khách thể.
Được chứ? Dạng thức tri giác mà ta trải nghiệm được, thực ra, là được ban sẵn một cách siêu hình học. Ta đâu có thể quyết định được rằng ta sẽ bị mù màu, ta không chọn rằng ta bị mù màu. Nếu ta là một con dơi và nhận biết bằng sóng âm, thì ta cũng đâu có chọn để có thể làm được việc ấy. Dạng thức tri giác được quy định bởi sinh lý, nó được ban sẵn cho ta theo siêu hình học, nó không thể bị đánh giá, nó không phải là một dạng thức đạo đức của tri giác, hay là dạng thức xấu xa của tri giác. Nó chỉ là thứ công cụ mà ta có sẵn, nó là một phần thuộc về đặc tính ý thức của ta. Hình thức của tri giác, sinh lý, và cái hình thức sinh ra là một phần của đặc tính ý thức ấy. Đó là lý do vì sao phân biệt giữa dạng thức và khách thể lại quan trọng đối với chủ nghĩa Khách quan, vì toàn bộ nhận thức luận thuộc chủ nghĩa Khách quan là về cách tích hợp đặc tính ý thức vào trong nhận thức luận. Aristotle từng hiểu rằng "Cái A là cái A”, và rằng thực tại này không có mâu thuẫn, rằng chúng ta phải tuân thủ theo đặc tính của vạn vật ở thế giới bên ngoài. Cống hiến quan trọng của Ayn Rand đối với nhận thức luận là "... Và chúng ta phải tuân theo đặc tính của những công cụ nhận thức của ta." Dạng thức của tri giác chỉ là một khía cạnh của một chủ đề rất rộng, đặc tính của ý thức con người. Và đối với tri giác, tuân theo đặc tính của ý thức đơn giản nghĩa là, không nhầm lẫn giữa những gì sẵn có về mặt siêu hình học - tức là dạng thức, và khách thể - tức là thứ mà tồn tại trong thực tại. Rồi, vậy là dạng thức thì hợp lệ, khách thể thì tồn tại, và ta ý thức được chúng. Tôi xin giới thiệu hơi sâu một chút, khi mà chúng ta bàn mức độ khái niệm mà phải chịu điều khiển bởi ý chí tự do của ta và ta chọn dạng thức ấy, sinh lý không quyết định việc ta nói tiếng Anh hay tiếng Pháp gì đó; sinh lý cũng không quyết định việc có đưa ra một định nghĩa đúng đắn hay sai trái về tự do hay không; sinh lý càng không quyết định việc ta hình thành nên những khái niệm trừu tượng, hay cứ tiếp tục theo đuổi những cái gần với cấp độ tri giác. Nên là, đặc tính của tri thức thuộc về khái niệm, liên quan đến dạng thức của nó, thì hoàn toàn bị chi phối bởi bản thân ta, và điều đó không sao cả. Chúng ta cần nhận thức luận để có thể hướng dẫn chúng ta lối đi đúng đắn. Nhưng ở cấp độ tri giác, tất cả đã được định đoạt rồi, tất cả đều đã được định sẵn bởi những đặc điểm của sinh lý. Và khó khăn về mặt triết học là phải biết tách rời dạng thức và khách thể trong mỗi trường hợp nêu trên, phải biết tách rời nhận thức luận khỏi siêu hình học. Nhân thức luận thì nghiêng về phía của dạng thức, còn siêu hình học thì là thứ ở ngoài kia trong thực tại. Và ai cũng thích định nghĩa của Ayn Rand cả, lý thuyết định nghĩa, bà ấy đã phát biểu rằng: "Bản chất thuộc về nhận thức luận, không phải siêu hình học.", nếu bạn đã đọc trước đến phần ấy rồi. Những nhà Khách quan luận dường như cho rằng đó là điều hay ho nhất trong lịch sử, và nó đúng là tuyệt thật, nhưng đó không phải là điều tuyệt vời nhất mà bà ấy đã làm, nhưng nó vẫn là một điều thật tuyệt. Đó là việc phân công để hình thành bản chất, bản chất là một dạng thức nắm giữ thông tin, và được cho rằng một thứ gì đó là bản chất không phải là sự thật trong thực tại, nó dựa trên một sự thật của thực tại, nhưng để cho rằng nó là bản chất thì lại là một đánh giá dựa trên ngữ cảnh, tạo ra một dạng thức để chứa cái cụ thể, không phải là những thứ cụ thể đó, cũng không phải cái bên trong của cái cụ thể. Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn trong bài giảng tới, thực ra, chúng ta sẽ không làm việc ấy, nó không được bao hàm trong loạt bài giảng này, nhưng chúng ta cũng vẫn sẽ đặt nền móng cho vấn đề này trong bài giảng tiếp theo.
Vậy là việc nhầm lẫn giữa dạng thức và khách thể trong mối tương quan đối với tri giác có thể dẫn đến hai lỗi nhất định: một là gán dạng thức tri giác của chúng ta cho khách thể bên ngoài. Đó là cái được gọi là duy thực 5 ngây thơ (chất phác) hay còn gọi là thuyết duy thực trực tiếp 6 . Đó gọi là lỗi cơ bản thôi, ví dụ nhé: ta hay nghĩ rằng tay ta đang cảm giác được nhiệt độ mọi lúc, bằng chính bản thân nó, đây là quan điểm “Tôi xem chúng như-thể-chúng-vốn-là”. Ta không nhận ra rằng bàn tay có những giác quan thụ thể mà có thể, tự bản thân chúng, mát hay ấm lên, và rồi dạng thức phản ửng của ta sẽ thay đổi. Lỗi còn lại là tự tạo ra dạng thức tri giác về khách thể, được đặt giữa tâm trí và thế giới bên ngoài, khác với duy thực ngây thơ - chỉ là một lỗi vô hại, không có ý nghĩa nhiều - đây thì lại là một kẻ thù lớn của nhận thức luận, thuyết duy thực gián tiếp 7 . Nó hoạt động ở cả cấp độ khái niệm và cả tri giác, chúng ta sẽ chỉ bàn về mức độ khái niệm thôi.
Đây là một biểu đồ của thuyết duy thực gián tiếp, khi ta nhìn vào một cái cây, ta không thấy cái cây, ta chỉ thấy một vật đại diện cho cái cây, kiểu như nhìn vào một cái màn hình trong tâm trí vậy, cũng có nghĩa là có một người nhỏ bé trong đầu ta, một người tí hon, đang nhìn vào cái màn hình đó. Giờ, trớ trêu thay, lỗi ở đây thì lại giống với duy thực ngây thơ, con người nhỏ bé ấy đang nhìn vào cái cây nhỏ bé trên màn hình, “biết thế nào”, người ấy thấy nó nhưng không qua trung gian, chỉ cứ thế mà hiểu nó thôi, người ấy chỉ biết rằng ở đấy có hình ảnh của một cái cây. Vậy, giống như thuyết duy thực ngây thơ được chuyển vào trong ý thức của ta. Vấn đề là điều này không đúng. Chẳng có hình ảnh nào khi ta nhận biết cả, không có một hình ảnh bất kỳ nào, chúng ta không nhận biết hình ảnh, nếu ta nhắm mắt lại, thì ta có thể mường tượng ra một hình ảnh, nhưng khi nhìn vào thực tại, thì ta không nhìn vào những hình ảnh, ta nhìn vào những khách thể. Và một vấn đề khác xảy ra nếu ta nói điều này, ta không có cách nào để biết được cái cây là gì, trong thực tại, tất cả những gì chúng ta biết là thứ đang hiện lên trên cái màn hình trong đầu ta. Bạn có thể nói: "Thì, nó hiện ra là vì cái cây có trong thực tại." Thật à? Làm sao bạn biết được điều ấy? Thì, nó không quan trọng điều bạn nói, nó dựa trên sự nhận biết, nhưng ở đây là sự nhận biết nội tại và chủ quan, nên bạn không thể nào thoát khỏi nó được. Kant đã cân nhắc điều này khi đưa ra kết luận có logic của ông ta, "chúng ta không biết những thứ nằm ngoài những điều mà ta có thể nhận biết được, chúng ta chỉ biết cái nằm trên màn hình trong đầu ta mà thôi." Và ông ấy gọi thế giới ngoài kia là “Thế giới tiên nghiệm noumenal8 ”, mọi thứ tồn tại theo cách mà chúng tồn tại, còn chúng ta thì biết đến “Thế giới hiện tượng phenomenal”, mọi thứ tồn tại như chúng hiển hiện theo cách nhận biết của ta", sự phân tách cơ bản, chúng ta bị khóa bên trong tâm trí của ta, chúng ta không thể nhận biết thế giới, tại sao? Vì chúng ta có một dạng thức để nhận biết nó, hay như Ayn Rand nói, "Chúng ta mù vì chúng ta có mắt. Chúng ta điếc vì chúng ta có tai." Cách hiểu đúng về bề ngoài và thực tại mà Kant thực hiện, thực tại không thể nhận biết, và thứ mà ta thấy chỉ là bề ngoài, bạn thấy đấy, rằng vẻ bề ngoài là dạng thức của việc chúng ta nhận biết thực tại. Vậy, chúng ta không nhận biết vẻ ngoài, chúng ta không nhìn thấy bề ngoài của vạn vật, chúng ta nhìn mọi thứ theo một cách nhất định là vì sinh lý của chúng ta. Chúng ta cũng không nhìn vào những vẻ ngoài. Chúng ta không nghe những tri giác về thính giác, chúng ta không ngửi thấy việc ngửi, chúng ta ngửi thấy thực tại. Đôi khi, mùi của nó không được dễ chịu lắm. Chúng ta thấy thực tại, chúng ta nghe hành động, sự kiện trong thực tại. Giờ, điều đó đến từ đâu, ngay cả việc phân biệt bề ngoài và thực tại? Thì, có lúc vẻ ngoài lại rất dễ đánh lừa, như là cái gậy bị cong chẳng hạn, hay một ví dụ đơn giản hơn: mới tối qua thôi, tôi thấy một người phụ nữ, tôi tiếp cận cô ấy, chào một cách nồng thắm, và rồi ôm một cái thật chặt, vì tôi nhầm lẫn cô ấy với một người khác. Việc này thực sự đã xảy ra tối hôm qua, nó thật tuyệt vì đó là một trong các ví dụ được chuẩn bị, người trông giống người, trông cô ấy có vẻ rất giống Donna, nhưng thật ra, tôi nghĩ hình như tên cô ấy là Vicky. Rồi, vậy là không có vấn đề gì về mặt triết học rằng Vicky trông tương tự như Donna, nhưng điều ấy có thể, bạn biết đấy, tạo ra vấn đề kiểu "Ồ, cô ấy trông có vẻ như là Donna, nhưng lại không phải”. Không sao cả, chẳng có gì sai với việc cho rằng nó như vậy cả. Cách dùng bất hợp lý sẽ là khi bạn nói rằng: "Tôi dường như đã thấy Donna." Không, tôi không có thấy... Tôi thấy Vicky, người nhìn giống như Donna. Vẻ ngoài không phải là một khách thể, nó là một dạng hình thức của việc nhận biết một khách thể. Nên, bạn có thể so sánh một dạng thức cảm giác với một dạng thức cảm giác khác. Vẻ ngoài của Vicky thì trông giống vẻ ngoài của Donna. Bạn không thể so sánh dạng thức với khách thể được, “thì, Donna ... Tôi biết Donna trông như thế nào, tôi biết Vicky trông ra sao, nhưng cô ấy thực chất là cái gì? Cô ấy thực sự trông như thế nào?” Bạn không thể nói như vậy được, bạn không thể nào so sánh chiều cao của cột thủy ngân với nhiệt độ được, bạn không thể so sánh vẻ ngoài của vạn vật với việc chúng thực là gì. Chỉ là, hai thứ ấy không nằm trong cùng một hạng mục. Chúng không thể bị so sánh được, kiểu như là, “bơ đậu phộng thì có giống như, kiểu, thứ bảy không, hay nó có khác gì so với thứ bảy không?”. Không thể nào, nó không giống cái này hoặc là cái kia.
Rồi, vậy thì chốt lại, nhận thức tri giác là nhận thức được khách thể nào đó trong dạng thức nào đó thông qua một phương tiện nào đó. Nó đã luôn, không có gì là "Tôi gọi tên chúng như chúng- vốn-là." Nó phải luôn luôn là "Tôi thấy chúng ở một dạng thức được quyết định bởi bản chất của những giác quan của tôi. Và tôi dùng điều ấy để xác định thực tại này." Nhận thức tri giác không phải chỉ là tiếp nhận qua những hình ảnh, nó cũng không phải là dự đoán cái que trông như này khi tôi lôi nó ra khỏi mặt nước, nó cũng không phải là phán đoán về khái niệm; "Tôi thấy rằng nó là một cái que bị cong.", đó chỉ là do ta nhìn thấy cái que ở trong nước thôi. Và rồi trở lại với luận điểm đi từ ảo giác, rằng nhận thức tri giác không phải là đang mơ hay là hoang tưởng, nhận thức tri giác là nhận thức, nhận biết là nhận biết. Nên, câu phát biểu hoàn chỉnh của Galt có liên quan hơn rất nhiều, và cũng bao hàm được rất nhiều luận cứ, hơn là cái phiên bản đơn giản hóa kiểu "chấm chấm chấm" mà tôi đã đọc cho các bạn nghe lần trước. Và tôi cũng muốn kết thức bằng việc đọc cho các bạn câu phát biểu hoàn chỉnh ấy mà tôi nghĩ rằng chúng ta đã sẵn sàng để có thể tiếp nhận: "Cái ngày mà anh ấy nhận ra rằng các giác quan không thể lừa dối mình, rằng những thực thể vật lý không thể hoạt động thiếu động cơ, và rằng những bộ phận dùng để nhận biết là thuộc về vật lý, chúng không có lý trí, không có khả năng sáng tạo cũng như gây nhiễu,..." tức là phụ thuộc vào lý trí, tính gây nhiễu và sáng tạo là sự tách rời vạn vật theo cái cách mà chúng tồn tại, thứ mà chỉ có thể thực hiện được bởi một ý chí tự do ở giữa nguyên nhân và kết quả, "không có khả năng để sáng tạo hay gây nhiễu rằng bằng chứng họ giao cho anh ta là tuyệt đối, nhưng tâm trí của anh ta vẫn phải học cách để hiểu được nó", cái que cong - là một cái que thẳng, được nhúng một nửa trong nước - được nhận biết một cách đúng đắn, chẳng có thứ gọi là nhận biết không đúng đắn, nhưng điều đó có nghĩa gì khi mà bạn lấy cái que ấy ra khỏi nước, thứ đó bạn phải tự học bằng trí tuệ của mình, "tâm trí của anh ta phải tự phát hiện bản chất, nguyên nhân, và toàn bộ ngữ cảnh của những nguyên liệu thuộc về giác quan," kiểu như nếu cái que đang ở trong nước, một nửa bị nhúng trong nước ấy, thì điều ấy có thể ảnh hưởng đến dạng thức của việc nhận biết nó, so với việc chỉ nhận biết nó như thể nó chỉ đang ở trong không khí thôi, "tâm trí của anh ta phải nhận dạng được những thứ mà anh ấy nhận biết...", kiểu như "Đây là một cái que thẳng" chẳng hạn, "đó là ngày anh ấy được tái sinh thành một nhà tư tưởng, và một nhà khoa học." Đó là một chặng đường dài, bạn biết đấy, một chuyến đi dài, từ ngày anh ấy được tái sinh thành một nhà tư tưởng, và một nhà khoa học. Đó là cách hiểu đúng đắn về tri giác, và tôi sẽ kết thúc bài giảng với đoạn văn tuyệt vời từ bài phát biểu của Galt đối với một thế giới đang lụi tàn, với hy vọng rằng chúng ta cũng có thể ngăn chặn sự lụi tàn của chính thế giới của chúng ta. Cảm ơn các bạn, chúng ta sẽ tiến đến phần trả lời câu hỏi nhé.
Harry Bingwanger (HB): Để tôi thêm một chút, về vài điều đáng chú ý mà tôi đã không có thời gian để bàn. Cái tư tưởng rằng những giác quan có thể sai là một tư tưởng lệch lạc. Cho rằng các giác quan có thể sai, rằng giác quan có thể mắc lỗi, giống như việc bạn cho rằng Hiến Pháp của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là bất hợp pháp vậy, rằng Hiến Pháp là bất hợp pháp. Nó có thể có mâu thuẫn, nó có thể sai, nó có thể là rất nhiều thứ, nhưng nó không thể là bất hợp pháp được, vì Hiến Pháp là nền tảng của mọi luật lệ, nó là luật quyền lực nhất của đất nước này. Rồi, luật có quyền lực nhất của đất nước này thì không thể nào mà bất hợp pháp được, vì chẳng có tiêu chuẩn nào cao hơn để đánh giá nó cả, đúng không? Theo như cách tương tự thì khi các giác quan phạm lỗi, dựa vào tiêu chí nào? Tôi từng hỏi trong một bài kiểm tra rằng, trong bài giảng đầu tiên của tôi vào năm 1966, tôi hỏi... Lúc ấy tôi cũng đang giảng về tài liệu này này, và rồi tôi đưa ra một bài kiểm tra và một trong những câu hỏi trong ấy là "Làm sao để ta có thể biết được, trước khi nghe được nó, rằng bất kỳ cuộc tấn công nào hướng về phía sự hợp lý của các giác quan thì đều là sai trái?" Và rồi một học sinh trả lời rằng, "Thì, nếu mà ta nghe được nó, thì các giác quan của ta phải đang hợp lý mới nghe được chứ." Trò ấy đã trả lời như vậy. "Làm sao chúng ta có thể biết về nó trước khi nghe được." Tôi thậm chí còn chưa nghĩ đến điều đó luôn, thậm chí để hiểu được sự công kích lên các giác quan, thì ta cũng phải dùng đến các giác quan rồi. Tiêu chuẩn duy nhất chúng ta có về việc ‘Ồ, hình như nó mắc lỗi rồi’ là những gì mà ta thấy, mà ta chạm vào, những thứ mà ta... liên kết của ta với thực tại này. Có một câu nói tuyệt vời trong bài phát biểu của Galt rằng: "Mọi thứ như chúng-vốn-là chính là mọi thứ như chúng được tâm trí ta nhận biết." Vậy, Kant so sánh các thứ như chúng-vốn-là, các thứ như chúng hiển-hiện-đối-với-chúng-ta, và ông ta đang dùng điều đó để nói rằng chẳng có sự phân đôi lưỡng cực (dichotomy), ta nhận biết mọi thứ như chúng đang tồn tại trong một dạng thức, mọi thứ như chúng-vốn-là chính là mọi thứ như chúng được tâm trí ta nhận biết.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Harry Bingwanger (HB): Rồi, câu hỏi đầu tiên.
Học viên hỏi (HV): Những người theo thuyết hoài nghi sẽ phản biện rằng những góc nhìn khác nhau sẽ chối bỏ đi tính khách quan, một trong những cái...
Harry Bingwanger: Họ có thẳng thừng chối bỏ tính chất khách quan không, hay là họ chỉ khiến bạn cảm thấy như họ đang chối bỏ nó thôi...
Questioneer: Vâng, thì ý tôi là họ nghĩ rằng việc chối bỏ tính chất khách quan...
HB: Họ có thực sự nghĩ như vậy không? Hay đó chỉ là cách mà bạn nhận biết những gì họ nghĩ?
HV: À, câu hỏi của tôi là: vậy còn khi một người nhận biết một điều mà người kia không nhận biết được thì sao? Nếu như không tham khảo những thành viên khác trong xã hội, thì làm sao hai người mà một trong số đó nghe thấy âm thanh và người kia thì không có thể giải quyết được mâu thuẫn ấy? Họ có... Làm sao để chúng ta biết liệu một người có đang hoang tưởng hay không, hay rằng người kia bị lãng tai?
HB: Những người theo thuyết hoài nghi thì luôn hoang tưởng, đó là... Đó là một sự thật được thừa nhận rồi. Câu hỏi của cậu là làm sao để ta có thể biết trong trường hợp một người nhận biết thứ gì đó mà người kia thì không, ai đúng? Thì, rõ ràng, cá nhân nhận biết được sự việc thì có nhiều thông tin hơn là người còn lại - người không nhận biết được nó; không có sự nhận biết thứ về cái không tồn tại. Nên là nếu một người nói rằng: "Cậu có nghe cái đó không?" và tôi trả lời rằng: "Không", thì không phải là tôi đã nghe thấy sự thiếu vắng của thứ gì đó, chỉ đơn giản là tôi không nghe thấy thứ ấy mà thôi. Vậy nên là không có... Không có sự mâu thuẫn gì cả, tôi... Một người có thông tin mà người kia thì không có. Thì đúng là cũng có một vài trường hợp tồn tại những sự nhận biết rất mơ hồ, mỏng manh mà bạn còn không chắc là bạn đã có nghe thấy gì đó. Điều ấy thì không liên quan lắm đến mức độ của tri giác, Ayn Rand có từng nói rằng tri giác không phải là sự nhận biết của khoảnh khắc, và tôi đã nhấn mạnh điều đó trong định nghĩa của tôi, rằng tri giác là sự phân biệt liên tục của một thực thể. Vậy, tri giác không phải là cái mà, bạn biết đấy, "Tôi có thấy thứ gì ở đây không?" đó không phải là tri giác. Tri giác là...(HB diễn tả bằng việc xem xét micro), đó là tri giác, khi bạn đang liên tục di chuyển vòng quanh, khám phá mọi thứ, đạt được ý thức, không nhất thiết là phải dùng nhiều giác quan, nhưng lý tưởng thì nên là vậy, về một khách thể trong cuộc sống thực, trong thực tại. Đó mới là tri giác. Nên, nếu một người nói rằng: "Bạn thấy cái micro này không? Bạn có nghe nó không? Bạn có cảm thấy nó không?” “Đặt tay bạn lên đây nào. Đây nè..." và rồi người còn lại nói rằng: "Không, tôi không hiểu anh đang nói về cái gì cả." Thì hoặc là người ấy đang nói dối, hoặc là người ấy cần chăm sóc y tế.
HV: Vâng.
HB: Chỉ là không có nơi nào để những người hoài nghi có thể đưa lợi thế của họ vào điều này cả, chẳng có cái thứ gọi là tri giác sai lầm. Bất-tri-giác, cái đó có thể có, người mù tồn tại, người chết thì cũng có hơi tồn tại, họ không nhận biết thứ gì cả, nhưng mà đâu thể làm đảo lộn. Nên là... Ừ, có sự khác biệt giữa tiếp nhận thêm thông tin hay ít hơn, nhưng dù cho bạn nhận được cái gì đi chăng nữa, khi bạn nhận được nó rồi thì nó cũng là tuyệt đối. Và thậm chí còn có thể nghi vấn nó, loại bỏ khả năng có thể tạo thành một câu hỏi, tất cả mọi câu hỏi đều dựa trên tri thức, và tri thức thì dựa trên tri giác, vì tri giác là phương pháp chính để ta giao tiếp với thế giới.
HV: Nhưng rồi làm sao một người lãng tai có thể tránh đi đến kết luận rằng: "Ồ, người ấy chắc chỉ đang tưởng tượng, đang bị ảo giác thôi. Chẳng có giọng nói thật nào cả..."
HB: Một người lãng tai chỉ đợn thuần không thể nghe nhiều mà thôi, như kiểu tôi cũng có vấn đề về việc nghe vì tôi già hơn bạn, và tôi cũng không thể nghe rõ... như những âm thanh khác nhau mà người trẻ có thể nghe được. Và rồi tôi cũng đi xét nghiệm quá trình lão hóa của tai mình, và việc ấy hoàn toàn khách quan, họ biết chính xác những tần số mà tôi gặp khó khăn trong việc nghe, hoàn toàn chẳng có quan hệ với hoài nghi gì ở đây cả. Nhắm mắt... khi bạn nhắm mắt lại thì bạn không thể thấy. Cũng chẳng có quan hệ hoài nghi gì về việc nhận ít thông tin hơn cả. Nếu như bạn nghe thấy những giọng nói trong đầu, giống như những tên sát nhân tâm thần ấy, thì bạn cần được chăm sóc ý tế và chẳng có gì trong nhận thức luận có thể giúp bạn cả, đó là sự hoang tưởng. Chẳng có ai trong chúng ta bị vấn đề ấy cả. Rồi, được rồi, tôi sẽ nhận câu hỏi tiếp theo. Cảm ơn bạn. Tôi không có công kích gì bạn, thật là tốt vì bạn đã biết hỏi về những phản biện mà một người hoài nghi sẽ có. Vâng?
HV: Tôi đang cố du nhập những gì ông vừa nói với phần tri thức mà tôi có sẵn về triết học, Ờm... Ông có cho rằng triết lý của Kant, kiểu như mưu đồ dựa trên tri giác, thứ mà..., ồ, không phải là không thể sai, không thể mắc lỗi, nền tảng hóa tri giác, thứ mà không thể mắc lỗi ở khái niệm - khái niệm có thể lỗi. Vậy, ông ta đang cố nói rằng nếu chúng ta cố tìm ra sự hợp lệ của các giác quan, thì sẽ chỉ là đi một vòng luẩn quẩn thôi. Đó là tất cả... những gì mà ông ta đã nhận định, đúng không ạ?
HB: Ừ, Kant cho rằng cảm giác là cái có sẵn, nên ông ta là người theo thuyết duy cảm, và chúng ta dùng những danh mục của những hiểu biết mà là... Hãy nhớ đến dạng thức của trực giác, nội dung về mặt khái niệm, để có thể hiểu được những thực thể gì, để áp dụng vào chúng, thực ra là, xây dựng tâm trí để đưa vào mối quan hệ nhân quả. Chúng ta đưa vào mối quan hệ nhân quả, chúng ta đưa vào những thực thể, đó không phải là từ thực tại, Kant nói, đó chỉ là thứ gì đó mà tâm trí ta đặt vào, nội dung mang tính khái niệm, thêm vào... chúng ta nhận biết nó, thứ mà được biên dịch sẵn bởi những tấm lọc vô hình đang hoạt động để gây nhiễu... Ý tôi là, ông ta sẽ nói rằng bạn không thể gọi đó là gây nhiễu được vì đó là những gì chúng ta có thể tương tác, nhưng rồi nó cũng hướng về ý đó. Chúng ta đạt được một thực tại bị làm mờ đi, chúng ta có được một thực tại đã được biên dịch sẵn, với những danh mục về khái niệm và những dạng thức của trực giác đang thêm thắt chi tiết vào nó, đó không phải là một trải nghiệm thực sự. Vậy, đó như kiểu những “con quỷ xấu xa” của Descarte đang lẩn trốn trong mỗi người chúng ta vậy, chỉ là Kant muốn nói rằng: "Đừng gọi chúng là xấu xa", nhưng mà ông ta lại đang thêm thắt nội dung vào tất cả tri giác của chúng ta. Vậy, bạn nói rất đúng. Đó là về việc hiểu sai toàn bộ mọi thứ. Trật tự đúng phải là tri giác, khái niệm, khả năng cảm thụ với tư cách những điều trừu tượng hóa mức cao từ tri giác. Rồi, độ sáng, chẳng hạn, là một khái niệm rất tiên tiến. Định rõ một khía cạnh, một khía cạnh cơ bản của khả năng cảm thụ, đây là của tri giác, việc này không hề bất thường, hãy nghĩ đến khái niệm về nguyên tử thử nhé, bạn có thể thấy bối rối, và bạn có thể cho rằng, “thì, nguyên tử thì ở mức độ cơ bản hơn cái bệ đứng này, nó cơ bản hơn một con người vì cơ thể người ta là tập hợp của những nguyên tử, và rồi cái bệ đứng này cũng là tập hợp của những nguyên tử”. Vậy, nguyên tử có trước, cái bàn, và cái bệ đứng, rồi con người tới sau. Không, đó là việc bối rối ấy xếp theo ưu tiên của nhận thức luận, khái niệm về nguyên tử không tồn tại cho đến khi một nền văn minh tiên tiến ra đời, sự bùng nổ của Hy Lạp cổ đại, đúng không nào? Nó hoàn toàn không được biết trước lúc ấy, tức là tầm khoảng 396000 năm. Nên là, giống như nguyên tử, dù rằng nó rất cơ bản theo một nghĩa nào đó, nó vẫn là một khái niệm rất phức tạp, xuất hiện rất lâu sau khi cái bệ đứng này được phát minh ra; nên, độ sáng cũng là một khái niệm cao cấp khác được tìm ra lâu sau khi cái bệ đứng được phát minh, nó chỉ là một sự trừu tượng hóa từ trải nghiệm thôi. Được rồi, vâng?
HV: Vâng, tôi chỉ hơi tò mò và đang so sánh giữa duy thực trực tiếp và duy thực gián tiếp, và có thực là duy thực trực tiếp thì hay nhầm lẫn giữa khách thể với dạng thức, và còn duy thực gián tiếp thì lại nhầm lẫn giữa dạng thức với khách thể không? Tôi không biết tôi nói có đúng không nữa...
HB: Tôi sẽ nói như thế này, duy thực trực tiếp thì không nhìn nhận toàn bộ vấn đề của dạng thức. Nó cho rằng, "Nhìn này, trái tào màu đỏ. Bạn thấy trái táo, nó màu đỏ." Vậy còn nếu một người mù màu nhìn trái táo và thấy nó màu xám thì sao? "Tôi không biết, tôi tưởng nó chỉ... Màu đỏ ở trong trái táo và chúng ta thấy điều ấy." Người theo duy thực gián tiếp thì lại nói rằng: "À há, vậy là màu đỏ đâu có ở trong trái táo đâu. Màu đỏ ở bên trong chúng ta kia mà, và khi chúng ta tưởng chúng ta thấy trái táo màu đỏ, thứ chúng ta thực sự thấy là cái nằm bên trong chúng ta. Khi mà chúng ta nghĩ rằng có một thực thể rắn ngoài kia, thì đó chỉ là một thực thể rắn trong tinh thần mà thôi. Chúng ta cảm thấy được sự nắn bóp này, chúng ta không thế bóp nó, nên chúng ta gọi nó là "rắn". Nhưng đó lại là một trải nghiệm của riêng ta, vậy nên, ở ngoài kia chẳng có vật rắn nào cả”. Vậy là những nhà duy thực gián tiếp hiểu rằng có dạng thức, và lại đem nó đặt vào bên trong chúng ta, nhưng thật ra, dạng thức lại chẳng ở trong chúng ta cũng không ở trong khách thể, nó tồn tại ở trong sự tương tác giữa chúng ta và khách thể. Nên, khi một trái táo tương tác với giác quan của con người, một tri giác nào đó được hình thành và rồi nó được nhận biết... tôi không nên nói như vậy nhỉ... được sinh ra, chúng ta nhận biết trái táo trong một dạng thức nhất định, dạng thức tri giác ấy thì lại không nằm trong trái táo, nó cũng không nằm trong chúng ta, nó nằm ở hành động tương tác với trái táo, như kiểu cái vỗ tay không nằm trong tay này, hay tay kia, nó nằm trong sự tương tác giữa hai tay. Vậy nên, tri giác là kết quả được hình thành từ sự tương tác giữa khách thể và bộ máy giác quan.
Nguồn: ReasonVN
