[VIDEO] Đại cương về chủ nghĩa Khách quan
Chủ nghĩa khách quan là triết lý do Ayn Rand kiến tạo.
Ayn Rand sinh năm 1905, tại Nga và được giáo dục ở Liên Xô. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã chống đối các học thuyết thần bí và các tập quán đầy tính áp chế của nền văn hóa này. Năm 9 tuổi, bà quyết định sẽ trở thành nhà văn. Năm 13 tuổi, bà quyết định mình là người vô thần. Ở bậc Trung học, bà được giới thiệu về lịch sử Hoa Kỳ và ngay lập tức xem Hoa Kỳ là hình mẫu quốc gia lý tưởng dành cho những người tự do. Ở tuổi 21, bà trốn thoát khỏi chế độ Xô Viết và đến Mỹ, một mình.
Chủ đề hai cuốn tiểu thuyết đầu tay của bà - We the living (Tạm dịch: Chúng ta những kẻ sống) và Anthem (Tạm dịch: Bài ca tư tưởng) tập trung vào mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể. Trong tiểu thuyết Suối Nguồn xuất bản năm 1943, lần đầu tiên bà trình bày hình tượng người anh hùng vốn sau này trở thành mục đích chính trong các tác phẩm của bà: Con người lý tưởng – con người “nên-trở-thành” và “phải-trở-thành”. Đó là Howard Roark, một kiến trúc sư đấu tranh không khoan nhượng với truyền thống tôn thờ thế lực thống trị. Sự tự lập, tự tôn và chính trực của Roak đã truyền cảm hứng cho hàng triệu độc giả trong hơn nửa thế kỷ qua.
Atlas Shrugged (tạm dịch: Atlas vươn mình), xuất bản năm 1957, là một kiệt tác của Ayn Rand. Đó là câu chuyện về sự biến mất bí ẩn của các nhà tư bản công nghiệp và các nhà cải cách tiên phong, và hệ quả là thế giới đã sụp đổ như thế nào. Trong Atlas vươn mình, Ayn Rand đã “kịch hóa” triết lý độc đáo của mình thông qua một câu chuyện bí ẩn đầy trí tuệ bao hàm cả đạo đức học, siêu hình học, nhận thức luận, chính trị, kinh tế và tình dục. Chủ đề của cuốn sách là: Vai trò của tư duy trong sự tồn tại của con người, và kết quả tất yếu là quan điểm triết lý đạo đức mới: đạo đức của tính vị kỷ duy lý.
Sau Atlas Shrugged, Ayn Rand tiếp tục định nghĩa triết lý của bà rõ ràng hơn trong các tác phẩm phi hư cấu, bao gồm: Introduction to Objectivist Epistemology (Tạm dịch: Đại cương về Nhận thức luận khách quan), The Virtue of Selfishness (Tạm dịch: Đạo đức của sự ích kỷ), Capitalism: the Unknown Ideal (Tạm dịch: Chủ nghĩa tư bản: những ý tưởng chưa biết), và The Romantic Manifesto (Tạm dịch: Tuyên ngôn lãng mạn). Bà gọi triết lý của mình là Chủ nghĩa khách quan và mô tả đặc điểm của nó là: triết lý để sống trên trái đất. “Triết lý của tôi, về bản chất”, Ayn Rand phát biểu, “là khái niệm về con người như một anh hùng, lấy hạnh phúc cá nhân làm mục tiêu đạo đức của cuộc đời, xem thành tựu về năng suất là hoạt động cao quý nhất và xem lý trí là điều tuyệt đối duy nhất”.
Bài giảng sau đây của triết gia Leonard Peikoff, là một bài giới thiệu ngắn gọn về triết lý của Chủ nghĩa khách quan. Tiến sĩ Peikoff là người thừa kế tri thức và hợp pháp của Ayn Rand. Ông là cộng sự thân thiết của Ayn Rand trong suốt 30 năm trước khi bà qua đời vào năm 1982 và hiện nay trở thành học giả hàng đầu về Chủ nghĩa khách quan. Tiến sĩ Peikoff là giảng viên triết tại nhiều trường đại học, trong đó có Đại học New York và Học viện Giáo dục Chủ nghĩa khách quan. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách như The Ominous Parallels (Tạm dịch: Sự tương đồng đáng ngại) và Objectivism: The Philosophy of Ayn Rand (Tạm dịch: Chủ nghĩa khách quan: Triết lý của Ayn Rand). Những quyển sách này trình bày tất cả những nguyên tắc then chốt của Chủ nghĩa khách quan từ Siêu hình học đến Mỹ học, theo một cấu trúc phân cấp chặt chẽ. Quyển “Chủ nghĩa khách quan: Triết lý của Ayn Rand” là tuyên bố tối hậu về hệ thống triết học của Ayn Rand.
Chào buổi sáng!
Tôi phải tạo động lực cho các bạn trước khi tôi trình bày về triết lý của Ayn Rand và bản chất của triết lý này. Tại sao bạn nên quan tâm đến triết lý của người nào đó? Tại sao con người cần triết học?
Trước tiên, chúng ta phải hiểu triết học là gì. Triết học là môn học nghiên cứu về mối quan hệ của con người với hiện thực - đó là một định nghĩa ngắn gọn. Nó bao gồm năm nhánh mà tôi sẽ viết lên bảng và định nghĩa chúng một cách ngắn gọn. Nó có cấu trúc rõ ràng là có lý do.
Siêu hình học là nhánh nghiên cứu về bản chất của vũ trụ như một thể thống nhất: điều gì là sự thật? Thực tại hoạt động như thế nào? Liệu có thể có hai thực tại hay không? v.v
Nhận thức luận - Học thuyết về nhận thức: Làm sao bạn biết là “bạn biế”t? Điều gì đủ điều kiện để gọi là tri thức? Một ý tưởng phải trải qua bài kiểm tra nào để có thể nói rằng “Tôi thật sự biết”? Liệu bạn có thể thật sự biết hay không? Liệu bạn có thể hoàn toàn đoan chắc? Tất cả những câu hỏi về nhận thức chính là Nhận thức luận.
Hai nhánh này cùng nhau dẫn đến nhánh trung tâm - không phải nhánh cơ bản. Hai nhánh vừa rồi là những nhánh cơ bản của triết học, nhưng nhánh trung tâm là đạo đức học, hay luân lý học, hai thuật ngữ này tương đồng với nhau. Đó là nhánh triết học cung cấp bộ quy tắc về giá trị để hướng dẫn lựa chọn và hành động của con người: bạn nên sống như thế nào? Mục tiêu của cuộc sống nên là gì? Điều gì là đúng, điều gì là sai?
Sau đó đến lượt các nhánh phái sinh: một là chính trị học - nghiên cứu về bản chất của xã hội và vai trò thích đáng của nhà nước (tôi không nghĩ các bạn cần một ví dụ ngay bây giờ), và một nhánh khác, đó là mỹ học - nhánh mà tôi sẽ chỉ đề cập trong một hoặc vài câu trong phần tổng quan ngắn gọn này. Đó là triết lý về Nghệ thuật. Điều gì tạo nên một tác phẩm nghệ thuật? Điều gì khiến cho một tác phẩm nghệ thuật tốt hay xấu? Thiết lập tiêu chuẩn ra sao?
Phẩn tổng quan này cung cấp cho bạn mối quan hệ giữa con người với thực tại: con người nhận biết bằng cách nào, nên sống ra sao và theo đó, nên làm thế nào để kiểm soát các sản phẩm quan trọng nhất của mình: nhà nước và nghệ thuật.
Bây giờ, điều đầu tiên dễ dàng nhận thấy ở chủ đề này là bạn không thể trốn chạy. Bạn có thể thoát khỏi nó một cách có ý thức, nhưng sau đó tiềm thức của bạn sẽ hấp thụ nó từ thế giới xung quanh và xem xét tất cả những câu hỏi này. Bạn có thể có những ý tưởng nhất quán hoặc những ý tưởng mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng nó không giống như vật lý, hay thiên văn học, hay thậm chí động vật học khi bạn có thể vui vẻ sống cả đời mà không bao giờ nghe đến chúng, không bao giờ gặp phải hậu quả gì khi không biết đến chúng. Tất cả những câu hỏi này là trung tâm vấn đề của một con người khi họ sống cuộc sống của mình. Vì vậy, dưới hình thức này hoặc hình thức khác không đồng nhất, bạn có một quan điểm về tất cả mọi thứ.
Hãy lấy một ví dụ từ lĩnh vực đạo đức. Bạn muốn xây dựng một sự nghiệp. Bạn quyết định trở thành một bác sĩ tại một phòng khám tư nhân. Điều đó tốt? Hay xấu? Linh mục của bạn, hay mẹ của bạn, hay mẹ chồng/mẹ vợ của bạn khuyên bạn rằng điều này rất ích kỷ. Tất cả những gì bạn quan tâm là tiền. Bạn thực sự nên là một nhà truyền giáo, giống như Albert Schweitzer và đi đến Châu Phi? Hay bạn nên làm việc trong một phòng khám công cộng? Bạn nên vị tha, hy sinh bản thân vì người khác? Bạn có vài quan điểm, bạn có thể có một quan điểm không nhất quán, bạn có thể làm một chuyện và cảm thấy hối hận vì đã không làm chuyện khác. Nhưng bạn không thể thoát khỏi câu hỏi: ai sẽ được hưởng lợi từ hành vi của bạn? Nếu bạn cố gắng chạy trốn, (để thay đổi ví dụ và để nói): ai mà biết những câu hỏi này?
“Không có gì tuyệt đối. Không ai có thể chắc chắn về bất cứ điều gì. Và điều này không chỉ áp dụng cho đạo đức mà áp dụng cho tất cả các tri thức thuộc về nhận thức luận.” Và nếu đó là sự thật, làm thế nào để bạn hình thành cái gọi là tri thức, hoặc thậm chí bất kỳ ý tưởng nào bạn thật sự nắm giữ? Bạn có hỏi người khác giúp bạn không? Đó là một kiểu lý thuyết về nhận thức luận: tiến hành các cuộc thăm dò dư luận để tìm ra sự thật. Nhưng làm thế nào để những người khác biết họ nên tin vào điều gì? Họ nhận được từ Chúa chăng? Vâng, Chúa ban cho những điều mặc khải. Bạn có tuân theo logic không? Logic là gì? Chuyện gì xảy ra nếu ai đó nói “điều đó có vẻ rất hợp lý với bạn nhưng lại không hợp lý với tôi”? Bạn chỉ đồng ý với điều đó thôi? Bạn phải có một ý tưởng nào đó, nếu không bạn thậm chí không thể để một ý tưởng đi vào tâm trí của mình. Giả sử bạn nói, tôi không biết về tất cả những điều này, 50 triệu người Pháp thì không thể sai được và tôi sẽ theo họ. Chà, nếu 50 triệu người Pháp không thể sai, điều đó có nghĩa là không có hiện thực. Bất cứ điều gì họ nói sẽ quyết định bản chất của hiện thực. Vâng có một thực tế! Nếu như vậy, 50 triệu người Pháp có thể sai. Điều đó có đúng không? Tôi không nghĩ rằng tôi cần ví dụ minh họa chính trị và mỹ học.
Chủ nghĩa khách quan cho rằng bằng cách này hay cách khác, mọi người đều có lập trường về những câu hỏi này, những câu hỏi cốt lõi. Và điều đó thực sự định hình cuộc sống của bạn, tính cách của bạn, và định hình lịch sử loài người.
Giờ hãy xem xét ngắn gọn về các nhân tố của chủ nghĩa khách quan. (Hy vọng các bạn đã có động lực), về quan điểm của Chủ nghĩa khách quan, quan điểm chủ chốt trong những vấn đề này.Đối với Siêu hình học, từ trung tâm sẽ là “sự tồn tại” hoặc “thực tại”. Chủ nghĩa khách quan bắt đầu bằng tiên đề: Sự tồn tại hiện hữu. Có một cái gì đó. Cái đó là gì? Không có gì bí mật. Tất cả mọi thứ mà bạn nhìn thấy. Tất cả mọi thứ có thể cảm nhận bằng các giác quan. Mọi thứ, từ những thứ trên thiên đàng cho đến thành phần của tách cà phê này. Tổng thể những điều đó là sự tồn tại hay thực tại. Và đó là tiên đề mà chủ nghĩa khách quan bắt đầu.
Luật cơ bản của thực tại là gì? Rất đơn giản: luật đồng nhất được đưa ra đầu tiên bởi triết gia nào? Aristotle nghĩ rằng mọi người trong phòng này không biết gì, nhưng điều đó đúng. Đó không phải là không biết gì về bất cứ điều gì mà là không biết gì về triết học. Luật đồng nhất phát biểu: A là A. Mọi thứ là cái-mà-chúng-là. Nếu bạn trượt một kỳ thi, bất kể điều đó khiến bạn không vui như thế nào, thì bạn vẫn trượt. Đó là thực tế. Dù bạn có thể khiến giáo viên thay đổi điểm số trên giấy thì cái sức học xứng đáng để bị điểm F vẫn giữ nguyên. Và điều này đúng với mọi thực tế, con người hay sinh vật khác.
Vì vậy, chúng tôi gọi đó là thực tại, là chính bản thân nó, độc lập với ý thức, độc lập với lương tâm. Từ nào thay thế được cho “độc lập với ý thức”? Khách quan. Do đó, nếu 50 triệu người Pháp hoặc bất kỳ số nào nhỏ hơn hoặc lớn hơn, muốn điều gì đó là đúng, điều đó không đúng chỉ đơn giản vì họ nói nó đúng. Bạn có thể mong muốn, khát khao, tin tưởng; một mình hay liên kết với phần còn lại của thế giới, điều đó hoàn toàn không ảnh hưởng đến thực tại. Thực tại là chính bản thân nó. A là A, bất kể nội dung hay niềm tin của tâm trí con người là gì. Tương tự, vì nó là chính xác bản thân nó, nó độc lập với bất kỳ ý thức nào khác và độc lập với một “ứng cử viên lớn” khác, nếu bạn không tin rằng ý thức của con người kiểm soát thực tại, là Thượng đế- một thực thể siêu nhiên kiểm soát thực tại và được gọi là Chúa.
Bây giờ, vì cùng một lý do chúng tôi bác bỏ ý tưởng rằng con người không thể ..., nội dung trong tâm trí của họ không thể thay đổi thực tế. Chúng tôi nói giống như thế về một sinh vật siêu nhiên. Vì vậy, về bản chất, chúng tôi đề cập điều đó trong siêu hình học. Có một thực tại, thực tại đó là thế giới này, mọi thứ xung quanh ta. Chúng tôi phủ nhận chủ nghĩa chủ quan, đó là quan niệm cho rằng chủ thể con người, đơn giản bằng các thao tác trong tâm trí của họ, có thể thay đổi thực tế.
Và chúng tôi phủ nhận chủ nghĩa siêu nhiên, vốn là quan niệm cho rằng có một sức mạnh, lực lượng siêu nhiên, thần thánh hay những thứ tương tự kiểm soát hoặc gây ảnh hưởng đến thế giới này. Vì vậy, chúng tôi ủng hộ người vô thần, không có thần thánh lẫn Quỷ Gremlin và cả Ông già Noel. Chúng tôi chống lại tất cả các hình thức siêu nhiên. Chỉ có tự nhiên. Vậy thế giới tự nhiên vận hành như thế nào? Theo “luật nhân quả” 1 ; theo nguyên nhân và tác động; từng sự vật vận động tuân theo đúng bản chất của chúng. Không có phép màu, không có “cơ hội” cho những sự kiện vô cớ. Không có ích gì khi cầu nguyện vì chẳng có ai để cầu nguyện, và ngay cả khi ai đó có thể nghe thấy lời cầu nguyện của bạn, kẻ đó không thể làm được bất cứ điều gì vì mọi vật là chính bản thân chúng và làm những gì chúng làm.
Điều này có nghĩa là con người phụ thuộc vào luật nhân quả? Chính xác là vậy. Nhưng chúng tôi tiếp tục nói rằng: một hình thức của nhân quả là ý chí con người. Con người có sức mạnh lựa chọn, sức mạnh ý chí, sức mạnh để tư duy hoặc không. Và đó là nguyên nhân đầu tiên trong toàn bộ chuỗi tiếp theo.
Bây giờ ta hãy chuyển sang nhận thức luận. Bạn đã có một phác thảo sơ lược về quan điểm của chúng tôi đối với siêu hình học. Nhận thức luận, từ khóa là “lý trí”. Lý trí. Chúng tôi tin rằng lý trí là phương tiện duy nhất của nhận thức. Và vì vậy, chúng tôi đối lập điều đó với chủ nghĩa thần bí. Chủ nghĩa thần bí là quan điểm cho rằng có một phương tiện nhận thức phi lý trí, phi giác quan. Lý trí có nghĩa là: bắt đầu bằng các giác quan và sau đó sử dụng logic để đưa ra kết luận trên cơ sở đó. Chủ nghĩa thần bí có nghĩa là bạn có thể gạt bỏ các giác quan, logic và lập luận; bạn vẫn có một cái nhìn trực tiếp, bằng một cách nào đó, vào thực tế. Đó có thể là đức tin. Một hình thức của chủ nghĩa thần bí: thiên khải; trực giác, khả năng ngoại cảm, v.v ... Chúng tôi từ chối bất kỳ hình thức thần bí nào. Rõ ràng trong phần tổng quan ngắn gọn này, tôi không thể cung cấp cho bạn các lập luận chi tiết mà tôi đã trình bày trong cuốn sách của mình. Đây chỉ là một bản phác thảo mục lục về Chủ nghĩa khách quan.
Lý trí có ba yếu tố cốt yếu đóng vai trò trọng tâm như tôi đã nói. Đầu tiên, lý trí bắt đầu với các bằng chứng giác quan: nhìn, nghe, nếm, chạm, ngửi. Chúng tôi coi những điều đó là hoàn toàn có căn cứ và là nền tảng của tất cả các tri thức khác. Do đó, chúng tôi loại bỏ mọi ý tưởng (kể từ thời đầu Hy Lạp trở đi) cho rằng các giác quan là vô căn cứ, rằng chúng mang đến những ảo tưởng, rằng chúng ta không thể phân biệt giác quan với ảo giác, rằng nếu có người sao Hỏa, họ sẽ có các giác quan khác với chúng ta, v.v Tất cả những điều này được đề cập trong văn học khách quan, song tôi chỉ đưa ra một quan điểm sơ lược.
Dựa trên quan sát cảm giác, con người có khả năng độc đáo để hình thành các khái niệm, hay khái niệm trừu tượng. Cuốn sách của Ayn Rand - Introduction to Objectivist Epistemology (Tạm dịch: Đại cương về nhận thức luận khách quan) hoàn toàn tập trung vào cách hình thành các khái niệm. Bà cho rằng các khái niệm cũng là khách quan. Nói cách khác, chúng không phải là sản phẩm của một sắc lệnh độc đoán của xã hội. Và chúng không phải là một thiên khải từ Chúa như những gì Plato và các hậu bối theo Kitô giáo của ông quan niệm. Các khái niệm là cách chúng ta tổ chức dữ liệu cảm giác. Nhưng chúng theo một cách khách quan và có những quy tắc nhất định để hình thành chúng. Và vì vậy, khi bạn sử dụng chúng đúng cách, bạn có thể khẳng định rằng mình có nhận thức khách quan.
Nhưng để sử dụng chúng đúng cách, bạn phải kết hợp chúng với nhau bằng logic. Logic là phương pháp của lý trí. Logic, tất nhiên, được phát minh bởi Aristotle, không phải bởi chủ nghĩa khách quan. Nhưng chúng tôi hoàn toàn tán thành logic Aristotle. Bản chất của nó là: “Bạn phải chọn giữa trắng và đen2”. Không gì có thể vừa là A vừa không phải là A cùng một lúc và trong cùng một khía cạnh. Đó là bản chất của tư duy logic - sắp xếp dữ liệu một cách không mâu thuẫn. Vậy tại sao không thể có mâu thuẫn? Bởi vì chúng ta đang cố gắng để nhận biết thực tại và nguyên tắc cơ bản của thực tại là: A là A. Không có mâu thuẫn trong thực tại.
Kết quả của việc sử dụng lý trí làm phương tiện nhận thức là bạn có thể tin vào vào kết luận mà bạn nhận được. Nhận thức của bạn là chắc chắn. Và do đó chúng tôi bác bỏ sự hoài nghi. Chủ nghĩa hoài nghi là ý tưởng cho rằng không có sự tuyệt đối. Không ai có thể chắc chắn về bất kỳ điều gì. Tất cả chỉ là vấn đề về quan điểm: những gì đúng với bạn lại không đúng với tôi, v.v. Chúng tôi bác bỏ hoàn toàn điều đó, chúng tôi cho rằng sự thật là khách quan, duy lý và rằng “mọi sự thật được hiểu đúng” sẽ là điều tuyệt đối. Ngay cả sự thật rằng có ít hơn một trăm người trong căn phòng này. Nếu bạn xác định thời gian và địa điểm là vĩnh cửu và bất biến trong mọi thời đại, thì đúng là hôm nay, trong căn phòng này, có ít hơn một trăm người. Như vậy, khác với việc “không có sự tuyệt đối”, toàn bộ sự thật là tuyệt đối, nhưng bạn phải sử dụng lý trí để đi đến sự thật.
Các nhà thần học nghĩ rằng có sự thật, nhưng bạn chỉ cần phơi bày bản thân một cách thụ động với thế giới, và sự thật sẽ tự động đến với bạn. Những người hoài nghi nghĩ rằng sự thật, nếu có bất kỳ sự thật nào, thực sự chỉ là trong đầu bạn, chủ quan và thay đổi từ người này sang người khác. Bạn thực sự không bao giờ có thể biết về thực tế bên ngoài. Chủ nghĩa khách quan cho rằng sự thật nằm trong mối quan hệ đúng đắn giữa tâm trí của bạn và thực tế, giữa ý thức và sự tồn tại. Bạn phải nhìn ra bên ngoài để có được sự thật, không phải nhìn vào bên trong. Nhưng bạn không thể chỉ nhìn ra ngoài và chờ đợi một giáo điều khai sáng cho bạn, như quan niệm của chủ nghĩa thần bí. Bạn phải nhìn ra ngoài và hành động, sử dụng đúng phương pháp. Và phương pháp mà tôi cố gắng chỉ ra là quan sát, hình thành khái niệm và logic; thay vì chỉ chờ đợi một cách thụ động để giác ngộ. Và sau đó bạn sẽ được cung cấp tri thức được đảm bảo.
Vậy còn cảm xúc mà bạn hỏi và chúng tôi đã đề cập. Cảm xúc tuân theo niềm tin của bạn. Chúng hữu ích và bạn nên tận hưởng chúng nhiều nhất có thể. Nhưng chúng không phải là phương tiện của tri thức. Thực tế là dù bạn tin chắc chắn rằng 2 + 2 = 6 thì điều đó cũng không được tính là tri thức.
Nào, bây giờ chúng ta hãy nói về đạo đức. (Đây là một nghiên cứu nhanh gọn về triết học). Tôi muốn đặt một từ bên dưới đạo đức. Tôi sẽ đặt “sự ích kỷ” hoặc “chủ nghĩa vị kỷ”.
Khi nói đến đạo đức, chúng ta phải tuân theo nền tảng của mình. Nhận thức luận cho chúng ta biết rằng chúng ta có nhận thức thông qua lý trí, và vì vậy điều này áp dụng cho mọi lĩnh vực, bao gồm cả đạo đức. Do đó, đạo đức không thể dựa trên ý thích bất chợt, cảm nhận của tôi, hay cảm nhận của bạn, hay cảm nhận của xã hội, hay cảm nhận của Chúa (nếu có Chúa). Trận chiến hôm nay, dĩ nhiên là: “Chúa ban thiên khải”, một bên nói; và bên kia phản bác: “Không, xã hội đặt ra đạo đức”. Còn chúng tôi nói, “cả hai đều sai, cả hai bên đều không nhận ra rằng thực tế là khách quan, và lý trí là khách quan”.
Vì vậy, khi nói đến đạo đức, chúng ta phải đặt câu hỏi: Điều gì trong thực tế làm phát sinh đạo đức. Đó không phải là lời lẽ tùy tiện của ai đó. Điều gì khiến đạo đức trở nên cần thiết? Và Ayn Rand trả lời đó là cái thực tế rằng con người là một sinh vật sống phải hành động theo một cách nhất định để duy trì sự sống của bản thân. Bạn có thể cho rằng điều này cũng đúng với các loài vật khác. Vâng, chắc chắn rồi, nhưng những loài vật này không cần đạo đức vì chúng không có lựa chọn, không có ý chí tự do. Chúng được lập trình tự động để tự giúp đỡ và tự duy trì sự sống của bản thân. Con người không phải là nhân chứng của thế giới. Họ có thể tự sát, giết người và thực hiện bất cứ mục đích nào tương tự. Vì vậy, nếu một người vẫn còn sống, người đó hẳn phải xem sự sống là tiêu chuẩn của mình. Và sau đó khám phá tất cả những phương tiện khách quan do bản chất của hiện thực quy định để đạt được mục tiêu ấy.
Điều này đưa chúng ta đến với câu hỏi: làm thế nào để con người sống đúng nghĩa cuộc sống con người. Đức hạnh cơ bản là gì? Theo chủ nghĩa khách quan, đức hạnh có nghĩa là loại hành động đạo đức thông qua đó bạn đạt được các giá trị của mình. Đó là định nghĩa ban đầu về đức hạnh. Theo quan điểm của Chủ nghĩa khách quan, Đức hạnh không có nghĩa là khiết tịnh và nghèo đói. Và đức hạnh cơ bản mà chúng ta có là sự duy lý, để sử dụng trí thông minh, sử dụng toàn bộ tâm trí để tư duy và thấu hiểu. Con người sống sót nhờ sử dụng lý trí. Lý trí không hề đơn giản, hoàn toàn không phải là một đề tài của các kỳ thủ hay các giáo sư lánh đời. Đó là một quy luật thực tế có tầm quan trọng đặc biệt. Đó là nhân tố thiết yếu để tạo nên những công cụ sớm nhất, để canh tác những vụ mùa đầu tiên - mọi thứ giúp duy trì sự sống của chúng ta: dược phẩm, công nghệ hiện đại, và nhiều thứ khác.
Đó là sản phẩm từ khả năng tư duy của con người. Và tất cả những thảm họa và thất bại theo năm tháng là sản phẩm của những sai lầm, những sai lầm vì chống lại lý trí, những sai lầm của cá nhân. Do đó, theo chủ nghĩa khách quan, đức hạnh chính yếu là sự duy lý. Và điều đó dẫn đến một loạt các đức hạnh khác đã được chứng minh không phải vì chính bản thân chúng quan trọng mà vì chúng là yêu cầu bắt buộc để duy trì sự sống của bản thân. Ví dụ, độc lập là một đức tính thiết yếu. Sử dụng tâm trí của bạn để đi đến kết luận trên cơ sở những suy xét tốt nhất của bạn, trái ngược với việc trở thành một kẻ độc tài chỉ biết huyên thuyên những gì chính quyền rao giảng. Rõ ràng, đó là một kết quả tất yếu của tính duy lý. Bởi vì nếu bạn không suy nghĩ độc lập, bạn thực chất chẳng suy nghĩ gì cả, bạn chỉ lặp lại những gì người khác nói thôi. Tương tự như vậy, tính chính trực, hành động theo những gì bạn nghĩ, là một đức tính quan trọng. Bởi vì, suy nghĩ làm gì nếu bạn không làm theo những suy nghĩ đó. Năng suất, sử dụng tâm trí của bạn để tạo ra sự giàu có về vật chất, cũng là một đức tính quan trọng, nếu không thế thì làm sao con người tồn tại được. Và còn nhiều những đức tính như vậy.
Ai sẽ là người hưởng lợi từ các hành vi của bạn? Có phải là ai đó trong một chiều không gian khác không? Không, chỉ có một thực tế mà ta đang sống đây thôi. Đó có phải là xã hội không? Không, chỉ có những cá thể, và mỗi cá thể có lựa chọn như nhau. Sống, hay không sống, và bạn đối diện với lựa chọn nào? Bạn chọn cuộc sống của bạn, hay là không? Vậy nên theo Chủ nghĩa khách quan bạn phải là người hưởng lợi từ các hành động của mình. Điều đó chính là đạo đức học về tính tư lợi duy lý. Mỗi người sống dựa vào chính mình, quan tâm đến lợi ích của bản thân, không hy sinh vì người khác mà cũng chẳng hy sinh người khác vì bản thân mình.
Bây giờ, ta được đưa cho lựa chọn, theo cách hiểu hiện tại, bạn là một người vị tha và bạn hy sinh bản thân mình cho người khác. Một người ích kỷ được cho là người hy sinh người khác vì chính mình. Cắt cổ tôi cho bạn hay cắt cổ bạn cho tôi. Chúng tôi cho rằng đây là một lựa chọn sai và bị cả hai phía bác bỏ, chúng tôi phản đối việc cắt cổ. Chúng tôi tin rằng bạn đạt được thành tựu bằng chính bản thân. Còn nếu bạn muốn điều gì đó từ ai đó, thì bạn trao đổi với họ. Bạn đổi giá trị lấy giá trị, để cùng có lợi bằng sự đồng thuận của cả hai bên. Và nếu bạn tuân theo loại giá trị này, loại đạo đức này, bạn sẽ không bao giờ phải lo lắng về việc bạn nên sống đức hạnh hay nên sống thực dụng.
Toàn bộ sự phân định rạch ròi này xuất phát từ việc định nghĩa đạo đức là hy sinh bản thân, và sau đó nhận ra rằng bạn không thể sống như thế. Nên bạn vừa phải sống có đạo đức và sống thực tế cùng một lúc, bạn cứ vậy liên tục bị giằng xé, điều mà hầu hết mọi người cho là hiển nhiên. Nhưng theo chủ nghĩa khách quan, không có sự phân định như vậy, vì đạo đức bảo tồn và củng cố cuộc sống, nó hẳn phải là thực tế. Và cách duy nhất để sống thực tế là sống có đạo đức.
Điều này dẫn chúng ta đến với ứng dụng xã hội quan trọng nhất của đạo đức - chính trị, đơn giản là áp dụng đạo đức vào các vấn đề xã hội. Và ở đây tôi sẽ đặt một từ để tóm tắt - Chủ nghĩa tư bản, cụ thể hơn là Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh. Nói cách khác, sự tách biệt hoàn toàn giữa nhà nước và nền kinh tế, tương tự như sự tách biệt giữa nhà nước và giáo hội. Vậy nên, ý tôi không phải là chủ nghĩa tư bản với nền kinh tế hỗn hợp, về cơ bản như những điều chúng ta chứng kiến ngày nay, vốn là vài phần chủ nghĩa phát xít, vài phần chủ nghĩa xã hội, vài phần chủ nghĩa tư bản và một vài phần khác, tất cả được được nhồi trong một nồi lẩu thập cẩm có thể gây ra những ý tưởng mâu thuẫn. Ý tôi khi nói chủ nghĩa tư bản thuần túy là chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nơi nền tảng của cả hệ thống là quyền cá nhân.
Nhưng phải nói rằng, khi đề cập đến quyền cá nhân, ý tôi là quyền cá nhân như những gì những người kiến tạo nên nước Mỹ đã tu bổ. Tôi không nói về quyền của bào thai, tôi đang nói về những con người đã được sinh ra trên đời. Và tôi không trao cho họ quyền được có một chuyến đi đến Florida, được đảm bảo công ăn việc làm, được đảm bảo khám chữa bệnh nghiêm túc, được chăm sóc cả ngày lẫn đêm,...Họ chỉ có quyền của Thượng đế cho phép họ được sống, tự do, mưu cầu hạnh phúc và tư hữu tài sản, tài sản mà họ kiếm được bằng nỗ lực của chính mình. Và chúng tôi nói rằng chức năng của nhà nước nên là để bảo vệ những quyền này, và chỉ những quyền này. Làm thế nào bạn có thể vi phạm những quyền này, nhà nước phải bảo vệ chúng ta khỏi cái gì? Về cơ bản, chỉ có một cách duy nhất để ai đó tước đi sự sống, tự do và tài sản của bạn. Đó là tạo ra vũ lực chống lại bạn, ăn cắp tài sản của bạn, trói bạn và đâm thẳng vào tim bạn, v.v
Có một dạng vũ lực gián tiếp, đó là lừa đảo. Theo đó, tôi đánh cắp tài sản của bạn bằng những lời lẽ dối trá. Vì vậy, nó vẫn trái với ý chí của bạn. Nhà nước, trong một xã hội khách quan, hoàn toàn là một cơ quan để ngăn chặn việc sử dụng vũ lực một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Và do đó, hãy để mọi cá nhân được an toàn trong hiểu biết rằng những gì một người đạt được bằng nỗ lực cá nhân họ là của bản thân họ. Họ hoàn toàn có quyền bất khả xâm phạm trong phạm vi riêng của mình mà không ai, không tổ chức nào có quyền can thiệp.
Bên cạnh đó, chính phủ cũng không cung cấp cho anh ta cái gì cả. Chính phủ không cho anh trợ cấp hay đặc ân theo bất kỳ nghĩa nào. Chính phủ không thiên vị bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Chính phủ không đặc biệt bảo hộ người xem tivi hay người buôn chứng khoán hay doanh nhân lớn hay doanh nhân nhỏ, hay công nhân hay nông dân, hay trợ cấp sinh viên đại học vân vân và vân vân. Tự do kinh tế tức là không nhúng tay vào, để cho chúng ta tự lo, không có tình trạng trợ cấp, không có an sinh xã hội, không có trợ cấp y tế. Vậy thì ở dưới chủ nghĩa tư bản sẽ là gì? Ba cơ quan chính của chính phủ sẽ là: cảnh sát để bảo vệ công dân khỏi tội phạm trong nước, quân đội để bảo vệ người dân khỏi quân xâm lược nước ngoài, và hệ thống tòa án để công dân một nước có thể hòa giải những tranh chấp theo một cách thức duy lý và văn minh, mà không cần cầu viện tới các cuộc chiến trên đường phố vốn sẽ dẫn tới luật rừng.
Chúng tôi cho rằng chỉ có cách tiếp cận nhà nước “cực đoan”, hay nói cách khác là nhất quán này, có thể đã, đang hoặc sẽ hoạt động hiệu quả. Nếu bạn cố gắng hòa trộn cách tiếp cận này với một số thành phần của nhà nước kiểm soát như cái chúng ta có ngày nay, và dĩ nhiên sự kiểm soát của nhà nước sẽ ngày càng tăng, chúng tôi cho rằng kết quả cuối cùng của một nền kinh tế hỗn hợp này sẽ là chế độ độc tài. Không phải theo khía cạnh là điều đó không thể tránh khỏi, mà là nó sẽ không thể tránh khỏi nếu đất nước không thay đổi định hướng của mình.
Nền kinh tế hỗn hợp nói với bạn rằng nhà nước có thể can thiệp thay mặt cho một nhóm nào đó, và đưa họ một số quyền lợi, điều này dĩ nhiên sẽ làm cho tất cả những nhóm khác bị thiệt hại vì quyền lợi đó phải bị trích ra từ họ bởi vì nhà nước không sản xuất ra cái gì cả. Nó chỉ là gây thiệt hại cho một nhóm để giúp một nhóm khác, nên nhóm đó la lối đòi hỏi nhiều kiểm soát hoặc trợ cấp hơn hoặc bất kỳ cái gì khác, và rồi một nhóm khác cũng làm vậy. Điều này đã là lịch sử của Hoa Kỳ trong hơn một trăm năm qua. Và nếu bạn nhìn vào toàn bộ lịch sử bạn sẽ thấy rằng mỗi loại kiểm soát sẽ bắt buộc phải tạo ra nhiều và ngày càng nhiều kiểm soát hơn.
Và ngày nay các đảng phái chính trị của chúng ta thậm chí không nghi vấn rằng chúng ta có cần thêm nhiều kiểm soát hay không. Họ đơn giản phân định là loại kiểm soát nào nên nắm quyền tiếp. Ví dụ, Đảng Dân Chủ nói với ta rằng chúng ta cần nhiều và nhiều kiểm soát về kinh tế hơn nữa, nhưng hãy đừng có kiểm soát về tinh thần hay đạo đức. Và Đảng Bảo Thủ nói rằng không chúng ta cần tự do kinh tế, nhưng chúng ta cần nhiều kiểm soát hơn đối với suy nghĩ, ta phải tạo ra các đạo luật chống lại những thứ tục tĩu, ta phải cho ra đạo luật chống phá thai, chúng ta phải ra lệnh cầu nguyện trong các trường học, chúng ta phải dạy về thuyết Chúa tạo ra thế giới song song với lý thuyết về tiến hóa.
Và Đảng Bảo Thủ thực ra là còn tệ hơn nếu nhìn từ góc nhìn của việc nhồi nhét nhà nước vào những vấn đề mang tính trí thức hoặc ý thức hệ, cố gắng huấn lệnh một quan điểm vào họng những học sinh nhỏ bất lực. Vấn đề là, dù cả hai đảng này đấu tranh với nhau một cách dữ dội, họ đều hành động vì cùng một kết quả cuối cùng, một nhà nước to hơn, nhiều kiểm soát hơn, dù cho họ có khoa ngôn hùng biện thế nào đi nữa.
Và điều này đưa chúng ta tới Mỹ học, vốn là thứ tôi không thể thực sự tóm tắt một cách ngắn gọn, nhưng tôi nghĩ cách tốt nhất là tôi cứ nói theo kiểu “hướng tới giá trị”. Và khi nói vậy, ý tôi là, nghệ thuật nên phản ánh thế giới (và đây cũng là ý tưởng của Aristotle, cũng như Ayn Rand) như nó-có-thể và như nó-nên-là. Như nó có thể bởi vì chúng tôi muốn luôn luôn hiện diện với thực tế cuộc sống. Đó là nền tảng của cả hệ thống, chúng tôi không muốn một thứ kỳ ảo không liên quan gì tới thực tế, điều bất khả trong hiện thực. Nhưng không chỉ đơn thuần như nó-có-thể mà còn là như nó-nên-là, vì ngoài việc truyền cảm hứng, đó là một cách cho con người nhiệt huyết để tiếp tục chiến đấu.
Cuộc sống khó khăn, dù bạn có ở đâu đi nữa. Và thứ nghệ thuật tập trung vào giá trị, vào điều tích cực, đem đến cho bạn cảm hứng, nó gọi là Chủ nghĩa lãng mạn. Nên Ayn Rand gọi quan điểm mỹ học của bà là Chủ nghĩa hiện thực lãng mạn, để nắm bắt cái-có-thể và cái-nên-là. Và trong văn chương, thứ dễ dàng nói đến nhất, thì điều này có nghĩa là những tiểu thuyết với các anh hùng, với cốt truyện hợp lý, trái ngược lại với Chủ nghĩa tự nhiên, vốn chẳng hạn sẽ nói rằng không có cốt truyện nào trong cuộc sống thực cả hoặc là các nhân vật cứ đi lung tung thôi, và rằng không có anh hùng nào trong thực tế cuộc sống, chỉ có gã Joe nhà kế bên3 thôi. Cho nên bạn sẽ có bức họa chân dung những gã Babbitt của thập niên hai mươi, hay là các quý tộc Nga của những năm 1870. Trong khi cách tiếp cận của chủ nghĩa lãng mạn đưa đến cho bạn những nhân vật vĩ đại khác thường, không bị trói buộc vào một thập kỷ hay một đất nước, và trở nên bất tử và phổ quát, chẳng hạn như Cyrano De Bergerac. Đồng thời, dĩ nhiên là bên cạnh việc đối nghịch với Chủ nghĩa tự nhiên trong nghệ thuật, Ayn Rand đã 100% đối nghịch với cái gọi là Nghệ thuật hiện đại. Bạn có thể dễ dàng hiểu tại sao khi bạn biết rằng nghệ thuật hiện đại còn được gọi là nghệ thuật không khách quan. Và nó là những vệt và đốm và vân vân những thứ mà người nghệ sĩ cảm nhận một cách bí ẩn hoặc cảm nhận một cách chủ quan, đại diện cho những chiều kích khác. Và dĩ hiên điều đó hoàn toàn nằm ngoài phạm vi triết học nhìn từ quan điểm của chúng tôi.
Ngoài ra, cho đến nay loại nghệ thuật hiện đại này đã miêu tả một nội dung, đó là thông điệp của nỗi sợ. Nó không phải là gã Joe bình thường nhà bên, mà là kẻ quái vật giết người nghiện rượu đồi bại nhà bên. Và khi nó được biểu thị, bạn biết đấy, James Joyce với những dòng chữ dài tới bốn trăm trang lấp đầy các thuật ngữ mới, đó là khi chúng tôi vạch ra giới hạn, hay là sớm hơn lúc đó nhiều. Và âm nhạc là giai điệu, đối lập với Chủ nghĩa toàn trị. Trong nghệ thuật, dĩ nhiên nó có nghĩa là tính khách quan trong nghệ thuật thị giác. Và để đưa cho bạn một manh mối, nghệ sĩ yêu thích trong nghệ thuật thị giác của tôi là Michelangelo. Điều đó không bắt buộc đối với bạn hay bất kỳ ai theo Chủ nghĩa khách quan, nhưng tôi đưa cho bạn một hình dung về quan điểm đối với nghệ thuật, về cái mà loại hình mỹ học này sẽ tán thành.
Bây giờ là một cuộc khảo sát nhanh. Tôi hy vọng bạn đã có ít nhất một chỉ dấu rằng chủ nghĩa khách quan hợp thành một hệ thống tổng quan dựa trên nền tảng đã đưa ra, những phẩm chất đạo đức nhất định là cần thiết, và với các phẩm chất đó những thể loại chính trị và mỹ học là cần thiết, nên nó không chỉ là một tập hợp các quan điểm. Tất cả chúng hợp thành với nhau tạo thành một hệ thống. Như tôi đã nói, chúng tôi không coi triết học, chúng tôi - những người theo chủ nghĩa khách quan, như một trò chơi. Chúng tôi coi nó như một nguồn sinh lực xoay chuyển thế giới. Nếu con người tồn tại bằng tư duy và quan điểm của bản thân, trong khi triết học là quan điểm cơ bản của con người, thì những quan điểm nền tảng sẽ mở rộng tới tất cả mọi người trong xã hội, bất kể nghề nghiệp, địa vị kinh tế xã hội, hay nền tảng giáo dục. Bạn không cần phải đến trường để học triết. Bạn học nó từ mọi nơi, từ những mẩu truyện tranh hay từ lũ trẻ trên đường phố. Từ bất kỳ nơi nào mà bạn có được quan điểm, hoặc các giá trị cho mình, đó là triết học.
Ayn Rand đã từng phát biểu tại học viện West Point, tên là: Philosophy: Who need it (tạm dịch: Triết học: con người cần triết lý). Và câu trả lời là: bạn cần. Ở đây chúng tôi không chỉ nghĩ rằng bạn cần, chúng tôi cho rằng cả thế giới cần, điều dĩ nhiên phù hợp với việc chúng tôi tin rằng triết học là nguyên nhân của lịch sử. Tôi sẽ đưa cho bạn một phiên bản tóm tắt ngắn gọn về lịch sử thế giới. Nó sẽ thậm chí còn ngắn hơn phần lịch sử về đại cương Chủ nghĩa khách quan, nhưng tôi muốn cho bạn một hình dung về lý do tại sao chúng tôi lại xem triết học quan trọng đến vậy.Ayn Rand đã từng phát biểu tại học viện West Point, tên là: Philosophy: Who need it (tạm dịch: Triết học: con người cần triết lý). Và câu trả lời là: bạn cần. Ở đây chúng tôi không chỉ nghĩ rằng bạn cần, chúng tôi cho rằng cả thế giới cần, điều dĩ nhiên phù hợp với việc chúng tôi tin rằng triết học là nguyên nhân của lịch sử. Tôi sẽ đưa cho bạn một phiên bản tóm tắt ngắn gọn về lịch sử thế giới. Nó sẽ thậm chí còn ngắn hơn phần lịch sử về đại cương Chủ nghĩa khách quan, nhưng tôi muốn cho bạn một hình dung về lý do tại sao chúng tôi lại xem triết học quan trọng đến vậy.
Chúng tôi cho rằng về cơ bản toàn bộ nền triết học là một cuộc đấu tay đôi giữa Plato và Aristotle. Plato cơ bản là một người tin vào chủ nghĩa thần bí, và một thế giới siêu nhiên. Trong đạo đức, ông tin rằng bạn nên cho đi hạnh phúc của mình trong cuộc sống, để phục vụ cho lợi ích của tập thể. Ông ủng hộ một chế độ độc tài bởi các triết gia (chúng ta sẽ bỏ qua phần mỹ học) nên ông ấy chính xác là đối nghịch với Chủ nghĩa khách quan. Aristotle thì gần hơn rất rất nhiều, ông vẫn còn vài tàn dư của Plato nhưng đã rất gần với quan điểm của Chủ nghĩa khách quan. Tư tưởng của Plato thịnh hành trong lịch sử phương Tây ở thời Trung Cổ. Và trong thời kỳ đó, nếu bạn biết về điều kiện sống của con người, bạn sẽ biết rằng tuổi thọ trung bình là vào tuổi vị thành niên, và có những cơn dịch bệnh về tâm thần, rằng những người thực sự đạo đức, những vị thánh, đi ra vùng sa mạc để hành hạ xác thịt của mình và uống nước giặt đồ vv. Bất kỳ cái gì họ có thể làm để tàn phá cơ thể vật lý tồi tệ này, để họ có thể giải thoát và đi với tâm hồn thanh khiết lên thiên đường.
Vào thế kỷ 13, Aristotle, người đã bị thế giới phương Tây lãng quên từ lâu, tư tưởng của ông ấy còn lại với người Ả Rập, đã được khám phá lại bởi Thomas Aquinas. Và tư tưởng của ông được gợi lại bởi thánh Albert Vĩ Đại và Thomas Aquinas vào thế kỷ 13. Tự nhiên hay hiện hữu là ở đây, và lý trí là cái mà ta phải sử dụng, và bạn nên sống vì sự toàn mãn. Ông ấy không đi sâu vào chính trị. Nhưng những tư tưởng cơ bản đó là một bản hiến chương của Mande để vượt thoát khỏi thời kỳ Trung Cổ, và chúng trở thành tư tưởng dẫn đầu trong một khoảng thời gian rất ngắn. Hãy nhớ rằng, thời đó không hề có tivi hay truyền thông đại chúng, nên bạn không có những thay đổi chỉ qua một đêm được. Chúng đã dẫn đến thời kỳ Phục Hưng và thời đại Khai Sáng.
Tất nhiên đỉnh cao của thời đại Khai Sáng là sự ra đời Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Và những người lập quốc là người theo trường phái Aristotle, theo tất cả những cách tôi đã đề cập. Họ tin vào tự nhiên, lý trí, việc mưu cầu hạnh phúc chứ không phải là theo đuổi sự nhẫn nhục hay đức hi sinh cho thế hệ kế tiếp. Bi kịch là những người lập quốc cũng là Kitô hữu, ít nhất là về mặt đạo đức. Và họ cố gắng kết hợp những tư tưởng của Aristotle với đạo đức Kitô giáo theo quan niệm của Plato. Họ không thật sự tin vào Chúa. Họ là những người tin vào Tự nhiên thần giáo và họ cố gắng mang vào một phần của Chúa.
Đây là một mâu thuẫn mang tính gốc rễ của nước Mỹ: Về cơ bản, chúng ta có một đất nước được thành lập bởi lý trí và cá nhân, song với một liều lớn lòng vị tha và sự hy sinh đi cùng với nó. Và đó là một tổ hợp không thể tồn tại. Điều này dẫn đến câu hỏi: nó sẽ lựa chọn con đường nào, bởi vì nó là một hỗn hợp phóng xạ bất ổn.
Và người tạo ra sự khác biệt là Emmanuel Kant (1724 – 1804). Triết học của ông đã trở thành lực lượng thống trị trong suốt hai thế kỷ vừa qua. Ông là người rất thần bí, vì vậy mà chống lại thực tế, chống lại “cái tôi” và ông khiến cho Plato trông giống như một nhà khách quan chủ nghĩa. Cả thế giới ngày nay ủng hộ Kant, và dĩ nhiên những người ủng hộ Kant có sức mạnh phá hủy hoàn toàn nền chính trị của nước Mỹ, xóa sạch chủ nghĩa tư bản, xóa sạch ý tưởng về lợi ích cá nhân, rao giảng rằng lý trí là vô ích, rằng sự tồn tại là không thể nhận thức được, và mang chúng ta đến với đến nền văn hóa chống lại giá trị, chống lại nhà nước tự do mà hiện tại chúng ta đang sống.
Triết lý duy nhất phát triển và mở rộng di sản của Aristotle là Chủ nghĩa khách quan. Vì vậy, chúng tôi xem chủ nghĩa khách quan là một cuộc cách mạng, một cuộc cách mạng thoát khỏi Kant và bất cứ hình thức tôn giáo hay thần học nào khác. Chúng tôi xem nó là nền tảng ban đầu thật sự của nước Mỹ, là triết lý mà những nhà lập quốc ngầm chấp thuận nhưng lại vô tình mâu thuẫn. Và vì vậy, chúng tôi cho rằng Chủ nghĩa khách quan là niềm hy vọng duy nhất cho tương lai, bởi vì nó là triết lý ủng hộ lý trí và ủng hộ cái tôi cá nhân.
Theo đánh giá của chúng tôi, bản chất của Chủ nghĩa Mỹ là quẳng đi tất cả những xung đột tôn giáo, sự thần bí và các yếu tố hy sinh ủy mị. Chúng tôi không tin vào Thuyết tiền định, học thuyết cho rằng mọi thứ xảy ra là không thể tránh khỏi. Chúng tôi tin rằng có một hy vọng cho tương lai, thậm chí khi xem xét đến tình trạng hiện tại của chúng ta. Không có điều gì chắc chắn về tương lai lẫn kiến thức. Nhưng vì con người có ý chí tự do, không ai có thể dự đoán tương lai sẽ ra sao.
Một kết quả tiêu cực chắc chắn có thể xảy ra và chúng ta đang đi trên một con đường rất bấp bênh. Kết quả tiêu cực ấy có thể bao gồm nội chiến, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh thế giới và một Thời Kỳ Tăm Tối mới. Tôi chắc chắn nghĩ rằng điều này là khả dĩ, và khả dĩ ngay trong thời của các bạn, nếu không phải là của tôi. Bởi vì tôi nghĩ rằng mọi thứ đã đạt đến một trạng thái rất xấu. Mặt khác, điều tích cực vẫn có thể xảy ra, và vẫn còn thời gian cho nó. Và đó là những gì Chủ nghĩa khách quan đề xuất: một Thời kỳ Phục hưng mới của nước Mỹ dựa trên những học thuyết và giá trị nền tảng đã giúp đất nước này hùng mạnh. Song, những ý tưởng ấy luôn được bảo vệ vững chắc về mặt triết học mà không có một sự nhân nhượng nào với các phản đề của chúng. Đó là trận chiến mà chúng tôi đang chiến đấu và tôi mời bạn tham gia cùng chúng tôi. Xin cảm ơn.
Phần Hỏi Đáp
H: ÔngÔng nói rằng chúng ta phải ích kỷ, nhưng cùng lúc đó ông nói rằng chúng ta không nên đi vòng vòng, ông biết đấy, như cắt cổ những người khác và đại loại như vậy. Tôi chỉ không hiểu hai điều này liên quan đến nhau như thế nào. Ý tôi là, tại sao chúng ta...
Đ: Ý bạn là tại sao nó lại nhất quán khi nói hãy ích kỷ và không cắt cổ người khác. Ích kỷ nghĩa là hành động dựa trên những gì thuộc về mối quan tâm của bạn. Và mối quan tâm của bạn phải được định nghĩa bằng những gì giúp cải thiện cuộc sống của bạn. Cuộc sống của bạn giống với cái gì? Một con cá? Không phải. Cuộc sống của bạn giống như những gì bạn đang có, một sinh mệnh duy lý, một sinh vật sống sót nhờ lý trí. Giờ bạn phải xác định những gì bạn quan tâm một cách khách quan. Tôi có thể lấy một ví dụ cho bạn, sau khi tôi dùng một liều LSD, vốn là tôi không dùng, nhưng như một ví dụ, tôi trèo lên đỉnh tòa nhà Empire State và nói rằng điều này cho tôi sự thỏa mãn thật sự. Và điều thật sự giúp tôi cải thiện cuộc sống là nhảy ra ngoài và bay xung quanh tòa nhà Chrysler.
Tôi có thể cảm thấy rằng điều đó là vì lợi ích của tôi nhưng hiển nhiên là tôi đang thực hiện một hành động hủy hoại bản thân và nó không thực sự là vì lợi ích của tôi. Nhưng cũng với chính xác cách lập luận như vậy, tôi có thể cảm thấy rằng đi cướp một ngân hàng hoặc ăn trộm của ai đó là vì lợi ích của tôi. Nhưng Ayn Rand đưa ra và trong quyển sách của tôi tôi cũng đưa ra một phần thảo luận chi tiết về việc tại sao bạn đang chủ động làm hại chính mình khi làm những việc đó. Tại sao, nếu bạn thực sự có được một triệu đô la và ngay cả khi cảnh sát không tìm được bạn, thì bạn vẫn chịu đựng những tổn thương trong khả năng thực sự đối mặt với thực tại, trong sự tự tin của bạn, trong khả năng nhận thức và nắm bắt thực tế. Nó giống như là bạn đang có một cỗ máy rất tinh vi, và bằng hành động đó bạn đang ném cát vào trong các bánh răng của nó vậy.
Tôi đang sử dụng một phép ẩn dụ, nhưng tôi gợi ý rằng bạn hãy đọc chương sách của tôi về sự trung thực, và xem tại sao việc cố gắng tồn tại bằng gian lận phải dẫn đến sự hủy diệt của kẻ thủ phạm. Ngay cả khi hắn ta trốn thoát được với bất kỳ một tội ác nào và điều này là đúng với mọi loại tội ác. Nếu bạn cố gắng để tồn tại bằng cách thức của loài vật, động vật có thể tồn tại bằng sức lực thể chất, đó là tất cả những gì chúng có. Con người có năng lực của lý trí. Và cũng như một cái cây không thể cố gắng tồn tại như bất kỳ cái gì ngoài là một cái cây, và một con vật như một con vật, một con người phải cố gắng để tồn tại như một con người, sử dụng những năng lực độc đáo của mình. Con người không thể tồn tại bằng sức lực thể chất vũ phu theo kiểu mà động vật làm, động vật không thể tồn tại chỉ bằng việc chôn chân chúng vào đất và nói rằng điều này thật dễ chịu, hãy để chân phát triển như rễ cây (bởi vì chân động vật không thể là rễ cây). Tôi chưa đưa cho bạn mọi chi tiết của vấn đề, nhưng đó là phần cơ bản của câu trả lời.
Vâng, người bên phải.
H: Tôi đang tự hỏi, tôi không chắc lắm khách quan có nghĩa là gì bởi vì ở phần đầu ông nói rằng thực tế độc lập với ý thức chủ quan. Nhưng sau đó ông lại nói rằng khái niệm là khách quan, nhưng chúng ở trong đầu bạn.
Đ: Một câu hỏi rất rất hay. Khách quan thật ra có hai nghĩa. Theo nghĩa siêu hình học, vốn ít quan trọng nhất, nó có nghĩa đơn giản là độc lập với ý thức. Tuy nhiên, khi áp dụng vào các sản phẩm của tâm trí con người, như ý tưởng, tư duy, sự thật, giá trị, phán xét, v.v , chúng tôi xem chủ nghĩa khách quan là nội dung, học thuyết, bất cứ thứ gì đã được hình thành theo một phương pháp có chủ ý, dựa trên bản chất của hiện thực. Vậy, đó là khách quan theo nghĩa hiện thực khách quan là những gì tâm trí chủ quan đã nhìn vào theo từng giai đoạn khi hình thành nó. Khách quan không có nghĩa là sự thật, bạn có thể có một ý tưởng khách quan mà vẫn phạm sai lầm. Giống như khoa học đôi khi vẫn vậy. Nhưng bởi vì nó là khách quan, dựa trên khoa học, dựa trên thực tế, nó tự hiệu chỉnh mình. Bạn có thể thấy cả ngàn cách khác nhau một lỗi lầm được tạo ra và bạn sửa chữa lại nó. Vậy khách quan có nghĩa là tuân thủ một cách lý trí với hiện thực trong quá trình hình thành các nội dung lý trí của bạn.
Những gì phương pháp tuân thủ này bao gồm là toàn bộ chủ đề của Nhận thức luận. Làm thế nào để hình thành các khái niệm, logic, v.v.. Một câu hỏi rất hay. Đó là ý nghĩa thuộc về nhận thức luận, quan trọng nhất của tính khách quan. Đó là lý do tại sao Ayn Rand gọi triết học của mình là Chủ nghĩa khách quan. Bởi vì đã có những triết gia trước bà tin rằng hiện thực độc lập với chúng ta. Nhưng bà là người đầu tiên tin rằng sự hình thành khái niệm là chìa khóa cho toàn bộ vai trò của tâm trí, điều đó là khách quan. Nó không phải từ một thế giới khác như Plato nghĩ, hay chỉ là một quy ước xã hội nơi chỉ có những lựa chọn cơ bản mà lịch sử đưa ra.
Tôi muốn cho tất cả các bạn một cơ hội được hỏi. Vâng, mời bạn.
H: Tôi muốn hỏi thầy là ông nghĩ gì về một xã hội hoàn toàn khách quan về mặt cấu trúc kinh tế. Điều gì sẽ xảy ra cho đất nước cũng như nền kinh tế của chúng ta nếu chúng ta có một hệ thống khách quan, nếu chúng ta quay trở về quan điểm của Thanh giáo.
Đ: Thanh giáo?
H: Ý tôi là, quan điểm thuần túy, không có tôn giáo.
Đ: Ồ nhưng Thanh giáo mà không có tôn giáo cũng giống như Ông già Noel mà không có Noel vậy, bạn hiểu chứ, Thanh giáo là một khuynh hướng tôn giáo. Vậy nên hãy bỏ từ này đi và hãy chỉ nói là “thuần khiết”, được chứ? Giờ thì bạn có ý gì khi hỏi điều gì sẽ xảy ra, điều gì sẽ xảy ra ư? Tôi có thể nói với bạn rằng chúng ta sẽ rất rất giàu, những ai cần một công việc sẽ có một công việc, hệ thống giáo dục sẽ rất tuyệt vời, những khám phá về y học sẽ tuyệt đến nỗi tuổi thọ của chúng ta có thể tăng lên đến 150 tuổi, các bạn sẽ có những bộ phim tuyệt vời trên TV và ngoài rạp phim. Tôi không biết, mọi lĩnh vực của thế giới này có thể thay đổi vượt xa cả những giấc mơ viển vông nhất của bạn, nhưng bạn rõ ràng không cho rằng điều đó sẽ xảy ra.
H: Vậy ông nghĩ ai sẽ điều chỉnh hệ thống ạ?
Đ: Chẳng ai cả.
H: Cần phải có ai đó chứ ạ.
Đ: Vậy tôi hỏi bạn quy định là gì? Quy định duy nhất mà chúng ta có là khi ai đó cố gắng thực hiện một hành vi phạm tội, gây hấn, lừa đảo hoặc sử dụng vũ lực, Nhà nước sẽ can thiệp và chấm dứt hành động ấy. Nhưng không có một quy định nào khác. Bạn có thể cho tôi một ví dụ về loại quy định mà bạn cho là cần thiết không?
H: Vâng tôi nghĩ là xã hội ngày nay có quá nhiều tội phạm và lừa đảo, vậy nên theo tôi nếu như không có quy định thì chính quyền có thể sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lý.
Đ: Tôi nghĩ bạn có thể lấy một ví dụ tốt hơn, nhưng nếu tội phạm là mối lo thì, có lý do cho việc chúng ta có quá nhiều tội phạm. Tôi có một bài giảng năm ngoái với chủ đề “Phải làm gì với tội phạm” và tôi đã chỉ ra các thống kê cho thấy tỉ lệ tội phạm ở toàn bộ các nước phương Tây đã giảm trong suốt hơn một thế kỷ, tính từ giữa thế kỷ 19, giảm dần giảm dần cho đến, các bạn đoán xem thập niên bao nhiêu, 1960, thì nó quay ngoắt lại, tăng vọt lên và giờ lại giảm dần, nhưng đây chỉ là thống kê chưa đầy đủ.
Vậy bạn nghĩ tại sao tội phạm lại quay trở lại và trở nên đáng sợ sau cả một thế kỷ giảm xuống? Chính xác là bởi những ý tưởng làm thay đổi thập niên 60 được tôn sùng bởi một số kiểu trí thức nhất định, bởi vì đó là khi triết lý nguyên thủy Hoa Kỳ cuối cùng đã bị loại bỏ. Và phản văn hóa xuất hiện và trở thành văn hóa, với ý tưởng rằng, các bạn biết đấy, không còn sự tuyệt đối nữa, tất cả mọi thứ đều được quy kết về đạo đức: bạn phải sống vì cộng đồng, tình yêu quan trọng hơn hạnh phúc cá nhân, hiện thực là điều bạn có được khi dùng thuốc, v.v...
Họ đã ném đi toàn bộ triết lý. Và theo các phương pháp và theo từng bước mà tôi chỉ ra trong bài nói chuyện này, (tài liệu được in ra nên bạn sđã có) tôi chứng minh lý do tại sao điều đó dẫn đến và nhất thiết dẫn đến sự leo thang của tội phạm. Nhưng đây chỉ là một ví dụ đơn giản về sự sụp đổ của nền kinh tế hỗn tạp. Tất cả những điều người ta đổ lỗi cho chủ nghĩa tư bản thực sự không phải là lỗi của chủ nghĩa tư bản mà đến từ các yếu tố chính quyền bị pha trộn với những gì đang suy đồi. Điều này càng ngày càng tệ hơn và dẫn đến sự gia tăng tội phạm chỉ là một hệ quả.
Giờ nếu bạn đọc cuốn sách Capitalism: the unknown ideal (Tạm dịch: Chủ nghĩa tư bản: Những lý tưởng chưa biết) của Ayn Rand, bà lấy mọi cáo buộc tiêu chuẩn chống lại chủ nghĩa tư bản: độc quyền, khủng hoảng, chủ nghĩa đế quốc, và chiến tranh, thực phẩm và ma túy giả,... những lời buộc tội tồi tệ nhất. Và trả lời từng câu hỏi một cho thấy tại sao trên lý thuyết điều này thật kỳ quái, tại sao trên thực tế, thủ phạm là chính phủ vi phạm chủ nghĩa tư bản, và tại sao giải pháp duy nhất là Tự do kinh tế. Nhân tiện nói đến Kinh tế học thuần túy, tôi gợi ý các bạn đọc một nhà kinh tế học rất xuất sắc tên là Ludwig von Mises. Ông dùng những thuật ngữ to tát, nhưng riêng về chủ đề kinh tế, ông ấy viết rất tốt.
Vâng, xin mời.
H: Tôi có một câu hỏi về một chủ đề hơi khác ạ.
Đ: Chắc chắn rồi.
Q: Ông đã nói trước bài giảng rằng con người khác với động vật ở chỗ chúng ta không được lập trình nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta được lập trình theo nghĩa là chúng ta được sinh ra ở đâu trong xã hội, chúng ta được sinh ra trong nền văn hóa nào. Ông nói rằng con người hấp thụ triết lý từ nền văn hóa của họ và thẩm thấu các học thuyết,...Vậy chẳng phải họ được lập trình theo nghĩa đó sao?
Đ: Không, tôi không tin rằng con người được lập trình bởi xã hội, hay nền văn hóa, hay tiểu nhóm mà họ sinh ra hay lớn lên. Một người có thể “tự” để mình bị chi phối bởi những ảnh hưởng này. Và hầu hết mọi người chọn như vậy. Và nếu bạn cũng thế, nếu bạn chỉ đơn giản để mình giống như phần lớn mọi người, dù vì lý do gì chăng nữa, họ chỉ để nó tự nhiên xảy ra, họ chấp nhận mọi thứ xung quanh họ, họ không suy nghĩ gì cả, họ không nghi ngờ gì cả, vậy thì bạn sẽ lớn lên như một bản sao của những điều xung quanh bạn.
Và sau đó bạn sẽ thấy tất cả những người Công giáo tại một đất nước, không phải vì họ chủ động theo Công giáo mà vì những người khác như vậy nên họ cũng như vậy. Và tất cả những người Do Thái ở một đất nước khác, tất cả những Phật tử ở một đất nước khác nữa, v.v. Tuy nhiên bạn có thể nhận thấy rằng mỗi quốc gia đều có những cá nhân mà mặc dù họ chịu ảnh hưởng giống như những người khác, nhưng họ từ chối chúng. Họ có thể không thể từ chối dứt khoát ngay khi còn là một đứa trẻ nhưng những gì họ làm là nói rằng điều đó chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả. Tôi không quan tâm, tôi không thấy lý lẽ của việc đó.
Miễn là bạn có khả năng này, bạn sẽ được tự do. Bạn sẽ không biết các câu trả lời một cách bản năng, nhưng bạn sẽ được tự do để đấu tranh, trưởng thành, vươn ra thế giới rộng lớn hơn, tìm kiếm những ý tưởng khác, đọc, tư duy. Đó là bản chất của lựa chọn tự do, tư duy hay không, rèn luyện trí óc, giải thoát bản thân khỏi môi trường hiện tại. Hoặc bạn nói rằng: Thật khó quá, tôi là ai mà biết được chứ, tôi từ bỏ. Và khi tôi yêu cầu bạn tiếp thu một triết lý, bạn đồng ý nhưng không khắc sâu triết lý ấy vào tâm hồn của bạn, cho đến ngày bạn tám mươi tuổi, có thể là chín mươi, bạn có thể nói: Vâng tôi đã chấp nhận nó cả cuộc đời nhưng giờ tôi muốn xem xét lại để coi nó có hợp lý hay không.
Miễn là con người có khả năng này, họ sẽ được tự do. Nào hãy nhìn vào Ayn Rand, bà lớn lên ở nước Nga Sa hoàng và được giáo dục ở nước Nga Xô Viết. Giờ nếu bạn biết một người bất kỳ lớn lên ở một nước Nga độc tài và theo chủ nghĩa thần bí thì đó chính là bà, thế nhưng khi bà quyết định ra đi, bà đã đi ngược lại đất nước ấy. Vậy nên tôi cho rằng các bạn có tự do lựa chọn, câu hỏi đặt ra là các bạn có lựa chọn sử dụng nó hay không. Tôi không tin rằng chúng ta được lập trình bởi môi trường, hay di truyền, hay Thượng đế, hay tầng lớp kinh tế, hay ý tưởng của Freud hay bất cứ thứ gì như thế.
Cố gắng đặt câu hỏi để tất cả mọi người đều có cơ hội. Quay lại phía này.
H: Ông nói rằng chủ nghĩa tư bản là nơi chính trị chỉ bao gồm cảnh sát, tòa án và quân đội. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra với những người bệnh, những người cần được chăm sóc sức khỏe và không thể theo đuổi hạnh phúc cá nhân của họ. Nếu chính quyền chỉ bị hạn chế chỉ như vậy, điều gì sẽ xảy ra với họ. Ý tôi là như vậy có tàn nhẫn hay không?
Đ: Tại sao bạn lại giới hạn câu hỏi của mình chỉ với người bệnh, vậy còn những người đói ăn?
H: Vâng cả họ nữa ạ.
Đ: Vậy còn những người vô gia cư, và những người không có áo mặc, và những người không có việc làm. Vậy còn những người bất hạnh vì họ phải chọn công việc để làm, và cách duy nhất để theo đuổi hạnh phúc cá nhân của họ là để chính quyền giao việc cho họ. Vì vậy, câu trả lời hợp lý cuối cùng cho câu hỏi của bạn là một tổng kế hoạch toàn năng toàn trị. Những gì chúng ta nói là xã hội phải hướng đến duy trì sự sống con người, phải hướng đến những yêu cầu sinh tồn của con người. Và yêu cầu mà tôi cố gắng chỉ ra là tư duy, tư duy độc lập và sau đó là công việc sáng tạo và hiệu quả. Nếu con người không có khả năng này, toàn bộ giống loài sẽ không tồn tại.
Nếu đại đa số không có khả năng này, thiểu số tranh đấu không thể cứu sống họ. Vậy nên những gì bạn phải nói là: Có một thiểu số, họ có thể bệnh, bị dị tật, hoặc bị xe tải đâm, đại loại vậy, và thật sự không thể tự mình sống sót. Và chúng tôi nói thiểu số không thể yêu cầu chính quyền giúp đỡ.
Chính quyền là cơ quan có vũ khí, chính quyền là cơ quan duy nhất có sức mạnh của lực lượng vũ trang. Nếu bạn đang gặp vấn đề, bạn không có lý do gì để đến gặp chính quyền và nói rằng: Hãy dí khẩu súng đó vào đầu của hắn, hãy lấy một phần sinh kế của hắn do hắn làm ra bởi vì tôi cần chúng. Chúng tôi không đưa ra một tiêu chuẩn về quyền mưu cầu hạnh phúc chính xác đến từng từ ngữ, điều đó không có nghĩa là quyền hạnh phúc. Ý tôi là quyền được tự mình thực hiện bất cứ hành động nào bạn có thể. Vậy bạn phải dựa vào cái gì nếu như bạn bất lực và thậm chí bạn bất lực không phải do lỗi của bạn? Từ thiện, Tình nguyện, Từ thiện tư nhân.
Hãy nhớ rằng điều này sẽ chỉ dành cho một số ít người. Bởi vì sẽ không có ưu đãi cho một hệ thống mà ở đó mọi người đều sống dựa vào trợ cấp, sẽ không có trợ cấp. Nhưng đã từng có thời kỳ mà khi xảy ra một thảm họa, ví dụ như một nông trại bị thiêu rụi vào thế kỷ 19 do một tai nạn. Người chủ nông trại trở nên giàu có hơn sau vụ cháy vì xã hội có rất nhiều lòng tốt, và những người hàng xóm cũng sẽ tham gia giúp đỡ. Không có vấn đề gì trong việc chăm sóc những người gặp khó khăn vì họ chỉ là thiểu số.
Nhưng một khi bạn biến nó thành một vấn đề về quyền lợi, bạn có thể tự mình nhìn thấy ngay trước mắt. Nhu cầu nhân lên và phát triển vì họ kiếm được phần thưởng. Và nhiều người từ bỏ công việc hiệu quả bởi họ đang bị phạt vì thành công. Như vậy, bạn sẽ có một xã hội hoàn toàn đảo ngược. Giờ bạn hỏi tôi điều gì sẽ xảy ra nếu không một ai giúp đỡ bà X. Nếu chính xác không ai giúp X, ai sẽ là người tìm đến chính quyền, ai sẽ cầm lấy khẩu súng nhắm vào đầu họ và buộc họ phải giúp đỡ. Đây là một tình huống không thực tế. Cách duy nhất cho một đất nước phát triển, (một nước tư bản sẽ sớm phát triển), cách duy nhất họ để bà X chết là nếu như họ có một sự căm ghét lớn đối với tất cả mọi người vì mọi người.
Vì vậy, họ thờ ơ với nỗi đau khổ của con người. Nhưng điều đó không xảy ra ở một đất nước tự do, nó chỉ xảy ra ở một nước cộng sản hoặc nhà nước nô lệ khác. Vì vậy, bạn không cần lo lắng về từ thiện, nó luôn luôn sẵn sàng. Vấn đề là, hệ thống không nên được đánh giá, theo chủ nghĩa khách quan, dựa trên cách mà nó giúp đỡ người nghèo. Nó nên được đánh giá dựa trên việc nó giúp đỡ, nó cho phép một con người đạt được tầm vóc và hoàn thiện cuộc sống con người như thế nào, theo định nghĩa trên phương diện đạo đức. Và do đó, giúp đỡ người nghèo là một vấn đề hoàn toàn ngoại vi. Chúng tôi không cung cấp tín dụng đạo đức cho một người để làm từ thiện. Họ không thể đi lòng vòng, theo chủ nghĩa khách quan, và nói rằng: Tôi vừa làm từ thiện, vì vậy tôi là một người tuyệt vời và cuộc sống của tôi là hợp lý. Họ phải khẳng định cuộc sống của mình bằng một điều gì đó khó khăn. Đó là tư duy, làm việc và sáng tạo. Bất kỳ kẻ vớ vẩn nào cũng có thể cho người khác tiền, vậy nên chuyện đó là bình thường. Nhưng đó không phải là thứ mà phẩm hạnh của bạn nên dựa vào, không phải nền tảng cho đức hạnh của cả hệ thống.
Tôi đang cố gắng hạn chế mỗi bạn chỉ trong một câu hỏi để tất cả mọi người đều có cơ hội. Mời bạn. Bạn đã hỏi chưa nhỉ. Được rồi, được rồi.
H: Dạ, cùng chủ đề với những câu hỏi nãy giờ, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, như bệnh tật, điều đó không phải là trách nhiệm của chính phủ sao ạ?
Đ: Không, không phải là trách nhiệm của chính phủ.
H: Còn các bệnh truyền nhiễm như AIDS thì sao ạ?
Đ: Dĩ nhiên là không. Nhà nước chỉ có trách nhiệm can thiệp vào việc chăm sóc sức khỏe nếu có ai đó thật sự đang lan truyền vi trùng gây bệnh hay bất cứ thứ gì từ người họ mà có thể trở thành mối đe dọa thể chất cho những cá thể khác. Bởi vì điều đó thuộc phạm vi quy tắc là bạn không thể gây tổn hại về mặt vật lý cho người khác. Vì vậy nếu bạn mắc một căn bệnh rất dễ lây, bạn không được phép đi lòng vòng với căn bệnh ấy. Và chính quyền có thể nhận thấy bạn cần phải được cách ly. Với lý do tương tự, bạn không thể đi lòng vòng và nhả đạn vào người khác. Theo nghĩa này, chính quyền có quyền thấy rằng không thể để bạn được tự do. Ngay cả khi bạn chỉ vô tình mắc bệnh, họ không có bất cứ quyền hay khả năng chữa bệnh nào. Điều này thuộc về y học tư nhân.
H: Điều này cũng áp dụng cho lĩnh vực nghiên cứu về bệnh tật?
Đ: Nghiên cứu? Hoàn toàn chính xác. Không có nghiên cứu của chính phủ, hoàn toàn không. Nếu bạn muốn nghiên cứu để đạt được điều gì đó, thay vì có một khối lượng vô tận các tư liệu được viết ra để kiếm được một danh sách các công bố khoa học, để bạn có được việc làm tại các cơ quan hành chính và kiếm thêm tài trợ nghiên cứu. Tất cả những thứ đáng bị ném xuống cống là những nghiên cứu của chính phủ. Đó là chiến tranh giữa các nhóm lợi ích. Và những ý tưởng thực sự độc lập và sáng tạo bị bắt phải im tiếng. Đấy là lý do tại sao chúng ta mất quá nhiều thời gian cho bệnh AIDS. Đó là một căn bệnh rất phức tạp. Nhưng sự thật là chính quyền đã đổ quá nhiều thời gian và quyền lực vào căn bệnh ấy, biến nó trở thành một đế chế quan liêu điển hình.
Giải pháp không phải là lôi chính phủ vào cuộc mà là đưa họ ra ngoài. Đó là cách duy nhất để thành công. Hãy nhìn vào hệ thống y tế ở Nga. Dù là dưới chế độ cộng sản hay hiện nay, so với đất nước của chúng ta. Họ luôn có sự giám sát và kiểm soát hoàn toàn của chính phủ. Điều này hoàn toàn là một thảm họa. Người dân thậm chí phải hối lộ bên lề cho các bác sĩ. Họ không thể tìm thấy các công cụ chẩn đoán cơ bản nhất. Ống nghe đã biến mất.
Điều này có phải là do người Nga có tính tham nhũng cố hữu không? Không, đó là bởi vì chính phủ là cơ quan có vũ trang, chính lý do đó, khả năng sử dụng vũ lực. Vũ lực và sức sáng tạo đối ngược với nhau. Nếu bạn muốn ai đó khám phá ra nguyên nhân căn bệnh và cách chữa trị, bạn đang dựa vào tâm trí và sức sáng tạo của mình. Cách duy nhất để có được bất cứ câu trả lời nào là để cho tâm trí được suy nghĩ tự do. Điều đó có nghĩa là phải loại bỏ bất cứ cơ quan nào coi súng là phương tiện giao dịch.
Vâng.
H: Nếu chính phủ không tài trợ cho nghiên cứu, vậy ai sẽ làm việc đó? Bởi vì đó không phải một lĩnh vực kinh doanh sinh lời, không phải là thứ các doanh nghiệp tư nhân muốn đổ tiền vào?
Đ: Ồ bạn không nghĩ rằng các doanh nghiệp tư nhân sẽ có lợi thế khi đầu tư vào nghiên cứu ư? Theo tôi thì tất cả các loại dược phẩm, thuốc kê đơn, tất cả các phát minh công nghệ về y học đều đang tạo ra một tài sản khổng lồ cho các công ty dược phẩm và các bệnh viện, v.v...Trên thực tế, Bà Clinton, cùng với những thứ khác, đã lên án các công ty dược phẩm vì kiếm lợi quá nhiều. Vậy nên, bạn không thể có cả hai mặt. Tôi muốn nói là, bạn thấy đấy, ngày nay bạn không thể có một khoản đầu tư dài hạn. Song, ý tôi khi nói về “khoản đầu tư dài hạn” là: từng có một thời, người ta ký hợp đồng cho thuê 99 năm, họ đổ tiền vào và không mong đợi được thấy kết quả trong 20, 30 năm.
Bạn không thể mơ thực hiện điều đó hiện nay vì mọi thứ đều đan xen với chính quyền và chủ nghĩa thực dụng.Và có quá nhiều sự can thiệp vào hệ thống đến mức bạn không biết được lực lượng nào sẽ quyết định làm gì và liệu khoản đầu tư của bạn có thể bị xóa sổ chỉ sau một đêm hay không. Và vì vậy, tất cả các thương vụ kinh doanh đều là ngắn hạn, chụp giật và biến mất. Và nước Mỹ, thật không may, đầu tư ít hơn các nước công nghiệp khác, một phần vì thuế. Và vì không có sự ổn định nào ở đây cả, nói một cách tương tự. Vì vậy, hiện giờ bạn không thể thật sự đánh giá. Có rất ít người bỏ tiền đầu tư dài hạn trong điều kiện hiện tại.
Nhưng vào thời kỳ mà bạn có thể đầu tư, và có thể tin rằng chính phủ sẽ không tịch thu tài sản của công ty này hay không biến toàn bộ ngành công nghiệp thành bất hợp pháp, hay đột nhiên đặt nó dưới quyền quản lý của Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ, v.v... Vậy những người đã đầu tư mạnh mẽ vào các lĩnh vực Công nghệ hiện đại, máy tính,...từ hai bàn tay trắng, luôn có những người như Gates, các bạn biết đấy, Bill Gates, với tầm nhìn và quyền lực của ông ấy. Nhưng điều đó ngày nay càng ngày càng trở nên khó khăn hơn, song đầu tư vẫn là cách để làm giàu trong nghiên cứu. Đó đã luôn là cách các nghiên cứu được tài trợ, nhưng bây giờ không ai đủ khả năng nữa vì tiền của bạn sẽ bị tịch thu trước khi nó sinh lãi, hay bởi vì Nhà nước sẽ đến và thông báo rằng đó là một sự xúc phạm, bạn đang kiếm lợi từ bệnh tật của người khác. Vậy nên bạn không thể thắng được.
Phía cuối lớp. Vâng, mời bạn.
H: Khi ông giảng về Nhận thức luận, ông nói rằng...
Đ: Tốt, tôi mừng vì bạn đã quay trở lại với Nhận thức luận, chúng ta có thể giết chết mọi thứ chỉ bằng chính trị nhưng đó lại là nhánh ít quan trọng nhất, thật ra thì nó chỉ là hệ quả của các nhánh cơ bản nhất. Vậy nên hãy hỏi tôi điều gì đó liên quan đến Nhận thức luận.
H: Ông đã nói gì đó đại ý rằng lý trí là phương tiện duy nhất của kiến thức, và nó khiến tôi nghĩ đến các vấn đề tâm linh và các nhà ngoại cảm, đại loại vậy. Làm thế nào ta biết được đó không phải là một phương tiện của kiến thức ạ? Làm thế nào ông chứng minh được điều đó? Rằng đó không phải một phương tiện của kiến thức? Làm sao ông chắc được lý trí là phương tiện duy nhất?
Đ: Làm thế nào tôi biết ấy à? Câu hỏi bạn nên hỏi tôi là làm thế nào tôi biết lý trí là phương tiện tri thức duy nhất. Phương pháp nào tôi sẽ sử dụng để đánh giá các câu trả lời? Nếu tôi nói với bạn rằng: “Ồ, tôi đã được thiên khải”. Bạn có chấp nhận không? Thiên khải như một kiểu lý trí là phương tiện kiến thức duy nhất. Như vậy ổn chứ? Hay là tôi cảm nhận, tôi có một cảm giác mạnh mẽ là như vậy? Vậy nên điều bạn đang nói với tôi, đang hỏi tôi là vì bạn muốn một lý do, để tin rằng lý trí là phương tiện tri thức duy nhất. Nghĩa là bạn đã chấp nhận lý trí là phương tiện phán xét duy nhất. Bạn đã, bằng cách đặt câu hỏi, bạn đã cam kết với lý trí với bản thân như một cách để chứng minh nó. Giờ tôi có thể lấy mọi yếu tố của lý trí: các giác quan, khái niệm, logic,..và phân tích chúng cho các bạn; chia nhỏ chúng, chỉ ra cách chúng vận hành, chỉ ra mối liên hệ của chúng với thực tại, v.v. Nhưng nếu có ai đó đến và nói với tôi: “Làm sao bạn biết là không còn gì khác?” Thì nó chính xác giống thế này: “Làm sao bạn biết không có một con voi màu hồng ở ngay đây, đang ngồi trên bục giảng này? Nào hãy chứng minh là không có đi”. Bạn không thể. Nhưng nguyên tắc logic hơn bao trùm điều này là: Gánh nặng đưa ra bằng chứng nằm ở người khẳng định một điều gì đó.
Nếu tôi nói lý trí là phương tiện tri thức, tôi phải có khả năng chứng minh bằng cách xác định các yếu tố của nó, v.v. Nhưng nếu có ai đó đến và nói với tôi rằng: Tôi có một trực giác hoạt động không gian bốn chiều, hãy chứng minh rằng tôi không có đi. Thế cho tôi thấy là anh có đi. Vậy anh ta sẽ chỉ cho bạn thấy bằng cách nào? Nếu anh ta chỉ ra các dữ liệu giác quan thì anh ta đã phá vỡ siêu không gian của mình bởi vì nó quay trở về với giác quan. Vậy nên câu trả lời duy nhất những người theo chủ nghĩa thần bí cho câu hỏi đó là: Đối với những ai đã hiểu thì không cần giải thích; đối với những ai chưa hiểu, không có lời giải thích nào cả. Vậy nên với cả hai trường hợp, chúng tôi chẳng giải thích gì cả. Tóm lại là như vậy.
Giờ tôi tin là, ồ, vậy còn các vấn đề thuộc các nhánh trước đó. Vâng mời bạn.
H: Ông nói rằng, vâng, rằng phương pháp phản lý trí chống lại đạo đức, và cũng nói rằng tôn giáo chống lại lý trí. Nhưng đối với tôi thì cách thống trị để tiếp cận đạo đức là thông qua tôn giáo. Vậy bằng cách nào tôn giáo có thể ngược lại đạo đức khi mà nó như vậy ạ?
Đ: Chà, khi tôi nói rằng tôn giáo chống lại đạo đức, ý tôi là nó chống lại một quan điểm hợp lý về đạo đức. Tôn giáo dĩ nhiên đã nắm giữ độc quyền về đạo đức trong phần lớn lịch sử nhân loại. Tôn giáo là một hình thức nguyên thủy của triết học, là tiền thân của triết học. Trước khi loài người đủ văn minh để có thể sử dụng trí óc của họ một cách khoa học trong việc trả lời những câu hỏi về cách ta nên sống, đã có những câu chuyện về các vị thần và có rất nhiều những bài học đạo đức trong những câu chuyện ấy. Tôi không tin rằng cả Mười điều răn đều sai, ví dụ vậy. Đa số.
Nhưng...Và tôi không nghĩ rằng bạn nên có những lời răn về mặt đạo đức nhiều như bạn có trong Vật lý. Nhưng bỏ điều đó qua một bên, có rất nhiều những bài học quý giá, chỗ này chỗ kia trong tôn giáo. Vấn đề là chúng đang ở dạng huyền thoại nguyên thủy. Chúng không được tổ chức, không được chứng minh, và tận gốc rễ, chúng rao giảng một số điều rất thối nát. Toàn bộ ý tưởng về sự hy sinh. Ý tưởng về tội lỗi nguyên thủy của con người, rằng con người mang tội kể từ khi được sinh ra, ví dụ vậy. Ý tưởng rằng nghĩa vụ của bạn là đi theo một Đấng Tối cao một cách mù quáng, ngay cả khi ông ta yêu cầu bạn hãy hiến tế đứa con trai vô tội của mình, bạn phải thực hiện. Bạn đã có một ví dụ tham khảo. Theo nghĩa này, Kinh thánh chứa đầy những ý tưởng sai trái về đạo đức.
Chắc chắn là vậy. Vì đó là những gì người ta chấp nhận là đạo đức, tôn giáo theo nghĩa đó đã là một sự độc quyền về đạo đức. Nhưng tôi nói rằng, đó là bởi vì phản lý trí chống lại đạo đức duy lý. Và đó là lý do chính đã phá hủy thế giới. Ta không thể có một nền văn minh công nghiệp hay một quốc gia tự do dựa trên một bộ quy tắc đạo đức phi lý nguyên thủy. Cũng giống như thời cổ đại, loài người hiến tế cho Thượng Đế, ngày nay, họ vẫn tin vào sự hy sinh, song là sự hy sinh vì xã hội chứ không phải vì Thượng Đế. Nhưng đó vẫn là một ý tưởng nguyên thủy.
Tôi nghĩ chúng ta có thể giải quyết một hoặc hai câu hỏi nữa. Vâng mời bạn.
H: Ông nói rằng chúng ta phải dựa vào các giác quan để lĩnh hội tri thức. Nhưng tôi tự hỏi sẽ thế nào nếu các giác quan đánh lừa chúng ta, như khi ta nhìn thấy một ảo ảnh chẳng hạn.
Đ: Các giác quan có thể đánh lừa chúng ta không à? Tôi sẽ trả lời câu hỏi của bạn một cách
ngắn gọn.
Ảo ảnh như bạn đề cập đến, nó không phải là một sai lầm của các giác quan. Trên đường đi thực tế của những tia sáng, ví dụ, chịu ảnh hưởng của sức nóng từ sa mạc, tia sáng đi đến mắt bạn, nó giống như nhìn vào một chiếc gương, bạn thấy được hình ảnh phản chiếu của một thành phố ở xa, không phải chính thành phố ấy. Bạn phải làm gì khi đó? Bạn phải học cách diễn giải thông điệp mà các giác quan mang lại cho bạn. Các giác quan không thể sai được, nhưng chúng không thể tự diễn giải thông điệp của mình. Giống như khi bạn đặt một ngón tay xuống nước, nó trông như bị cong. Các giác quan đã cho bạn một thông tin có giá trị, nhưng bạn phải biết rằng nguyên nhân không phải do cấu trúc ngón nay mà do sự khác biệt về tốc độ ánh sáng di chuyển giữa nước và không khí.
Điều này đưa chúng ta trở lại với Aristotle. Bạn đã đưa chúng ta đến với một chủ đề hay nhưng hơi thiên về kỹ thuật về tính hợp lệ của các giác quan. Tôi sẽ trả lời câu hỏi cuối cùng về vấn đề trung tâm nhất, đạo đức. Có ai có câu hỏi nào về đạo đức không nhỉ? Rồi, mời bạn.
H: Trong Suối Nguồn, Ayn Rand dường như đã mô tả Howard Roark là một người hạnh phúc về nội tâm, song không vui vẻ với hoàn cảnh của mình. Anh ta không thể bán chỉ một tòa nhà mà anh ta không thích để kiếm tiền sao? Như vậy chẳng phải anh ta sẽ hạnh phúc hơn sao?
Đ: Không. Toàn bộ tiểu thuyết và triết lý liên quan đến vấn đề này là tất cả các đức hạnh phải là tuyệt đối. Một hành vi trái với một đức hạnh tương đương với việc từ bỏ toàn bộ nguyên tắc. Và vì vậy đặt mình vào tiền đề trái ngược. Cũng giống như khi bạn là một thẩm phán, bạn phải cân nhắc xem một người vô tội hay có tội. Và bạn biết đấy, bạn đã dựa vào bằng chứng trong phần lớn thời gian xét xử, nhưng rồi trong một khoảnh khắc, sếp của bạn đã đề nghị một khoản tiền lớn để bạn giải phóng một tên tội phạm hoặc tuyên phạt một người vô tội. Bạn nói rằng: Mình không muốn trở thành một kẻ cực đoan. Mọi người đều hiểu tại sao bạn đã nhận hối lộ, bạn sẽ có một ngôi nhà lớn hơn trên một con thuyền,... Ngay cả khi bạn không làm chuyện đó trong tất cả mọi phiên xét xử, hoặc thậm chí không phải trong phần lớn các trường hợp, bạn vẫn mang tiếng là một thẩm phán tham nhũng và mục nát từ bên trong. Cuối cùng, bạn sẽ kết thúc trong túi của những người này. Cuộc sống của bạn sẽ chỉ là dật dờ ở đó, chờ đợi và tất cả các thuộc tính khác bạn đang rèn luyện thành cá tính của mình sẽ bị ảnh hưởng bởi quan điểm của bạn về chính mình, và khả năng suy nghĩ độc lập của bạn, bởi vì bây giờ bạn đang bị chi phối bởi nỗi sợ hãi, v.v.
Điều tương tự cũng đúng nếu ai đến từ một tổ chức tội phạm nói với bạn: “Tôi biết bạn tôn trọng cuộc sống, nhưng thi thoảng tôi muốn bạn ra ngoài và đánh ai đó, bạn được trả rất nhiều tiền, sau tất cả, chẳng có cái gì tuyệt đối cả. Bạn nói ồ ông muốn tôi thành một kẻ giết người ư? Không phải lúc nào cũng vậy, chỉ thi thoảng thôi. Đó chính xác là cùng một thứ giống như sự thỏa hiệp trong trường hợp của Roark. Vậy nên, chúng ta không tin vào sự thỏa hiệp trừ phi nó nằm trong một nguyên tắc đạo đức. Ví dụ, giả sử tôi đồng ý giảng bài trong 45 phút. Anh ta muốn tôi giảng bài trong 1 giờ nhưng tôi chỉ muốn nói trong 30 phút, vậy nên chúng tôi thỏa thuận là 45 phút. Cả hai chúng tôi đều đồng ý về mặt nguyên tắc, chúng tôi chỉ điều chỉnh các chi tiết. Nhưng nếu anh ta muốn tôi nói về Phật giáo, và tôi nói: không, tôi sẽ nói về Chủ nghĩa khách quan. Và chúng tôi đi đến một thỏa thuận rằng tôi sẽ nói một nửa về Phật giáo và một nửa về Chủ nghĩa khách quan hay thậm chí dành ba phần tư thời gian để nói về chủ nghĩa khách quan và chỉ thi thoảng tham chiếu đến Phật giáo. Giữa chừng, nó sẽ khiến các bạn loạn trí và phá hủy mọi thứ. Đó là lý do tại sao Ayn Rand nói rằng, bất kể tỷ lệ giữa thức ăn và chất độc là bao nhiêu, chất độc vẫn luôn chiến thắng.
Tôi xin dừng lại tại đây, Cảm ơn các bạn!
Nguồn: ReasonVN
