Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 4: Từ chiếc nôi đến hầm mộ
Cuộc bầu cử tổng thống năm 1932 là một bước ngoặt chính trị đối với Hoa Kỳ. Herbert Hoover tìm kiếm hi vọng tái đắc cử với tư cách là ứng viên của Đảng Cộng hòa, và đang phải gánh trên vai một cuộc suy thoái sâu rộng. Hàng triệu người thất nghiệp. Ấn tượng khắc sâu về thời kỳ này đó là hình ảnh về một dòng người chờ phát chẩn hay một người thất nghiệp bán táo trên một góc phố. Mặc dù Cục Dự trữ Liên bang là cơ quan độc lập đã nhận lỗi thực hiện chính sách tiền tệ sai lầm khiến một cuộc suy thoái thông thường trở thành một cuộc đại suy thoái, song với tư cách là người đứng đầu nhà nước, Tổng thống cũng không thể thoát khỏi trách nhiệm. Công chúng đã mất niềm tin vào hệ thống kinh tế hiện hành. Người dân tuyệt vọng. Họ cần được trấn an, cần một lời hứa về một lối thoát.
Franklin Delano Roosevelt, vị thống đốc có sức lôi cuốn của bang New York, đồng thời cũng là ứng cử viên của Đảng Dân Chủ. Ông là một gương mặt hoàn toàn mới, toát lên niềm hy vọng và lạc quan. Thực tế là ông đã vận động dựa trên các nguyên tắc cũ. Ông hứa rằng nếu được bầu ông sẽ cắt giảm những khoản không cần thiết trong chính phủ và cân đối lại ngân sách, đồng thời chỉ trích Hoover vì sự hoang phí trong chi tiêu chính phủ và để ngân sách nhà nước thâm hụt tới mức đó. Đồng thời, cả khi trước cuộc bầu cử diễn ra cũng như trong khoảng thời gian trước khi nhậm chức, ông đã thường xuyên gặp gỡ một nhóm các cố vấn tại Dinh Thống đốc ở Albany – đây được coi là "nhóm túi khôn" của ông như người ta vẫn thường gọi. Họ đề xuất các biện pháp cần được thực hiện sau khi ông nhậm chức, đó chính là "Chính sách kinh tế mới" mà FDR đã cam kết với người dân Mỹ để họủng hộ ứng viên của đảng Dân chủ lên giữ chức Tổng thống.
Cuộc bầu cử năm 1932 là một bước ngoặt về chính trị theo đúng nghĩa hẹp. Trong bảy mươi hai năm từ năm 1860 đến năm 1932, Đảng Cộng hòa đã giữ chức Tổng thống trong năm mươi sáu năm, đảng Dân chủ giữ trong mười sáu năm. Trong bốn mươi tám năm từ năm 1932 đến năm 1980, thời thế đã thay đổi: Đảng Dân chủ giữ chức vụ tổng thống trong ba mươi hai năm, Đảng Cộng Hòa trong mười sáu năm.
Cuộc bầu cử cũng là một bước ngoặt xét theo nghĩa quan trọng hơn; nó đánh dấu một sự thay đổi lớn trong nhận thức của công chúng về vai trò của chính phủ cũng như vai trò thực tế mà chính phủ gánh vác. Một bộ số liệu thống kê đơn giản cho thấy tầm quan trọng của sự thay đổi. Kể từ ngày thành lập chế độ Cộng hòa cho đến năm 1929, chi tiêu của chính quyền ở tất cả các cấp, liên bang, tiểu bang và địa phương, chưa bao giờ vượt quá 12 % thu nhập quốc gia ngoại trừ trong thời gian chiến tranh, và 2/3 trong số đó là chi tiêu của cấp tiểu bang và địa phương. Chi tiêu của liên bang thường chỉ lên đến 3% hoặc ở mức thấp hơntính trên tổng thu nhập quốc dân. Kể từ năm 1933, chi tiêu chính phủ chưa bao giờ nằmdưới mức 20% thu nhập quốc dân và bây giờ là hơn 40%, 2/3 trong số đó là chi tiêu của chính phủ liên bang. Đúng là phần lớn khoảng thời gian kể từ sau Chiến tranh Thế giới II kế thúc là thời kỳ chiến tranh lạnh hoặc nóng. Tuy nhiên, kể từ năm 1946, chỉ tính riêng các khoản chi tiêu ngoài mục đích quốc phòng thì con số chưa bao giờ ở mức dưới 16% thu nhập quốc dân và giờ đây con số này là xấp xỉ 1/3 thu nhập quốc dân. Chỉ riêng khoản chi tiêu của chính phủ liên bang đã chiếm hơn 1/4 tổng thu nhập quốc dân, và lớn hơn 1/5 khoản chi cho các mục đích phi quốc phòng. Theo thước đo này, vai trò của chính phủ liên bang trong nền kinh tế đã tăng gấp mười lần chỉ trong nửa thế kỷ qua.
Tổng thống Roosevelt đã nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1933 – khi nền kinh tế chạm đáy ở mức thấp nhất. Nhiều tiểu bang đã phải tuyên bố một kỳ nghỉ ngành ngân hàng và đóng cửa các ngân hàng của họ. Hai ngày sau nhậm chức, Tổng thống Roosevelt ra lệnh cho tất cả các ngân hàng trên toàn quốc phải đóng cửa. Nhưng ngài Roosevelt đã sử dụng diễn văn nhậm chức của mình để truyền tải một thông điệp đầy hy vọng, tuyên bố rằng "điều duy nhất khiến chúng ta phải sợ là chính mình." Và ông ngay lập tức đưa ra một chương trình bão táp gồm một loạt các biện pháp pháp luật – đó làmột phiên họp quốc hội đặc biệt kéo dài "hàng trăm ngày ".
Các thành viên hội đồng cố vấn của Tổng thống Roosevelt chủ yếu được chọn lựa từ các trường đại học – đặc biệt là Đại học Columbia. Họ là những nhân vật tiêu biểu phản ánh sự thay đổi diễn ra trước đó trong giới trí thức tại các trường học – chuyển từ niềm tin vào trách nhiệm cá nhân, nền kinh tế thị trường tự do, và một chính phủ phân cấp, có giới hạn sang niềm tin vào trách nhiệm xã hội và một chính phủ tập trung đầy quyền lực. Họ tin rằng chức năng của chính phủ là bảo vệ các cá nhân trước những biến động về tài sản và kiểm soát hoạt động của nền kinh tế vì "lợi ích chung", ngay cả điều đó đòi hỏi nhà nước phải sở hữu và vận hành các phương tiện sản xuất.
Hai chức năng này đã được thể hiện trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng xuất bản vào năm 1887, của Edward Bellamy, Looking Backward[Ngược dòng thời gian], một tác phẩm khoa học viễn tưởng trong đó nhân vật Rip Van Winkle người đi vào giấc ngủ ởthời điểm năm 1887 nhưng thứcdậy vàonăm 2000 và khám phá ra một thế giới đổi khác. "Nhìn ngược trở về quá khứ", những người bạn đồng hành mới của ông giải thích cho ông tại sao xã hội không tưởng khiến ông kinh ngạc đã xuất hiện vào những năm 1930 – quả là một thời điểm có tính tiên tri – từ địa ngục của những năm I880. Xã hội không tưởng hứa hẹn một cuộc sống an toàn "từ khi nằm trong nôi cho đến khi nằm sâu dưới hầm mộ" – cụm từ đầu tiên thoáng qua đầu chúng tôi – cũng như quy hoạch chi tiết của chính phủ, bao gồm cả nghĩa vụ quốc gia bắt buộc đối với tất cả mọi người trong một ‘khoảng thời gian nhất định’.
Xuất phát từ bầu không khí trí tuệ này, tất cả các cố vấn của Roosevelt đều coicuộc suy thoáinhư là một sự thất bại của chủ nghĩa tư bản và tin rằng những can thiệp tích cực của chính phủ - và đặc biệt là chính phủ trung ương - là biện pháp khắc phục thích hợp. Các công chức lương thiện, các chuyên gia vô tư nên lên nắm giữ những vị trí mà đã bị “các nhà bảo hoàng kinh tế” (economic royalists) tư duy hẹp hòi và ích kỷ lạm dụng. Theo lời của Tổng thống Roosevelt trong diễn văn nhậm chức đầu tiên của ông đó là, "những kẻchuyên hành nghề đổi tiền đã bị tống cổkhỏi những vị trí cao trong đền thờ nền văn minh của chúng ta."
Trong thiết kế các chương trình cho Tổng thống Roosevelt, họ không chỉ đúc rút các kinh nghiệm trên giảng đường đại học, mà cả các kinh nghiệm trước đó của chính phủBismarck của Đức, học thuyết Fabian của Anh, và giải pháp trung dung của Thụy Điển.
Khi nổi lên vào những năm 1930, Chính sách kinh tế mới đã phản ánh rõ ràng những quan điểm nêu trên. Nó bao gồm các chương trình được thiết kế để cải cách cấu trúc cơ bản của nền kinh tế. Một số các chương trình này đã bị bác bỏ khi chúng bị Tòa án Tối cao tuyên bố là vi hiến, đặc biệt là NRA (chương trình Quản trị Phục hồi Quốc gia) và AAA (chương trình Quản trị Điều chỉnh Nông nghiệp). Các biện pháp còn lại vẫn tồn tại với chúng ta đến ngày hôm nay, đặc biệt là Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái, Ban Quan hệ Lao động Quốc gia, hay mức lương tối thiểu toàn quốc.
Chính sách kinh tế mới cũng bao gồm các chương trình an sinh đối với những người dân kém may mắn, đặc biệt là chương trình An Sinh Xã Hội (OASI: Bảo hiểm nhân thọ người cao tuổi và người sống sót), bảo hiểm thất nghiệp, và trợ cấp xã hội. Chương này sẽ thảo luận về các biện pháp đó cũng như các chương trình ra đời trong những năm sau này.
Chính sách kinh tế mớicòn bao gồm cả các chương trình dự kiến chỉ diễn ra tạm thời, được thiết kế để đối phó với tình trạng khẩn cấp do cuộc Đại suy thoái gây ra. Một số chương trình tạm thời đã chuyển sangdài hạn,và đấy cũng chính là con đường đi của các chương trình của chính phủ.
Các chương trình tạm thời quan trọng nhất bao gồm các dự án "tạo công ăn việc làm" của Cục Quản lý Tiến độ Công trình, sử dụng các thanh niên thất nghiệp để cải tạo các khu vườn và rừng quốc gia của Tổ chức Bảo tồn Dân sinh, hay chương trình cứu trợ liên bang trực tiếp đến với người nghèo. Vào thời điểm đó, các chương trình này đã thực sự hữu ích. Đau khổ ở khắp mọi nơi; và việc quan trọng là cần làm điều gì đó để kịp thời xoa dịu những nỗi đau này, bao gồm việc hỗ trợ những người bị nạn và khôi phục lại hy vọng cũng như sự tự tin cho công chúng. Các chương trình đã vội vàng được sắp đặt, và không có gì lạ khi chúng khiếm khuyết và hoang phí, song điều đó khá dễ hiểu và là việc không thể tránh khỏi trong bối cảnh như vậy. Chính quyền Roosevelt đã đạt được khá nhiều biện pháp thành công trong việc làm giảm căng thẳng tức thời và khôi phục lại lòng tin.
Thế chiến II đã làm gián đoạn Chính sách kinh tế mới, nhưng cũng đồng thời củng cố mạnh mẽ những nền tảng của Chính sách này. Cuộc chiến tranh đã khiến chính phủ phải chi các khoản ngân sách khổng lồ và đặt ra nhiều biện pháp kiểm soát chưa từng có lên từng chi tiết của đời sống kinh tế như: ban hành sắc lệnh ấn định giá cả và tiền lương, phân phối hàng tiêu dùng, ngăn cấm việc sản xuất một số mặt hàng dân sự, phân bổ nguyên liệu thô và thành phẩm, kiểm soát nhập khẩu và xuất khẩu.
Việc xóa bỏ tình trạng thất nghiệp và sản xuất trang thiết bị chiến tranh trên quy mô lớn đã biến nước Mỹ trở thành "kho vũ khí của nền dân chủ", đồng thời giành được chiến thắng vô điều kiện trước Đức và Nhật Bản - tất cả những điều này được diễn giải ở khắp mọi nơi như là minh chứng cho năng lực của chính phủ trong việc điều hành hệ thống kinh tế hiệu quả hơn so với "chủ nghĩa tư bản không có kế hoạch."Một trong những mảnh ghép đầu tiên của hệ thống pháp luật cơ bản được ban hành sau chiến tranh đó là Đạo luật Lao động năm 1946, trong đó thể hiện trách nhiệm của chính phủ đối với việc duy trì "tỷ lệ lao động có việc làm, năng lực sản xuất và sức mua ở mức tối đa”, và hệ quả là các chính sách theo trường phái Keynesian đã được biến thành luật.
Tác động mà cuộc chiến gây ra đối với thái độ của người dân giống như hình ảnh tương phản của cuộc suy thoái vậy. Cuộc suy thoái đã thuyết phục công chúng rằng chủ nghĩa tư bản là một tư tưởng sai lầm; và cuộc chiến thuyết phục công chúng rằng chính phủ tập trung là một chế độ hiệu quả. Cả hai kết luận này đều sai. Cuộc suy thoái diễn ra do hành động sai lầm của chính phủ chứ không phải của hệ thống doanh nghiệp tư nhân. Còn về cuộc chiến, nó là cơ hội để chính phủ thực hiện chính sách kiểm soát tạm thời trên diện rộng vìmột mục đích quan trọng duy nhất của mọi người dân nói chung và vì mục đích ấy hầu hết các công dân đều sẵn sàng hy sinh những mục đích khác; nó hoàn toàn khác với việc chính phủ kiểm soát nền kinh tế lâu dài nhằm thúc đẩy một khái niệm mơ hồ đó là "lợi ích công cộng" được định hình bởi hàng loạt các mục tiêu đa dạng, khác nhau của người dân.
Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, kế hoạch kinh tế tập trung dường như là làn sóng của tương lai. Mô hình này được chào đón nhiệt tình bởi một số người coi nó như là bình minh chomột thế giới bị chia cắt. Trong khi những người khác thì ái ngại vô cùng, bao gồm cả chúng ta, những người coiđó như sự chuyển giao sang chế độ độc tài và khổ đau. Cho đến nay, niềm hy vọng đó của một số người hay chính là nỗi e ngại đối với những người khác đã không thành hiện thực.
Chính phủ đã mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, việc mở rộng không diễn ra dưới hình thức kế hoạch kinh tế tập trung chi tiết,cũng không có hiện tượng mở rộng quốc hữu hóa các ngành công nghiệp, tài chính, và thương mại, như nhiều người trong chúng ta từng quan ngại. Trải nghiệm thực tế đã khiến người ta thôi ảo tưởng về kế hoạch kinh tế chi tiết, một phần bởi nó không thành công trong việc đạt được các mục tiêu công bố, mặt khác nó còn xung đột với quyền tự do. Chúng ta có thể thấy rõ xung đột đó thông qua nỗ lực của chính phủ Anh nhằm kiểm soát công ăn việc làm của người dân. Phản ứng bất lợi từ công chúng đã buộc chính phủ Mỹ phải từ bỏ nỗ lực này. Các ngành công nghiệp quốc hữu hóa đã tỏ ra kémhiệu quả và tạo ra tổn thất to lớn ở Anh, Thụy Điển, Pháp, và Hoa Kỳ; thế cho nên cho đến nay chỉ một vài người theo chủ nghĩa Marxist cứng đầu vẫn cho rằng cần phải thực hiện quốc hữu hóa mạnh mẽ hơn. Suy nghĩ lầm tưởng cho rằng quốc hữu hóa nâng cao hiệu quả sản xuất đã từng được phổ biến rộng rãi nhưng đến nay đã không còn nữa. Một số trường hợp quốc hữu hóa lẻ tẻ vẫn diễn ra - như ngành dịch vụ đường sắt và dịch vụ vận chuyển hàng hóa tại Hoa Kỳ, hãng Leyland Motors ở Anh, ngành thép tại Thụy Điển. Nhưng chúng diễn ra vì nhiều nguyên nhân khác nhau -vì người tiêu dùng muốn giữ lại các ngành dịch vụ được chính phủ trợ cấp khi các điều kiện thị trường yêu cầu họ cắt giảm chi tiêu hay do người lao động trong các ngành công nghiệp không sinh lời lo sợ thất nghiệp. Ngay cả những người ủng hộ chính sách quốc hữu hóa này cũng coi đây là giải pháp tệ nhất mà chúng ta buộc phải sử dụng.
Sự thất bại của chính sách kế hoạch hóa và quốc hữu hóa là chưa đủ để loại bỏ áp lực mở rộng chính phủ lớn hơn nữa. Nó chỉ đơn thuần thay đổi hướng đi của mình. Sự mở rộng của chính phủ hiện nay diễn ra dưới hình thức các chương trình phúc lợi và các hoạt động điều tiết. Điều này đã được W. Allen Wallis thể hiện nhưng trong một bối cảnh hơi khác một chút: chủ nghĩa xã hội hoàn toàn"phá sản về mặt trí tuệ sau hơn một thế kỷ chứng kiến sự sụp đổ của hết lập luận này đến lập luận khác về xã hội hóa phương tiện sản xuất - giờ đây [nó]lại tìm cách xã hội hoácác kết quả sản xuất." 2
Trong lĩnh vực phúc lợi, thay đổi về đường lối đã dẫn đến một sự bùng nổ các chương trình trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt sau khi Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố chương trình "Cuộc chiến chống Đói nghèo" vào năm 1964. Các chương trình nằm trong Chính sách kinh tế mới về An Sinh Xã Hội, bảo hiểm thất nghiệp, và cứu trợ trực tiếp đã được mở rộng cho những nhóm mới; các khoản thanh toán được tăng lên; các chương trình Chăm sóc sức khỏe, Thuốc men, tem phiếu thực phẩm, cùng nhiều chương trình khác cũng được bổ sung. Chương trình nhà ở công cộng và tái thiết đô thị được mở rộng. Đến nay có tới hàng trăm chương trình phúc lợi và chuyển thu nhập của chính phủ. Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi (HEW), được thành lập vào năm 1953 để hợp nhất các chương trình phúc lợi phân tán, khởi điểm với ngân sách 2 tỷ USD, tương đương chưa đến5% các chi tiêu cho quốc phòng. Hai mươi lăm năm sau, năm 1978, ngân sách của Bộ này là 160 tỷ USD, gấp 1,5 lần tổng các khoản chi cholực lượng quân đội, hải quân và không quân. Đây là khoản ngân sách lớn thứ ba trên thế giới, chỉ kém ngân sáchtoàn bộ của chính phủ Hoa Kỳ và ngân sách toàn bộ của Liên bang Xô Viết. Bộ Y tế giám sát một vương quốc khổng lồ, thâm nhập vào từng ngõ ngách của đất nước. Cứ 100 người trên đất nước này, có hơn 1 người làm việc trong đế chế HEW, bất kể làlàm trực tiếp cho Bộ hay trong các chương trình mà HEW chịu trách nhiệm nhưng đã được quản lý bởi các cơ quan chính quyền tiểu bang và địa phương. Tất cả chúng ta đều chịu ảnh hưởng bởi hoạt động của nó. (Vào cuối năm 1979, HEW được chia nhỏ, với việc Bộ Giáo Dục được tách riêng.)
Không ai có thể tranh cãi về hai hiện tượng có bề ngoài trái ngược: tình trạng bất mãn ngày càng lan rộng đối với kết quả của cuộc bùng nổ này trong các hoạt động phúc lợi; áp lực tiếp tiếp mở rộng các chương trình hơn nữa.
Mọi mục tiêu đều cao cả; và các kết quả chỉ mang lại thất vọng. Các chi phí An Sinh Xã Hội tăng vọt, và hệ thống lún sâu vào rắc rối tài chính. Chương trình nhà ở công cộng và tái thiết đô thị đã rút bớt thay vì cung cấp thêm nhà ở dành cho người nghèo. Trợ cấp xã hội leo thang bất chấp tỷ lệ lao động có việc làm ngày càng gia tăng. Tất cả mọi người đều công nhận rằng chương trình phúc lợi là một "mớ hỗn độn" hòa trộn giữa gian lận và tham nhũng. Trong quá khứ, chính phủ đã từng thanh toán phần lớn các hóa đơn y tế của quốc gia, nên giờ đây cả bệnh nhân và các bác sĩ đều phàn nàn về chi phí tăng vọt cũng như sự thiếu quan tâm ngày một gia tăng của chính phủ đối với lĩnh vực y tế. Trong lĩnh vực giáo dục, thành tích của học sinh giảm sút khi sự can thiệp của liên bang mở rộng (Chương 6).
Thất bại liên tiếp của các chương trình được thiết kế vìmục đích tốt đẹp không phải là điều ngẫu nhiên. Nó đơn thuần là kết quả của những sai lầm đã được hiện thực hoá. Thất bại này bắt nguồn sâu xatừ việc sử dụng các phương tiện xấu để đạt được những mục tiêu tốt.
Bất chấp thất bại của các chương trình này, áp lực về việc mở rộng chúng vẫn ngày một gia tăng. Các thất bại được đổ tại cho hành vi hà tiện của Quốc hội trong việc sử dụng các quỹ để đáp ứng cho các chương trình lớn hơn. Các nhóm lợi ích được lợi từ những chương trình cụ thể nào đó tạoáp lực để những chương trình này được mở rộng hơn – đa phần trong số đó là bộ máy quan liêu khổng lồ sinh ra từ chính các chương trình này.
Một phương án thay thế hấp dẫn cho hệ thống phúc lợi hiện nay đó là phương án áp dụng mức thuế thu nhập âm. Đề xuất này nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các cá nhân và các nhóm thuộc mọi tầng lớp chính trị. Một biến thể của phương án này đã được đề xuất bởi ba đời Tổng thống; nhưng có vẻ như nó vẫn không khả thi về mặt chính trị trong tương lai gần.
SỰ RA ĐỜI CỦA HỆ THỐNG PHÚC LỢI NHÀ NƯỚC HIỆN ĐẠI
Nhà nước hiện đại đầu tiên triển khai các chính sách phúc lợi trên diện rộng, những chính sách mà sau này trở nên phổ biến ở hầu hết các xã hội hiện đại, chính là đế quốc Phổ mới được hình thành dưới sự lãnh đạo của "vị Thủ tướng Thép," Otto von Bismarck. Vào đầu những năm 1880, ông đã giới thiệu một kế hoạch toàn diện về an sinh xã hội, cung cấp bảo hiểm cho người lao động trong các trường hợp tai nạn, bệnh tật và tuổi già. Những động cơ đằng sau các chính sách của ông rất phức tạp; chúng vừa là mối quan tâm mang tính chất gia trưởng dành cho các tầng lớp dưới, nhưng cũng vừa là những biện pháp đối phó lại với các chính trị gia ở tầng lớp trên. Các chính sách này đã làm suy yếu sự chống đối của nhóm đảng viên Đảng Dân chủ xã hội mới nổi.
Có vẻ nghịch lý khi một nhà nước về cơ bản là vừa độc đoán vừa quý tộc như nước Đức trước chiến tranh thế giới I - theo thuật ngữ chính trị ngày nay là một chế độ độc tài cánh hữu – lại đi đầu trong việc giới thiệu các biện pháp mà thường được liên hệ với chủ nghĩa xã hội và Cánh tả. Ấy vậy mà lại chẳng nghịch lý chút nào – ngay cả khi gạt bỏ các động cơ chính trị của Bismarck sang một bên. Những người tin tưởng vào chế độ quý tộc và chủ nghĩa xã hội đều có chung niềm tin vào chế độ cai trị tập quyền, vào chế độ cai trị bằng mệnh lệnh hơn là dựa trên cơ sở hợp tác tự nguyện. Họ bất đồng với nhau trong vấn đềchọn người cai trị. Một bên chọn người sinh ra đã mang dòng máu quý tộc, còn bên kia chọn các chuyên gia ngầm định là dựa trên thành tích và nhân phẩm. Rõ ràng, cả hai đều tuyên bố rằng họ muốn thúc đẩy phúc lợi của "công chúng", rằng họ biết những gì mang lại "lợi ích chung" và làm cách nào để đạt được mục tiêu nàytốt hơn so với người bình thường. Bởi vậy, cả hai phe đều tuyên xưng một triết lý gia trưởng.Và khiđạt được quyền lực, cả hai đều sẽ thúc đẩy những lợi ích riêng chotầng lớp của mình dưới danh nghĩa "phúc lợi chung".
Tiền thân của các biện pháp an sinh xã hội được thông qua vào những năm 1930 là các biện pháp được thực hiện trước đó ở Anh, mở đầu bằng Đạo luật Lương Hưu thông qua vào năm 1908 và Đạo luật Bảo hiểm Quốc gia vàonăm 1911.
Đạo luật Lương hưu trợ cấp cho toàn bộ những người trên bảy mươi tuổi và có thu nhập thấp hơn một mức lương hưu tuần nhất định; mức trợ cấp khác nhau tùy theo mức thu nhập của người nhận. Khoản tiền trợ cấp này hoàn toàn không được xây dựng từ sự đóng góp của người thụ hưởng, và do đó nó được xem như là hình thức cứu trợ trực tiếp – đó là một cách thứcmở rộng các điều khoản của Đạo Luật Nghèo Đói vốn đã từng tồn tại ở Anh dưới hình thức này hay hình thức khác trong hàng thế kỷ. Tuy nhiên, như A. V. Dicey chỉ ra, có một sự khác biệt cơ bản ở đây. Lương hưu được coi là một quyền lợi mà việc nhận nó, theo lời của đạo luật, "sẽ không tước đicủa người hưu trí bất ở bất kỳ khu vực nàolợi quyền hoặc đặc quyền, hay khiến chongười đó phải chịu bất kỳ khiếm khuyết nào." Điều này cho thấy chúng ta đã tiến xa đến mức độ nào từ một khởi đầu khiêm tốn đó, như Dicey đã bình luận về đạo luật này sau năm năm ban hành như sau: "Chắc chắn một người có đầu óc xét đoán và nhân từ sẽ tự vấnrằng liệutoàn thể nước Anh nói chung có được lợi hay không từ việc ban hành quy định cho phép các trường hợp nhận trợ cấp đói nghèo, dưới hình thức lương hưu, có còn nhất quán với việc tiếp tục giữ lại quyền tham gia bầu cử Thành viên Quốc hội cho người hưu trí." Nếu coi việc nhận sự ban phát của chính phủ là một tiêu chí loại trừ thì chắc ngài Diogenes thời hiện đại có dùng đến cây đèn thần cũng không thể tìm ra một người có quyền được bỏ phiếu.
Đạo Luật Bảo hiểm quốc gia nhằm "đạt được hai mục tiêu sau: Đầu tiên là bất kỳ người nào ... vẫn đang làm việc tại Vương quốc Anh ... từ độ tuổi 16 đến 70, sẽ được bảo hiểm trong trường hợp bệnh tật, hay nói cách khác, được bảo hiểm phương tiện để chữa bệnh .... Mục tiêu thứ hai đó là bất kỳ người nào vẫn đang làm các công việc được quy định trong trong Đạo luật sẽ được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, hay nói cách khác, được bảo đảm hỗ trợ trong suốt thời gian thất nghiệp." "Không giống như chế độ hưu trí cho người già, hệ thống được thiết lập từ sự đóng góp của chính những người thụ hưởng. Nó được tài trợ một phần bởi các chủ lao động, một phần từngười lao động, và một phần từ chính phủ.
Vì bản chất được xây dựng từ các khoản đóng góp của người lao động và vì tính bất trắc của các trường hợp mà nó bảo hiểm, Đạo luật này là một hướng đi cấp tiến hơn so vớicác quy định trước đó của Đạo Luật Lương hưu. "[T]heo Đạo luật Bảo hiểm Quốc gia," Dicey đã viết,
Nhà nước gánh lên vai gánh nặng và những nhiệm vụ mới, đồng thời trao cho những người làm công ăn lương các quyền mới, vô cùng rộng mở. . . . [T]rước năm 1908, câu hỏi một người, dù giàu hay nghèo, có nên bảo hiểm cho sức khỏe của mình hay không là vấn đề hoàn toàn tùy thuộc vàoý muốn tự do của mỗi cá nhân. Lựa chọn của anh ta không cần đến sự quan tâm của Nhà nước, chẳng khác gì mấy so với câu hỏi liệu anh ta nên mặc một chiếc áo khoác màu đen haymàu nâu.
Tuy nhiên, Đạo luật Bảo hiểm Quốc gia về lâu về dài sẽ trút gánh nặng lên vai Nhà nước, tức là lên vai người đóng thuế,nhiều hơn nhiều so với những gì các đại cử tri Anh dự đoán. . . . Bảo hiểm thất nghiệp. . . thực chất là việc một Nhà Nước chấp nhận đứng ra chịu trách nhiệm đảm bảo cho một người trong trường hợp xấu phát sinh từ việc anh ta không có việc làm. . . . Đạo luật Bảo hiểm Quốc gia phù hợp với học thuyết chủ nghĩa xã hội, nó gần như không thể hòa hợp với chủ nghĩa tự do cá nhân, hoặc thậm chí thuyết cấp tiến vào thời điểm năm 1865.5
Các biện pháp thời kỳ đầu này của Anh, giống như các biện pháp của Bismarck, minh họa mối quan hệ giữa chế độ quý tộc và chủ nghĩa xã hội. Năm 1904 Winston Churchill đã rời khỏi Đảng Tory – đảng của tầng lớp quý tộc – để gia nhập đảng Tự do. Với tư cách là một thành viên nội các của chính phủ Lloyd George, ông đã đóng vai trò đầu tàu trong việc ban hành luật cải cách xã hội. Việc chuyển sang đảng phái khácở thời điểm đó của Churchill, như thực tế cho thấy chỉ mang tính tạm thời,không đòi hỏi bất kỳ thay đổi nàovề lập trường tư tưởng – vì như chúng ta đã biết, nửa thế kỷ trước đó, đảng Tự do là đảng ủng hộtự do thương mại ở nước ngoài và tự do kinh tế trong nước. Việc ban hành luật cải cách xã hội mà ôngđưa ra, mặc dù khác về phạm vi và tính chất, lại thuộc về dòng các Đạo luật Lao động tại các nhà máy (Factory Act) mang tính chất gia trưởng, độc đoánvốn được thông qua vào thế kỷ XIX chủ yếu dưới sự ảnh hưởng của những người cấp tiến thuộc đảng Tory -một nhóm người đến từ nhiều thành phần Quý tộc và cùng thấm nhuần ý thức về nghĩa vụ chăm sóc lợi ích của các tầng lớp lao động, và họ làm vậy thuận theo ý nguyện và bằng khả năng hỗ trợ của bản thân, chứ không phải thông qua cưỡng chế.
Không hề cường điệu hóa chút nào khi nói rằng những nguyên lý định hình nước Anh ngày hôm nay chủ yếu đến từ các nguyên lý của đảng Tory của thế kỷ XIX hơn là những ý tưởng của Karl Marx và Friedrich Engels.
Một ví dụ khác cho thấy rõ ràng Chính sách Kinh tế Mới của FDR chịu ảnh hưởng đó là Thụy Điển:Giải PhápTrung Dung, cũng chính là tiêu đề được Marquis Childs đặt cho cuốn sách xuất bản năm 1936 của ông. Thụy Điển ban hành đạo luật hưu trí bắt buộc vào năm 1915. Đó là một hệ thống được xây dựng dựa trên sự đóng góp của người thụ hưởng. Lương hưu sẽ được trả cho tất cả người lao động sau độ tuổi sáu mươi bảy bất kể tình trạng tài chính ngân sách như thế nào. Quy mô của khoản lương hưu phụ thuộc vào khoản thanh toán mà các cá nhân đã đóng góp vào hệ thống. Những khoản thanh toán này được đóng góp thêm bằng nguồn quỹ của chính phủ.
Bên cạnh lương hưu và kế đến là bảo hiểm thất nghiệp, Thụy Điển đã để chính phủ sở hữu một số ngành công nghiệp, xây dựng nhà ở công cộng, và thiết lập các hợp tác xã của người tiêu dùng trên quy mô lớn.
Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman
Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên
