Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 2: Tính chuyên chế của các biện pháp kiểm soát (Phần 1)

Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 2: Tính chuyên chế của các biện pháp kiểm soát (Phần 1)

Khi thảo luận về thuế quan và các chính sách hạn chế khác lên nền thương mại quốc tế, Adam Smith đã viết trong cuốn Nguồn gốc của cải của các quốc gia:

Sự cẩn trọng trong hành xử của mỗi gia đình không phải là cái gì đó lố bịch xét trên qui mô của một đại vương quốc. Nếu một quốcgia bên ngoài có thể cung cấp cho chúng ta một mặt hàng với giá thành rẻ hơn so với khi chúng ta tự làm ra, thì chúng ra nên mua sản phẩm này từ họ và chỉ tự thực hiện một số khâu sản xuất mà thôi, theo cách này chúng ta sẽ đạt được một số lợi thế. . . . Ở quốc gia nào cũng vậy, phần lớn người dân sẽ mua hàng hóa từ những người bán rẻ nhất. Mệnh đề này hiển nhiên đến nỗi thật tốn công vô ích cho những ai hao tâm để đi chứng minh nó; và cũng chẳng có ai nghi ngờ điều này bao giờ cả, kể cả những lời lẽ mê hoặccó tính vụ lợi của các thương gia và nhà sản xuất cũng không làm thay đổi được suy nghĩ chung này của loài người. Trên khía cạnh này, lợi ích của họ thực ra là đối lập hoàn toànvới phần lớn người dân.i

Nhận định này vẫn đúng cho đến ngày nay. Dù là nền thương mại trong hay ngoài nước, thì “phần lớn người dân” luôn muốn mua hàng từ nguồn rẻ nhất và bán cho những người muốn mua nhất. Tuy nhiên, "lời lẽ mê hoặc có tính vụ lợi" ít nhiều làm xáo trộn, cản trởcác quyết địnhchúng ta trao đổi mua bán mặt hàng gì, mua hàng từ đâu, bán cho aivà dựa trên những điều khoản giao dịch nào, hay thuê mướn ai và làm việc cho ai, sống ở đâu, và ăn uống cái gì.

Adam Smith đã chỉ đích danh "lời lẽ mê hoặc có tính vụ lơi” đến từ “các thương nhân và nhà sản xuất." Họ là thủ phạm chính trong thời đại của ông. Ngày nay nhóm này đa phần là các công ty. Trên thực tế, hầu như không ai trong chúng ta chưa từng có những "lời lẽ mê hoặc có tính vụ lợi" trong trường hợp này hoặc trường hợp khác. Theo như câu nói bất tử của Pogo, "Chúng ta đều từng chạm trán một kẻ thù và kẻ thù đó chính là bản thân chúng ta." Chúng ta luôn lên án chống lại "những lợi ích đặc quyền", cho đến khi "lợi ích đặc quyền" ấy thuộc về chính chúng ta. Mỗi chúng ta đều biết rằng điều gì tốt cho cá nhân chúng ta cũng sẽ đem lại lợi ích cho quốc gia – do đó khái niệm "lợi ích đặc quyền" của chúng ta là khác nhau. Kết quả cuối cùng là một mê cung những giới hạn và hạn chế đã được vẽ ra khiến cuộc sống của hầu hết chúng ta tồi tệ hơn nhiều so với khi không có chúng. Những gì chúng ta đạt được từ các biện pháp phục vụ “lợi ích đặc quyền” của chúng ta không thấm tháp vào đâu so với những gì chúng ta mất đi do các biện pháp phục vụ “lợi ích đặc quyền” của những người khác gây ra.

Ví dụ rõ ràng nhất diễn ra trong bối cảnh thương mại quốc tế. Những lợi ích mà một số nhà sản xuất thu được từ các loại ​​thuế quan cũng như những chính sách hạn chế khác không đơn thuần chỉ là phần có được từ sự mất mát của các nhà sản xuất khác, mà đặc biệt là từ người tiêu dùng nói chung. Thương mại tự do không chỉ thúc đẩy phúc lợi vật chất của chúng ta, nó còn nâng đỡ mối quan hệ hòa bình và hòa hợp giữa các quốc gia đồng thời thúc đẩy cạnh tranh trong nước.

Các biện pháp kiểm soát ngoại thương dẫn đến hoạt động thương mại trong nước cũng bị kiểm soát. Chúng xen vào mọi khía cạnh của hoạt động kinh tế. Người ta thường đưa ra lý lẽ biện minh cho các biện pháp kiểm soát như vậy là để tạo lập, đặc biệt là đối với những nước kém phát triển, điều kiện cần thiết cho sự phát triển và tiến bộ. So sánh kinh nghiệm của Nhật Bản sau thời kỳ Duy Tân Minh Trị năm 1867 với kinh nghiệm của Ấn Độ sau khi giành được độc lập vào năm 1947 sẽ cho ta cái nhìn kiểm chứng về vấn đề này. Nó cho thấy, cũng như nhiều ví dụ khác nữa, tự do thương mại trong và ngoài nước là cách tốt nhất giúp một nước nghèo thúc đẩy sự thịnh vượng của người dân.

Các biện pháp kiểm soát về kinh tế đã gia tăng nhanh chóng ở Hoa Kỳ trong những thập kỷ gần đây. Điều này không chỉ giới hạn quyền tự do sử dụng các nguồn lực kinh tế của chúng ta, mà còn ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận, báo chí, và tôn giáo.

 

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Người ta thường nói rằng một chính sách kinh tế không tốt phản ánh tình trạng bất đồng giữa các chuyên gia; nghĩa là nếu tất cả các nhà kinh tế đều đưa ra lời khuyên như nhau, thì đó sẽ là một chính sách kinh tế tốt. Các nhà kinh tế thường đưa ra những ý kiến trái chiều, song trong lĩnh vực thương mại quốc tế thì họ không như vậy. Kể từ thời Adam Smith đã có sự ngầm thống nhất giữa các nhà kinh tế, bất luận tư tưởng của họ về các vấn đề khác ra sao, rằng tự do thương mại quốc tế là phương án lợi ích nhất cho các quốc gia tham gia và cho toàn thế giới. Tuy nhiên, thuế quan là quy định bắt buộc. Các trường hợp ngoại lệ duy nhất đó là nền thương mại tự do diễn ra trong gần một thế kỷ ở Anh sau khi Đạo Luật Ngũ cốc được bãi bỏ vào năm 1846, hay ba mươi năm thương mại tự do tại Nhật Bản sau thời kỳ Duy Tân Minh Trị, và nền thương mại tại Hồng Kông như ngày nay. Hoa Kỳ đã đặt ra các loại thuế quan trong suốt thế kỷ XIX, các mức thuế này thậm chí còn được nâng lên trong thế kỷ XX, đặc biệt là theo đạo luật thuế quan Smoot-Hawley năm 1930 mà một số học giả đánh giá rằng nó đã góp phần nào vào mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng diễn ra sau đó. Kể từ khi các thỏa thuận quốc tế được ký kết, rào cản thuế quan đã được hạ xuống, song chúng vẫn duy trì ở mức cao, thậm chí còn cao hơn so với thế kỷ XIX, tuy nhiên những thay đổi lớn trong các loại mặt hàng trên thị trường thương mại quốc tế khiến cho việc so sánh không thể chính xác hoàn toàn.

Ngày nay, vẫn còn rất nhiều người ủng hộ thuế quan – họ gọi nó bằng mỹ từ "chính sách bảo vệ", một cái mác tốt cho một động cơ xấu. Các nhà sản xuất thép và công đoàn ngành thép tạo sức ép trong việc đặt ra những hạn chế lên hoạt động nhập khẩu thép từ Nhật Bản. Các nhà sản xuất tivi và nhân công của họ vận động hành lang trong việc thiết lập "những thỏa thuận tự nguyện" nhằm hạn chế nhập khẩu tivi hoặc linh kiện từ Nhật Bản, Đài Loan, hay Hồng Kông. Các nhà sản xuất hàng dệt may, giày dép, gia súc, đường - họ cùng vô số những người khác phàn nàn về sự cạnh tranh "không công bằng" với các đối thủ nước ngoài và yêu cầu chính phủ cần có hành động gì đó để "bảo vệ" họ. Tất nhiên, không có nhóm nào phàn nàn một cách lộ liễu dựa trên cơ sở lợi ích cá nhân của họ. Nhóm nào cũng nói về "lợi ích chung", về sự cần thiết phải bảo toàn công ăn việc làm hay thúc đẩy an ninh quốc gia. Nhu cầu gia tăng sức mạnh của đồng đô la so với đồng mark hay yen trong thời gian gần đây đã góp phần ủng hộ lối tư duy truyền thống về các chính sách hạn chế nhập khẩu.

 

Lợi ích của thương mại tự do từ góc độ kinh tế

Có tiếng nói của một chủ thể chưa bao giờ được đề cập đến đó là tiếng nói của người tiêu dùng. Việc coi người tiêu dùng như là những nhóm đặc quyền đã tăng lên một cách nhanh chóng trong những năm gần đây. Tuy nhiên, bạn sẽ không thể tìm thấy trên các phương tiện truyền thông, hay trong hồ sơ của các phiên điều trần Quốc hội bất kỳ tung tích nào về sự công kích của người tiêu dùng hướng tới thuế quan hay các hạn chế khác đối với hoạt động nhập khẩu, mặc dù họ là nạn nhân chính của các biện pháp đó. Những người tự xưng là biện hộ cho người tiêu dùng thực chất có những mối quan tâm khác - chúng ta sẽ làm rõ trong Chương 7.

Tiếng nói của cá nhân người tiêu dùng chìm nghỉm trong tạp âm của "lời lẽ mê hoặc có tính vụ lợi của các thương nhân và nhà sản xuất" cùng nhân viên của họ. Kết quả là vấn đề mà cá nhân người tiêu dùng nêu lên bị biến dạng trầm trọng. Chẳng hạn như những người ủng hộ thuế quan coi việc tạo ra công ăn việc làm hiển nhiên là một kết quả đáng mong muốn, và chỉ cần quan tâm thế thôi bất kể việc làm được tạo ra là gì. Quan điểm này rõ ràng không đúng. Nếu tất cả những gì chúng ta muốn là việc làm, chúng ta có thể tạo ra vô số việc làm tùy thích – chẳng hạn, cho nhân công đào hố rồi lấp lại, hoặc làm các công việc vô ích khác. Đôi khi, việc làm tự nó đã là phần thưởng. Tuy nhiên, thường thì chúng ta phải trả cái giá nhất định để có được thứ chúng ta muốn. Mục tiêu thực sự của chúng ta không đơn thuần chỉ là việc làm mà là những việc làm hiệu quả - nghĩa là tạo ra nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn để phục vụ tiêu dùng.

Một quan điểm sai lầm khác song hiếm khi bị vặn lại đó là “xuất khẩu là hoạt động tốt, còn nhập khẩu là hoạt động xấu”. Sự thật hoàn toàn khác. Chúng ta không thể ăn, mặc, hay thưởng thức những món hàng chúng ta vận chuyển ra nước ngoài. Chúng ta ăn chuối từ Trung Mỹ, mang giày Ý, lái xe ô tô Đức, và thưởng thức các chương trình truyền hình trên chiếc tivi Nhật. Thứ chúng ta gặt hái được từ ngoại thương chính là nhập khẩu. Xuất khẩu là cái giá chúng ta phải trả để có hàng nhập khẩu. Như Adam Smith đã nhìn nhận một cách thấu đáo, các công dân của một quốc gia sẽ được hưởng lợi từ việc tiếp nhận một lượng hàng nhập khẩu lớn nhất có thể từ giá trị xuất khẩu, hay cũng tương tự, được hưởng lợi từ việc xuất khẩu ít nhất có thể để trả cho nhập khẩu.

Thuật ngữ dễ gây hiểu nhầm mà chúng ta vẫn thường sử dụng phản ánh những tư tưởng sai lầm. "Chính sách bảo vệ" thực ra ám chỉ hành động khai thác người tiêu dùng. "Cán cân thương mại thặng dư" thực ra có nghĩa là xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, lượng hàng hóa chảy ra nước ngoài có tổng giá trị lớn hơn lượng hàng hóa chúng ta thu về từ ngoại quốc. Xét trên phương diện hộ gia đình cá nhân của bạn, bạn chắc chắn sẽ muốn trả ít mà thu về được nhiều thay vì ngược lại, tuy nhiên trong lĩnh vực ngoại thương tình trạng này được gọi là "thâm hụt cán cân thương mại".

Luận điểm ủng hộ thuế quan thu hút được cảm tình lớn nhất từ công chúng là: thuế quan là giải pháp cần thiết để việc bảo vệ tiêu chuẩn sống cao của người lao động Mỹ khỏi cuộc cạnh tranh "không công bằng" với các lao động Nhật Bản, Hàn Quốc hay Hồng Kông, những người sẵn sàng làm việc với mức lương thấp hơn nhiều. Luận điểm này thì có gì sai? Chẳng lẽ chúng ta lại không muốn bảo vệ tiêu chuẩn sống ở mức cao cho người dân của chúng ta?

Sai lầm trong lập luận này là việc sử dụng tùy tiện các cụm từ tiền lương "cao" và tiền lương "thấp". Lương cao và lương thấp nghĩa là gì? Các lao động ở Mỹ được trả bằng đồng đô la; các lao động Nhật Bản được trả bằng đồng yen. Làm sao chúng ta có thể so sánh tiền lương bằng đô la với tiền lương bằng đồng yen? Bao nhiêu yen thì bằng một đô la? Yếu tố nào quyết định tỷ giá hối đoái?

Hãy xem xét một ví dụ cực đoan sau đây. Giả sử, ban đầu, 360 yên bằng 1đô la. Với mức tỷ giá này, cũng là tỷ giá hối đoái thực tế trong nhiều năm, Nhật Bản có thể sản xuất và bán mọi mặt hàng với mức giá thấp hơn một vài đô la với mức chúng ta có thể sản xuất và bán tại Mỹ - từ tivi, ô tô, thép, cho đến đậu nành, lúa mì, sữa, và kem. Nếu chúng ta có một nền thương mại tự do quốc tế, chúng ta sẽ cố gắng mua hàng hóa từ Nhật Bản. Đây viễn cảnh cực kỳ tồi tệ mà những người ủng hộ thuế quan vẽ ra - chúng ta sẽ bị ngập chìm trong biển hàng hóa Nhật Bản và không thể bán được gì cả.

Trước khi lên tiếng phản đối thương mại tự do quốc tế, chúng ta hãy cùng phân tích sâu hơn một bước. Chúng ta dùng gì để trả cho người Nhật Bản? Chúng ta trả họ bằng đồng đô la. Họ sẽ làm gì với những đồng đô la? Chúng ta đã giả định rằng với tỷ giá 360 yen/USD, mọi mặt hàng ở Nhật Bản đều rẻ hơn, và người dân chẳng muốn mua gì từ thị trường Mỹ cả. Nếu các nhà xuất khẩu Nhật Bản sẵn sàng đốt hoặc chôn những đồng đô la thì điều đó quả là tuyệt vời cho chúng ta. Chúng ta có được tất cả mọi thứ mình muốn chỉ với nhừng tờ giấy xanh mà chúng ta có thể sản xuất với số lượng lớn với chi phí rất rẻ. Chúng ta sẽ có một ngành công nghiệp xuất khẩu tuyệt vời chưa từng thấy.

Tất nhiên, trên thực tế, người Nhật sẽ không bán cho chúng ta những hàng hóa hữu ích để đổi lấy những mảnh giấy vô dụng chỉ để chôn hoặc đốt. Cũng như chúng ta, họ muốn đổi lấy thứ gì đó hữu dụng để bù đắp cho sức lao động mà họ đã bỏ ra. Nếu với tỷ giá 360 yen/USD, tất cả hàng hóa của Nhật Bản đều rẻ hơn so với Hoa Kỳ, các nhà xuất khẩu sẽ không muốn giữ đồng đô la, thay vào đó họ sẽ cố gắng bán chúng để đối lấy đồng yên và dùng để mua các hàng hóa với mức rẻ hơn của Nhật Bản. Nhưng ai muốn mua đồng đô la đây? Tâm lý của người Nhật Bản cũng giống như tâm lý của các nhà xuất khẩu Nhật Bản. Không ai muốn bỏ ra 360 yên để đổi lấy một đô la khi mà 360 yên có thể mua được nhiều hàng hóa ở Nhật Bản hơn so với sức mua của một đô la tại Hoa Kỳ. Khi các nhà xuất khẩu biết rằng không ai mua đô la tại mức tỷ giá 360 yen, họ sẽ chấp nhận đổi một đô la lấy ít đồng yen hơn. Giá của đồng đô la tính theo đồng yen sẽ hạ xuống 300 yen/đô la, hoặc 250 yen, thậm chí 200 yen. Nói cách khác, cần nhiều đô la hơn để để có thể mua một lượng yen Nhật nhất định. Hàng hóa Nhật Bản được định giá bằng đồng yen, nên giá của chúng tính theo đô la sẽ tăng lên. Ngược lại, hàng hóa của Mỹ được định giá bằng đồng đô la, do đó với một lượng yen không đổi, người Nhật sẽ thu về được nhiều đô la hơn, hàng hóa Mỹ trở nên rẻ hơn khi quy đổi ra đồng yen Nhật.

Giá của đồng đô la theo yen sẽ giảm cho đến khi giá trị trung bình của hàng hoá định giá bằng đồng đô la mà người Nhật mua từ Mỹ gần tương đương với giá trị tính theo đồng đô la của hàng hoá mà người Mỹ mua từ Nhật Bản. Tại mức giá đó, tất cả những người muốn mua yen bằng đồng đô la sẽ gặp những người sẵn sàng bán yen để đổi lấy đô la.

Tuy nhiên, tình huống thực tế sẽ phức tạp hơn ví dụ giả thuyết này. Bên cạnh Hoa Kỳ và Nhật Bản còn có nhiều quốc gia khác tham gia vào hoạt động thương mại và hoạt động này thường có chiều hướng xoay vòng. Người Nhật Bản có thể sẽ tiêu một phần đô la họ kiếm được vào Brazil, người Brazil lại chi số tiền đó ở Đức, và người Đức lại trả số tiền đó cho Hoa Kỳ, cứ như vậy diễn ra trong một chuỗi quan hệ phức tạp không có hồi kết thúc. Tuy nhiên, nguyên tắc trong các giao dịch là như nhau. Ở quốc gia nào cũng vậy, người dân cần ngoại tệ chủ yếu để mua những mặt hàng hữu ích chứ không phải để tích trữ.

Một điểm phức tạp nữa là đồng đô la và đồng yen không chỉ được dùng để mua hàng hóa và dịch vụ từ các nước khác mà còn để đầu tư và làm quà tặng. Trong suốt thế kỷ XIX, cán cân thanh toán hàng năm của Mỹ hầu như đều thâm hụt - cán cân thương mại thâm hụt là dấu hiệu tốt cho tất cả mọi người. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã muốn rót vốn vào Hoa Kỳ. Chẳng hạn, người Anh đã sản xuất hàng hoá và vận chuyển chúng cho chúng ta để đổi lấy các giấy tờ có giá - không phải đồng đô la, mà là những trái phiếu hứa hẹn sẽ trả lại một khoản tiền sau một khoảng thời gian nhất định kèm theo tiền lãi. Người Anh sẵn sàng gửi hàng hóa của họ cho chúng ta bởi họ cho rằng những trái phiếu này là một khoản đầu tư tốt. Nhìn chung, nhận định của họ đã đúng. Họ nhận được khoản lợi nhuận cao hơn so với bất kỳ hình thức tiết kiệm nào khác thời bấy giờ. Còn chúng ta, chúng ta được lợi từ khoản đầu tư nước ngoài cho phép chúng ta phát triển nhanh hơn so với khi chúng ta chỉ dựa vào khoản tiết kiệm của mình.

Trong thế kỷ XX, tình hình đã đảo ngược. Các công dân Mỹ thấy rằng họ có thể thu được lợi nhuận cao hơn trên đồng vốn của mình bằng cách đầu tư ra nước ngoài thay vì đầu tư trong nước. Kết quả là Hoa Kỳ đã xuất hàng hóa ra nước ngoài để đổi lấy chứng nhận nợ - như trái phiếu chính phủ và các giấy tờ có giá tương tự. Sau Thế chiến thứ II, Chính phủ Mỹ tài trợ cho các nước ngoài dưới hình thức Kế hoạch Marshall và các chương trình viện trợ nước ngoài khác. Chúng ta đã gửi hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài như một cách thể hiện niềm tin của chúng ta rằng chúng ta đang góp phần tạo dựng một thế giới hòa bình hơn. Những khoản tài trợ chính phủ này bổ sung cho các khoản tài trợ tư nhân - từ các nhóm từ thiện, sự hỗ trợ của các nhà thờ cho các nhà truyền giáo, sự đóng góp của các cá nhân cho đến sự giúp đỡ của các thân nhân ở nước ngoài, và còn nhiều khoản khác nữa.

Không có điểm phức tạp nào trong những điểm nêu trên làm thay đổi kết luận rút ra từ các trường hợp giả định cực đoan. Trong thế giới thực, cũng như trong thế giới giả định, cán cân thanh toán sẽ không gặp phải vấn đề gì nếu như giá của đồng đô la tính theo đồng yen hoặc đồng mark hay đồng franc được xác lập trên thị trường tự do thông qua các giao dịch tự nguyện. Cho rằng lao động Mỹ, tính trung bình, với mức lương cao sẽ bị đe dọa bởi cuộc cạnh tranh "không công bằng" với lao động nước ngoài có mức lương thấp là một quan điểm hoàn toàn sai lệch với thực tế. Tất nhiên, một số lao động cụ thể sẽ bị tổn hại khi một sản phẩm mới hoặc cải tiến được phát triển ở nước ngoài, hay khi các nhà sản xuất nước ngoài có thể sản xuất những sản phẩm này với giá thành rẻ hơn. Tuy nhiên hiệu ứng này chẳng khác gì những ảnh hưởng mà một công ty của Mỹ gây ra cho lao động của các công ty khác khi công ty này phát triển được sản phẩm mới hoặc tạo ra các sản phẩm cải tiến hay khám phá ra phương pháp sản xuất với chi phí thấp hơn. Đây chỉ đơn thuần là quy luật cạnh tranh của thị trường, cũng là lý do chính mang lại tiêu chuẩn sống cao hơn cho các lao động Mỹ. Nếu chúng ta muốn thu được lợi ích từ một hệ thống kinh tế năng động, sáng tạo, trọng yếu, chúng ta phải chấp nhận nhu cầu dịch chuyển và điều chỉnh. Có thể chúng ta muốn các biện pháp điều chỉnh này gây ra các ảnh hưởng nhẹ nhàng hơn, và chúng ta đã thực hiện nhiều chính sách, chẳng hạn như bảo hiểm thất nghiệp, để thực hiện mong muốn đó, song có lẽ chúng ta nên cố gắng đạt được mục tiêu đó mà không phá hủy tính linh hoạt của hệ thống – nếu không chẳng khác nào chúng ta đang tự tay giết con ngỗng đẻ trứng vàng của mình. Dù thế nào, hành động chúng ta thực hiện phải tuyệt đối không gây ảnh hưởng tới nền thương mại trong nước cũng như ở nước ngoài.

Điều gì quyết định loại hàng hóa nào là đáng giá để chúng ta xuất khẩu và nhập khẩu? Hiện nay, một lao động Mỹ được đánh giá là có năng suất hơn một lao động Nhật Bản. Thật khó để xác định như thế nào là năng suất hơn – bởi nhiều thang đo khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta cứ giả định rằng người lao động Mỹ năng suất gấp rưỡi người lao động Nhật Bản. Như vậy, tính trung bình, khoản lương của người lao động Mỹ có thể mua gấp rưỡi giỏ hàng hóa mà người lao động Nhật có thể mua với mức lương của mình. Thật lãng phí khi sử dụng người lao động Mỹ để làm bất kỳ công việc gì mà chỉ cần mức năng suất thấp hơn 1,5 lần so với khả năng của họ hay chỉ bằng mức năng suất của các lao động Nhật Bản. Trong thuật ngữ kinh tế đặt ra cách đây hơn 150 năm, nguyên lý này được gọi là nguyên lý lợi thế so sánh. Ngay cả khi chúng ta hiệu quả hơn người Nhật trong mọi lĩnh vực sản xuất, thì việc sản xuất tất cả các mặt hàng cũng không đem lại lợi thế cho chúng ta. Chúng ta nên tập trung vào những lĩnh vực mà chúng ta làm tốt nhất, những lĩnh vực mà chúng ta có thế mạnh vượt trội.

Một ví dụ minh họa gần gũi hơn, đó là liệu một luật sư có tốc độ đánh máy gấp hai lần thư ký của anh ta có nên sa thải cô thư ký kia và tự mình đánh văn bản hay không? Nếu một luật sư có khả năng đánh máy tốt gấp đôi so với thư ký của mình nhưng có năng lực làm luật sư gấp năm lần cô thư ký đó, phương án tốt nhất cho cả anh ta và cô thư ký là anh ta tập trung hành nghề pháp lý, để việc đánh văn bản cho người thư ký.

Một nguồn cơn cho tình trạng "cạnh tranh không công bằng" đó là các khoản trợ cấp của các chính phủ nước ngoài đối với các nhà sản xuất của họ, cho phép các nhà sản xuất này bán hàng tại Mỹ dưới giá thành. Giả sử một chính phủ nước ngoài cung cấp các khoản trợ cấp như thế này, như một số nước đã làm trên thực tế, thì ai sẽ là người được lợi và ai sẽ chịu thiệt? Để trả cho các khoản trợ cấp này, chính phủ nước ngoài phải đánh thuế các công dân của mình. Người dân nước này trả tiền cho các chương trình trợ cấp. Nhưng người tiêu dùng Mỹ lại là người hưởng lợi. Người dân Mỹ được mua tivi giá rẻ, ô tô giá rẻ hay bất kỳ mặt hàng nào thuộc diện trợ cấp với mức giá rẻ. Vậy chúng ta có nên lên án các chương trình này là các chương trình viện trợ nước ngoài gây hại hay không? Liệu hành động gửi hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài làm quà viện trợ theo Kế hoạch Marshall hay sau này là chương trình viện trợ nước ngoài của Mỹ có được đánh giá là hành động cao cả không, trong khi việc các nước ngoài gửi quà tặng cho chúng ta dưới hình thức gián tiếp là hàng hóa và dịch vụ bán dưới giá thành thì lại bị cho là chơi xấu? Công dân của các chính phủ nước ngoài có thể sẽ phàn nàn về điều đó. Họ phải chịu đựng một mức sống thấp hơn vì lợi ích của người tiêu dùng Mỹ cũng như của một số đồng bào sở hữu hoặc làm việc trong các ngành công nghiệp thuộc diện được trợ cấp. Rõ ràng, nếu các chương trình trợ cấp này được đưa ra đột xuất hoặc thất thường, nó sẽ có ảnh hưởng xấu đối với các chủ sở hữu và người lao động trong những ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm tương tự của Mỹ. Tuy nhiên, đó chỉ là một trong những rủi ro thông thường trong hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp chẳng bao giờ phàn nàn về những sự kiện bất thường hoặc ngẫu nhiên mang lại cho họ những lợi ích từ trên trời rơi xuống. Hệ thống doanh nghiệp tự do là một hệ thống cân bằng giữa đượcmất. Như đã lưu ý, chúng ta cần có những biện pháp nhằm làm cho việc điều chỉnh trước những thay đổi đột ngột trở nên nhẹ nhàng hơn, và điều này đúng cho cả thương mại trong và ngoài nước.

Dù trong trường hợp nào thì tình trạng xáo trộn cũng chỉ là tạm thời. Giả sử vì một lý do nào đó, Nhật Bản quyết định trợ cấp thật nhiều cho ngành thép. Trong điều kiện không có thêm bất kỳ loại thuế quan hoặc hạn ngạch nào được đặt ra, tỷ trọng thép nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ tăng mạnh. Điều này ép giá thép tại Hoa Kỳ giảm xuống và buộc các nhà sản xuất thép cắt giảm sản lượng, dẫn đến tình trạng thất nghiệp trong ngành công nghiệp thép. Mặt khác, các sản phẩm làm từ thép có thể được mua với giá rẻ hơn. Khách hàng mua những sản phẩm này sẽ có thêm tiền để chi tiêu vào các mặt hàng khác. Nhu cầu đối với các mặt hàng khác sẽ tăng lên, như vậy tỷ lệ lao động trong các ngành sản xuất những mặt hàng khác này cũng tăng theo. Tất nhiên, sẽ mất một thời gian để hấp thụ lượng lao động trong ngành thép mà giờ đây đang thất nghiệp. Tuy nhiên, để cân bằng được ảnh hưởng đó thì người lao động trong các ngành công nghiệp khác mà từng thuộc diện thất nghiệp cần tìm được các công việc còn trống. Không nhất thiết phải có một lượng lao động thất nghiệp ròng, trong khisản lượng sẽ tăng lên bởi các lao động dư thừa trong ngành thép sẽ chuyển sang sản xuất một mặt hàng khác.

Một sai lầm tương tự khi chỉ nhìn vào một mặt của vấn đề, đó là người ta muốn xây dựng hàng rào thuế quan nhằm tạo thêm công ăn việc làm. Chẳng hạn nếu thuế quan được áp đặt lên mặt hàng dệt may, chính sách này sẽ giúp gia tăng sản lượng và việc làm của ngành công nghiệp dệt may trong nước. Tuy nhiên, các nhà sản xuất nước ngoài sẽ không thể bán hàng dệt may của họ trên đất Mỹ được nữa và thu về lượng đô la ít hơn. Họ cũng sẽ chi tiêu ít hơn vào Hoa Kỳ. Xuất khẩu đi xuống cân bằng với lượng nhập khẩu giảm. Tỷ lệ việc làm sẽ đi lên trong ngành công nghiệp dệt may, và giảm trong các ngành công nghiệp xuất khẩu. Sự chuyển dịch lao động sang những ngành có năng suất thấp hơn sẽ làm giảm tổng sản lượng nói chung.

Lập luận trên cơ sở an ninh quốc gia, chẳng hạn như một ngành công nghiệp thép nội địa phát triển mạnh mẽ là yếu tố cần thiết cho quốc phòng, cũng không có cơ sở tốt hơn. Nhu cầu quốc phòng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng sản lượng thép sử dụng tại Hoa Kỳ. Và chẳng ai có thể tin được là nền thương mại tự do trong ngành thép sẽ phá hủy ngành công nghiệp thép Hoa Kỳ. Những lợi thế như gần với nguồn cung nguyên liệu, nhiện liệu và thị trường sẽ đảm bảo một ngành công nghiệp thép trong nước tương đối lớn mạnh. Trên thực tế, việc chúng ta chấp nhận đối mặt với cạnh tranh nước ngoài, thay vì núp mình dưới sự che chở của chính phủ sẽ giúp tạo ra một ngành công nghiệp thép vững mạnh và hiệu quả hơn chúng ta có ngày hôm nay.

Hãy xem xét một trường hợp không tưởng. Giả sử toàn bộ nhu cầu thép của chúng ta nhập khẩu từ nước ngoài rẻ hơn so với tự sản xuất trong nước. Khi đó vẫn có nhiều cách khác để đảm bảo an ninh quốc gia. Chúng ta có thể dự trữ thép trong kho. Việc này khá dễ dàng, vì thép chiếm tương đối ít không gian và không dễ hư hỏng. Chúng ta có thể duy trì một số nhà máy thép chạy không tải, như cách chúng ta bảo quản tàu thuyền, để sẵn sàng sản xuất trong trường hợp cần thiết. Rõ ràng chúng ta còn nhiều phương án khác nữa. Trước khi một công ty thép quyết định xây dựng một nhà máy mới, họ cần nghiên cứu nhiều phương án khác nhau, tại các địa điểm khác nhau để lựa chọn cách hiệu quả và kinh tế nhất. Tuy nhiên, trong tất cả các lời biện hộ cho chính sách trợ cấp dựa trên cơ sở an ninh quốc gia, ngành thép chưa bao giờ đưa ra những tính toán chi phí cho các phương án thay thế đảm bảo an ninh quốc gia. Cho đến khi họ đưa ra các ước tính, chúng ta có thể chắc chắn rằng lập luận dựa trên cơ sở an ninh quốc gia là một cách hợp lý hóa lợi ích riêng của ngành thép chứ không phải là một lập luận hợp lý để biện minh cho các đòi hỏi trợ cấp.

Rõ ràng, các lãnh đạo ngành thép và liên đoàn lao động ngành thép đã thật chân thành khi họ viện dẫn những lập luận trên cơ sở an ninh quốc gia. Chân thành là một đức tính được đánh giá quá cao. Chúng ta đều có thể tự thuyết phục bản thân mình rằng những gì tốt đẹp cho chính chúng ta thì cũng là điều tốt đẹp cho đất nước. Chúng ta không nên phàn nàn về những lập luận kiểu này của các nhà sản xuất thép, mà phải tự trách mình đã bị họ thuyết phục.

Thế còn lập luận về việc chúng ta phải bảo vệ đồng đô la thì sao, rằng chúng ta cần phải giữ không cho nó rớt giá so với các đồng tiền khác – như đồng yen Nhật, đồng mark Đức, hay đồng franc Thụy Sĩ? Đó là vấn đề hoàn toàn do tưởng tượng mà  ra. Nếu tỷ giá hối đoái được xác định trong một thị trường tự do, nó sẽ xác lập tại bất kỳ mức nào đem lại cân bằng thị trường. Chẳng hạn, giá của đồng đô la theo yen có thể tạm thời giảm xuống dưới mức hợp lý dựa trênchi phí tính bằng đô la và yen tương ứng của hàng hóa Mỹ và hàng hóa Nhật Bản. Trong trường hợp đó, những người nhìn ra được sự bất hợp lý này sẽ có động cơ mua đô la và giữ chúng trong một thời gian để kiếm lời khi giá đô tăng lên. Bằng cách giảm giá trị tính theo yen của hàng hóa xuất khẩu từ Mỹ sang Nhật Bản, chúng ta có thể kích thích nền xuất khẩu của Mỹ; và bằng cách tăng giá tính theo đô la của hàng hóa Nhật Bản, chúng ta có thể không khuyến khích hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản. Những phương án này sẽ làm tăng nhu cầu đối với đồng đô la và điều chỉnh lại mức giá thấp ban đầu. Nếu giá của đồng đô la được xác lập tự do thì nó sẽ có chức năng như các loại giá cả khác. Nó truyền tải thông tin và tạo ra động cơ hành động dựa trên thông tin đó bởi nó ảnh hưởng đến thu nhập mà người tham gia trên thị trường có thể nhận được.

Nếu vậy tại sao người ta vẫn tranh cãi về "điểm yếu" của đồng đô la? Tại sao các cơn khủng hoảng thị trường ngoại hối vẫn cứ diễn ra? Nguyên nhân sâu xa là bởi tỷ giá hối đoái vẫn chưa được xác định trên thị trường tự do. Các ngân hàng trung ương vẫn can thiệp ở mức độ đáng kể nhằm gây ảnh hưởng đến giá cả đồng tiền của họ. Trong quá trình này, họ đã làm mất một lượng lớn tiền của của người dân nước mình (đối với Hoa Kỳ là gần 2 tỷ đô la từ năm 1973 đến đầu năm 1979). Điều nghiêm trọng hơn đó là họ đã ngăn cản hệ thống giá cả trọng yếu này phát huy được chức năng đúng đắn của mình. Cuối cùng, tuy vẫn không thể cản trở được các yếu tố kinh tế cơ bản tác động lên tỷ giá hối đoái, song họ có khả năng duy trì tỷ giá hối đoái nhân tạo trong những khoảng thời gian đáng kể. Chính sách này đã ngăn cản sự điều chỉnh dần dần đối với các yếu tố cơ bản. Những nhiễu loạn nhỏ đã tích lũy thành những nhiễu loạn lớn, và cuối cùng tạo ra một cơn “khủng hoảng” ngoại hối thực sự.

Tại sao chính phủ lại can thiệp vào thị trường hối đoái? Vì tỷ giá hối đoái phản ánh các chính sách nội bộ. Đồng đô la Mỹ yếu so với đồng yen Nhật Bản, đồng mark Đức, và đồng franc Thụy Sĩ chủ yếu là do tình trạng lạm phát tại Mỹ cao hơn nhiều so với các quốc gia này. Lạm phát có nghĩa là đồng USD có sức mua ngày càng giảm trên chính quê nhà. Vậy thì có gì phải ngạc nhiên khisức mua của nó cũng giảm ở nhiều quốc gia khác? Hay khi người Nhật, người Đức hay người Thụy Sỹ không muốn dùng nhiều đơn vị tiền tệ của họ để đổi lấy một đồng đô la? Tuy nhiên chính phủ, cũng giống như người dân chúng ta, sẽ cố gắng bằng mọi cách để che giấu hoặc bù đắp cho những hậu quả không mong muốn mà chính sách của họ gây ra. Chính phủ của một quốc gia lạm phát sẽ cố gắng thao túng tỷ giá hối đoái. Khi thất bại, họ sẽ đổ lỗi tình trạng lạm phát trong nước là do suy giảm tỷ giá hối đoái thay vì thừa nhận rằng quan hệ nhân quả phải theo chiều ngược lại.

Trong tất cả khối tư liệu đồ sộ của nhiều thế kỷ qua về thương mại tự do và chủ nghĩa bảo hộ, chỉ có ba lập luận từng được phát triển trên quan điểm ủng hộ thuế quan mà có một số giá trị về mặt nguyên tắc.

Thứ nhất là lập luận trên cơ sở an ninh quốc gia đã được đề cập ở trên. Mặc dù lập luận đó giống như một sự hợp lý hóa cho các loại thuế cụ thể hơn là một lý lẽ chính đáng, chúng ta không thể phủ nhận rằng trong một số trường hợp nó có thể biện minh cho việc duy trì các cơ sở sản xuất mà bình thường có thể sẽ bị đánh giá là thiếu tính kinh tế. Để lập luận này khả thi hơn và có khả năng áp dụng nó cho một trường hợp cụ thể theo đó thuế quan hoặc một chính sách hạn chế thương mại nào đó được đánh giá là nhằm thúc đẩy an ninh quốc gia, thì chúng ta cần so sánh chi phí để đạt được mục tiêu an ninh kia theo nhiều cách khác nhau và chỉ ra một cách rõ ràng rằng thuế quan là cách ít tốn kém nhất. Trên thực tế, các phép so sánh chi phí này hiếm khi được thực hiện.

Thứ hai là lập luận về "ngành công nghiệp non trẻ" được đề xuất bởi Alexander Hamilton trong Report on Manufactures [Báo cáo về hoạt động sản xuất] của ông. Theo đó, một ngành công nghiệp tiềm năng, nếu được thành lập và hỗ trợ trong quá trình phát triển khó khăn ban đầu, sẽ có khả năng cạnh tranh bình đẳng trên thị trường thế giới. Chính sách thuế quan tạm thời được cho là phương án hợp lý để bảo vệ ngành công nghiệp tiềm năng trong giai đoạn trứng nước và cho phép nó phát triển đến giai đoạn trưởng thành, khi nó có thể đứng trên đôi chân của chính mình. Ngay cả khi ngành công nghiệp đó có thể cạnh tranh thành công sau khi hình thành, tự thân điều đó cũng không thể biện minh cho chính sách thuế quan đặt ra lúc đầu. Người tiêu dùng sẵn sàng trợ cấp ngành công nghiệp trong giai đoạn đầu – điều này được thể hiện thông qua việc hàng rào thuế quan ảnh hưởng đến họ - chỉ khi họ có thể nhận lại chí ít là khoản trợ cấp đó theo một cách nào khác, chẳng hạn thông qua giá cả thành phẩm về sau thấp hơn giá thế giới, hoặc thông qua một số lợi thế khác khi có ngành công nghiệp đó. Nhưng liệu trong trường hợp đó thì trợ cấp có còn cần thiết nữa không? Liệu người tiêu dùng có nên không trợ cấp cho những thua lỗ ban đầu mà những công tyđầu tiên gia nhập vào ngành công nghiệp đósẵn sàng trả với hi vọng rằng sẽ được bù đắp lại sau này? Nhìn chung, hầu hết các công ty đều chịu thua lỗ trong những năm đầu tiên khi họ mới thành lập. Điều này đúng không chỉ đối với những công ty này bước vào một ngành công nghiệp hoàn toàn mới mà ngay cả vào một ngành công nghiệp đã tồn tại từ trước. Có lẽ có một vài lý do đặc biệt khiến những công ty gia nhập ngành đầu tiên vẫn không thể bù đắp lại được cho những thiệt hại ban đầu của họ, ngay cả khi toàn thể cộng đồng đều chung tay đóng góp khoản đầu tư ban đầu. Nhưng rõ ràng là giả định đã xoay theo chiều ngược lại.

Lập luận về ngành công nghiệp non trẻ chỉ là một màn sương khói. Cái gọi là ngành công nghiệp non trẻ đó sẽ không bao giờ trưởng thành. Một khi hàng rào thuế quan được đặt ra, chúng hiếm khi được tháo dỡ. Hơn nữa, lập luận này hiếm khi được đưa ra dựa trên những ngành công nghiệp chưa khai sinh nhưng có tiềm năng thành hình và tồn tại nếu được bảo hộ tạm thời. Chúng không có người phát ngôn. Lập luận này thực ra được dùng để biện minh cho các loại thuế quan áp dụng cho trường hợp các ngành công nghiệp đã có tuổi đời mà có khả năng gây áp lực chính trị.

Lập luận thứ ba về thuế quan mà chúng ta không thể bỏ qua đó là lập luận "biến hàng xóm thành ăn xin". Một đất nước mà là nhà sản xuất chính của một sản phẩm, hoặc có thể bắt tay cùng một số lượng nhỏ các nhà sản xuất khác kiểm soát phần lớn sản lượng sản phẩm đó, có thể tận dụng vị thế độc quyền của mình bằng cách nâng giá sản phẩm (sản phẩm dầu mỏ của nhóm OPEC là ví dụ rõ ràng nhất hiện nay). Thay vì tăng giá trực tiếp, quốc gia này có thể làm gián tiếp thông qua áp đặt thuế xuất khẩu đối với sản phẩm đó – một loại thuế quan xuất khẩu. Lợi ích mà quốc gia này thu được sẽ nhỏ hơn chi phí mà các nước khác phải bỏ ra, nhưng đứng trên quan điểm lợi ích quốc gia thì việc này vẫn có lợi. Tương tự như vậy, một quốc gia là người mua chủ yếu của một sản phẩm – nói theo thuật ngữ kinh tế là có vị thế độc quyền mua - có thể được hưởng lợi nhờ việc đưa ra các điều kiện khắt khe với người bán để áp đặt mức giá thật thấp. Một cách để có được vị thế này là đặt ra hàng rào thuế quan nhập khẩu đối với mặt hàng đó. Doanh thu ròng mà người bán thu được là chênh lệch giữa giá bán và thuế quan, đó là lý do tại sao điều này tương đương với việc người mua mua được hàng hóa ở mức giá thấp hơn. Hệ quả là, loại thuế này được những người nước ngoài trả (chúng tôi không thể đưa ra một ví dụ thực tế). Trên thực tế, chính sách mang tính dân tộc chủ nghĩa như thế này có nguy cơ cao thúc đẩy sự trả đũa từ các nước khác. Ngoài ra, đối với lập luận về ngành công nghiệp non trẻ, những áp lực chính trị trên thực tế có xu hướng tạo ra các cấu trúc thuế quan không tận dụng được bất kỳ lợi thế độc quyền mua hay độc quyền bán nào.

Lập luận thứ tư được đưa ra bởi Alexander Hamilton và đến nay vẫn thường được nhắc lại, đó là thương mại tự do sẽ rất tốt nếu như tất cả các nước khác cũng thực hiện tự do thương mại; tuy nhiên, do các nước khác không thực hiện thương mại tự do nên Hoa Kỳ cũng không thể tự do hóa nền thương mại. Lập luận này cũng không có giá trị gì, cả về mặt nguyên tắc cũng như trên thực tế. Các nước áp đặt hạn chế lên nền thương mại quốc tế gây tổn hại cho chúng ta. Song họ cũng làm tổn thương chính mình. Ngoài ba trường hợp đã xem xét, nếu chúng ta cũng áp đặt các hạn chế như họ, chúng ta chỉ đơn thuần là gây thêm những thiệt hại cho chính mình và cho cả họ. Cạnh tranh trong đau khổ và tàn bạo chưa bao giờ là liều thuốc để có được chính sách kinh tế quốc tế hợp lý! Hành động trả đũa này không những không khiến cho các quốc gia khác giảm bớt các chính sách hạn chế thương mại mà chỉ đơn thuần gây ra nhiều biện pháp hạn chế thương mại hơn.

Chúng ta là một cường quốc, là người tiên phong vì một thế giới tự do. Thật bất công khi chúng ta yêu cầu Hồng Kông và Đài Loan thiết lập hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may để "bảo vệ" ngành công nghiệp dệt may của chúng ta với sự hi sinh lợi ích của người tiêu dùng Mỹ và của các công nhân người Hoa ở Hồng Kông và Đài Loan. Chúng ta nói sôi nổi về sự hấp dẫn của thương mại tự do, trong khi chúng ta sử dụng quyền lực chính trị và kinh tế của mình để ép buộc Nhật Bản hạn chế xuất khẩu thép và tivi. Chúng ta nên đơn phương chuyển sang thương mại tự do, không phải ngay tức khắc, mà là trong một khoảng thời gian, chẳng hạn năm năm, với tốc độ thông báo từ trước.

Có một vài biện pháp mà chúng ta có thể thực hiện để đạt được hiệu quả vượt lên trên cả nền tự do thương mại hoàn toàn trong việc thúc đẩy sự nghiệp tự do trong cũng như ngoài nước. Thay vì cấp các khoản tài trợ cho chính phủ nước ngoài dưới hình thức viện trợ kinh tế -từ đó thúc đẩy chủ nghĩa xã hội - đồng thời áp đặt các biện pháp hạn chế đối vớinhững sản phẩm do họ sản xuất-do đó cản trở hoạt động kinh doanh tự do - chúng ta có thể thiết lập một lập trường nhất quán và có nguyên tắc. Chúng ta tuyên bố với phần còn lại của thế giới rằng: chúng tôi tin vào sự tự do và có ý định thực hành nó. Chúng tôi không thể ép buộc tự do của bạn. Nhưng chúng tôi sẵn lòng hợp tác toàn diện trên cơ sở bình đẳng cho tất cả các bên. Thị trường của chúng tôi mở cửa cho bạn mà không đặt ra bất kỳ thứ thuế quan hay rào cản nào. Hãy bán ở đây những gì bạn có và bạn muốn. Hãy mua ở đây bất kỳ thứ gì nếu bạn có thể và bạn thích. Theo các đó, quan hệ hợp tác giữa các cá nhân có thể trải rộng ra toàn thế giới và hoàn toàn tự nguyện.

 

Lợi ích của thương mại tự do từ góc độ chính trị

Phụ thuộc là một đặc tính phổ biến của thế giới hiện đại: xét về lĩnh vực kinh tế, đó là sự phụ thuộc giữa một biểu giá này và một biểu giá khác, giữa ngành công nghiệp này và ngành công nghiệp khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác; trong xã hội rộng lớn hơn, là sự phụ thuộc giữa hoạt động kinh tế với hoạt động văn hóa, xã hội và từ thiện; về lĩnh vực tổ chức xã hội là sự phụ thuộc giữa các cơ chế kinh tế và cơ chế chính trị, giữa tự do kinh tế và tự do chính trị.

Trên tầm quốc tế, các cơ chế kinh tế đan xen với các cơ chế chính trị. Tự do thương mại quốc tế thúc đẩy mối quan hệ hài hòa giữa các quốc gia khác nhau về văn hóa và thể chế, cũng nhưtự do thương mại trong nướchàm dưỡng mối quan hệ hài hòa giữa các cá nhân khác biệt về niềm tin, thái độ, và lợi ích.

Trong thế giới tự do thương mại, cũng như trong một nền kinh tế tự do ở bất kỳ quốc gia nào, giao dịch diễn ra giữa các thực thể tư (private entities) – có thể là các cá nhân, doanh nghiệp kinh doanh hay các tổ chức từ thiện. Các điều khoản của mỗi giao dịch nhận được sự đồng thuậncủa tất cả các bên tham gia vào giao dịch đó. Giao dịch sẽ không diễn ra, trừ khi tất cả các bên tin rằng họ sẽ được lợi từ đó. Kết quả là, lợi ích của các bên đều được hài hòa. Hợp tác, không xung đột,  là nguyên tắc ngự trị.

Khi có sự can thiệp của chính phủ, tình hình khác đi rất nhiều. Trong một quốc gia, các doanh nghiệp tìm kiếm trợ cấp từ chính phủ theo cách trực tiếp hoặc dưới hình thức thuế quan và các hạn chế khác trong hoạt động thương mại. Họ tìm cách trốn tránh áp lực kinh tế từ các đối thủ cạnh tranh đe dọa khả năng sinh lời hoặc sự tồn tại của họ bằng cách tìm kiếm áp lực chính trị để áp đặt chi phí lên những người khác. Sự can thiệp của một chính phủ dưới danh nghĩa các doanh nghiệp địa phương khiến các doanh nghiệp ở các quốc gia khác tìm kiếm viện trợ từ chính phủ của họ nhằm chống lại các biện pháp của các chính phủ nước ngoài. Tranh chấp khu vực tư trở thành cái cớ cho sự bùng nổ tranh chấp giữa các chính phủ. Mỗi cuộc đàm phán thương mại trở thành một vấn đề chính trị. Các quan chức cao cấp chính phủ bay khắp thế giới để tham gia các hội nghị. Va chạm gia tăng. Công dân của mọi quốc giá cảm thấy thất vọng trước kết quả đạt được và có cảm giác họ hoàn toàn bị lép vế. Xung đột, bấthợp tác, trở thành nguyên tắc ngự trị.

Một thế kỷ trải dài từ sự kiện trận đánh Waterloo cho đến Chiến tranh Thế giới thứ nhất là minh chứng nổi bật về những tác động có lợi của thương mại tự do đối với các mối quan hệ giữa các quốc gia. Anh là một quốc gia hàng đầu thế giới, và trong suốt thế kỷ đó quốc gia này gần như đã để nền thương mại của mình hoàn toàn tự do. Các quốc gia khác, đặc biệt là các nước phương Tây, trong đó có Hoa Kỳ, đã thông qua một chính sách tương tự, và có thể dưới hình thức mờ nhạt hơn. Người dân có thể tự do mua các hàng hóa từ người này hay bán cho người khác, bất kể anh ta sống ở đâu, cho dù trong cùng một quốc gia hay ở một quốc gia khác, theo bất kỳ điều kiện gì được sự chấp thuận của cả hai bên. Có lẽ, điều đáng ngạc nhiên hơn với chúng ta ngày hôm nay đó là mọi người được tự do chu du khắp châu Âu và nhiều nơi khác trên thế giới mà không cần một cuốn hộ chiếu cũng như không có bất kỳ thủ tục kiểm tra hải quan lặp đi lặp lại nào cả. Họ được tự do di cư và ở đa số các nơi trên thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, họ được tự do nhập cư và trở thành các cư dân, các công dân.

Kết quả là, một thế kỷ kể từ sự kiện Waterloo cho đến Chiến tranh Thế giới thứ nhất là một trong những thời kỳ yên bình nhất trong lịch sử loài người giữa các quốc gia phương Tây và chỉ bị hoen ố bởi một vàitrận chiến nhỏ - cuộc chiến của người Crime và các cuộc chiến Pháp-Phổ là những sự kiện đáng nhớ nhất – và, tất nhiên không thể không kể tới một cuộc nội chiến lớn tại Hoa Kỳ, đây cũng là kết quả của chủ đề chính chúng đang nhắc ở đây – chế độ nô lệ - trong cuộc chiến này Hoa Kỳ đã thay đổi quan điểm về tự do kinh tế và chính trị.

Trong thế giới hiện đại, thuế quan và các hạn chế tương tự đặt ra đối với hoạt động thương mại là một nguồn cơn cho những xô sát giữa các quốc gia. Tuy nhiên, nguồn cơn gây ra xung đột lớn hơn nhiều bắt nguồn từ sự can thiệp sâu rộng của nhà nước vào nền kinh tế trong các quốc gia theo chủ nghĩa tập thể như nước Đức dưới thời Hitler, nước Ý dưới thời Mussolini, và Tây Ban Nha dưới thời Franco, và đặc biệt là các nước cộng sản, từ Nga và các vệ tinh của nó cho tới Trung Quốc. Thuế quan và các rào cản tương tự bóp méo các tín hiệu mà hệ thống giá cả truyền tải, nhưng chí ít thì chúng vẫn cho phépcác cá nhân được tự dophản ứng trước các tín hiệu bị bóp méo này. Còn tại các quốc gia theo chủ nghĩa tập thể, nhiều yếu tố mệnh lệnh can thiệp sâu rộng được đặt ra.

Các giao dịch hoàn toàn riêng tư không thể diễn ra giữa các công dân của một nền kinh tế phần lớn theo cơ chế thị trường và của một nhà nước theo chủ nghĩa tập thể. Một bên luôn luôn được đại diện bởi các quan chức chính phủ. Những cân nhắc chính trị là điều không thể tránh khỏi, song xung đột sẽ được giảm thiểu nếu như các chính phủ của nền kinh tế thị trường cho phép công dân của họ được tự do ở mức cao nhất có thể trong việc tìm ra các cáchthức để thực hiện giao dịch của mình với chính quyền tập thể. Cố gắng sử dụng thương mại như một vũ khí chính trị hoặc sử dụng các biện pháp chính trị như một phương tiện để tăng cường thương mại với các quốc gia theo chủ nghĩa tập thể sẽ chỉ khiến cho các xung đột chính trị ngày càng trở nên khó tránh khỏi, thậm chí tệ hơn mà thôi.

Tự do thương mại quốc tế và tự do cạnh tranh trong nước

Mức độ cạnh tranh trong nước có liên quan chặt chẽ với các cơ chế thương mại quốc tế. Một cuộc phản đối công khai chống lại "độc quyền" và "tơ-rớt" vào cuối thế kỷ XIX đã dẫn đến việc thành lập Ủy ban Thương mại Liên bang và việc thông qua Đạo luật chống Độc quyền Sherman; những thiết chế này sẽ tiếp tục được bổ sung bằng nhiều hành động lập pháp khác sau này nhằm thúc đẩy cạnh tranh. Các biện pháp này đã có những tác động rất khác nhau. Xét trên một số khía cạnh, chúng đã góp phần làm tăng tính cạnh tranh, nhưng xét ở nhiều góc độ khác chúng lại tạo ra các tác động ngược.

Tuy nhiên, không biện pháp nào trong các biện pháp này, ngay cả khi chúng thỏa mãn mọi kỳ vọng của các nhà bảo trợ đạo luật, lại có thể đảm bảo tạo ra một môi trườngcạnh tranh hiệu quả như khi loại bỏ tất cả các rào cản đối với thương mại quốc tế. Sự tồn tại của ba nhà sản xuất ô tô lớn duy nhất tại Hoa Kỳ - và một trong số đó đứng trên bờ vực phá sản - làm tăng nguy cơ giá cả độc quyền. Tuy nhiên, nếu ta để các nhà sản xuất ô tô trên thế giới cạnh tranh với General Motors, Ford và Chrysler thì người mua Mỹ sẽ có thêm lựa chọn, và nỗi ám ảnh về giá cả độc quyền sẽ biến mất.

Như vậy, mọi chuyện đã rõ. Một đế chế độc quyền không bao giờ có thể hình thành được trong một quốc gia nếu không có sự hỗ trợ dù là công khai hay bí mật của chính phủ dưới hình thức thuế quan hay một số phương tiện khác. Chuyện này không thể xảy ra trên phạm vi toàn cầu. Hãng kim cương độc quyền De Beers là trường hợp thành công duy nhất mà chúng ta biết đến. Ngoài trường hợp này ra, chúng takhông tìm thấy bất cứ một trường hợp nào khác có thể tồn tại trong thời gian dài mà không có sự hỗ trợ trực tiếp của chính phủ - tổ chức dầu mỏ OPEC và trước đó là các cacten về cao su và cà phê có lẽ là những ví dụ nổi bật nhất. Và hầu hết những cacten do chính phủ đỡ đầu như thế này đều tồn tại không lâu. Họ bị phá vỡ dưới áp lực cạnh tranh quốc tế - và chúng ta tin rằng đây cũng chính là số phận chờ đợi OPEC ở phía trước. Trong một thế giới của thương mại tự do, các cacten quốc tế sẽ biến mất nhanh chóng hơn. Ngay cả trong một thế giới vẫn còn hiện diện những biện pháp hạn chế về thương mại, Hoa Kì, thông qua tự do hóa thương mại, thậm chí là đơn phương nếu cần thiết, có thể loại bỏ hầu hết các nguy cơ hình thành các thế lực độc quyền đáng kể trong nước.

Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman

Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên

Tác giả liên quan