Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 10: Lời bạt Tất định luận và tự do lựa chọn

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 10: Lời bạt Tất định luận và tự do lựa chọn

Tất định luận tuyên bố rằng mỗi sự kiện đều có một nguyên nhân từ đó sự kiện đi theo một cách không tránh khỏi. Điều này là cơ sở của các khoa học tự nhien: các định luật của tự nhiên và tất cả những áp dụng của chúng - toàn bộ nội dung của khoa học tự nhiên - dựa trên ý niệm về một trật tự vĩnh cửu mà các khoa học nghiên cứu. Thế nhưng liệu con người có thể duy nhât không là đối tượng như thế chăng, trong khi phần còn lại của tự nhiên là đối tượng của những định luật ấy?

Khi các khoa học tự nhiên đã có những thành tựu huy hoàng thì có vẻ như thật vô lí nếu cho rằng con người duy nhất không phải là đối tượng của những định luật tự nhiên được các nhà khoa học khám phá ra. Vấn đề tất nhiên không phải là liệu con người có hoàn toàn thoát khỏi những định luật như thế hay không - chỉ có người điên mới có thể chủ trương rằng con người không phụ thuộc vào cấu trúc sinh học hay tâm lí của anh ta, hoặc không phụ thuộc vào môi trường xung quanh, hoặc không phụ thuộc vào các định luật tự nhiên, vấn đề chỉ là: liệu có một xó nào đó mà ở đấy anh ta có thể hành động như anh ta lựa chọn, và không bị tất định phải lựa chọn do những nguyên nhân xảy ra trước đó hay không? Đây có thể là một xó nhỏ xíu trong vương quốc tự nhiên, nhưng nếu không có cái xó ấy thì cái ý thức của anh ta về hiện hữu tự do, vốn hầu như chắc chắn là mang tính phổ quát (đa số người ta cho rằng trong khi một số hành động của họ mang tính cơ giới thì một số hành động lại tuân theo ý chí tự do của họ), sẽ là một ảo tưởng hết sức to lớn ngay từ lúc khởi thủy của loài người, ngay từ lúc Adam ăn quả táo, dù đã được bảo là đừng có làm thế, và đã không đáp lại rằng “tôi không sao làm khác được, tôi không làm chuyện đó một cách tự do, Eve ép tôi làm chuyện đó.” Đó là những điều Berlin nói với chúng ta trong những tiểu luận ở cuốn sách này.

Các khoa học xã hội và nhân văn là những nỗ lực mô phỏng theo các khuôn mẫu của khoa học tự nhiên nhằm xây dựng một hệ thống tri thức đáng tin cậy về con người và xã hội con người, nhưng nó vẫn còn thật ít thành công trong việc khám phá các định luật, hay các khái quát hóa rộng rãi được nâng đỡ bởi bằng chứng thường nghiệm thỏa đáng, cho nên chúng khó có thể được tin cậy ngang bằng với các khoa học tự nhiên.

Immanuel Kant (1724-1804) là người đã cho rằng các khoa học thực nghiệm chỉ khảo sát được các hiện tượng của thế giới tự nhiên như các sự vật, nhưng không thể thâm nhập được vào bản chất bên trong của sự vật mà ông gọi là vật tự thân. Thế giới tự nhiên được hiểu như thế giới khả giác của các sự vật tuân theo các quy luật tất định, thế nhưng con người là hữu thể thuộc thế giới khả niệm, chứ không hoàn toàn là một sự vật thuộc thế giới tự nhiên. Con người có khả năng tự nhận thức bản thân mình như vật tự thân thể hiện ở tính tự trị; tính tự trị được hiểu là khả năng con người tự ban bố cho mình quy luật đạo đức và hành động theo quy luật đó, vượt qua tác động của những điều kiện khả giác. Đó chính là Tự do. Con người có thể làm hay không làm, hành động theo mệnh lệnh của quy luật đạo đức hay hành động theo những xúi giục của bản năng: chọn lựa làm một hữu thể thuộc về thế giới khả niệm, hay chọn lựa làm sự vật của thế giới thiên nhiên khả giác. Chọn lựa làm một hữu thể thuộc về thế giới khả niệm, cũng là thế giới tinh thần, là bảo vệ phẩm giá cón người như một hữu thể cứu cánh tự thân, có nghĩa là con người không thể là phương tiện cho một thứ gì khác ngoài chính con người.

Quan điểm của Kant đã gặp rất nhiều phản bác từ các tín đồ của tất định luận, dù ngầm ẩn hay công khai. Những người này cho rằng tự do lựa chọn là một ảo tưởng, tất định luận được khẳng định là đã được “chứng minh” bởi quan sát khoa học; trách nhiệm là ảo tưởng; ca ngợi và chê trách là những thái độ chủ quan sẽ bị triệt thoái bởi tiến bộ của tri thức. Giải thích là biện minh; người ta không thể than phiền về những gì không thể nào khác được; và nguyên tắc đạo đức tự nhiên - đời sống của lí lẽ - ấy là nguyên tắc đạo đức và đời sống mà các giá trị của chúng được đồng nhất với cuộc hành tiên của các sự kiện được thiết lập nên bằng các phương pháp khoa học.

Khi tôi làm một lỗi lầm, hay phạm vào điều sai trái hay tội lỗi, hoặc làm bất cứ điều gì đó mà tôi thừa nhận, hay những người khác thừa nhận, như là tồi tệ hay bất hạnh, thì tôi có thể nói, “Làm sao mà tôi có thể tránh được chuyện đó? - ấy là tôi bị đưa đẩy đến chỗ đó”, hoặc là “Đó là do bản tính của tôi, một thứ mà các định luật tự nhiên phải chịu trách nhiệm”, hoặc là “Tôi thuộc về một xã hội, một giai cấp, một Giáo hội, một quốc gia, ở đó ai cũng làm thế cả, và có vẻ như chẳng có ai lên án hết”, hoặc là “Tôi bị điều kiện hóa về mặt tâm lí bởi cách thức mà cha mẹ tôi đã cư xử với nhau và với tôi, và bởi những hoàn cảnh kinh tế và xã hội mà tôi bị đặt vào đó, hay bị ép vào đó, nên tôi không có được khả năng lựa chọn hành động theo cách khác”, hoặc cuối cùng là “Tôi bị ra lệnh”. (Hồi tưởng chung cuộc)

Tất định luận có phải là định luật phổ quát chi phối toàn bộ thế giới bao gồm cả con người hay không? Trong hiện trạng khoa học hiện nay (theo lập trường của Berlin như tôi hiểu, cũng như theo hiểu biết của tôi) ta không có lập luận logic hay bằng chứng thường nghiệm đủ để đưa ra kết luận dứt khoát khẳng định hay phủ định cho câu hỏi trên. Những tiến bộ của môn tâm sinh lí học có vẻ như chứng tỏ khu vực tự do lựa chọn của con người là bé nhỏ hơn so với quan niệm vốn có trước đây, những tiến bộ ấy cũng tạo ra nhiều phương pháp huấn luyện nhào nặn con người của những thế lực quyền uy sao cho những người khác làm theo ý chí của họ mà không tự biết là đang làm gì; và trong tình trạng ấy những người này mất đi thân phận của bản thân như những con người tự do, mặc dù họ vẫn có thể tự hài long với thân phận nô lệ của mình.

Người ta hay nói đến giữ gìn phẩm giá của con người như chút ít tối thiểu để con người còn là con người, nhưng ít có diễn giải minh bạch về nội dung của nó. I. Berlin cho rằng đó chính là tự do lựa chọn những cứu cánh cho cuộc sống của mình bằng những hành động có chủ tâm và tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Con người dựa trên những phán xét nào để lựa chọn cứu cánh cho mình? I. Berlin cho rằng cần phân biệt phán xét sự kiện và phán xét giá trị. Phán xét sự kiện là phân tích tình huống để hiểu được những hậu quả của các hành động trong quá khứ cũng như dự báo những hậu quả của hành động trong tương lai. Nó ít nhiều độc lập với lựa chọn cứu cánh. Lựa chọn cứu cánh chủ yếu liên quan đến những ưu tiên về giá trị đạo đức mà cá nhận lựa chọn cho mình, đó là phán xét giá trị. Nếu tất định luận bao gồm cả thế giới con người là đúng thì sẽ chỉ còn lại phán xét sự kiện mà thôi. Những phán xét giá trị về quy trách nhiệm cùng những đánh giá khen chê đạo đức sẽ trở thành trống rỗng.

Ít có bằng chứng cho thấy người Việt tin vào tất định luận phổ quát, nhưng hình như đa số người Việt hiện đại chỉ biết đến phán xét sự kiện: làm sao phân tích đúng được tình huống để thu được lợi ích tối ưu cho mình. Thành công đồng nghĩa với đức hạnh và xứng đáng được tôn vinh, thất bại chứng tỏ có sai lầm trong phán xét sự kiện nên xứng đáng bị coi khinh. Hình như đây là nét nhấn mới mẻ trong định hướng tinh thần của người Việt đương đại. Có lẽ trong quá khứ mới đây của xã hội Việt điều này còn chưa có: cụ Nguyễn Khuyến đã lựa chọn từ quan về quê ở ẩn; lựa chọn này rõ ràng là lựa chọn dựa trên phán xét giá trị đạo đức vì cụ muốn giữ “lòng ngay” (danh cao sợ lấn lòng ngay mất) mà bỏ chức quan cao vốn đang đảm bảo cho cụ cuộc sống sang trọng. Cụ chấp nhận hậu quả của lựa chọn là cuộc sống vật chất thiếu thốn (Đám kia ăn uống no nê/Có người đem miếng thịt về tặng ta…). Tình cảnh không ăn cái bụng đói meo/ăn vào cái nhục mang theo bên người là tình cảnh của “thất bại”.423 Nhưng người ta đã không vì thế mà coi khinh cụ Nguyễn Khuyến!

Tự do lựa chọn cứu cánh của cuộc sống xưa nay vẫn luôn là trách nhiệm làm người đầy khó khăn. Trong xã hội cổ đại việc phân biệt thiện ác có vẻ đơn giản hơn và cuộc sống giản dị về vật chất khiến cho con người có nhiều giây phút tĩnh lặng ở lại một mình với chính mình để đối thoại với lương tâm của mình (cũng tức là đối thoại với Thượng đế của mình đối với những người theo tôn giáo). Cuộc sống hiện đại với đủ thứ ác quỷ đội lốt thánh nhân khiến cho việc phân biệt thiện ác trở nên khó khăn phức tạp hơn. Nhịp sống hiện đại đầy tất bật hối hả khiến cho con người hiếm khi có được những giây phút tĩnh lặng ở một mình với chính mình và hình như con người hiện đại cũng cô tình lảng tránh những phút giây như thế, rất có thể là do e ngại tình trạng bất an nội tâm xảy ra sau đó. E. Fromm cho rằng nỗi sợ hãi phải ơt một mình với chính mình thực ra là cảm giác bối rối cận kề với nỗi kinh hãi phải nhìn thấy con người vừa quen thuộc lại vừa lạ lùng, chúng ta thấy khiếp sợ và bỏ chạy. Phải chăng vì vậy mà con người đương đại thường lựa chọn nhập bọn với lũ người chẳng ra gì để nhậu nhẹt hay tán nhảm, còn hơn là ở một mình với chính mình?

TP Hồ Chí Minh tháng 07 năm 2016

Nguyễn Văn Trọng

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng