Vì một nền tự do mới - Chương 1: Di sản của chủ nghĩa tự do cá nhân (Phần 3)

Vì một nền tự do mới - Chương 1: Di sản của chủ nghĩa tự do cá nhân (Phần 3)

Phản đối tự do

Giờ đây, chúng ta có thể thấy rằng sự phát triển nhanh chóng của phong trào tự do cá nhân và Đảng Tự do Cá nhân trong thập niên 1970 đã bén rễ vững chắc từ cái mà Bernard Bailyn gọi là “di sản vĩnh cửu” đầy sức mạnh của Cách mạng Mỹ. Nhưng nếu di sản ấy thực sự có tầm quan trọng sống còn đối với truyền thống Mỹ, thì cái gì đã đi chệch hướng? Tại sao lại cần một phong trào tự do cá nhân mới trỗi dậy để tái khẳng định giấc mơ Mỹ?

Để bắt đầu trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta cần nhớ rằng chủ nghĩa tự do cổ điển đã tạo thành một mối đe dọa sâu sắc đối với các nhóm lợi ích chính trị và kinh tế—tức là các giai cấp thống trị—những kẻ hưởng lợi từ Trật tự Cũ: các ông vua, tầng lớp quý tộc và địa chủ, giới thương nhân đặc quyền, guồng máy quân sự, cùng bộ máy quan liêu của Nhà nước. Dù ba cuộc cách mạng bạo lực do những người tự do khởi xướng—Cách mạng Anh thế kỷ XVII, Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp thế kỷ XVIII—đã nổ ra, thì những chiến thắng ở châu Âu vẫn chỉ mang tính bộ phận. Lực lượng phản kháng hết sức mạnh mẽ và đã thành công trong việc duy trì các độc quyền về đất đai, các cơ cấu tôn giáo, cùng những chính sách đối ngoại và quân sự hiếu chiến, đồng thời trong một thời gian dài, quyền bầu cử vẫn chỉ giới hạn trong tầng lớp tinh hoa giàu có. Những người theo chủ nghĩa tự do buộc phải tập trung vào việc mở rộng quyền phổ thông đầu phiếu, bởi cả hai phía đều hiểu rõ rằng quyền tự do cá nhân đi liền với lợi ích kinh tế lẫn chính trị của quảng đại quần chúng. Điều đáng chú ý là, vào đầu thế kỷ XIX, các lực lượng ủng hộ tự do kinh tế được gọi là “những người tự do” và “những người cấp tiến” “liberals” and “radicals”  (dành cho những ngưới trong sạch và nhất quán hơn), trong khi phe đối lập—những người muốn duy trì hoặc quay lại Trật tự Cũ—được gọi chung là “những người bảo thủ”.

Thật vậy, vào đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa bảo thủ khởi đầu như một nỗ lực có ý thức nhằm xóa bỏ và phá hủy những thành quả của tinh thần tự do cổ điển mới—kết tinh trong các cuộc Cách mạng Mỹ, Pháp và Cách mạng Công nghiệp—mà họ vốn căm ghét. Dưới sự dẫn dắt của hai nhà tư tưởng phản động người Pháp, de Bonald và de Maistre, chủ nghĩa bảo thủ khao khát thay thế quyền bình đẳng và bình đẳng trước pháp luật bằng sự cai trị có trật tự và phân tầng của tầng lớp tinh hoa đặc quyền; thay thế tự do cá nhân và chính quyền tối thiểu bằng quyền lực tuyệt đối và chính quyền tập quyền; thay thế tự do tôn giáo bằng nền cai trị thần quyền của một giáo hội nhà nước; thay thế hòa bình và thương mại tự do bằng chủ nghĩa quân phiệt, các hạn chế trọng thương và những cuộc chiến tranh phục vụ lợi ích quốc gia–dân tộc; và thay thế công nghiệp cùng sản xuất hàng hóa bằng trật tự phong kiến và nông nghiệp cổ xưa. Họ còn muốn thay thế thế giới mới của tiêu dùng đại chúng và mức sống ngày càng được nâng cao cho mọi người bằng tình cảnh tồn tại chật vật của quần chúng và lối hưởng thụ xa hoa dành riêng cho giới tinh hoa cầm quyền trong Trật tự Cũ.

Đến giữa, và chắc chắn là cuối thế kỷ XIX, những người bảo thủ bắt đầu nhận ra rằng sự nghiệp của họ tất yếu sẽ thất bại nếu cứ khăng khăng kêu gọi xóa bỏ hoàn toàn Cách mạng Công nghiệp cùng sự gia tăng to lớn mức sống của quảng đại công chúng, và nếu họ tiếp tục phản đối việc mở rộng quyền phổ thông đầu phiếu, qua đó công khai tự đặt mình đối lập với lợi ích của quần chúng. Do vậy, “cánh hữu” (một nhãn hiệu có nguồn gốc ngẫu nhiên từ việc các phát ngôn viên của Trật tự Cũ ngồi ở phía bên phải hội trường trong Cách mạng Pháp) đã quyết định thay đổi chiến lược và điều chỉnh tín điều nhà nước của mình bằng cách từ bỏ sự chống đối trắng trợn đối với công nghiệp hóa và phổ thông đầu phiếu dân chủ. Thay cho sự căm ghét và khinh miệt công khai dành cho quần chúng của chủ nghĩa bảo thủ cũ, những người bảo thủ mới lựa chọn sự gian trá và mị dân. Họ tìm cách lôi kéo quần chúng bằng những lời lẽ sau: “Chúng tôi cũng ủng hộ công nghiệp hóa và mức sống cao hơn. Nhưng để đạt được những mục tiêu đó, chúng ta phải quản lý nền công nghiệp vì lợi ích chung; chúng ta phải thay thế sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường tự do bằng hợp tác có tổ chức; và, trên hết, chúng ta phải thay thế những nguyên lý tự do về hòa bình và thương mại tự do vốn hủy hoại quốc gia bằng những biện pháp tôn vinh quốc gia như chiến tranh, chủ nghĩa bảo hộ, bành trướng đế quốc và sức mạnh quân sự.” Và, dĩ nhiên, để thực hiện tất cả những việc này, cần đến chính quyền tập quyền, chứ không phải chính quyền tối thiểu.

Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa can thiệp của nhà nước và chính phủ tập quyền đã quay trở lại, nhưng lần này lại khoác lên mình bộ mặt ủng hộ công nghiệp và phúc lợi xã hội. Trật tự Cũ đã quay trở lại, song những người thụ hưởng đã có sự thay đổi đôi chút: không còn chủ yếu là giới quý tộc, địa chủ phong kiến, quân đội, bộ máy quan liêu và các thương nhân đặc quyền, mà nay là quân đội, bộ máy quan liêu, các địa chủ phong kiến đã suy yếu, và đặc biệt là các nhà công nghiệp được ưu đãi. Dưới sự lãnh đạo của Bismarck ở Phổ, phe Tân Hữu đã hình thành chủ nghĩa tập thể cánh hữu dựa trên chiến tranh, quân phiệt, bảo hộ mậu dịch và cartel hóa bắt buộc trong cả lĩnh vực kinh doanh lẫn công nghiệp – một mạng lưới khổng lồ các biện pháp kiểm soát, quy định, trợ cấp và đặc quyền, tạo ra quan hệ đối tác chặt chẽ giữa nhà nước tập quyền và một số thành phần ưu thế trong giới công thương lớn.

Đồng thời, cũng cần có biện pháp đối phó với hiện tượng mới: lực lượng đông đảo công nhân công nghiệp làm công ăn lương – “giai cấp vô sản”. Suốt thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, thậm chí đến tận cuối thế kỷ XIX, đa số người lao động vẫn ủng hộ tự do kinh doanh (laissez-faire) và thị trường cạnh tranh tự do, coi đó là con đường tốt nhất để cải thiện tiền lương và điều kiện làm việc với tư cách là người lao động, cũng như để hưởng một loạt hàng hóa tiêu dùng ngày càng phong phú và rẻ hơn với tư cách là người tiêu dùng. Ngay cả những công đoàn đầu tiên, chẳng hạn ở Anh, cũng là những người tin tưởng kiên định vào tự do kinh doanh Nhưng phe bảo thủ mới, dẫn đầu bởi Bismarck ở Đức và Disraeli ở Anh, đã làm suy yếu ý chí tự do của người lao động bằng cách rỏ “nước mắt cá sấu” trước tình cảnh của giai cấp công nhân công nghiệp, đồng thời cartel hóa và quản lý ngành công nghiệp – qua đó cố ý kìm hãm sự cạnh tranh hiệu quả. Cuối cùng, đầu thế kỷ XX, “nhà nước doanh nghiệp” corporate state bảo thủ mới – vốn từ đó đến nay vẫn là hệ thống chính trị chủ đạo ở thế giới phương Tây – đã kết nạp các công đoàn “có trách nhiệm” và mang tính tập đoàn như những đối tác cấp dưới của Nhà nước tập quyền, cùng với các doanh nghiệp lớn, trong một hệ thống ra quyết định theo chủ nghĩa can thiệp và tập đoàn.

Để thiết lập hệ thống mới – tức Trật tự Mới, vốn chỉ là phiên bản hiện đại hóa và được khoác cho diện mạo khác của chế độ cũ trước các cuộc Cách mạng Mỹ và Pháp – giới tinh hoa cầm quyền phải tiến hành một trò lừa bịp khổng lồ trước công chúng, và trò lừa bịp ấy vẫn còn tiếp tục cho đến tận ngày nay. Vì, tất cả các chính thể – từ quân chủ chuyên chế cho đến độc tài quân sự – muốn tồn tại đều phải dựa vào sự đồng thuận của đa số dân chúng, thì chính phủ dân chủ lại càng phải xây dựng sự đồng thuận thường xuyên hơn, từng ngày một. Và để làm như thế, giới tinh hoa bảo thủ mới đã tìm cách dắt mũi công chúng bằng nhiều thủ đoạn then chốt. Họ phải làm cho quần chúng tin rằng chuyên chế tốt hơn tự do; rằng trật tự công nghiệp mang tính phong kiến, được cartel hóa và trao đặc quyền, lại có lợi cho người tiêu dùng hơn là thị trường cạnh tranh tự do; rằng những độc quyền cartel hóa có thể được áp đặt nhân danh chống độc quyền; và rằng chiến tranh cùng việc gia tăng sức mạnh quân sự vì lợi ích của tầng lớp cầm quyền, thực chất cũng là vì lợi ích của người dân – những người bị cưỡng bức tòng quân, bị đánh thuế, và không ít lần bị đưa đến chỗ chết. Vấn đề đặt ra là: làm sao thực hiện được việc này?

Trong tất cả các xã hội, dư luận đều do tầng lớp trí thức định hình – họ là những người có vai trò kiến tạo và dẫn dắt quan niệm chung. Phần lớn công chúng không tự mình sáng tạo hay truyền bá tư tưởng; ngược lại, họ thường tiếp nhận những gì được lan tỏa bởi giới trí thức chuyên nghiệp, tức những “người buôn bán ý tưởng”. Trong suốt chiều dài của lịch sử – như sẽ thấy rõ hơn ở những phần sau – các chính quyền và tầng lớp cầm quyền luôn có nhu cầu dựa vào trí thức nhiều hơn so với những công dân bình thường trong xã hội tự do. Nhà nước luôn cần đến những trí thức có khả năng định hướng dư luận để làm cho công chúng tin rằng sự cai trị của nó là khôn ngoan, tốt đẹp và tất yếu; để họ tin rằng “hoàng đế có mặc quần áo”. Trước thời hiện đại, giới trí thức ấy thường là các giáo sĩ (hoặc thầy pháp), những người nắm giữ và truyền đạt tôn giáo. Đó là liên minh lâu đời và khăng khít giữa Giáo hội và Nhà nước: Giáo hội khẳng định rằng nhà vua cai trị theo mệnh lệnh của Thiên Chúa và do đó phải được tuân phục; đổi lại, nhà vua chuyển giao một phần đáng kể tiền thu thuế cho Giáo hội. Chính vì vậy, thành công của những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển trong việc tách Giáo hội ra khỏi Nhà nước mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một thế giới tự do mới ra đời, trong đó giới trí thức có thể sống đời thế tục – có thể tự nuôi sống mình bằng thị trường, thay vì phụ thuộc vào sự bao cấp của Nhà nước.

Do đó, để thiết lập Trật tự Nhà nước mới – tức nhà nước–doanh nghiệp tân trọng thương, những người bảo thủ mới buộc phải tạo ra một liên minh mới giữa giới trí thức và Nhà nước. Trong thời đại ngày càng thế tục hóa, có nghĩa là liên minh với các trí thức thế tục chứ không còn với hàng ngũ thần học: cụ thể là với thế hệ mới gồm các giáo sư, tiến sĩ, sử gia, giáo viên, các nhà kinh tế kỹ trị, nhân viên xã hội, nhà xã hội học, bác sĩ và kỹ sư. Liên minh được tái lập này diễn ra qua hai giai đoạn. Đầu thế kỷ XIX, phe bảo thủ – khi đã nhường lý trí cho đối thủ theo phái tự do – liền dựa vào những “đức tính” được cho là phi lý trí: chủ nghĩa lãng mạn, truyền thống, thần quyền. Bằng cách nhấn mạnh giá trị của truyền thống và các biểu tượng phi lý trí, họ có thể tiếp tục dẫn dắt công chúng duy trì chế độ phân cấp đặc quyền, và tiếp tục tôn thờ quốc gia–dân tộc cùng cỗ máy chiến tranh của nó. Sang cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa bảo thủ mới lại khoác lên mình vỏ bọc của lý trí và “khoa học”. Lúc này, khoa học được xem như căn cứ để biện minh cho việc cai quản nền kinh tế và xã hội bởi các “chuyên gia” kỹ trị. Để đổi lấy việc truyền bá thông điệp ấy tới công chúng, thế hệ trí thức mới được tưởng thưởng bằng việc làm và uy tín với tư cách là những người biện hộ cho Trật tự Mới, cũng như những người hoạch định và điều tiết nền kinh tế và xã hội mới bị trói buộc trong các liên kết độc quyền.

Để bảo đảm sự thống trị của chủ nghĩa can thiệp nhà nước đối với dư luận, để bảo đảm rằng sự đồng thuận của công chúng được “kỹ nghệ hóa”, các chính phủ phương Tây, từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã tìm cách kiểm soát lĩnh vực giáo dục, tức là kiểm soát tư tưởng của con người: nắm quyền ở các trường đại học, và quản lý giáo dục phổ thông thông qua luật bắt buộc đi học cùng mạng lưới trường công lập. Các trường công lập được sử dụng một cách có ý thức nhằm gieo rắc sự tuân phục Nhà nước cũng như những “đức tính công dân” khác cho thế hệ trẻ. Hơn nữa, quá trình nhà nước hóa giáo dục này còn bảo đảm rằng một trong những lực lượng có lợi ích lớn nhất trong việc mở rộng chủ nghĩa can thiệp của Nhà nước chính là đội ngũ giáo viên và các nhà giáo dục chuyên nghiệp của quốc gia.

Một trong những biện pháp mà giới trí thức mới ủng hộ chủ nghĩa can thiệp nhà nước sử dụng là thay đổi ý nghĩa của những nhãn mác cũ, qua đó thao túng những hàm ý cảm xúc mà công chúng gắn liền với những nhãn mác ấy. Ví dụ, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân ủng hộ tự do kinh doanh từ lâu đã được gọi là “những người theo chủ nghĩa tự do”, còn những người thuần túy và kiên quyết nhất trong số họ thì được gọi là “những người cấp tiến”; họ cũng được biết đến như là “những người tiến bộ”, bởi chính họ mới là những người đồng điệu với tiến bộ công nghiệp, với sự lan rộng của tự do, và với sự gia tăng mức sống của người tiêu dùng. Thế hệ học giả và trí thức mới ủng hộ chủ nghĩa can thiệp của nhà nước đã tự gán cho mình những từ như “tự do” và “tiến bộ”, đồng thời thành công trong việc chụp mũ những người ủng hộ tự do kinh doanh là “cổ hủ”, “người Neanderthal” và “phản động”. Ngay cả nhãn hiệu “bảo thủ” cũng bị gán cho những người theo phái tự do cổ điển. Và, như chúng ta đã thấy, những người ủng hộ chủ nghĩa can thiệp của nhà nước còn chiếm đoạt được cả khái niệm “lý trí” nữa.

Nếu những người theo chủ nghĩa tự do ủng hộ tự do kinh doanh bối rối trước sự tái xuất hiện của chủ nghĩa can thiệp nhà nước và chủ nghĩa trọng thương dưới nhãn hiệu “chủ nghĩa can thiệp tiến bộ”, thì một lý do khác khiến chủ nghĩa tự do cổ điển suy tàn vào cuối thế kỷ XIX chính là sự trỗi dậy của một phong trào mới, hết sức đặc biệt: chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội khởi sinh từ những năm 1830 và bành trướng mạnh mẽ kể từ sau thập niên 1880. Điểm đặc thù của nó là đây là một phong trào lai tạp, chịu ảnh hưởng từ cả hai hệ tư tưởng vốn đối lập nhau và đã tồn tại trước đó: chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ. Từ các nhà tự do cổ điển, những người xã hội chủ nghĩa tiếp thu sự chấp nhận thẳng thắn đối với công nghiệp và Cách mạng Công nghiệp, sớm tôn vinh “khoa học” và “lý trí”, và ít nhất về mặt ngôn từ thì vẫn tỏ ra gắn bó với những lý tưởng của chủ nghĩa tự do cổ điển như hòa bình, tự do cá nhân, và mức sống ngày càng cao. Thật vậy, những người xã hội chủ nghĩa — từ rất lâu trước những người ủng hộ doanh nghiệp corporatists, — đã là những tiên phong trong việc kết hợp khoa học, lý trí và ủng hộ công nghiệp. Họ không chỉ kế thừa sự gắn bó của chủ nghĩa tự do với dân chủ, mà còn vượt lên bằng cách kêu gọi một nền “dân chủ mở rộng”, trong đó “nhân dân” sẽ điều hành nền kinh tế — và điều hành lẫn nhau.

Mặt khác, từ những người bảo thủ, những người xã hội chủ nghĩa lại tiếp thu sự tận tụy đối với cưỡng chế và các công cụ can thiệp của nhà nước nhằm đạt đến những mục tiêu vốn thuộc về chủ nghĩa tự do. Sự hài hòa và tăng trưởng công nghiệp, theo họ, sẽ đạt được bằng cách thổi phồng quyền lực của Nhà nước thành một thiết chế toàn năng, cai trị kinh tế và xã hội nhân danh “khoa học”. Một đội ngũ tiên phong gồm các nhà kỹ trị sẽ nắm quyền lực tuyệt đối đối với con người và tài sản của mọi người, nhân danh “nhân dân” và “dân chủ”. Không bằng lòng với thành tựu của chủ nghĩa tự do là lý trí và tự do nghiên cứu khoa học, Nhà nước xã hội chủ nghĩa thiết lập sự thống trị của các nhà khoa học đối với toàn thể xã hội; không bằng lòng với việc những người theo chủ nghĩa tự do giải phóng giới lao động để họ đạt tới sự thịnh vượng mà họ chưa từng tưởng tượng được, Nhà nước xã hội chủ nghĩa lại áp đặt sự thống trị của giai cấp lao động lên toàn xã hội—hay đúng hơn, sự thống trị của các chính trị gia, quan chức và kỹ trị nhân danh giai cấp lao động. Không bằng lòng với tín điều của chủ nghĩa tự do về bình đẳng trong các quyền, bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã chà đạp những nguyên tắc ấy, nhân danh một mục tiêu quái đản và bất khả thi: bình đẳng hay đồng nhất về kết quả—hay đúng hơn, dựng lên một tầng lớp tinh hoa đặc quyền mới, một giai cấp mới, dưới chiêu bài mang lại sự bình đẳng bất khả thi đó.

Chủ nghĩa xã hội là một phong trào lai tạp và rối loạn, bởi nó tìm cách vươn tới những mục tiêu của tự do, hòa bình, hài hòa và tăng trưởng công nghiệp—những mục tiêu vốn chỉ có thể đạt được qua tự do và việc tách chính phủ ra khỏi hầu như mọi lĩnh vực—nhưng lại áp đặt những phương tiện bảo thủ cũ kỹ của chủ nghĩa can thiệp của nhà nước, chủ nghĩa tập thể, và đặc quyền theo thang bậc. Đó là một phong trào chỉ có thể thất bại, và thực sự đã thất bại thảm hại trong nhiều quốc gia nơi nó nắm quyền trong thế kỷ XX—chỉ mang lại cho quần chúng sự chuyên chế chưa từng thấy, nạn đói, và cảnh bần cùng khốn khổ.

Nhưng điều tồi tệ nhất trong sự trỗi dậy của phong trào xã hội chủ nghĩa là nó đã có thể qua mặt những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển “cánh tả”: tức là, chiếm được vai trò của đảng của hy vọng, của chủ nghĩa cấp tiến, của cách mạng trong thế giới phương Tây. Bởi cũng giống như những người bảo vệ chế độ cũ đã ngồi về phía bên phải của hội trường trong Cách mạng Pháp, thì những người theo chủ nghĩa tự do và cấp tiến đã ngồi ở bên trái; và từ đó cho đến khi chủ nghĩa xã hội nổi lên, những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển chính là “cánh tả”, thậm chí là “cực tả” trên phổ hệ tư tưởng. Mãi đến tận năm 1848, những người theo chủ nghĩa tự do Pháp đầy tinh thần chiến đấu như Frédéric Bastiat vẫn còn ngồi bên cánh tả trong quốc hội. Những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển đã khởi đầu như một đảng cấp tiến, một đảng cách mạng ở phương Tây, như đảng của hy vọng và đổi thay vì tự do, hòa bình và tiến bộ. Việc để mình bị qua mặt, để cho những người xã hội chủ nghĩa tự xưng là “đảng cánh tả”, quả là một sai lầm chiến lược nghiêm trọng, khiến những người tự do bị đặt sai chỗ vào vị thế trung dung, nhập nhằng, với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa bảo thủ bị coi là hai cực đối lập. Vì chủ nghĩa tự do cá nhân vốn không gì khác hơn là đảng của đổi thay và của tiến bộ hướng về tự do, nên từ bỏ vai trò ấy cũng đồng nghĩa với việc từ bỏ phần lớn lý do tồn tại của chính họ — cả trên thực tế lẫn trong tâm trí công chúng.

Nhưng tất cả những điều này đã không thể xảy ra, nếu như những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển không để mặc cho mình suy thoái từ bên trong. Họ đáng lẽ đã có thể chỉ ra — như một số người trong họ thật sự đã làm — rằng chủ nghĩa xã hội là một phong trào mơ hồ, tự mâu thuẫn, nửa vời bảo thủ, chẳng qua chỉ là chế độ quân chủ chuyên chế và phong kiến khoác lên gương mặt hiện đại; và rằng chính họ mới là những người cấp tiến thực sự, những con người không nao núng, kiên cường, luôn khẳng định không chấp nhận điều gì ít hơn một chiến thắng trọn vẹn cho lý tưởng tự do.

Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard

Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch

Dịch giả:
Phạm Nguyên Trường