Chính thể đại diện - Chương 16: Về tính chất quốc gia trong liên hệ với chính thể đại diện

Chính thể đại diện - Chương 16: Về tính chất quốc gia trong liên hệ với chính thể đại diện

Ta có thể nói rằng một bộ phận của loài người tạo thành một Quốc gia, nếu họ thống nhất với nhau bởi những thiện cảm chung, mà chúng không tồn tại giữa họ với bộ phận nào đó khác – những thiện cảm chung ấy khiến họ hợp tác với nhau một cách tự nguyện hơn là với người khác, mong muốn được ở dưới cùng một chính quyền, và mong muốn rằng đó phải là chính quyền của chính họ, hay một bộ phận đơn thuần của họ. Cái tình cảm quốc gia ấy có thể đã được sinh ra do nhiều nguyên nhân khác nhau. Đôi khi đó là hiệu quả của tính đồng nhất về chủng tộc và nguồn gốc. Cộng đồng chung ngôn ngữ và cộng đồng chung tôn giáo đóng góp nhiều cho điều này. Ranh giới địa lý là một trong những nguyên nhân. Nhưng mạnh mẽ nhất trong tất cả mọi nguyên nhân, ấy là tính đồng nhất của lai lịch chính trị; sở hữu chung một lịch sử quốc gia, do vậy mà cộng đồng chung những hồi ức; niềm tự hào và nỗi ô nhục tập thể, niềm vui sướng và sự hối tiếc, liên quan chung đến cùng những biến cố trong quá khứ. Tuy nhiên, không một nguyên nhân nào trong số ấy tự thân nó là không thể thiếu được, hoặc là [điều kiện] cần và đủ. Nước Thụy Sĩ có tình cảm quốc gia rất mạnh, mặc dù các tổng (canton) là thuộc các chủng tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, và tôn giáo khác nhau. Đảo Sicily trong suốt lịch sử vẫn tự cảm thấy mình khác biệt về quốc gia với Naples, mặc dù đồng nhất về tôn giáo, hầu như đồng nhất về ngôn ngữ, và quá khứ lịch sử có khá nhiều điều chung. Các tỉnh Plemish và Walloon của Bỉ, dẫu khác nhau về chủng tộc và ngôn ngữ, nhưng có nhiều tình cảm quốc gia chung với nhau hơn hẳn so với tình cảm giữa các tỉnh Plemish và Hà Lan, và giữa các tỉnh Walloon và nước Pháp. Tuy vậy, nói chung tình cảm quốc gia vẫn yếu đi tỷ lệ với sự thiếu vắng của bất kỳ nguyên nhân nào góp phần vào tính chất quốc gia. Tính đồng nhất về ngôn ngữ, văn chương, và ở một mức độ nào đó tính đồng nhất chủng tộc và hồi ức, giữ cho tình cảm quốc gia có được sức mạnh đáng kể giữa các bộ phận khác nhau của danh hiệu nước Đức, dù cho họ chưa có lúc nào thực sự thống nhất dưới cùng một chính quyền; thế nhưng tình cảm [quốc gia] chưa bao giờ đạt đến mứt khiến cho các bang riêng rẽ mong muốn bỏ đi nền tự trị của họ. Một tính đồng nhất rất ít trọn vẹn trong những người Italia về ngôn ngữ và văn chương, kết hợp với vị trí địa lý phân cách họ bởi một đường ranh giới rõ ràng với các nước khác, và, có lẽ nhiều hơn bất cứ thứ gì khác, việc sở hữu chung một tên gọi, cái tên gọi khiến tất cả những ai chia sẻ sự mệnh danh đều hãnh diện về những thành tựu trong quá khứ, về nghệ thuật, về binh khí, về chính trị, về địa vị đứng đầu tôn giáo, về khoa học và văn chương, đã đưa tình cảm quốc gia trong dân chúng lên một tầm vóc, dù còn chưa hoàn hảo, nhưng cũng đủ sản sinh ra những biến cổ vĩ đại đang diễn ra trước chúng ta, bất chấp sự pha tạp rất nhiều các chủng tộc, và mặc dù họ chưa bao giờ ở chung dưới một chính quyền, cả trong lịch sử cổ xưa lẫn trong lịch sử hiện đại, ngoại trừ những lúc chính quyền được mở rộng hay tự mở rộng mình ra trên một phần lớn của thế giới đã được biết đến.

Ở nơi nào cảm xúc quốc gia tồn tại trong bất cứ sức mạnh nào, thì đó là trường hợp thoạt nhìn đã thấy (prima facie) để thống nhất tất cả các thành viên quốc gia dưới cùng một chính quyền, và một chính quyền cho chỉ riêng chính những thành viên ấy. Điều này cũng chỉ đơn thuần muốn nói rằng, vấn đề chính quyền phải được quyết định bởi những người bị cai trị. Khó có một ai biết được sự phân chia nào của loài người là được tự do làm, nếu không xác định được họ chọn lựa hội đoàn nào trong các hội đoàn tập thể con người khác nhau, để cùng kết giao với mình.

Thế nhưng, khi một tập hợp dân chúng đã chín muồi cho các thiết chế tự do, thì vẫn còn có một sự xem xét quan trọng hơn nữa. Các thiết chế tự do hầu như là thứ không thể có ở một đất nước tạo nên từ nhiều sắc tộc khác nhau. Trong một tập hợp dân chúng không có tình cảm đồng bào, đặc biệt là khi họ đọc và nói bằng những ngôn ngữ khác nhau, thì công luận thống nhất cần thiết cho sự hoạt động của chính thể đại diện, không thể tồn tại. Những ảnh hưởng hình thành nên các ý kiến và quyết định các hành động chính trị, sẽ là khác nhau trong những khu vực khác nhau của đất nước. Một tập hợp các nhà lãnh đạo hoàn toàn khác nhau có sự tin tưởng ở địa phận này và địa phận khác. Những cuốn sách, những tờ báo, những bài chính luận, những diễn văn cùng loại không thấu tới họ. Địa phận này không biết ở địa phận kia đang lưu hành những ý kiến gì, hay những sự xúi giục gì. Cùng những việc xảy ra, cùng những đạo luật, cùng một hệ thống chính quyền, nhưng lại tác động đến họ theo những cách khác nhau; và mỗi sắc tộc e ngại mình bị làm tổn hại từ phía những sắc tộc khác nhiều hơn là từ phía vị trọng tài chung, ấy là nhà nước. Những ác cảm giữa họ với nhau nói chung là mạnh hơn nhiều so với sự cảnh giác ngờ vực chính quyền. Việc một sắc tộc nào đó cảm thấy đau khổ vì chính sách của người cai trị chung sẽ là đủ để một sắc tộc khác quyết định ủng hộ cái chính sách ấy. Ngay cả khi tất cả đều đau khổ, cũng chẳng một sắc tộc nào cảm thấy rằng họ có thể tin cậy vào những sắc tộc khác về sự trung thành trong một cuộc kháng cự chung; không một sắc tộc nào đủ sức mạnh một mình kháng cự lại được, và mỗi sắc tộc có thể suy nghĩ hợp lý rằng điều đó khuyến nghị lợi thế cho bản thân mình hơn cả bằng cách tuân lệnh để được chính quyền thiên vị chống lại phần còn lại. Trên hết cả, sự an toàn rất quan trọng và hiệu quả duy nhất trong phương sách cuối cùng chống lại sự chuyên chế của chính quyền, ở trường hợp này là không có; ấy là thiện cảm của quân đội với nhân dân. Quân đội là một bộ phận của bất cứ cộng đồng nào mà trong bản chất của nó, cái sự khác biệt giữa các đồng bào cùng một nước của họ với những người ngoại quốc là sự khác biệt sâu sắc và mạnh mẽ nhất. Đối với phần còn lại của dân chúng thì những người ngoại quốc đơn thuần chỉ là những người xa lạ; đối với người lính thì họ là những kẻ mà anh ta có thể được kêu gọi để chống lại chúng, như câu nói thường nghe, để chiến đấu sinh tử. Đối với anh ta sự khác nhau là như giữa bạn và thù – chúng ta hầu như có thể nói như là giữa các đồng bào và một giống loài khác: vì đối với kẻ địch thì luật lệ duy nhất là luật lệ của sức mạnh, và sự giảm nhẹ bớt đi duy nhất thì cũng giống như trong trường hợp các động vật khác – ấy đơn giản là cùng giống người với nhau. Những người lính, mà đối với cảm nhận của họ phân nửa hay ba phần tư thần dân dưới cùng một chính quyền là người ngoại quốc, thì họ sẽ không ngần ngại tàn sát những người ấy, và chẳng thèm hỏi lý do tại sao, như là họ ắt sẽ làm y như thế đối với kẻ địch công khai. Một quân đội gồm nhiều sắc tộc thì chẳng có chủ nghĩa ái quốc nào khác hơn là hiến thân cho lá cờ. Những quân đội như thế đã từng là những kẻ đao phủ hành quyết nền tự do trong suốt chiều dài lịch sử hiện đại. Mối ràng buộc duy nhất kết nối họ lại với nhau là những sĩ quan của họ và cái chính quyền mà họ phục vụ; và ý tưởng duy nhất của họ, nếu họ có được ý tưởng nào đó, về trách nhiệm chung là sự tuân theo mệnh lệnh. Một chính quyền được ủng hộ bằng cách duy trì những đạo quân Hungary tại Italia, và những đạo quân Italia tại Hungary, có thể tiếp tục cai trị lâu dài tại cả hai nơi với cái roi sắt của những kẻ chinh phục ngoại quốc.

Nếu bảo rằng một sự khác biệt được ghi nhận đại thể như thế giữa những gì do là đồng bào cùng một nước với những gì do chỉ là một con người thôi, là đúng nhiều hơn với những người man rợ chứ không phải với những người văn minh, và phải hết sức nổ lực để chiến đấu chống lại điều đó, thì tôi là người giữ ý kiến ấy mạnh mẽ hơn ai hết. Thế nhưng cái mục tiêu ấy, một trong những mục tiêu đáng giá nhất cho nỗ lực của loài người hướng tới, không bao giờ có thể xúc tiến được trong tình trạng hiện nay của nền văn minh, bằng việc duy trì những sắc tộc khác nhau có sức mạnh nào đó tương đương nhau dưới cùng một chính quyền. Trong tình trạng dã man của xã hội thì đôi khi vấn đề lại khác. Khi ấy chính quyền có thể quan tâm tới việc làm dịu bớt đi những ác cảm giữa các chủng tộc để có thể gìn giữ nền hòa bình và cai trị đất nước dễ dàng hơn. Thế nhưng, khi những dân chúng kết nối cùng nhau một cách nhân tạo mà lại có hoặc là những thiết chế tự do, hoặc là một khát vọng để có được chúng, thì lợi ích của chính quyền lại nằm đúng ở phía ngược lại. Khi ấy thì chính quyền sẽ quan tâm đến việc duy trì và làm trầm trọng thêm những ác cảm để ngăn chặn các tập hợp dân chúng liên kết lại, và để chính quyền có thể sử dụng một vài tập hợp dân chúng nào đó làm công cụ nhầm nô dịch hóa các dân chúng khác. Triều đình nước Áo, trong suốt một thế hệ, đã tạo ra chiến thuật ấy như phương tiện chủ yếu để cai trị; với kết quả tai hại thế nào thì trong thời kỳ cuộc nổi dậy ở Vienna và cuộc đấu tranh ở Hungary, cả thế giới đều biết quá rõ. May thay, hiện giờ đã có những dấu hiệu cho thấy sự cải tiến đã rất tiến bộ, không cho phép chính sách ấy thành công được nữa.

Vì những lý do nêu trên, nên nói chung, một điều kiện cần thiết của các thiết chế tự do là biên giới của các chính quyền phần lớn phải trùng với biên giới của các sắc tộc. Thế nhưng một số các xem xét [khác] lại có thể mâu thuẫn trên thực tế với nguyên tắc chung này. Trước tiên, việc áp dụng nguyên tắc này thường bị loại trừ bởi những trở ngại địa lý. Có những địa phận, ngay cả ở châu Âu, mà ở đó nhiều sắc tộc khác nhau trú ngụ xen lẫn với nhau, nên đối với họ sống dưới chính quyền riêng rẽ là việc bất khả thi. Dân cư của Hungary bao gồm người Magyar, người slovak, người Croat, người Serb, người Rumani, và ở một số địa hạt là người Đức, thật lẫn lộn với nhau nên không sao có thể phân cách địa phận; và không có cách giải quyết nào mở ra cho họ, ngoài việc tạo nên tác dụng của sự cần thiết và sự cùng nhau hòa giải để sống chung dưới các quyền lực và luật pháp bình đẳng. Cộng đồng quy thuận của họ mới bắt đầu chỉ từ việc mất độc lập của Hungary vào năm 1849, có vẻ như đang chín muồi và làm cho họ mong muốn có một liên minh như thế. Thuộc địa Đức của miền Đông Phổ bị cắt rời khỏi nước Đức bởi bộ phận của nước Ba Lan cổ xưa và quá yếu để có thể giữ được nền độc lập riêng rẽ, nên buộc phải, nếu tính liên tục địa lý vẫn được duy trì, hoặc là ở dưới một chính quyền không phải Đức, hay cái lãnh thổ Ba Lan xen vào này phải ở dưới một chính quyền Đức. Một vùng đáng kể khác nữa mà ở đó thành phần Đức chiếm đa số dân cư, các tỉnh của Courland, Esthonia và Livonia bị tình hình địa thế của nó ép buộc phải lập thành bộ phận của một nhà nước Slavonia. Tại chính vùng Đông Đức có một dân cư Slavonia đông đảo: vùng Bohemia chủ yếu là người Slavonia, vùng Silesia và các địa hạt khác phần nào cũng vậy. Đất nước thống nhất ở châu Âu hơn cả, là nước Pháp, cũng rất không đồng nhất: không phụ thuộc vào những mảng nhỏ các sắc tộc ngoại quốc và những đầu mũi xa xôi, thì như ngôn ngữ và lịch sử đã chứng minh, nước Pháp bao gồm hai phần, một phần hầu như độc chiếm bởi cư dân Gallo-Roman, trong khi ở phần kia người Franki, Burgundi, và các sắc tộc Teutonic khác tạo nên một thành phần đáng kể.

Khi nhu cầu cấp bách về địa lý đã được giải quyết cho phép rồi, thì một sự xem xét khác nữa thuần túy mang tính chất tinh thần và xã hội lại bộc lộ ra. Kinh nghiệm chứng minh rằng việc một sắc tộc nổi lên rồi bị hòa tan vào một sắc tộc khác là chuyện có thể xảy ra: và khi sắc tộc ấy có gốc gác là bộ phận kém cỏi và lạc hậu hơn của loài người, thì sự hòa tan ấy là có lợi rất lớn cho họ. Không ai có thể cho rằng không có lợi ích hơn cho một người Breton, hay một người Basque của vùng Navarre thuộc Pháp, khi anh ta được tiếp xúc với những tư tưởng và tình cảm hiện hành của một dân chúng văn minh và có giáo dục cao – được là thành viên của quốc gia Pháp, được hưởng bình đẳng mọi đặc quyền của một công dân Pháp, được chia sẻ lợi thế bảo hộ của nước Pháp, và giá trị cũng như thanh thế của quyền lực nước Pháp – so với việc phải hờn tủi trong cảnh khó khăn không khắc phục nổi, là di tích bán khai của thời quá khứ, phải loay hoay trong quỹ đạo tinh thần hạn hẹp của mình, mà không tham dự vào hay quan tâm tới sự vận động chung của thế giới. Cùng một nhận xét như thế cũng áp dụng được cho những người xứ Wales hay người vùng cao xứ Scotland là thành viên của quốc gia thuộc Anh.

Bất cứ điều gì thực sự hướng tới sự trộn lẫn các sắc tộc và sự pha hòa các thuộc tính và các đặc điểm riêng biệt vào một sự hợp nhất đều là có lợi cho loài người. Không phải bằng những kiểu mẫu mang tính chất dập tắt đi, chắc chắn vẫn còn lại khá đủ các thí dụ về chuyện như thế trong trường hợp này, mà bằng cách làm dịu đi những hình thái cực đoan của chúng, và lấp đầy những khoảng cách giữa chúng. Dân chúng hợp nhất lại giống như các động vật được lai tạo (nhưng ở mức độ còn lớn hơn nữa, vì các ảnh hưởng của tác động là cả về tinh thần lẫn vật thể), thừa kế được những năng khiếu và tính ưu tú của tất cả các tổ tiên của họ, nhờ được bảo hộ bởi sự pha trộn mà chúng không bị cường điệu thái quá để biến thành thứ đồi bại nằm liền kề bên cạnh. Thế nhưng để cho sự pha trộn ấy trở thành khả dĩ thì cần phải có những điều kiện đặc biệt. Những sự kết hợp các tình huống, mà chúng làm nảy sinh ra và tác động đến kết quả, có nhiều loại khác nhau.

Những sắc tộc được gom lại với nhau cùng dưới một chính quyền có thể có số lượng và sức mạnh gần ngang bằng nhau, hoặc rất không bằng nhau. Nếu không bằng nhau, sắc tộc ít hơn về số lượng trong hai sắc tộc có thể hoặc là cao hơn, hoặc là thấp hơn về trình độ văn minh. Giả sử rằng sắc tộc ấy văn minh cao hơn, thì dựa vào sự cao hơn ấy nó sẽ, hoặc là có khả năng giành uy thế đối với sắc tộc kia, hoặc là có thể bị khuất phục bởi sức mạnh hung tàn và biến thành thần dân. Trường hợp sau là một sự tổn hại hoàn toàn cho loài người, và là thứ mà nhân loại văn minh phải đồng lòng cầm vũ khí đứng lên để ngăn chặn lại. Việc Macedonia sáp nhập Hy Lạp là một trong những bất hạnh lớn nhất từ trước tới nay xảy ra với thế giới: hẳn cũng là tương tự như thế, nếu một nước nào đó trong những nước chủ yếu của châu Âu bị sáp nhập vào nước Nga.

Nếu sắc tộc nhỏ hơn, được giả định là tiên tiến hơn, lại có khả năng khuất phục được sắc tộc lớn hơn, tỷ như những người Macedonia được tăng thêm sức mạnh bởi Hy Lạp, tỷ như châu Á và nước Ấn Độ thuộc Anh, thì đó thường là một điều lợi cho nền văn minh: thế nhưng, trong trường hợp này kẻ chinh phục và người bị chinh phục không thể sống cùng nhau dưới cùng những thiết chế tự do. Việc sáp nhập những kẻ chinh phục vào trong một dân chúng ít tiên tiến hơn, ắt sẽ là một điều xấu: những người này phải được cai trị như những thần dân, và thực trạng của sự vật có thể hoặc là một điều lợi, hoặc là một điều bất hạnh, tùy thuộc vào việc dân chúng bị chinh phục đã đạt tới hay chưa đạt tới trạng thái, mà việc không được ở dưới chính thể tự do bị xem là một sự xúc phạm, [cũng như] tùy thuộc vào việc những kẻ chinh phục có sử dụng hay không sử dụng ưu thế của họ theo một cung cách trù tính làm cho những người bị chinh phục thích hợp được với giai đoạn cao hơn của sự tiến bộ. Đề tài này sẽ được nghiên cứu đặc biệt trong một chương tiếp sau.

Khi sắc tộc mạnh hơn sắc tộc kia cả về số lượng lẫn mức độ tiến bộ, và đặc biệt nếu sắc tộc bị khuất phục là nhỏ bé và không có hy vọng khôi phục được độc lập của mình; khi ấy, nếu họ được cai trị với một sự công bằng nào đó khả dĩ chấp nhận được, và nếu các thành viên của sắc tộc mạnh hơn không bị biến thành loại đáng ghê tởm do được có những đặc quyền dành riêng, thì sắc tộc nhỏ hơn sẽ dần dần cam chịu với vị thế của mình và trở thành hợp nhất với sắc tộc lớn hơn. Người Breton vùng Hạ cũng như người Alsat, chẳng một ai hiện nay lại có chút mong muốn nào được tách khỏi nước Pháp. Nếu tất cả những người Ireland còn chưa đi đến cùng một tâm tình như thế đối với người Anh, thì đó phần nào cũng vì họ khá đông về số lượng đủ khả năng tự thành lập một sắc tộc đáng kể: nhưng chủ yếu là vì cho mãi đến những năm gần đây họ đã bị cai trị một cách thật hung bạo, đến nổi tất cả những cảm xúc tốt đẹp nhất của họ cùng kết hợp với những cảm xúc xấu xa của họ để khích động một sự phẫn uất gay gắt chống lại sự thống trị của người Saxon. Sự ruồng bỏ ấy đối với nước Anh, và tai ương cho toàn thể đế chế, nói đúng ra, đã hoàn toàn chấm dứt hầu như đã một thế hệ rồi. Không một người Ireland nào hiện nay lại ít tự do hơn người Anglo-Saxon, hoặc không hưởng phân chia của mọi lợi ích đối với đất nước của anh ta cũng như đối với vận may cá nhân của anh ta ít ỏi hơn, so với trường hợp nếu anh ta nhảy ra khỏi bất cứ địa phận nào của lãnh thổ thuộc nước Anh. Mối bất bình còn lại duy nhất của Ireland, ấy là Giáo hội Nhà nước, một thứ mà một nửa, hay gần phân nửa, dân chúng của hòn đảo rộng lớn hơn có cùng chung với họ. Bây giờ thì gần như chẳng còn vấn đề gì, ngoại trừ ký ức về quá khứ, và sự khác biệt về tôn giáo chiếm ưu thế, để làm cho hai chủng tộc tách xa nhau, có lẽ bất cứ chủng tộc nào trong hai chủng tộc đó cũng là thích đáng nhất để làm bộ phận bổ túc tương ứng cho chủng tộc kia. Rốt cuộc thì ý thức muốn được đối xử không chỉ với sự công bằng ngang nhau, mà còn với sự xem xét như nhau, đang tạo ra con đường nhanh chóng trong sắc tộc Ireland, ấy là con đường cho qua đi tất cả những cảm xúc có thể khiến họ không cảm thấy được điều lợi mà cái sắc tộc ít hơn về số lượng và kém phồn vinh hơn nhất định sẽ thu được từ việc trở thành công dân-đồng bào thay vì là người ngoại quốc, cùng với sắc tộc không chỉ là láng giềng gần gũi nhất, mà còn là sắc tộc giàu có nhất và tự do nhất, cũng như văn minh và hùng mạnh nhất trong các quốc gia trên trái đất.

Khi các sắc tộc đã kết nối cùng nhau gần như ngang bằng nhau về số lượng cũng như về các yếu tố sức mạnh khác, thì đấy là những trường hợp có trở ngại thực tế lớn nhất trong việc hòa trộn các sắc tộc. Trong những trường hợp như thế, mỗi sắc tộc đều tin vào sức mạnh của mình và tự cảm thấy có khả năng duy trì một cuộc tranh đấu ngang sức với bất kỳ sắc tộc nào khác, nên đều không muốn bị hòa nhập chung: mỗi sắc tộc đều bồi dưỡng phe kiên trì cố giữ những đặc sắc riêng của mình; những lề thói xưa cũ và thậm chí cả những cách ăn nói đã suy vi tàn tạ cũng được hồi sinh lại để làm sâu hơn sự phân cách; mỗi sắc tộc đều tưởng mình sẽ bị áp chế nếu phải chịu tác dụng của bất cứ quyền uy nào bởi các viên chức của chủng tộc kình địch; và bất cứ thứ gì được trao cho một trong các sắc tộc có va chạm với nhau, cũng đều bị coi như được lấy của những sắc tộc còn lại. Khi những sắc tộc bị chia rẽ như thế mà ở dưới sự cai trị chuyên chế là người ngoại quốc đối với tất cả bọn họ, hay là một sắc tộc dẫu xuất thân từ bọn họ, nhưng vẫn còn cảm thấy quan tâm nhiều hơn đến quyền lực của bản thân mình, hơn là quan tâm tới bất cứ thiện cảm quốc gia nào, không chia đặc quyền cho sắc tộc nào, và chọn làm tay chân cho mình từ tất cả các sắc tộc một cách không phân biệt; [khi đó], trong tiến trình của một ít các thế hệ, tính đồng nhất của tình thế thường sẽ sản sinh ra một sự hài hòa các cảm nhận, và các sắc tộc khác nhau trở nên thấy giữa họ với nhau có tình cảm đồng bào một nước, đặc biệt là nếu họ bị phân tán trên cùng một vùng của đất nước. Thế nhưng, nếu kỷ nguyên của khát vọng chính thể tự do đến trước khi sự hợp nhất ấy có hiệu quả, thì cơ hội ấy bị trôi qua đi vì tác động này. Từ thời điểm ấy, nếu các sắc tộc không có hòa hoãn lại phân cách với nhau về địa lý, và đặc biệt nếu vị trí địa phương thuộc loại bất tiện và không thích hợp để cùng đặt dưới một chính quyền (như trong trường hợp các tỉnh nhỏ của Italia dưới ách của Pháp hay Đức), thì không những có sự thích đáng thật hiển nhiên, mà nếu quan tâm đến nền tự do hay sự hòa thuận, thì còn là nhất thiết phải phá vỡ hoàn toàn mối chắp nối. Có thể có những trường hợp mà các tỉnh nhỏ sau khi tách ra vẫn có thể còn hợp nhất được với nhau bằng mối liên kết liên bang: thế nhưng nói chung thực tế xảy ra là nếu họ đều muốn có trước nền độc lập hoàn toàn, rồi mới trở thành thành viên liên bang, thì mỗi sắc tộc lại có những sắc tộc láng giềng khác mà nó ưa thích kết giao hơn, có những thiện cảm chung nhau nhiều hơn, nếu không phải cũng còn là một cộng đồng to lớn hơn về lợi ích.

Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.

Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng