Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 6)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 6)

32. LÝ THUYẾT THIẾT CHẾ VỀ TIẾN BỘ

Để những nhận định của chúng ta bớt phần trừu tượng, trong mục dưới đây tôi sẽ cố phác ra những nét chính của một lí thuyết về tiến bộ khoa học và công nghiệp. Bằng cách này tôi sẽ cố minh họa những ý niệm được phát triển trong bốn mục cuối; nhất là ý niệm về logic thiết chế và ý niệm về thứ chủ nghĩa cá nhân phương pháp luận không liên quan tới tâm lí học. Tôi chọn ví dụ về tiến bộ khoa học và công nghiệp vì chắc chắn đó là hiện tượng đã gây cảm hứng cho thuyết sử luận của thế kỉ 19, và vì tôi đã có bàn đôi điều về quan điểm của Mill đối với chủ đề này.

Như ta còn nhớ, Comte và Mill đã từng cho rằng tiến bộ là một xu hướng vô điều kiện và tuyệt đối, một xu hướng có thể được quy thành những định luật về bản tính tự nhiên của con người. “Một định luật về sự nối tiếp nhau,” Comte viết, “ngay cả khi được biểu lộ với mọi thứ thẩm quyền khả dĩ thông qua phương pháp quan sát lịch sử, cũng không thể được hoàn toàn chấp nhận trước khi nó được quy giản một cách có lí tính thành lí thuyết thực chứng về bản tính tự nhiên của con người...” (Comte, Cours de philosophie positive, IV, trang 335) , ông tin rằng định luật về sự tiến bộ luôn có thể được suy diễn từ một khuynh hướng của những cá nhân vốn thúc đẩy họ phải ngày càng hoàn thiện bản tính tự nhiên của mình. Mill hoàn toàn tán thành tất cả điều đó và tìm cách quy giản định luật của ông về tiến bộ thành cái ông gọi là “tính tiến bộ của tâm trí con người” mà “động lực...” đầu tiên vốn là “... lòng thèm khát những tiện nghi vật chất ngày càng tăng” (Mill, Logic, cuốn VI, Chương X, mục 3; đoạn sau là trích từ mục 6 khi lí thuyết được triển khai chi tiết hơn). Theo cả Comte lẫn Mill thì đặc tính vô điều kiện hoặc tuyệt đối của xu hướng hay cái tựa-định-luật này cho phép ta từ đó suy ra những bước đi hay những giai đoạn đầu tiên của lịch sử mà không cần phải tìm hiểu bất cứ điều kiện hoặc phép quan sát hay dữ kiện lịch sử ban đầu nào (Comte, sđd, IV, trang 345). Về nguyên tắc, toàn bộ tiến trình lịch sử đều được suy diễn theo lối đó; chỉ duy nhất có một trở ngại, như Mill đã nêu ra, đó là đối với “một dãy dài đến như vậy..., mỗi số hạng được tạo bởi một số lượng và một sự đa dạng ngày càng lớn các thành phần, thì khó có thể tính toán được bằng những quan năng của con người.” (Mill, sđd, mục 4)

Điểm yếu trong cách “quy giản” này của Mill dường như là hiển nhiên. Ngay cả khi ta chấp nhận những tiền đề và những phép quy giản của Mill thì cũng không thể từ đó mà kết luận rằng kết quả xã hội và lịch sử sẽ phải mang một ý nghĩa. Tiến bộ rất có thể là không đáng kể, cứ cho là vì những mất mát mà một môi trường tự nhiên không ai làm chủ nổi đưa lại. Bên cạnh đó, những tiền đề đưa ra mới chỉ dựa trên một mặt của “bản tính tự nhiên của con người” mà không xét đến những mặt khác như tính đãng trí hay tính lười nhác, vậy là, ở đâu quan sát thấy điều trái ngược hoàn toàn với hiện tượng tiến bộ mà Mill mô tả, ta đều có thể “quy giản” những quan sát ấy thành “bản tính tự nhiên của con người” (thực vậy, đúng là có việc một trong những quan điểm phổ biến nhất được gán cho lí thuyết lịch sử đã cắt nghĩa sự suy vong và sụp đổ của các đế chế bằng sự biếng nhác và thiên hướng ăn chơi vô độ).

Trên thực tế, ta hiếm khi tìm được sự kiện nào không thể cắt nghĩa bằng cách viện vào một vài thiên hướng thuộc về “bản tính tự nhiên của con người”. Nhưng một phương pháp mà cắt nghĩa được mọi thứ thì cũng rất có thể là chẳng cắt nghĩa được gì.

Nếu muốn thay thế lí thuyết hết sức ấu trĩ này bằng một lí thuyết dễ được tán thành hơn, ta cần tiến hành theo hai bước. Trước tiên ta phải cố tìm cho ra những điều kiện của tiến bộ, và với mục đích này ta phải áp dụng nguyên lí được trình bày ở mục 28: ta phải cố hình dung ra những điều kiện mà theo đó quá trình tiến bộ bị chững lại. Điều này ngay lập tức khiến ta nhận ra rằng duy chỉ thiên hướng tâm lí thì không đủ để cắt nghĩa cho tiến bộ, bởi người ta có thể tìm thấy những điều kiện mà tiến bộ phụ thuộc vào. Thế nên bước tiếp theo ta phải thay thế lí thuyết về các thiên hướng tâm lí bằng một cái gì đó khả quan hơn, theo tôi thì bằng một phép phân tích thiết chế (và công nghệ) về những điều kiện của tiến bộ.

Chúng ta phải làm cách nào để chặn đứng được tiến bộ khoa học và công nghiệp? Bằng cách đóng cửa hay kiểm soát các phòng thí nghiệm khoa học, bằng cách đình bản hay kiểm soát những ấn phẩm khoa học định kì hoặc những phương tiện trao đổi khác, bằng cách đóng cửa các trường đại học và các loại trường khác, bằng cách cấm các loại sách vở, báo chí, bài viết, và cuối cùng là cấm ngôn luận. Tất cả những thứ thực sự có khả năng bị cấm đoán (hay kiểm soát) nói trên chính là những thiết chế xã hội. Ngôn ngữ cũng là một thiết chế xã hội, nếu thiếu nó thì không thể có tiến bộ khoa học, vì thiếu nó thì khoa học cũng chẳng có, thậm chí sự phát triển và đi lên của một truyền thống cũng chẳng thể có nốt. Chữ viết là một thiết chế xã hội, và cũng giống như thế là các tổ chức in ấn, xuất bản, là mọi công cụ mang tính thiết chế khác của phương pháp khoa học. Phương pháp khoa học bản thân nó cũng mang những khía cạnh xã hội. Khoa học, và nhất là tiến bộ khoa học, là kết quả không phải của những nỗ lực biệt lập mà là của cuộc tranh đua tự do của tư duy. Bởi khoa học ngày càng cần sự cạnh tranh giữa các giả thuyết và những phép trắc nghiệm nghiêm ngặt. Và rồi những giả thuyết cạnh tranh lại cần đến sự biểu tả nhân cách hóa, cứ gọi là thế: chúng cần đến các luật sư, một ban giám khảo, một hội đồng xét xử, và thậm chí một công chúng. Sự biểu tả nhân cách hóa này phải được tổ chức theo lối thiết chế nếu ta muốn nó có tác dụng. Những thiết chế này phải được nuôi dưỡng và phải được pháp luật bảo vệ. Rốt cuộc, tiến bộ phụ thuộc rất chặt chẽ vào những nhân tố chính trị, vào những thiết chế chính trị có nhiệm vụ bảo vệ quyền tự do tư duy: vào nền dân chủ.

Một việc ít nhiều mang tính thiết yếu, đó là, cái ta thường quen gọi là “tính khách quan khoa học”, ở một mức độ nào đó, phải được đặt trên cơ sở các thiết chế xã hội. Quan điểm ngây thơ cho rằng cơ sở của tính khách quan khoa học là thái độ, tinh thần hay tâm lí của cá nhân nhà khoa học, là sự rèn luyện của anh ta, là sự công tâm, là tính vô tư trong khoa học,.v..v., đã sinh ra một phản ứng, đó là quan điểm hoài nghi cho rằng các nhà khoa học không bao giờ có thể khách quan. Theo cách nhìn ấy thì có thể bỏ qua sự thiếu khách quan của họ trong khoa học tự nhiên, nơi mà những đam mê của họ không bị kích động, nhưng đối với khoa học xã hội, nơi có sự tham gia của các định kiến xã hội, của những thành kiến giai cấp và của những quyền lợi cá nhân, thì sự thiếu khách quan sẽ trở thành một thảm họa. Luận thuyết được triển khai một cách chi tiết dưới tên gọi “xã hội học tri thức” này (xem mục 6 và 26) đã hoàn coàn bỏ qua đặc tính xã hội hay đặc tính thiết chế của tri thức khoa học, vì nó được xây dựng trên cơ sở của cách nhìn ngây thơ cho rằng tính khách quan phụ thuộc vào tâm lí của cá nhân nhà khoa học. Nó quên mất một việc rằng cả sự khô khan lẫn xưa cũ của một đề tài khoa học tự nhiên cũng không ngăn cản được sự xen lẫn của đầu óc thiên vị và quyền lợi bản thân vào những niềm tin của cá nhân nhà khoa học, và rằng nếu ta cứ trông cậy vào sự vô tư của anh ta thì chắc chắn không bao giờ có cái gọi là khoa học, thậm chí là khoa học tự nhiên.

Cái mà “xã hội học tri thức” bỏ qua lại chính là xã hội học tri thức - đặc tính xã hội hoặc đặc tính công khai của khoa học. Nó quên mất một điều rằng chính đặc tính công khai của khoa học và của những thiết chế của nó đang áp đặt một kỉ luật tinh thần lên cá nhân nhà khoa học, và chính điều đó đang duy trì và bảo vệ tính khách quan của khoa học cũng như truyền thống tranh luận những ý tưởng mới mẻ trên tinh thần phê phán của khoa học. (Cái gọi là “xã hội học tri thức” được phê phán một cách đầy đủ hơn ở Chương 23 trong cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” của tôi. Vấn đề về tính khách quan khoa học và sự phụ thuộc của nó vào phép phê phán có lí tính và vào tính khả trắc nghiệm liên chủ thể cũng được bàn đến trong Chương 24 của tác phẩm này, đồng thời còn được đề cập dưới góc độ hơi khác trong cuốn “Logic phát kiến khoa học”)

Liên quan đến chủ đề này, có lẽ tôi xin phép được bình luận sơ qua về một luận điểm khác những luận điểm đã được bàn đến trong mục 6 (Tính Khách quan và Cách Đánh giá). Đã từng có cách lập luận cho rằng, vì những nghiên cứu khoa học về các vấn đề xã hội tự bản thân nó phải ảnh hưởng tới đời sống xã hội, nên nhà khoa học xã hội dẫu có ý thức được sự ảnh hưởng này cũng không cách gì giữ được thái độ khoa học đối với tính khách quan vô tư. Nhưng trong các bộ môn khoa học xã hội thì tình huống này không có gì đặc biệt. Một nhà vật lí hay một kĩ sư vật lí cũng ở vào cái thế như vậy thôi.

Chẳng cần là nhà khoa học xã hội thì anh ta vẫn thừa sức nhận ra rằng việc phát minh ra một loại máy bay hay tên lửa mới hoàn toàn có thể gây một ảnh hưởng rất lớn đến xã hội.

Tôi chỉ mới phác qua một vài điều kiện mang tính thiết chế mà tiến bộ khoa học và công nghiệp phải phụ thuộc vào sự tồn tại của những điều kiện ấy. Điều quan trọng là giờ đây phải nhìn ra được rằng không thể gọi hầu hết những điều kiện đó là những điều kiện tất yếu [điều kiện cần], và rằng toàn bộ chúng có tập hợp lại thì cũng chưa phải là những điều kiện đủ.

Đó không phải là những điều kiện cần, vì dẫu những thiết chế như vậy có thiếu vắng (ngoại trừ ngôn ngữ) thì ta cũng không chắc là không có tiến bộ khoa học. Xét cho cùng, “tiến bộ” đã được hình thành từ lời nói rồi sau đó được viết ra, mà thậm chí còn trước đó nữa (mặc dù nói cho đúng thì những bước phát triển sớm này có lẽ không phải là tiến bộ khoa học).

Mặt khác, và điều này còn quan trọng hơn, ta phải thấy rằng dù với một tổ chức mang tính thiết chế khả quan nhất thì rồi một ngày kia tiến bộ khoa học vẫn rất có thể bất ngờ dừng lại. Chẳng hạn biết đâu sẽ xảy ra một trận dịch của thuyết thần bí. Điều này hoàn toàn có khả năng xảy ra, vì ngay đến một số trí thức còn phản ứng với tiến bộ khoa học (hoặc với những nhu cầu về một xã hội mở) bằng việc co mình vào thuyết thần bí, chứ nói gì đến bất kì ai. Hẳn có thể làm mất tác dụng của một khả năng như vậy bằng việc tạo ra hàng loạt các thiết chế xã hội, như những thiết chế giáo dục để chống lại tính đồng đều về mặt quan điểm và để khuyến khích tính đa dạng. Đồng thời, ý niệm về tiến bộ và sự nhiệt tình truyền bá ý niệm đó rất có thể có phần nào tác dụng. Nhưng tất cả những cái đó không khiến tiến bộ trở nên chắc chắn. Bởi về mặt logic chúng ta đâu có thể loại bỏ được khả năng về một thứ tạm cho là "vi trùng" hoặc "virus" chuyên gieo rắc sự thèm khát đối với Niết Bàn.

Vậy là ta phải thấy rằng thậm chí những thiết chế bền vững và tốt đẹp nhất cũng không bao giờ có thể tránh khỏi thất bại.

Như tôi từng nói: “Những thiết chế giống như những pháo đài. Chúng cần được thiết kế thật tốt và có một đội quân đồn trú thiện nghệ”. Nhưng không bao giờ ta chắc chắn rằng nghiên cứu khoa học luôn hấp dẫn được những con người xứng đáng. Ta cũng không lấy làm chắc là luôn có những người có đầu óc tưởng tượng thiên phú để phát minh ra những giả thuyết mới mẻ. Và cuối cùng thì trong những chuyện như thế này mọi cái còn phụ thuộc vào may rủi rất nhiều. Bởi chân lí không phải là hiển nhiên, và sẽ rất sai lầm nếu cứ tin rằng - như Comte và Mill đã tin - một khi các “chướng ngại” (ý ám chỉ Giáo hội) được dỡ bỏ thì chân lí sẽ hiển hiện đối với tất cả những ai thực tâm muốn thấy.

Tôi tin rằng kết quả phân tích này có thể được khái quát hóa. Nhân tố con người hay nhân tố cá nhân sẽ cứ mãi là yếu tố phi lí tính trong hầu hết, hoặc tất cả, những lí thuyết thiết chế về xã hội. Thứ luận thuyết đối lập vốn truyền dạy sự quy giản của những lí thuyết xã hội thành tâm lí học theo kiểu ta đang cố quy hóa học thành vật lí học, theo tôi cũng chỉ là một sự ngộ nhận. Nó xuất phát từ một niềm tin sai lầm cho rằng thứ “chủ nghĩa tâm lí phương pháp luận” này là một hệ luận tất yếu của một chủ nghĩa cá nhân phương pháp luận - của thứ luận thuyết không thể bác bỏ cho rằng ta phải cố gắng quy mọi hiện tượng tập thể về thành những hành động, những tương tác, những mục đích, những hi vọng, và những suy nghĩ của các cá nhân, và quy thành những truyền thống được các cá nhân tạo ra và gìn giữ. Nhưng chúng ta vẫn có thể là người theo chủ nghĩa cá nhân mà không cần chấp nhận chủ nghĩa tâm lí. “Phương pháp đưa về không” trong việc xây dựng những mô hình có lí tính không phải là một phương pháp tâm lí, mà đúng hơn, đó là một phương pháp logic.

Thực sự thì tâm lí học không thể là cơ sở của khoa học xã hội được. Trước hết bởi bản thân nó chỉ là một trong những bộ môn khoa học xã hội: “Bản tính tự nhiên của con người” thay đổi đáng kể cùng với các thiết chế xã hội nên việc nghiên cứu nó trước tiên đòi hỏi phải có một sự hiểu biết về các thiết chế này. Thứ hai là bởi các bộ môn khoa học xã hội liên quan rất nhiều đến những hệ quả hay hậu quả không chủ ý của hoạt động con người. Và cái “không chủ ý” trong văn cảnh này dường như không có nghĩa là “không chủ ý một cách có ý thức”- mà nói đúng hơn, nó đặc trưng cho những hậu quả có cơ vi phạm mọi thứ quyền lợi của tác nhân xã hội, dù là có ý thức hay không; mặc dù một số người có thể yêu sách rằng, bằng kiến thức tâm lí học ta có thể cắt nghĩa được niềm đam mê rừng núi và sự cô đơn; nhưng việc nếu có quá nhiều người mê thích rừng núi thì họ không thụ hưởng được sự cô đơn ở đó nữa lại không phải là một việc thuộc về tâm lí học; loại vấn đề như thế lại nằm ở bản chất của lí thuyết xã hội.

Thế là chúng ta đã chạm đến một kết luận tương phản một cách lạ lùng với phương pháp hiện vẫn mang tính thời thượng của Comte và Mill. Thay vì quy những nhận định xã hội học thành cơ sở vững chắc của môn tâm lí học về bản tính tự nhiên của con người, ta lại có quyền nói rằng nhân tố con người rốt cuộc lại là một yếu tố đáng ngờ và thất thường của đời sống xã hội và của mọi thiết chế xã hội. Tóm lại thì đó là yếu tố mà các thiết chế không thể kiểm soát một cách hoàn toàn (như Spinoza là người đầu tiên nhận ra) (xem chú thích 1 trang 159); bởi mọi nỗ lực nhằm kiểm soát nó một cách hoàn toàn đều phải dẫn đến một sự chuyên chế; tức là dẫn đến quyền năng vô hạn của nhân tố con người - của những ý thích thất thường của một nhóm người, hoặc thậm chí chỉ một người.

Nhưng vậy liệu khoa học - cái đối lập với ý thích thất thường - có kiểm soát được nhân tố con người hay không? Chắc chắn là sinh học và tâm lí học có thể giải được, hoặc sẽ sớm giải được, “bài toán cải tạo con người”. Thế nhưng những người cố gắng làm việc này lại buộc phải hủy hoại tính khách quan của khoa học, và do đó hủy hoại cả bản thân khoa học, bởi cả hai đều dựa trên sự cạnh tranh tự do của tư duy; tức là trên cơ sở của tự do. Nếu muốn cho tăng lên lí tính được liên tục và tính có lí tính của con người tồn tại lâu dài thì không được làm phương hại đến tính đa dạng của các cá nhân, đến những quan kiến của họ, tôn chỉ và mục đích của họ (trừ trong những trường hợp cùng cực khi tự do chính trị bị đe dọa). Ngay cả một lời kêu gọi thỏa đáng đầy tâm huyết vì một mục đích chung, dù tuyệt vời đến đâu, cũng là lời kêu gọi từ bỏ mọi quan kiến đối nghịch về đạo đức cùng mọi ý kiến phản biện và mọi luận cứ xuất phát từ những quan kiến đối nghịch ấy. Đó chính là lời kêu gọi từ bỏ tư duy có lí tính.

Những nhà tiến hóa luận đòi hỏi phải có sự kiểm soát “khoa học” đối với bản tính tự nhiên của con người đã không hiểu được rằng lời đòi hỏi của họ chính là một hành động tự sát. Cội nguồn của tiến hóa và tiến bộ chính là tính đa dạng của những yếu tố vốn là đối tượng của chọn lọc. Hễ còn nói đến sự tiến hóa của loài người, tức là nói đến quyền được “tự do xa lạ và không giống với người hàng xóm của mình”, “được bất đồng với đa số, và được một mình một kiểu” (Xem Waddington, Thái độ khoa học (The Scientific Attitude), 1941, trang 111 và 112). Ông là tác giả mà cả quan điểm tiến hóa luận lẫn đạo đức học khoa học của ông cũng không ngăn cản được việc phủ nhận bất cứ “giá trị khoa học” nào của quyền tự do này. Đoạn văn này được mang ra phê phán trong cuốn Đường về nô lệ (The Road to Serfdom) của Hayek, trang 143). Mọi sự kiểm soát mang tính duy toàn, đều vốn dẫn đến sự cào bằng không phải quyền con người mà là cào bằng tâm trí nhân loại, hẳn sẽ có nghĩa là sự cáo chung của tiến bộ.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.

Dịch giả:
Chu Lan Đình