Chính thể đại diện -Chương 3: Hình thức chính thể mang tính đại diện là hình thức chính thể lý tưởng tốt đẹp nhất

Chính thể đại diện -Chương 3: Hình thức chính thể mang tính đại diện là hình thức chính thể lý tưởng tốt đẹp nhất

Một thời gian khá lâu (có lẽ suốt chiều dài của nền tự do ở nước Anh) người ta thường hay nói rằng nếu đảm bảo có một ông vua chuyên chế tốt thì nền quân chủ chuyên chế sẽ là hình thức chính thể tốt nhất. Tôi xem ý kiến đó là một nhận thức cấp tiến sai lầm nguy hại nhất về vấn đề hình thức chính thể nào là tốt; chừng nào ý kiến này còn chưa bị thanh toán, nó còn gây hại rất lớn cho hết thảy các xem xét về chính thể của chúng ta.

Giả thuyết này cho rằng quyền chuyên chế độc đoán trong tay của một cá nhân xuất chúng sẽ đảm bảo việc thi hành đoan chính và thông minh mọi trách nhiệm của chính thể. Pháp luật tốt sẽ được thiết lập và thi hành, pháp luật xấu sẽ được cải cách; những người tốt nhất sẽ được đặt ở mọi vị trí có trách nhiệm; công lý cũng sẽ được thực thi, các gánh nặng thuế má công cộng sẽ nhẹ nhàng và được áp đặt sáng suốt, mọi nhánh hành pháp đều được điều khiển trong sạch và thông minh, tất cả đều tương xứng với hoàn cảnh đất nước và với mức độ giáo dưỡng trí tuệ và đạo đức mà hoàn cảnh ấy cho phép. Tôi cũng muốn thừa nhận tất cả những cái đó vì mục đích tranh luận; nhưng tôi buộc phải chỉ ra sự nhượng bộ lớn đến chừng nào, và cho thấy danh hiệu đơn giản “một ông vua chuyên chế tốt” khó mà mang lại được các kết quả nói trên. Việc thực hiện các kết quả ấy thực ra hàm ý không phải một ông vua tốt đơn thuần mà phải là một đảng toàn trị. Ông ta phải luôn luôn được thông tin chính xác trong rất nhiều chi tiết về sự quản lý và hoạt động của mọi nhánh hành pháp tại mỗi địa phương của đất nước, và ông ta phải có thể, suốt hai mươi bốn tiếng trong một ngày, chú ý đầy đủ đến hết thảy mọi người, từ vua cho đến người lao động hèn mọn nhất, để thực hiện việc giám thị trong phạm vi rộng lớn ấy; hoặc là ít nhất ông ta cũng phải có khả năng phân biệt và chọn ra được trong đám đông các thần dân của mình không những một số đông những người có khả năng và trung thực nhất thích hợp cho việc điều hành mỗi nhánh hành chính công cộng dưới sự giám sát và kiểm tra, mà cả một thiểu số những người có đức hạnh và tài năng phi phàm, những người có thể tin cậy để chẳng những được giao công việc mà không cần sự giám sát kia, mà còn chính mình thi hành sự giám sát ấy đối với những người khác. Các khả năng và nghị lực đòi hỏi để hoàn tất nhiệm vụ trên một cách có thể chấp nhận được là quá phi thường, khiến thật khó tưởng tượng có một ông vua chuyên chế tốt nào như chúng ta giả định có thể sẵn sàng làm được, trừ phi chỉ để tránh những cái xấu không dung thứ được và chuẩn bị quá độ tới một cái gì đó còn ở phía trước. Nhưng vẫn có thể tranh luận được mà không cần phải tính đến những thứ mênh mông thiên địa ấy. Giả sử rằng khó khăn này được khắc phục, lúc ấy chúng ta ắt sẽ có cái gì? Một người có tinh thần tích cực siêu phàm điều hành toàn hộ hoạt động của một dân tộc thụ động về tinh thần. Tính thụ động của họ hàm chứa ngay trong ý tưởng về một quyền lực độc đoán. Toàn thể dân tộc cũng như mỗi cá nhân hợp thành nó không có tiếng nói tiềm năng nào về vận mệnh của chính mình. Họ không được thực hành ý chí của mình về phương diện quyền lợi tập thể của họ. Mọi thứ đều được quyết định thay cho họ bởi một ý chí không phải của chính họ và việc họ không tuân phục sẽ là tội lỗi theo luật pháp.

Loại người nào có thể hình thành dưới một chế độ như vậy? Tư tưởng của họ và các năng lực tích cực của họ sẽ đạt được sự phát triển nào dưới chế độ ấy? Về mặt thuần túy lý thuyết, có lẽ họ sẽ được phép suy luận nghiên cứu, chừng nào các suy xét của họ không đụng đến chính trị hoặc không có tí chút nào liên hệ với việc thực hành chúng. Trong các hoạt động thực tiễn thì nhiều nhất là họ được cho phép kiến nghị; ngay cả dưới triều các vua chuyên chế ôn hòa nhất cũng không có ai ngoài những người được thừa nhận và có tiếng tăm cao nhất là có thể hy vọng các đề nghị của họ được những kẻ điều hành công việc biết tới, nhưng cũng ít có cơ may được xem xét. Trong trường hợp đó, một người phải có sở thích phi thường về hoạt động trí tuệ cho riêng mình mới bắt bản thân mình chịu khó suy nghĩ khi biết rằng suy nghĩ của mình sẽ không thể có một hiệu quả nào đối với thế giới bên ngoài, hoặc mới tự rèn luyện những khả năng chẳng có chút cơ may nào được phép thực hiện. Hoạt động tinh thần chỉ có được động cơ kích thích đầy đủ nơi một ít người có đầu óc của một thế hệ, khi kết quả của nó có triển vọng thực hiện cho một số ứng dụng thực tế nào đó. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là toàn thể dân tộc bị thiếu thốn trí tuệ. Các sinh hoạt làm ăn bình thường nhất định phải được mỗi cá nhân hay gia đình thực hiện; các hoạt động này sẽ phát huy một số khả năng và trí tuệ nào đó trong phạm vi hạn hẹp nhất định của các ý tưởng. Có thể sẽ có một giai tầng chọn lọc gồm các nhà bác học, những người vun trồng khoa học hướng tới ứng dụng vật chất của nó hay nhằm thú vui theo đuổi công việc. Sẽ có một hệ thống quan liêu; và những kẻ được huấn luyện cho hệ thống đó sẽ được dạy cho biết tối thiểu cũng vài châm ngôn thực dụng về chính quyền và hành chính công cộng. Có thể, và thường là đúng như vậy, sẽ có một tổ chức có hệ thống của sức mạnh tinh thần ưu tú nhất trong nước về một phương hướng đặc biệt nào đó (thông thường là quân phiệt) nhằm đề cao sự vĩ đại của ông vua chuyên chế. Nhưng công chúng rộng rãi sẽ không có thông tin cũng như sẽ không có hứng thú với mọi chuyện thực hành lớn lao hơn; hoặc giả họ có biết chút gì về những chuyện này thì lại là biết rất nông cạn hời hợt, giống như những thợ cơ khí chưa từng cầm dụng cụ trong tay.

Không phải họ sẽ chỉ bị tổn thương riêng về trí tuệ mà thôi. Các khả năng đạo đức của họ cũng sẽ bị cằn cỗi. Bất cứ ở đâu mà phạm vi hành động của con người bị hạn chế một cách nhân tạo thì các cảm xúc của họ cũng bị thu hẹp lại và còi cọc đi theo cùng tỷ lệ. Hành động là thức ăn nuôi dưỡng cảm xúc, ngay cả tình cảm gia đình cũng được vun bồi bằng các giúp đỡ tự nguyện. Để cho một người không có việc gì làm nhằm phục vụ cho đất nước của mình thì anh ta cũng sẽ không quan tâm đến chuyện đó nữa. Lời người xưa nói rằng dưới chính thể chuyên chế, tối đa cũng chỉ có được một nhà ái quốc, đó chính là ông vua chuyên chế; và lời nói ấy là sự đánh giá chính xác các hiệu quả của sự khuất phục tuyệt đối, dù là đối với một ông chủ tốt và khôn ngoan. Còn lại tôn giáo: ít nhất cũng có thể tưởng rằng ở đây có một chỗ dựa tin cậy để mở mắt và khai trí cho những người bị chà đạp dưới gót chân. Thế nhưng tôn giáo, ngay cả khi giả thiết nó thoát khỏi bị xuyên tạc để phục vụ cho chế độ chuyên chế đi nữa, trong các hoàn cảnh ấy cũng không còn là mối quan tâm xã hội nữa và thu hẹp lại trong quan hệ riêng tư giữa một cá nhân với Đấng Sáng thế của anh ta, ở đó chuyện an nguy chỉ là việc cứu vớt linh hồn cá nhân mà thôi. Tôn giáo trong hình hài như thế hoàn toàn hòa hợp với chủ nghĩa vị kỷ tư lợi và hẹp hòi nhất, nó đồng nhất hóa người sùng đạo ở trong một chút ít cảm xúc về những người đồng loại với anh ta như một lạc thú duy cảm.

Một chế độ chuyên chế tốt có nghĩa là một chính thể, trong đó dù ở chừng mực phụ thuộc vào ông vua chuyên chế, các quan chức nhà nước không thực hiện các cuộc đàn áp công khai, nhưng điều khiển mọi quyền lợi tập thể của dân chúng thay cho dân chúng, suy nghĩ mọi chuyện liên quan đến quyền lợi tập thể thay cho dân chúng, tâm trí của dân chúng được hình thành bởi sự từ bỏ năng lực của chính mình và thuận tình với sự từ bỏ ấy. Phó mặc mọi thứ cho Chính quyền giống như phó thác cho mệnh trời cũng đồng nghĩa với việc không quan tâm gì đến những thứ ấy và cam chịu chấp nhận mọi kết quả, dù không vừa ý, như các trừng phạt của Tự nhiên. Ngoại trừ một số ít những người ham học hỏi có mối quan tâm trí tuệ đến việc suy luận cho riêng mình, thì trí tuệ và tình cảm của toàn thể dân chúng đều hàng phục trước các quan tâm vật chất; khi các quan tâm vật chất ấy được đảm bảo thì tâm trí và tình cảm của họ hướng tới các cuộc vui chơi và trang sức cho cuộc sống riêng tư. Nói vậy tức là nói rằng, nếu các chứng cứ lịch sử có một giá trị nào đó, một kỷ nguyên suy thoái của dân tộc đã đến: ấy là giả sử như dân tộc đã có cái gì đó đạt được rồi để mà suy thoái từ cái đó. Nếu dân tộc ấy chưa từng vươn lên cao hơn điều kiện của một dân tộc phương Đông thì trong điều kiện ấy họ sẽ tiếp tục trì trệ. Nhưng nếu họ, giống như Hy Lạp hay La Mã, đã từng thực hiện được cái gì đó cao hơn, thông qua năng lực, lòng yêu nước và sự mở mang trí tuệ, như là các phẩm chất dân tộc và là thành quả của riêng nền tự do, thì họ sẽ rơi trở lại vào tình trạng phương Đông. Và tình trạng ấy không có nghĩa là một sự thanh bình ngu xuẩn với độ an toàn kháng cự lại được với sự đổi thay còn tồi tệ hơn nữa; nó thường có nghĩa là sẽ bị giày xéo, bị chinh phục và bị biến thành bầy tôi tớ nô lệ, hoặc là bởi một ông vua chuyên chế mạnh hơn, hoặc là bởi một dân tộc man rợ ở gần nhất vẫn còn giữ được năng lực của tự do cùng với sự dã man hoang dại của nó.

Đó không phải chỉ đơn thuần là các xu thế tự nhiên mà là các tất yếu vốn gắn kết cố hữu với chính thể chuyên chế; từ đó sẽ chẳng có lối thoát nào, trừ phi đến lúc chế độ chuyên chế thuận nguyện thôi không là chế độ chuyên chế nữa; đến lúc mà ông vua chuyên chế tốt theo giả định tự từ bỏ quyền lực của mình và tuy còn giữ quyền lực dự phòng nhưng cho phép công việc chung của chính quyền được triển khai cứ như là dân chúng tự quản thực sự. Dù cho khả năng xảy ra chuyện này có ít bao nhiêu đi nữa, chúng ta vẫn có thể hình dung một ông vua chuyên chế tuân theo rất nhiều quy phạm và sự kiềm chế của chính thể lập hiến, ông ta có thể cho phép một quyền tự do báo chí và thảo luận để công luận có thể hình thành và phát biểu về các công việc quốc gia. Ông ta có thể chịu để cho các lợi ích địa phương được dân chúng tự mình điều hành mà không có sự can thiệp của chính quyền trung ương. Ông ta có thể cho phép kề cận bên mình một hay nhiều hội đồng cai trị, được toàn thể hay một bộ phận nào đó của quốc gia chọn lựa ra, nhưng vẫn giữ lại trong tay quyền đánh thuế và quyền lực lập pháp tối cao cũng như quyền uy hành pháp. Giả sử như ông ta có hành động như thế và từ bỏ quyền chuyên chế xa đến thế thì ông ta đã loại bỏ được phần lớn những đặc tính xấu xa của chế độ chuyên chế. Tính tích cực chính trị và khả năng tham gia các hoạt động công cộng gia tăng trong thực thể quốc gia mà không còn bị ngăn cản nữa và một công luận đã có thể tự hình thành chứ không phải chỉ là tiếng dội lại của chính quyền. Thế nhưng một cải tiến như thế sẽ là sự khởi đầu cho những khó khăn mới. Cái công luận độc lập với nền chuyên chính quân chủ ấy sẽ phải hoặc là về phe với ông ta hoặc chống lại ông ta: nếu không là cái này thì là cái kia. Mọi chính thể đều làm cho nhiều người không hài lòng, những người này bây giờ có cơ quan ngôn luận chính thức có thể bày tỏ các cảm xúc của họ, các ý kiến ngược lại với các biện pháp của chính quyền sẽ thường xuyên được biểu lộ. Liệu nhà 

vua sẽ làm gì, nhỡ khi các ý kiến không thuận ấy lại chiếm đa số? Liệu ông ta có thay đổi đường lối của mình hay không? Liệu ông ta có chiều theo ý dân chúng hay không? Nếu là có thì ông ta sẽ không còn là một ông vua chuyên chế nữa mà là một quân vương lập hiến: trở thành một cơ quan hay một thủ tướng của nhân dân, chỉ khác là không thể bị bãi chức mà thôi. Nếu là không thì ông ta hoặc là sẽ phải triệt hạ phe đối lập bằng quyền lực chuyên chế của mình, hoặc là sẽ phát sinh một sự đối kháng thường trực giữa dân chúng và một cá nhân, sự đối kháng ấy chỉ có thể có một kết cục khả dĩ. Ngay như một nguyên lý tôn giáo của sự tuân phục thụ động và một “phép thần” cũng chẳng ngăn được lâu những hệ quả tự nhiên của một tình thế như vậy. Nhà vua sẽ phải chịu thua và thích ứng với các điều kiện của một chế độ quân chủ lập hiến hoặc là nhường chỗ cho một người khác. Như thế thì chính thể chuyên chế sẽ chủ yếu chỉ còn là trên danh nghĩa, sẽ chẳng có được bao nhiêu lợi thế giả định là của nền quân chủ độc đoán; trong khi ấy nó lại thể hiện các lợi thế của chính thể tự do ở mức độ rất không hoàn hảo; bởi vì dù cho các công dân có được hưởng quyền tự do trên thực tế nhiều đến bao nhiêu đi nữa, họ vẫn không bao giờ có thể quên được rằng họ được dung thứ cho phép có quyền ấy và họ phải nhờ vào một sự nhân nhượng có thể bị lấy lại bất cứ lúc nào trong hiện trạng hiến pháp nhà nước, rằng theo pháp luật họ vẫn là những kẻ nô lệ, dẫu là của một ông chủ khôn ngoan hoặc hay gia ân.

Cũng chẳng đáng ngạc nhiên lắm, nếu các nhà cải cách thiếu kiên nhẫn và bị thất vọng phải rên rỉ vì những trở ngại chống lại các cải tiến công cộng có lợi nhất, những trở ngại gây ra bởi sự ngu dốt, sự lãnh đạm vô tình, tính khó bảo, tính ngoan cố tai ác của dân chúng, các tổ hợp đồi bại của các tính tư lợi đầy vị kỷ được trang bị bởi vũ khí hùng mạnh do các thiết chế tự do cung cấp, các nhà cải cách ấy đôi khi luyến tiếc một bàn tay sắt sẽ san bằng tất cả những trở ngại đó và ép buộc một tập hợp dân chúng cứng đầu chịu cai trị tốt hơn nữa. Tuy nhiên, (ta hãy bỏ qua một bên thực tế là thỉnh thoảng đôi khi cũng có một ông vua chuyên chế triệt bỏ sự lạm quyền, nhưng sẽ có chín mươi chín ông vua chuyên chế khác chẳng làm gì cả ngoài việc tạo nên thói lộng quyền ấy) những ai nhìn theo hướng như thế để mong thực hiện các kỳ vọng của mình, thực ra đã bỏ mất một yếu tố mang tính nguyên tắc của ý tưởng về chính thể tốt, đó là sự cải tiến bản thân dân chúng. Một trong các lợi ích của nền tự do là kẻ cầm quyền không thể làm ngơ trước ý kiến của dân chúng và không thể cải thiện các công chuyện của dân chúng thay cho họ mà lại không cải thiện họ. Nếu như giả sử rằng dân chúng có thể được cai trị tốt bất chấp ý nguyện của họ thì chính thể tốt của họ cũng sẽ không kéo dài được lâu hơn là nền tự do của một dân chúng được giải phóng nhờ quân đội nước ngoài mà không có sự hợp tác của chính họ. Quả đúng là một ông vua chuyên chế có thể giáo dục một tập hợp dân chúng, và nếu quả có làm như thế thật thì đó sẽ là sự tạ lỗi tốt nhất cho nền chuyên chế của ông ta. Thế nhưng mọi nền giáo dục đều nhằm làm cho con người không giống với các cỗ máy, nên về lâu về dài giáo dục sẽ làm họ đòi hỏi được tự mình kiểm soát các hành động của mình. Các triết gia hàng đầu của Pháp ở thế kỷ XVIII đã từng được giáo dục bởi các tín đồ dòng tu Jesuit. Có vẻ như ngay cả nền giáo dục Jesuit thực ra cũng bồi dưỡng lòng ham muốn tự do. Bất cứ cái gì tiếp thêm sinh lực, dù ít đến đâu, cho các khả năng, cũng sẽ tăng thêm lòng ham muốn nhằm thực hành nhiều hơn các khả năng ấy mà không bị ngăn trở; một nền giáo dục đại chúng sẽ là thất bại, nếu nó giáo dục dân chúng tới bất kỳ trạng thái nào đó mà không phải là trạng thái gây được cho họ lòng ham muốn và đòi hỏi.

Tôi hoàn toàn không có ý lên án sự thừa nhận quyền lực chuyên chế dưới hình thức một nền độc tài tạm thời trong những trường hợp cực kỳ khẩn cấp. Xưa kia các dân tộc tự do cũng đã từng ban phong quyền lực như thế theo sự chọn lựa của chính mình, như dùng một phương thuốc cần thiết chữa bệnh cho thể trạng tổ chức chính trị, khi căn bệnh không thể điều trị được bằng các phương tiện ít bạo lực hơn. Nhưng việc chấp nhận chế độ độc tài, ngay cả trong một thời gian giới hạn dứt khoát, cũng chỉ có thể được biện minh, nếu như nhà độc tài sử dụng toàn bộ quyền lực nắm được nhằm san bằng trở lực đã tước đoạt quyền hưởng thụ tự do của dân tộc, tương tự như Solon hay Pittacus(*). Một chính thể chuyên chế tốt là một ý tưởng hoàn toàn trá ngụy (ngoại trừ như phương tiện cho mục đích nhất thời nào đó), trên thực tế nó trở thành những điều hão huyền vô nghĩa và nguy hiểm nhất. Cái xấu hướng tới cái xấu, chế độ chuyên chế tốt ở một nước có đôi chút tiến bộ văn minh sẽ có hại nhiều hơn là ở một nước tồi tệ; bởi vì nó làm suy nhược và giảm sút tư tưởng, tình cảm và năng lực của dân chúng. Nền chuyên chế của Augustus đã chuẩn bị dân chúng La Mã cho Tiberius(*). Nếu toàn thể sắc thái tính cách của dân chúng trước tiên đã không bị hàng phục suốt gần hai thế hệ của tình trạng nô lệ êm đềm ấy, hẳn là họ đã còn đủ tinh thần để nổi loạn chống lại chế độ nô lệ ngày càng trở nên ghê tởm hơn.

Không có khó khăn gì để chỉ ra rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất là hình thức chính thể trong đó chủ quyền, hay quyền kiểm soát tối cao như một phương sách cuối cùng, được trao cho toàn thể khối tập hợp cộng đồng; mỗi một công dân không chỉ có tiếng nói trong việc vận dụng chủ quyền cơ bản ấy, mà còn ít nhất cũng thỉnh thoảng được yêu cầu tham gia thực sự vào việc cai trị bằng cách đích thân thực hiện một chức năng nào đó, mang tính địa phương hay tổng quát.

Để kiểm nghiệm giả thiết này thì trong việc khảo sát cần phải dẫn lại hai nhánh phân định phẩm chất tốt của chính thể đã được nêu ra ở chương trước; bản thân sự thẩm tra tính tốt xấu của một chính thể sẽ tiện lợi phân chia ra hai phần: chính thể ấy thúc đẩy đến đâu việc điều hành các hoạt động của xã hội bằng phương tiện là các tính năng hiện tồn của các thành viên như đạo đức, trí tuệ và tính tích cực; và hiệu quả của chính thể ra sao trong việc cải tiến hay làm hư hỏng các tính năng ấy.

Chắc không cần phải nói rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất không hàm nghĩa là hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong bất cứ tình trạng văn minh nào, mà hàm nghĩa một hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong những hoàn cảnh nhất định, một hình thức có được nhiều nhất các hậu quả lợi ích, trước mắt cũng như trong triển vọng lâu dài. Một chính thể hoàn toàn mang tính nhân dân chỉ là một tổ chức xã hội có khả năng nhận ra mọi đòi hỏi của đặc tính ấy. Tính ưu việt thể hiện trong cả hai bộ phận phân chia tính ưu tú của một hiến pháp chính trị. Một chính thể vừa cai trị tốt, vừa thúc đẩy các hình thức tốt hơn và cao hơn của tính cách dân tộc, sẽ được tán thành nhiều hơn so với bất cứ tổ chức xã hội nào khác.

Tính ưu việt của chính thể có liên quan đến hiện trạng an sinh dựa trên hai nguyên tắc của tính chân lý phổ quát và tính có thể áp dụng được, cũng như của các đề xuất tổng quát bất kỳ có thể đặt vào trong mối quan hệ với các hoạt động của con người. Nguyên tắc thứ nhất là, các quyền và lợi ích của mỗi cá nhân bất kỳ chỉ được an toàn không bị coi thường khi bản thân cá nhân ấy có khả năng và thường xuyên có ý định đương đầu bảo vệ chúng. Nguyên tắc thứ hai là, sự phồn vinh chung sẽ đạt tới tầm cao hơn và được phân phối rộng rãi hơn, tỷ lệ với số lượng và sự đa dạng của các năng lực cá nhân tham dự vào việc thúc đẩy sự phồn vinh ấy.

Đặt hai đề xuất đó trong một dạng chuyên biệt hơn cho việc áp dụng trong hiện tại; con người chỉ được an toàn khỏi bàn tay gây ác của các kẻ khác theo một tỷ lệ với việc họ có được quyền lực để tự bảo vệ mình (self-protecting); và họ chỉ đạt được kết quả ở mức độ cao trong cuộc tranh đấu với Thiên nhiên, theo một tỷ lệ với việc họ được tự lập (self-dependent), dựa vào việc họ có thể làm được gì, hoặc riêng rẽ hoặc phối hợp, hơn là dựa vào những cái người khác làm cho họ.

Đề xuất thứ nhất – rằng mỗi người là người bảo vệ an toàn duy nhất cho các quyền và lợi ích của bản thân mình – là một trong những châm ngôn cơ bản của sự khôn ngoan mà bất cứ ai có khả năng điều khiển công việc của bản thân mình cũng đều hành động hoàn toàn theo nó trong mọi chuyện phải tự quan tâm tới mình. Nhiều người rất không ưa châm ngôn này như một học thuyết chính trị và thích thóa mạ nó như một học thuyết hoàn toàn ích kỷ. Chúng ta có thể trả lời những người này rằng, bất cứ khi nào chấm dứt cái sự thật rằng loài người theo lệ thường vẫn ưu ái bản thân mình hơn những người khác, ưu ái những người gần gũi với mình nhiều hơn những người xa xôi, thì kể từ lúc ấy chế độ Cộng sản sẽ không chỉ là có thể áp dụng được mà còn là hình thức xã hội duy nhất có thể biện minh được; và tới lúc mà thời điểm ấy đến thì chế độ đó nhất định sẽ có hiệu quả. Về phần riêng tôi, là người không tin vào tính hoàn toàn vị kỷ, tôi dễ dàng thú nhận rằng chế độ Cộng sản có thể áp dụng được ngay cả bây giờ trong giới tinh hoa (elite) của loài người, và rồi sẽ trở thành có thể áp dụng được cho phần còn lại của loài người. Thế nhưng ý kiến này lại không phổ biến chút nào trong những người bảo vệ các thiết chế hiện hữu, những người cho học thuyết về tính ưu trội chung của tính tư lợi là sai lầm. Tôi nghiêng về ý nghĩ là thực ra họ cũng tin rằng đa số con người quan tâm đến bản thân mình trước khi nghĩ đến người khác. Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải nhấn mạnh sự khẳng định như thế để ủng hộ cho yêu sách mọi người cùng tham gia vào chủ quyền tối cao. Chúng ta không cần phải giả định rằng khi quyền lực thuộc về một giai cấp độc nhất nào thì giai cấp ấy sẽ hy sinh quyền lợi của các giai cấp khác cho giai cấp của mình một cách chủ tâm cố ý: sẽ là đủ khi khẳng định rằng lợi quyền của giai cấp bị loại ra luôn có nguy cơ bị bỏ qua khi vắng mặt những người bảo vệ tự nhiên của mình; còn nếu như lợi quyền ấy có được ngó tới thì lại được nhìn bằng con mắt rất khác với con mắt của những người liên can trực tiếp đến nó.

Thí dụ như ở đất nước này chẳng hạn, cái được gọi là các giai cấp cần lao có thể được xem như là bị loại ra khỏi mọi sự tham gia trực tiếp vào chính quyền. Tôi không tin rằng nói chung các giai cấp được tham gia trực tiếp vào chính quyền lại có ý định hy sinh các giai cấp cần lao cho bản thân họ. Đã có lần họ từng có ý định ấy; bằng chứng là các mưu toan dai dẳng kéo dài nhằm hạ thấp tiền lương bằng luật pháp. Thế nhưng ngày nay khuynh hướng thông thường của họ là hoàn toàn ngược lại: họ tự nguyện thực hiện các hy sinh đáng kể, đặc biệt là các quyền lợi tài chính của họ, vì lợi ích của các giai cấp cần lao; mà họ thường sai lầm làm phúc quá rộng rãi và bừa bãi. Tôi cũng không tin rằng trong lịch sử lại có nhà cầm quyền bị thúc đẩy bởi động cơ chân thành mong muốn thực hiện nghĩa vụ của họ đối với bộ phận dân chúng nghèo khó hơn trong nước họ. Mà bây giờ cũng có Nghị viện nào, hay hầu như mỗi thành viên nào của nó, lại chịu để mắt tới bất cứ vấn đề gì bằng cặp mắt của một người lao động? Mỗi khi có vấn đề nào nổi lên, mà trong đó giới lao động có mối quan tâm, thì chẳng phải là nó sẽ được xem xét dưới quan điểm bất kỳ nào đó, chỉ trừ quan điểm của những người làm thuê đó hay sao? Tôi không nói là quan điểm của những người lao động trong các vấn đề ấy nói chung gần với chân lý hơn là các quan điểm khác, tuy nhiên khi quả thực cũng rất gần; nhưng trong mọi trường hợp, nó phải được trân trọng lắng nghe, chứ không phải như tình trạng bây giờ: không chỉ ngoảnh mặt đi mà còn không đếm xỉa đến nữa. Thí dụ như vấn đề bãi công chẳng hạn, khó tin được liệu có một ai trong các thành viên lãnh đạo của thượng viện hay hạ viện lại không tin chắc rằng lẽ phải hoàn toàn ở về phía các ông chủ, rằng ý kiến của những người lao động chỉ là điều ngớ ngẩn. Những ai đã nghiên cứu vấn đề biết rất rõ chuyện này phổ biến đến đâu; nếu giả sử như tiếng nói của các tầng lớp bãi công được lắng nghe ở Quốc hội thì cung cách tranh luận quan điểm hẳn sẽ khác đi biết bao, hẳn sẽ bớt nông cạn hời hợt đi biết nhường nào.

Một điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động của con người là: không có ý đồ nào nhằm bảo vệ quyền lợi cho người khác, dù chân thành đến đâu đi nữa, lại có thể làm họ tự trói buộc chân tay mình. Một sự thật còn hiển nhiên hơn nữa là chỉ có bằng chính bàn tay của mình, con người mới có thể cải thiện đáng kể và lâu bền cho hoàn cảnh sống của mình. Thông qua ảnh hưởng liên kết của hai nguyên lý đó mà mọi cộng đồng tự do mới tránh được nhiều hơn khỏi bất công và tội ác xã hội, và đạt được nhiều hơn phồn vinh thịnh vượng so với các cộng đồng khác, hoặc so với chính bản thân họ, sau khi họ bị mất đi tự do của mình. Tương phản giữa các quốc gia tự do trên thế giới trong lúc nền tự do đang tồn tại so với các thần dân cùng thời đại ở các chế độ chuyên chế quân chủ hay chuyên chế tập đoàn: các đô thị Hy Lạp so với các tiểu bang (satrapies) Ba Tư; các bang cộng hòa Italia và các đô thị tự do xứ Flanders và Germany so với các lãnh địa phong kiến của châu Âu; Thụy Sĩ, Hà Lan và Anh so với Áo hay nước Pháp phản cách mạng. Sự thịnh vượng vượt trội của các quốc gia tự do là quá hiển nhiên đến nỗi chẳng bao giờ có thể chối cãi; trong khi đó tính ưu tú về thể chế và quan hệ xã hội tốt của họ được minh chứng bởi sự thịnh vượng và còn được biểu hiện rõ ràng trên mỗi trang lịch sử. Nếu chúng ta so sánh, không phải là một thời đại này với thời đại khác, mà là các chính thể khác nhau cùng tồn tại trong một thời đại, không một mức độ hỗn loạn nào được công khai biết đến ở trong các quốc gia tự do, dù có phóng đại lên nữa, lại có thể so sánh được ở cùng một thời điểm với sự chà đạp đầy miệt thị lên đám đông dân chúng diễn ra tràn lan khắp toàn bộ đời sống của các nước quân chủ, hoặc với một sự bạo ngược cá nhân đáng kinh tởm xuất hiện còn nhiều hơn chuyện thường ngày dưới những hệ thống cướp bóc được gọi là phân bố ngân sách và trong sự bí mật của các phiên tòa thật ghê sợ.

Cần phải thừa nhận rằng những lợi ích của nền tự do, như người ta được hưởng cho tới nay, có được là nhờ vào sự mở rộng đặc quyền ấy chỉ cho một bộ phận của cộng đồng; và rằng một chính thể mà những lợi ích đó được mở rộng không thiên vị cho mọi người vẫn còn là điều mơ ước chưa được thực hiện. Dù rằng mỗi bước tiến lại gần mục tiêu ấy đều có một giá trị độc lập và trong nhiều trường hợp không thể nào làm được nhiều hơn thế trong thực trạng của sự cải tiến tổng thể hiện nay, việc tham gia của tất cả mọi người vào các lợi ích đó là một quan niệm hoàn mỹ lý tưởng của chính thể tự do. Thuận theo tỷ lệ với việc có người nào đó, dù là ai đi nữa, bị loại khỏi nền tự do ấy, thì lợi quyền của những người bị loại đó sẽ bị bỏ rơi không có đảm bảo được chấp thuận như với những người khác, và bản thân họ cũng sẽ bị thiệt thòi về cơ may và sự khích lệ để cho họ sử dụng năng lực và lợi ích của bản thân và của cộng đồng, mà sự phồn vinh chung luôn luôn tỷ lệ thuận theo đó.

Đó là xét về phương diện an sinh hiện tại, sự điều hành tốt công việc của thế hệ bây giờ. Nếu ta chuyển sang vấn đề ảnh hưởng của hình thức chính thể lên tính cách, ta sẽ thấy tính ưu việt của chính thể nhân dân so với mọi chính thể khả dĩ khác còn mang tính quyết định và rõ ràng hơn nữa.

Vấn đề này thực ra phụ thuộc vào một vấn đề còn cơ bản hơn, tức là, đối với sự tốt đẹp chung cho nhân loại thì cái nào trong hai loại tính cách phổ biến phải là cái đáng mong muốn nhất để nó chiếm được ưu thế – loại tính tích cực hay loại tính thụ động; tức là cái chống lại cái ác hay là cái dung dưỡng cái ác; cái khuất phục theo hoàn cảnh hay cái nỗ lực bắt hoàn cảnh khuất phục theo mình.

Thói thường của các nhà đạo đức và thiện cảm chung của loài người thiên vị về phía loại tính thụ động. Các tính cách mạnh mẽ có thể được ngưỡng mộ, nhưng những người ngoan ngoãn dễ bảo là những người được người ta ưa thích hơn. Tính thụ động của những người hàng xóm tăng thêm cảm giác an toàn cho ta và có lợi cho tính làm theo ý mình của ta. Các tính cách thụ động, nếu là trường hợp ta không cần đến tính tích cực của chúng, có vẻ như không là vật cản trên đường ta đi. Một tính cách nhu thuận không phải là kẻ cạnh tranh nguy hiểm. Thế nhưng không có gì chắc chắn hơn rằng sự cải tiến trong hoạt động của nhân loại hoàn toàn là công trình của các tính cách không nhu thuận; và hơn thế nữa, đòi hỏi một trí tuệ tích cực có phẩm hạnh kiên nhẫn là dễ dàng hơn nhiều so với đòi hỏi một trí tuệ thụ động có phẩm hạnh mạnh mẽ.

Trong ba phẩm chất tinh thần khác nhau, trí tuệ, tính thực hành và đạo đức, không bao giờ có hoài nghi nào đối với hai thứ đầu tiên về việc cái nào trong hai loại tính phải có ưu thế. Mọi tính ưu việt về trí tuệ đều là kết quả của nỗ lực tích cực. Tính dám làm, khát vọng tiến lên, nỗ lực thử nghiệm và làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác, đó là cha đẻ ngay cả của các tài năng lý thuyết, nhưng chủ yếu là của các tài năng thực hành. Sự trau dồi trí tuệ tương hợp với một kiểu khác hơn là cái được mô tả mơ hồ thuộc về một tâm hồn đã dừng lại ở chuyện vui chơi hay ở việc thưởng thức đơn thuần. Tiêu chuẩn về sự suy nghĩ thực sự và mạnh mẽ, sự suy nghĩ xác định các chân lý chứ không phải các giấc mộng mơ màng, chính là sự áp dụng có kết quả vào thực hành. Ở đâu mà không có các mục đích ấy nhằm đem lại cho sự suy tư một tính xác định, một độ chính xác và một ý nghĩa dễ hiểu, thì ở đó chẳng sản sinh ra được cái gì hơn là siêu hình học thần bí của Pythagore hay kinh Vệ Đà. Về phương diện cải tiến mang tính thực hành thì điều này còn hiển nhiên hơn nữa. Một tính cách cải thiện đời sống con người là tính cách chiến đấu với các xu thế và sức mạnh thiên nhiên chứ không phải các tính cách hàng phục chúng. Các phẩm chất tự làm ra lợi ích đều nằm ở phía tính cách tích cực và mạnh mẽ, và các tập quán cũng như hành vi thúc đẩy lợi thế cho mỗi cá nhân thành viên của cộng đồng ít nhất cũng phải là bộ phận của những cái góp phần chủ yếu vào mục tiêu đưa toàn thể cộng đồng tiến lên.

Tuy nhiên về điểm tính đạo đức được ưa chuộng hơn thì có vẻ như thoạt nhìn đã thấy có chỗ đáng hoài nghi. Tôi không định viện dẫn tới cảm xúc tôn giáo nói chung khá thiên về tính cách thụ động như tính cách dễ hài hòa hơn với sự phục tùng theo ý nguyện thiêng liêng. Ki Tô giáo cũng như các tôn giáo khác đã bồi dưỡng tình cảm ấy; thế nhưng chính đặc quyền của Ki Tô giáo nhìn nhận chuyện này cũng như nhìn nhận những hiểu sai khác, là nó có khả năng từ bỏ chúng. Nếu xét một cách trừu tượng tách khỏi tôn giáo, thì một tính cách thụ động mà khuất phục trước trở ngại thay vì ráng vượt qua chúng, có thể thực không có ích gì lắm cho người khác hơn là cho bản thân, nhưng người ta có thể chờ đợi là ít nhất nó cũng vô thưởng vô phạt. Tự bằng lòng luôn được xếp vào hàng các phẩm hạnh đạo đức. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng tự bằng lòng nhất thiết và đương nhiên đi kèm với tính cách thụ động. Ở đâu mà tồn tại khát vọng muốn có một lợi thế còn chưa sở hữu, tâm trí lại không sở hữu nó một cách tiềm năng bằng chính sức lực của mình, cái tâm trí ấy sẽ có khuynh hướng nhìn những ai sở hữu nó với sự căm ghét ác độc. Một người cố vùng vẫy với hy vọng sẽ cải tiến được hoàn cảnh của mình sẽ là người có thiện cảm đối với những người khác đang bận rộn lo toan, hay đã thành đạt, cũng cùng trong việc theo đuổi ấy. Và ở đâu mà có đa số người bận rộn lo toan thì ở đó những ai chưa đạt được mục đích sẽ có được sự đồng cảm bởi tập quán của xứ sở và coi sự thất bại của mình là do còn thiếu cố gắng, hay chưa gặp thời vận, hoặc do kém may mắn. Thế nhưng kẻ nào ham muốn cái người khác sở hữu mà không chịu bỏ sức lực cố đạt được nó, thì hoặc là sẽ không ngớt càu nhàu trách số phận không đem lại cho anh ta cái mà anh ta chẳng cố làm cho mình, hoặc là sẽ đầy hằn học ghen tỵ với những người sở hữu cái mà anh ta muốn có. Tỷ lệ thuận với việc xem sự thành đạt trong cuộc sống là kết quả của số phận hay sự ngẫu nhiên chứ không phải do nỗ lực, mà tính ghen ghét cũng phát triển cùng với tỷ lệ ấy như một tính cách dân tộc. Bộ phận hay ghen ghét nhất của toàn thể loài người là những người phương Đông. Trong cái nhìn của các thầy dạy đạo đức phương Đông, trong các câu chuyện kể phương Đông, kẻ ghen ghét là khá nổi bật. Trong đời sống thực, kẻ ghen ghét là nỗi kinh hoàng cho tất cả những ai sở hữu bất cứ cái gì đáng mong muốn, dù đó là một lâu đài, một đứa con kháu khỉnh, hay thậm chí cả sức khỏe và tinh thần tốt: việc tạo nên định kiến lan truyền khắp nơi về con mắt của quỷ dữ được coi là hiệu quả của con mắt nhòm ngó của kẻ ghen ghét. Vị trí kế tiếp với những người phương Đông về mặt ghen ghét là một số người Nam Âu. Những người Tây Ban Nha đuổi bám theo tất cả các vĩ nhân của họ với sự ghen ghét, đầu độc cuộc sống của họ và thường thành công trong việc sớm làm cho sự thành đạt của họ phải dừng lại(*). Với người Pháp, đương nhiên cũng là một dân tộc phương nam, sự giáo dục cặp đôi của nền chuyên chế và Công giáo, bất chấp tính khí bốc đồng của họ, đã làm cho sự phục tùng và tính nhẫn nại trở thành tính cách chung của dân chúng cũng như tính khôn ngoan và tính ưu tú của họ là quan niệm được thừa nhận rộng rãi: và nếu tính ganh ghét lẫn nhau cũng như ganh ghét với sự ưu việt không lan tràn trong họ nhiều hơn như nó vốn có, thì tình trạng ấy được quy cho nhiều yếu tố khác rất quý giá có được ở trong tính cách Pháp; và chủ yếu là nhờ ở năng lực cá nhân vĩ đại, dù nó có thiếu bền chắc và khá thất thường so với cái hiện diện trong tính tự lập và tính tranh đấu của người Anglo-Saxon, năng lực ấy vẫn biểu lộ ra ở người Pháp hầu như trong mọi hướng mà các thiết chế của họ đã tạo thuận lợi cho nó.

Chắc chắn rằng ở mọi đất nước đều có các tính cách tự bằng lòng, không phải chỉ là không tìm kiếm mà còn không ham muốn cái mà họ không sở hữu, và những tính cách ấy đương nhiên không hàm chứa ác ý đối với những người có vẻ như có nhiều thuận lợi hơn. Thế nhưng nếu đại đa số có vẻ tự bằng lòng thì thực ra lại là sự không bằng lòng kết hợp với tính lười biếng hay tính thiếu nghiêm khắc với bản thân, cái đó làm cho người ta thường ưa kéo những người khác xuống cho bằng mức với mình trong khi không xúc tiến các phương tiện chính đáng để vươn mình lên. Và ngay như nếu chúng ta bó hẹp trong việc xem xét trường hợp của sự tự bằng lòng “trong sạch”, “thanh bần”, ta cũng thấy rằng nó chỉ làm ta ngưỡng mộ, khi có sự thờ ơ thuần túy đối với việc cải tiến các hoàn cảnh bên ngoài, đồng thời lại có sự nỗ lực vươn tới tiến bộ không ngừng trong giá trị tinh thần, hoặc ít nhất cũng có nhiệt tình vô tư trong việc làm lợi cho người khác. Còn một con người tự bằng lòng, hay một gia đình tự 

3

HÌNH THỨC CHÍNH THỂ MANG TÍNH ĐẠI DIỆN LÀ HÌNH THỨC CHÍNH THỂ LÝ TƯỞNG TỐT ĐẸP NHẤT

Một thời gian khá lâu (có lẽ suốt chiều dài của nền tự do ở nước Anh) người ta thường hay nói rằng nếu đảm bảo có một ông vua chuyên chế tốt thì nền quân chủ chuyên chế sẽ là hình thức chính thể tốt nhất. Tôi xem ý kiến đó là một nhận thức cấp tiến sai lầm nguy hại nhất về vấn đề hình thức chính thể nào là tốt; chừng nào ý kiến này còn chưa bị thanh toán, nó còn gây hại rất lớn cho hết thảy các xem xét về chính thể của chúng ta.

Giả thuyết này cho rằng quyền chuyên chế độc đoán trong tay của một cá nhân xuất chúng sẽ đảm bảo việc thi hành đoan chính và thông minh mọi trách nhiệm của chính thể. Pháp luật tốt sẽ được thiết lập và thi hành, pháp luật xấu sẽ được cải cách; những người tốt nhất sẽ được đặt ở mọi vị trí có trách nhiệm; công lý cũng sẽ được thực thi, các gánh nặng thuế má công cộng sẽ nhẹ nhàng và được áp đặt sáng suốt, mọi nhánh hành pháp đều được điều khiển trong sạch và thông minh, tất cả đều tương xứng với hoàn cảnh đất nước và với mức độ giáo dưỡng trí tuệ và đạo đức mà hoàn cảnh ấy cho phép. Tôi cũng muốn thừa nhận tất cả những cái đó vì mục đích tranh luận; nhưng tôi buộc phải chỉ ra sự nhượng bộ lớn đến chừng nào, và cho thấy danh hiệu đơn giản “một ông vua chuyên chế tốt” khó mà mang lại được các kết quả nói trên. Việc thực hiện các kết quả ấy thực ra hàm ý không phải một ông vua tốt đơn thuần mà phải là một đảng toàn trị. Ông ta phải luôn luôn được thông tin chính xác trong rất nhiều chi tiết về sự quản lý và hoạt động của mọi nhánh hành pháp tại mỗi địa phương của đất nước, và ông ta phải có thể, suốt hai mươi bốn tiếng trong một ngày, chú ý đầy đủ đến hết thảy mọi người, từ vua cho đến người lao động hèn mọn nhất, để thực hiện việc giám thị trong phạm vi rộng lớn ấy; hoặc là ít nhất ông ta cũng phải có khả năng phân biệt và chọn ra được trong đám đông các thần dân của mình không những một số đông những người có khả năng và trung thực nhất thích hợp cho việc điều hành mỗi nhánh hành chính công cộng dưới sự giám sát và kiểm tra, mà cả một thiểu số những người có đức hạnh và tài năng phi phàm, những người có thể tin cậy để chẳng những được giao công việc mà không cần sự giám sát kia, mà còn chính mình thi hành sự giám sát ấy đối với những người khác. Các khả năng và nghị lực đòi hỏi để hoàn tất nhiệm vụ trên một cách có thể chấp nhận được là quá phi thường, khiến thật khó tưởng tượng có một ông vua chuyên chế tốt nào như chúng ta giả định có thể sẵn sàng làm được, trừ phi chỉ để tránh những cái xấu không dung thứ được và chuẩn bị quá độ tới một cái gì đó còn ở phía trước. Nhưng vẫn có thể tranh luận được mà không cần phải tính đến những thứ mênh mông thiên địa ấy. Giả sử rằng khó khăn này được khắc phục, lúc ấy chúng ta ắt sẽ có cái gì? Một người có tinh thần tích cực siêu phàm điều hành toàn hộ hoạt động của một dân tộc thụ động về tinh thần. Tính thụ động của họ hàm chứa ngay trong ý tưởng về một quyền lực độc đoán. Toàn thể dân tộc cũng như mỗi cá nhân hợp thành nó không có tiếng nói tiềm năng nào về vận mệnh của chính mình. Họ không được thực hành ý chí của mình về phương diện quyền lợi tập thể của họ. Mọi thứ đều được quyết định thay cho họ bởi một ý chí không phải của chính họ và việc họ không tuân phục sẽ là tội lỗi theo luật pháp.

Loại người nào có thể hình thành dưới một chế độ như vậy? Tư tưởng của họ và các năng lực tích cực của họ sẽ đạt được sự phát triển nào dưới chế độ ấy? Về mặt thuần túy lý thuyết, có lẽ họ sẽ được phép suy luận nghiên cứu, chừng nào các suy xét của họ không đụng đến chính trị hoặc không có tí chút nào liên hệ với việc thực hành chúng. Trong các hoạt động thực tiễn thì nhiều nhất là họ được cho phép kiến nghị; ngay cả dưới triều các vua chuyên chế ôn hòa nhất cũng không có ai ngoài những người được thừa nhận và có tiếng tăm cao nhất là có thể hy vọng các đề nghị của họ được những kẻ điều hành công việc biết tới, nhưng cũng ít có cơ may được xem xét. Trong trường hợp đó, một người phải có sở thích phi thường về hoạt động trí tuệ cho riêng mình mới bắt bản thân mình chịu khó suy nghĩ khi biết rằng suy nghĩ của mình sẽ không thể có một hiệu quả nào đối với thế giới bên ngoài, hoặc mới tự rèn luyện những khả năng chẳng có chút cơ may nào được phép thực hiện. Hoạt động tinh thần chỉ có được động cơ kích thích đầy đủ nơi một ít người có đầu óc của một thế hệ, khi kết quả của nó có triển vọng thực hiện cho một số ứng dụng thực tế nào đó. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là toàn thể dân tộc bị thiếu thốn trí tuệ. Các sinh hoạt làm ăn bình thường nhất định phải được mỗi cá nhân hay gia đình thực hiện; các hoạt động này sẽ phát huy một số khả năng và trí tuệ nào đó trong phạm vi hạn hẹp nhất định của các ý tưởng. Có thể sẽ có một giai tầng chọn lọc gồm các nhà bác học, những người vun trồng khoa học hướng tới ứng dụng vật chất của nó hay nhằm thú vui theo đuổi công việc. Sẽ có một hệ thống quan liêu; và những kẻ được huấn luyện cho hệ thống đó sẽ được dạy cho biết tối thiểu cũng vài châm ngôn thực dụng về chính quyền và hành chính công cộng. Có thể, và thường là đúng như vậy, sẽ có một tổ chức có hệ thống của sức mạnh tinh thần ưu tú nhất trong nước về một phương hướng đặc biệt nào đó (thông thường là quân phiệt) nhằm đề cao sự vĩ đại của ông vua chuyên chế. Nhưng công chúng rộng rãi sẽ không có thông tin cũng như sẽ không có hứng thú với mọi chuyện thực hành lớn lao hơn; hoặc giả họ có biết chút gì về những chuyện này thì lại là biết rất nông cạn hời hợt, giống như những thợ cơ khí chưa từng cầm dụng cụ trong tay.

Không phải họ sẽ chỉ bị tổn thương riêng về trí tuệ mà thôi. Các khả năng đạo đức của họ cũng sẽ bị cằn cỗi. Bất cứ ở đâu mà phạm vi hành động của con người bị hạn chế một cách nhân tạo thì các cảm xúc của họ cũng bị thu hẹp lại và còi cọc đi theo cùng tỷ lệ. Hành động là thức ăn nuôi dưỡng cảm xúc, ngay cả tình cảm gia đình cũng được vun bồi bằng các giúp đỡ tự nguyện. Để cho một người không có việc gì làm nhằm phục vụ cho đất nước của mình thì anh ta cũng sẽ không quan tâm đến chuyện đó nữa. Lời người xưa nói rằng dưới chính thể chuyên chế, tối đa cũng chỉ có được một nhà ái quốc, đó chính là ông vua chuyên chế; và lời nói ấy là sự đánh giá chính xác các hiệu quả của sự khuất phục tuyệt đối, dù là đối với một ông chủ tốt và khôn ngoan. Còn lại tôn giáo: ít nhất cũng có thể tưởng rằng ở đây có một chỗ dựa tin cậy để mở mắt và khai trí cho những người bị chà đạp dưới gót chân. Thế nhưng tôn giáo, ngay cả khi giả thiết nó thoát khỏi bị xuyên tạc để phục vụ cho chế độ chuyên chế đi nữa, trong các hoàn cảnh ấy cũng không còn là mối quan tâm xã hội nữa và thu hẹp lại trong quan hệ riêng tư giữa một cá nhân với Đấng Sáng thế của anh ta, ở đó chuyện an nguy chỉ là việc cứu vớt linh hồn cá nhân mà thôi. Tôn giáo trong hình hài như thế hoàn toàn hòa hợp với chủ nghĩa vị kỷ tư lợi và hẹp hòi nhất, nó đồng nhất hóa người sùng đạo ở trong một chút ít cảm xúc về những người đồng loại với anh ta như một lạc thú duy cảm.

Một chế độ chuyên chế tốt có nghĩa là một chính thể, trong đó dù ở chừng mực phụ thuộc vào ông vua chuyên chế, các quan chức nhà nước không thực hiện các cuộc đàn áp công khai, nhưng điều khiển mọi quyền lợi tập thể của dân chúng thay cho dân chúng, suy nghĩ mọi chuyện liên quan đến quyền lợi tập thể thay cho dân chúng, tâm trí của dân chúng được hình thành bởi sự từ bỏ năng lực của chính mình và thuận tình với sự từ bỏ ấy. Phó mặc mọi thứ cho Chính quyền giống như phó thác cho mệnh trời cũng đồng nghĩa với việc không quan tâm gì đến những thứ ấy và cam chịu chấp nhận mọi kết quả, dù không vừa ý, như các trừng phạt của Tự nhiên. Ngoại trừ một số ít những người ham học hỏi có mối quan tâm trí tuệ đến việc suy luận cho riêng mình, thì trí tuệ và tình cảm của toàn thể dân chúng đều hàng phục trước các quan tâm vật chất; khi các quan tâm vật chất ấy được đảm bảo thì tâm trí và tình cảm của họ hướng tới các cuộc vui chơi và trang sức cho cuộc sống riêng tư. Nói vậy tức là nói rằng, nếu các chứng cứ lịch sử có một giá trị nào đó, một kỷ nguyên suy thoái của dân tộc đã đến: ấy là giả sử như dân tộc đã có cái gì đó đạt được rồi để mà suy thoái từ cái đó. Nếu dân tộc ấy chưa từng vươn lên cao hơn điều kiện của một dân tộc phương Đông thì trong điều kiện ấy họ sẽ tiếp tục trì trệ. Nhưng nếu họ, giống như Hy Lạp hay La Mã, đã từng thực hiện được cái gì đó cao hơn, thông qua năng lực, lòng yêu nước và sự mở mang trí tuệ, như là các phẩm chất dân tộc và là thành quả của riêng nền tự do, thì họ sẽ rơi trở lại vào tình trạng phương Đông. Và tình trạng ấy không có nghĩa là một sự thanh bình ngu xuẩn với độ an toàn kháng cự lại được với sự đổi thay còn tồi tệ hơn nữa; nó thường có nghĩa là sẽ bị giày xéo, bị chinh phục và bị biến thành bầy tôi tớ nô lệ, hoặc là bởi một ông vua chuyên chế mạnh hơn, hoặc là bởi một dân tộc man rợ ở gần nhất vẫn còn giữ được năng lực của tự do cùng với sự dã man hoang dại của nó.

Đó không phải chỉ đơn thuần là các xu thế tự nhiên mà là các tất yếu vốn gắn kết cố hữu với chính thể chuyên chế; từ đó sẽ chẳng có lối thoát nào, trừ phi đến lúc chế độ chuyên chế thuận nguyện thôi không là chế độ chuyên chế nữa; đến lúc mà ông vua chuyên chế tốt theo giả định tự từ bỏ quyền lực của mình và tuy còn giữ quyền lực dự phòng nhưng cho phép công việc chung của chính quyền được triển khai cứ như là dân chúng tự quản thực sự. Dù cho khả năng xảy ra chuyện này có ít bao nhiêu đi nữa, chúng ta vẫn có thể hình dung một ông vua chuyên chế tuân theo rất nhiều quy phạm và sự kiềm chế của chính thể lập hiến, ông ta có thể cho phép một quyền tự do báo chí và thảo luận để công luận có thể hình thành và phát biểu về các công việc quốc gia. Ông ta có thể chịu để cho các lợi ích địa phương được dân chúng tự mình điều hành mà không có sự can thiệp của chính quyền trung ương. Ông ta có thể cho phép kề cận bên mình một hay nhiều hội đồng cai trị, được toàn thể hay một bộ phận nào đó của quốc gia chọn lựa ra, nhưng vẫn giữ lại trong tay quyền đánh thuế và quyền lực lập pháp tối cao cũng như quyền uy hành pháp. Giả sử như ông ta có hành động như thế và từ bỏ quyền chuyên chế xa đến thế thì ông ta đã loại bỏ được phần lớn những đặc tính xấu xa của chế độ chuyên chế. Tính tích cực chính trị và khả năng tham gia các hoạt động công cộng gia tăng trong thực thể quốc gia mà không còn bị ngăn cản nữa và một công luận đã có thể tự hình thành chứ không phải chỉ là tiếng dội lại của chính quyền. Thế nhưng một cải tiến như thế sẽ là sự khởi đầu cho những khó khăn mới. Cái công luận độc lập với nền chuyên chính quân chủ ấy sẽ phải hoặc là về phe với ông ta hoặc chống lại ông ta: nếu không là cái này thì là cái kia. Mọi chính thể đều làm cho nhiều người không hài lòng, những người này bây giờ có cơ quan ngôn luận chính thức có thể bày tỏ các cảm xúc của họ, các ý kiến ngược lại với các biện pháp của chính quyền sẽ thường xuyên được biểu lộ. Liệu nhà vua sẽ làm gì, nhỡ khi các ý kiến không thuận ấy lại chiếm đa số? Liệu ông ta có thay đổi đường lối của mình hay không? Liệu ông ta có chiều theo ý dân chúng hay không? Nếu là có thì ông ta sẽ không còn là một ông vua chuyên chế nữa mà là một quân vương lập hiến: trở thành một cơ quan hay một thủ tướng của nhân dân, chỉ khác là không thể bị bãi chức mà thôi. Nếu là không thì ông ta hoặc là sẽ phải triệt hạ phe đối lập bằng quyền lực chuyên chế của mình, hoặc là sẽ phát sinh một sự đối kháng thường trực giữa dân chúng và một cá nhân, sự đối kháng ấy chỉ có thể có một kết cục khả dĩ. Ngay như một nguyên lý tôn giáo của sự tuân phục thụ động và một “phép thần” cũng chẳng ngăn được lâu những hệ quả tự nhiên của một tình thế như vậy. Nhà vua sẽ phải chịu thua và thích ứng với các điều kiện của một chế độ quân chủ lập hiến hoặc là nhường chỗ cho một người khác. Như thế thì chính thể chuyên chế sẽ chủ yếu chỉ còn là trên danh nghĩa, sẽ chẳng có được bao nhiêu lợi thế giả định là của nền quân chủ độc đoán; trong khi ấy nó lại thể hiện các lợi thế của chính thể tự do ở mức độ rất không hoàn hảo; bởi vì dù cho các công dân có được hưởng quyền tự do trên thực tế nhiều đến bao nhiêu đi nữa, họ vẫn không bao giờ có thể quên được rằng họ được dung thứ cho phép có quyền ấy và họ phải nhờ vào một sự nhân nhượng có thể bị lấy lại bất cứ lúc nào trong hiện trạng hiến pháp nhà nước, rằng theo pháp luật họ vẫn là những kẻ nô lệ, dẫu là của một ông chủ khôn ngoan hoặc hay gia ân.

Cũng chẳng đáng ngạc nhiên lắm, nếu các nhà cải cách thiếu kiên nhẫn và bị thất vọng phải rên rỉ vì những trở ngại chống lại các cải tiến công cộng có lợi nhất, những trở ngại gây ra bởi sự ngu dốt, sự lãnh đạm vô tình, tính khó bảo, tính ngoan cố tai ác của dân chúng, các tổ hợp đồi bại của các tính tư lợi đầy vị kỷ được trang bị bởi vũ khí hùng mạnh do các thiết chế tự do cung cấp, các nhà cải cách ấy đôi khi luyến tiếc một bàn tay sắt sẽ san bằng tất cả những trở ngại đó và ép buộc một tập hợp dân chúng cứng đầu chịu cai trị tốt hơn nữa. Tuy nhiên, (ta hãy bỏ qua một bên thực tế là thỉnh thoảng đôi khi cũng có một ông vua chuyên chế triệt bỏ sự lạm quyền, nhưng sẽ có chín mươi chín ông vua chuyên chế khác chẳng làm gì cả ngoài việc tạo nên thói lộng quyền ấy) những ai nhìn theo hướng như thế để mong thực hiện các kỳ vọng của mình, thực ra đã bỏ mất một yếu tố mang tính nguyên tắc của ý tưởng về chính thể tốt, đó là sự cải tiến bản thân dân chúng. Một trong các lợi ích của nền tự do là kẻ cầm quyền không thể làm ngơ trước ý kiến của dân chúng và không thể cải thiện các công chuyện của dân chúng thay cho họ mà lại không cải thiện họ. Nếu như giả sử rằng dân chúng có thể được cai trị tốt bất chấp ý nguyện của họ thì chính thể tốt của họ cũng sẽ không kéo dài được lâu hơn là nền tự do của một dân chúng được giải phóng nhờ quân đội nước ngoài mà không có sự hợp tác của chính họ. Quả đúng là một ông vua chuyên chế có thể giáo dục một tập hợp dân chúng, và nếu quả có làm như thế thật thì đó sẽ là sự tạ lỗi tốt nhất cho nền chuyên chế của ông ta. Thế nhưng mọi nền giáo dục đều nhằm làm cho con người không giống với các cỗ máy, nên về lâu về dài giáo dục sẽ làm họ đòi hỏi được tự mình kiểm soát các hành động của mình. Các triết gia hàng đầu của Pháp ở thế kỷ XVIII đã từng được giáo dục bởi các tín đồ dòng tu Jesuit. Có vẻ như ngay cả nền giáo dục Jesuit thực ra cũng bồi dưỡng lòng ham muốn tự do. Bất cứ cái gì tiếp thêm sinh lực, dù ít đến đâu, cho các khả năng, cũng sẽ tăng thêm lòng ham muốn nhằm thực hành nhiều hơn các khả năng ấy mà không bị ngăn trở; một nền giáo dục đại chúng sẽ là thất bại, nếu nó giáo dục dân chúng tới bất kỳ trạng thái nào đó mà không phải là trạng thái gây được cho họ lòng ham muốn và đòi hỏi.

Tôi hoàn toàn không có ý lên án sự thừa nhận quyền lực chuyên chế dưới hình thức một nền độc tài tạm thời trong những trường hợp cực kỳ khẩn cấp. Xưa kia các dân tộc tự do cũng đã từng ban phong quyền lực như thế theo sự chọn lựa của chính mình, như dùng một phương thuốc cần thiết chữa bệnh cho thể trạng tổ chức chính trị, khi căn bệnh không thể điều trị được bằng các phương tiện ít bạo lực hơn. Nhưng việc chấp nhận chế độ độc tài, ngay cả trong một thời gian giới hạn dứt khoát, cũng chỉ có thể được biện minh, nếu như nhà độc tài sử dụng toàn bộ quyền lực nắm được nhằm san bằng trở lực đã tước đoạt quyền hưởng thụ tự do của dân tộc, tương tự như Solon hay Pittacus(*). Một chính thể chuyên chế tốt là một ý tưởng hoàn toàn trá ngụy (ngoại trừ như phương tiện cho mục đích nhất thời nào đó), trên thực tế nó trở thành những điều hão huyền vô nghĩa và nguy hiểm nhất. Cái xấu hướng tới cái xấu, chế độ chuyên chế tốt ở một nước có đôi chút tiến bộ văn minh sẽ có hại nhiều hơn là ở một nước tồi tệ; bởi vì nó làm suy nhược và giảm sút tư tưởng, tình cảm và năng lực của dân chúng. Nền chuyên chế của Augustus đã chuẩn bị dân chúng La Mã cho Tiberius(*). Nếu toàn thể sắc thái tính cách của dân chúng trước tiên đã không bị hàng phục suốt gần hai thế hệ của tình trạng nô lệ êm đềm ấy, hẳn là họ đã còn đủ tinh thần để nổi loạn chống lại chế độ nô lệ ngày càng trở nên ghê tởm hơn.

Không có khó khăn gì để chỉ ra rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất là hình thức chính thể trong đó chủ quyền, hay quyền kiểm soát tối cao như một phương sách cuối cùng, được trao cho toàn thể khối tập hợp cộng đồng; mỗi một công dân không chỉ có tiếng nói trong việc vận dụng chủ quyền cơ bản ấy, mà còn ít nhất cũng thỉnh thoảng được yêu cầu tham gia thực sự vào việc cai trị bằng cách đích thân thực hiện một chức năng nào đó, mang tính địa phương hay tổng quát.

Để kiểm nghiệm giả thiết này thì trong việc khảo sát cần phải dẫn lại hai nhánh phân định phẩm chất tốt của chính thể đã được nêu ra ở chương trước; bản thân sự thẩm tra tính tốt xấu của một chính thể sẽ tiện lợi phân chia ra hai phần: chính thể ấy thúc đẩy đến đâu việc điều hành các hoạt động của xã hội bằng phương tiện là các tính năng hiện tồn của các thành viên như đạo đức, trí tuệ và tính tích cực; và hiệu quả của chính thể ra sao trong việc cải tiến hay làm hư hỏng các tính năng ấy.

Chắc không cần phải nói rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất không hàm nghĩa là hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong bất cứ tình trạng văn minh nào, mà hàm nghĩa một hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong những hoàn cảnh nhất định, một hình thức có được nhiều nhất các hậu quả lợi ích, trước mắt cũng như trong triển vọng lâu dài. Một chính thể hoàn toàn mang tính nhân dân chỉ là một tổ chức xã hội có khả năng nhận ra mọi đòi hỏi của đặc tính ấy. Tính ưu việt thể hiện trong cả hai bộ phận phân chia tính ưu tú của một hiến pháp chính trị. Một chính thể vừa cai trị tốt, vừa thúc đẩy các hình thức tốt hơn và cao hơn của tính cách dân tộc, sẽ được tán thành nhiều hơn so với bất cứ tổ chức xã hội nào khác.

Tính ưu việt của chính thể có liên quan đến hiện trạng an sinh dựa trên hai nguyên tắc của tính chân lý phổ quát và tính có thể áp dụng được, cũng như của các đề xuất tổng quát bất kỳ có thể đặt vào trong mối quan hệ với các hoạt động của con người. Nguyên tắc thứ nhất là, các quyền và lợi ích của mỗi cá nhân bất kỳ chỉ được an toàn không bị coi thường khi bản thân cá nhân ấy có khả năng và thường xuyên có ý định đương đầu bảo vệ chúng. Nguyên tắc thứ hai là, sự phồn vinh chung sẽ đạt tới tầm cao hơn và được phân phối rộng rãi hơn, tỷ lệ với số lượng và sự đa dạng của các năng lực cá nhân tham dự vào việc thúc đẩy sự phồn vinh ấy.

Đặt hai đề xuất đó trong một dạng chuyên biệt hơn cho việc áp dụng trong hiện tại; con người chỉ được an toàn khỏi bàn tay gây ác của các kẻ khác theo một tỷ lệ với việc họ có được quyền lực để tự bảo vệ mình (self-protecting); và họ chỉ đạt được kết quả ở mức độ cao trong cuộc tranh đấu với Thiên nhiên, theo một tỷ lệ với việc họ được tự lập (self-dependent), dựa vào việc họ có thể làm được gì, hoặc riêng rẽ hoặc phối hợp, hơn là dựa vào những cái người khác làm cho họ.

Đề xuất thứ nhất – rằng mỗi người là người bảo vệ an toàn duy nhất cho các quyền và lợi ích của bản thân mình – là một trong những châm ngôn cơ bản của sự khôn ngoan mà bất cứ ai có khả năng điều khiển công việc của bản thân mình cũng đều hành động hoàn toàn theo nó trong mọi chuyện phải tự quan tâm tới mình. Nhiều người rất không ưa châm ngôn này như một học thuyết chính trị và thích thóa mạ nó như một học thuyết hoàn toàn ích kỷ. Chúng ta có thể trả lời những người này rằng, bất cứ khi nào chấm dứt cái sự thật rằng loài người theo lệ thường vẫn ưu ái bản thân mình hơn những người khác, ưu ái những người gần gũi với mình nhiều hơn những người xa xôi, thì kể từ lúc ấy chế độ Cộng sản sẽ không chỉ là có thể áp dụng được mà còn là hình thức xã hội duy nhất có thể biện minh được; và tới lúc mà thời điểm ấy đến thì chế độ đó nhất định sẽ có hiệu quả. Về phần riêng tôi, là người không tin vào tính hoàn toàn vị kỷ, tôi dễ dàng thú nhận rằng chế độ Cộng sản có thể áp dụng được ngay cả bây giờ trong giới tinh hoa (elite) của loài người, và rồi sẽ trở thành có thể áp dụng được cho phần còn lại của loài người. Thế nhưng ý kiến này lại không phổ biến chút nào trong những người bảo vệ các thiết chế hiện hữu, những người cho học thuyết về tính ưu trội chung của tính tư lợi là sai lầm. Tôi nghiêng về ý nghĩ là thực ra họ cũng tin rằng đa số con người quan tâm đến bản thân mình trước khi nghĩ đến người khác. Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải nhấn mạnh sự khẳng định như thế để ủng hộ cho yêu sách mọi người cùng tham gia vào chủ quyền tối cao. Chúng ta không cần phải giả định rằng khi quyền lực thuộc về một giai cấp độc nhất nào thì giai cấp ấy sẽ hy sinh quyền lợi của các giai cấp khác cho giai cấp của mình một cách chủ tâm cố ý: sẽ là đủ khi khẳng định rằng lợi quyền của giai cấp bị loại ra luôn có nguy cơ bị bỏ qua khi vắng mặt những người bảo vệ tự nhiên của mình; còn nếu như lợi quyền ấy có được ngó tới thì lại được nhìn bằng con mắt rất khác với con mắt của những người liên can trực tiếp đến nó.

Thí dụ như ở đất nước này chẳng hạn, cái được gọi là các giai cấp cần lao có thể được xem như là bị loại ra khỏi mọi sự tham gia trực tiếp vào chính quyền. Tôi không tin rằng nói chung các giai cấp được tham gia trực tiếp vào chính quyền lại có ý định hy sinh các giai cấp cần lao cho bản thân họ. Đã có lần họ từng có ý định ấy; bằng chứng là các mưu toan dai dẳng kéo dài nhằm hạ thấp tiền lương bằng luật pháp. Thế nhưng ngày nay khuynh hướng thông thường của họ là hoàn toàn ngược lại: họ tự nguyện thực hiện các hy sinh đáng kể, đặc biệt là các quyền lợi tài chính của họ, vì lợi ích của các giai cấp cần lao; mà họ thường sai lầm làm phúc quá rộng rãi và bừa bãi. Tôi cũng không tin rằng trong lịch sử lại có nhà cầm quyền bị thúc đẩy bởi động cơ chân thành mong muốn thực hiện nghĩa vụ của họ đối với bộ phận dân chúng nghèo khó hơn trong nước họ. Mà bây giờ cũng có Nghị viện nào, hay hầu như mỗi thành viên nào của nó, lại chịu để mắt tới bất cứ vấn đề gì bằng cặp mắt của một người lao động? Mỗi khi có vấn đề nào nổi lên, mà trong đó giới lao động có mối quan tâm, thì chẳng phải là nó sẽ được xem xét dưới quan điểm bất kỳ nào đó, chỉ trừ quan điểm của những người làm thuê đó hay sao? Tôi không nói là quan điểm của những người lao động trong các vấn đề ấy nói chung gần với chân lý hơn là các quan điểm khác, tuy nhiên khi quả thực cũng rất gần; nhưng trong mọi trường hợp, nó phải được trân trọng lắng nghe, chứ không phải như tình trạng bây giờ: không chỉ ngoảnh mặt đi mà còn không đếm xỉa đến nữa. Thí dụ như vấn đề bãi công chẳng hạn, khó tin được liệu có một ai trong các thành viên lãnh đạo của thượng viện hay hạ viện lại không tin chắc rằng lẽ phải hoàn toàn ở về phía các ông chủ, rằng ý kiến của những người lao động chỉ là điều ngớ ngẩn. Những ai đã nghiên cứu vấn đề biết rất rõ chuyện này phổ biến đến đâu; nếu giả sử như tiếng nói của các tầng lớp bãi công được lắng nghe ở Quốc hội thì cung cách tranh luận quan điểm hẳn sẽ khác đi biết bao, hẳn sẽ bớt nông cạn hời hợt đi biết nhường nào.

Một điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động của con người là: không có ý đồ nào nhằm bảo vệ quyền lợi cho người khác, dù chân thành đến đâu đi nữa, lại có thể làm họ tự trói buộc chân tay mình. Một sự thật còn hiển nhiên hơn nữa là chỉ có bằng chính bàn tay của mình, con người mới có thể cải thiện đáng kể và lâu bền cho hoàn cảnh sống của mình. Thông qua ảnh hưởng liên kết của hai nguyên lý đó mà mọi cộng đồng tự do mới tránh được nhiều hơn khỏi bất công và tội ác xã hội, và đạt được nhiều hơn phồn vinh thịnh vượng so với các cộng đồng khác, hoặc so với chính bản thân họ, sau khi họ bị mất đi tự do của mình. Tương phản giữa các quốc gia tự do trên thế giới trong lúc nền tự do đang tồn tại so với các thần dân cùng thời đại ở các chế độ chuyên chế quân chủ hay chuyên chế tập đoàn: các đô thị Hy Lạp so với các tiểu bang (satrapies) Ba Tư; các bang cộng hòa Italia và các đô thị tự do xứ Flanders và Germany so với các lãnh địa phong kiến của châu Âu; Thụy Sĩ, Hà Lan và Anh so với Áo hay nước Pháp phản cách mạng. Sự thịnh vượng vượt trội của các quốc gia tự do là quá hiển nhiên đến nỗi chẳng bao giờ có thể chối cãi; trong khi đó tính ưu tú về thể chế và quan hệ xã hội tốt của họ được minh chứng bởi sự thịnh vượng và còn được biểu hiện rõ ràng trên mỗi trang lịch sử. Nếu chúng ta so sánh, không phải là một thời đại này với thời đại khác, mà là các chính thể khác nhau cùng tồn tại trong một thời đại, không một mức độ hỗn loạn nào được công khai biết đến ở trong các quốc gia tự do, dù có phóng đại lên nữa, lại có thể so sánh được ở cùng một thời điểm với sự chà đạp đầy miệt thị lên đám đông dân chúng diễn ra tràn lan khắp toàn bộ đời sống của các nước quân chủ, hoặc với một sự bạo ngược cá nhân đáng kinh tởm xuất hiện còn nhiều hơn chuyện thường ngày dưới những hệ thống cướp bóc được gọi là phân bố ngân sách và trong sự bí mật của các phiên tòa thật ghê sợ.

Cần phải thừa nhận rằng những lợi ích của nền tự do, như người ta được hưởng cho tới nay, có được là nhờ vào sự mở rộng đặc quyền ấy chỉ cho một bộ phận của cộng đồng; và rằng một chính thể mà những lợi ích đó được mở rộng không thiên vị cho mọi người vẫn còn là điều mơ ước chưa được thực hiện. Dù rằng mỗi bước tiến lại gần mục tiêu ấy đều có một giá trị độc lập và trong nhiều trường hợp không thể nào làm được nhiều hơn thế trong thực trạng của sự cải tiến tổng thể hiện nay, việc tham gia của tất cả mọi người vào các lợi ích đó là một quan niệm hoàn mỹ lý tưởng của chính thể tự do. Thuận theo tỷ lệ với việc có người nào đó, dù là ai đi nữa, bị loại khỏi nền tự do ấy, thì lợi quyền của những người bị loại đó sẽ bị bỏ rơi không có đảm bảo được chấp thuận như với những người khác, và bản thân họ cũng sẽ bị thiệt thòi về cơ may và sự khích lệ để cho họ sử dụng năng lực và lợi ích của bản thân và của cộng đồng, mà sự phồn vinh chung luôn luôn tỷ lệ thuận theo đó.

Đó là xét về phương diện an sinh hiện tại, sự điều hành tốt công việc của thế hệ bây giờ. Nếu ta chuyển sang vấn đề ảnh hưởng của hình thức chính thể lên tính cách, ta sẽ thấy tính ưu việt của chính thể nhân dân so với mọi chính thể khả dĩ khác còn mang tính quyết định và rõ ràng hơn nữa.

Vấn đề này thực ra phụ thuộc vào một vấn đề còn cơ bản hơn, tức là, đối với sự tốt đẹp chung cho nhân loại thì cái nào trong hai loại tính cách phổ biến phải là cái đáng mong muốn nhất để nó chiếm được ưu thế – loại tính tích cực hay loại tính thụ động; tức là cái chống lại cái ác hay là cái dung dưỡng cái ác; cái khuất phục theo hoàn cảnh hay cái nỗ lực bắt hoàn cảnh khuất phục theo mình.

Thói thường của các nhà đạo đức và thiện cảm chung của loài người thiên vị về phía loại tính thụ động. Các tính cách mạnh mẽ có thể được ngưỡng mộ, nhưng những người ngoan ngoãn dễ bảo là những người được người ta ưa thích hơn. Tính thụ động của những người hàng xóm tăng thêm cảm giác an toàn cho ta và có lợi cho tính làm theo ý mình của ta. Các tính cách thụ động, nếu là trường hợp ta không cần đến tính tích cực của chúng, có vẻ như không là vật cản trên đường ta đi. Một tính cách nhu thuận không phải là kẻ cạnh tranh nguy hiểm. Thế nhưng không có gì chắc chắn hơn rằng sự cải tiến trong hoạt động của nhân loại hoàn toàn là công trình của các tính cách không nhu thuận; và hơn thế nữa, đòi hỏi một trí tuệ tích cực có phẩm hạnh kiên nhẫn là dễ dàng hơn nhiều so với đòi hỏi một trí tuệ thụ động có phẩm hạnh mạnh mẽ.

Trong ba phẩm chất tinh thần khác nhau, trí tuệ, tính thực hành và đạo đức, không bao giờ có hoài nghi nào đối với hai thứ đầu tiên về việc cái nào trong hai loại tính phải có ưu thế. Mọi tính ưu việt về trí tuệ đều là kết quả của nỗ lực tích cực. Tính dám làm, khát vọng tiến lên, nỗ lực thử nghiệm và làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác, đó là cha đẻ ngay cả của các tài năng lý thuyết, nhưng chủ yếu là của các tài năng thực hành. Sự trau dồi trí tuệ tương hợp với một kiểu khác hơn là cái được mô tả mơ hồ thuộc về một tâm hồn đã dừng lại ở chuyện vui chơi hay ở việc thưởng thức đơn thuần. Tiêu chuẩn về sự suy nghĩ thực sự và mạnh mẽ, sự suy nghĩ xác định các chân lý chứ không phải các giấc mộng mơ màng, chính là sự áp dụng có kết quả vào thực hành. Ở đâu mà không có các mục đích ấy nhằm đem lại cho sự suy tư một tính xác định, một độ chính xác và một ý nghĩa dễ hiểu, thì ở đó chẳng sản sinh ra được cái gì hơn là siêu hình học thần bí của Pythagore hay kinh Vệ Đà. Về phương diện cải tiến mang tính thực hành thì điều này còn hiển nhiên hơn nữa. Một tính cách cải thiện đời sống con người là tính cách chiến đấu với các xu thế và sức mạnh thiên nhiên chứ không phải các tính cách hàng phục chúng. Các phẩm chất tự làm ra lợi ích đều nằm ở phía tính cách tích cực và mạnh mẽ, và các tập quán cũng như hành vi thúc đẩy lợi thế cho mỗi cá nhân thành viên của cộng đồng ít nhất cũng phải là bộ phận của những cái góp phần chủ yếu vào mục tiêu đưa toàn thể cộng đồng tiến lên.

Tuy nhiên về điểm tính đạo đức được ưa chuộng hơn thì có vẻ như thoạt nhìn đã thấy có chỗ đáng hoài nghi. Tôi không định viện dẫn tới cảm xúc tôn giáo nói chung khá thiên về tính cách thụ động như tính cách dễ hài hòa hơn với sự phục tùng theo ý nguyện thiêng liêng. Ki Tô giáo cũng như các tôn giáo khác đã bồi dưỡng tình cảm ấy; thế nhưng chính đặc quyền của Ki Tô giáo nhìn nhận chuyện này cũng như nhìn nhận những hiểu sai khác, là nó có khả năng từ bỏ chúng. Nếu xét một cách trừu tượng tách khỏi tôn giáo, thì một tính cách thụ động mà khuất phục trước trở ngại thay vì ráng vượt qua chúng, có thể thực không có ích gì lắm cho người khác hơn là cho bản thân, nhưng người ta có thể chờ đợi là ít nhất nó cũng vô thưởng vô phạt. Tự bằng lòng luôn được xếp vào hàng các phẩm hạnh đạo đức. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng tự bằng lòng nhất thiết và đương nhiên đi kèm với tính cách thụ động. Ở đâu mà tồn tại khát vọng muốn có một lợi thế còn chưa sở hữu, tâm trí lại không sở hữu nó một cách tiềm năng bằng chính sức lực của mình, cái tâm trí ấy sẽ có khuynh hướng nhìn những ai sở hữu nó với sự căm ghét ác độc. Một người cố vùng vẫy với hy vọng sẽ cải tiến được hoàn cảnh của mình sẽ là người có thiện cảm đối với những người khác đang bận rộn lo toan, hay đã thành đạt, cũng cùng trong việc theo đuổi ấy. Và ở đâu mà có đa số người bận rộn lo toan thì ở đó những ai chưa đạt được mục đích sẽ có được sự đồng cảm bởi tập quán của xứ sở và coi sự thất bại của mình là do còn thiếu cố gắng, hay chưa gặp thời vận, hoặc do kém may mắn. Thế nhưng kẻ nào ham muốn cái người khác sở hữu mà không chịu bỏ sức lực cố đạt được nó, thì hoặc là sẽ không ngớt càu nhàu trách số phận không đem lại cho anh ta cái mà anh ta chẳng cố làm cho mình, hoặc là sẽ đầy hằn học ghen tỵ với những người sở hữu cái mà anh ta muốn có. Tỷ lệ thuận với việc xem sự thành đạt trong cuộc sống là kết quả của số phận hay sự ngẫu nhiên chứ không phải do nỗ lực, mà tính ghen ghét cũng phát triển cùng với tỷ lệ ấy như một tính cách dân tộc. Bộ phận hay ghen ghét nhất của toàn thể loài người là những người phương Đông. Trong cái nhìn của các thầy dạy đạo đức phương Đông, trong các câu chuyện kể phương Đông, kẻ ghen ghét là khá nổi bật. Trong đời sống thực, kẻ ghen ghét là nỗi kinh hoàng cho tất cả những ai sở hữu bất cứ cái gì đáng mong muốn, dù đó là một lâu đài, một đứa con kháu khỉnh, hay thậm chí cả sức khỏe và tinh thần tốt: việc tạo nên định kiến lan truyền khắp nơi về con mắt của quỷ dữ được coi là hiệu quả của con mắt nhòm ngó của kẻ ghen ghét. Vị trí kế tiếp với những người phương Đông về mặt ghen ghét là một số người Nam Âu. Những người Tây Ban Nha đuổi bám theo tất cả các vĩ nhân của họ với sự ghen ghét, đầu độc cuộc sống của họ và thường thành công trong việc sớm làm cho sự thành đạt của họ phải dừng lại(*). Với người Pháp, đương nhiên cũng là một dân tộc phương nam, sự giáo dục cặp đôi của nền chuyên chế và Công giáo, bất chấp tính khí bốc đồng của họ, đã làm cho sự phục tùng và tính nhẫn nại trở thành tính cách chung của dân chúng cũng như tính khôn ngoan và tính ưu tú của họ là quan niệm được thừa nhận rộng rãi: và nếu tính ganh ghét lẫn nhau cũng như ganh ghét với sự ưu việt không lan tràn trong họ nhiều hơn như nó vốn có, thì tình trạng ấy được quy cho nhiều yếu tố khác rất quý giá có được ở trong tính cách Pháp; và chủ yếu là nhờ ở năng lực cá nhân vĩ đại, dù nó có thiếu bền chắc và khá thất thường so với cái hiện diện trong tính tự lập và tính tranh đấu của người Anglo-Saxon, năng lực ấy vẫn biểu lộ ra ở người Pháp hầu như trong mọi hướng mà các thiết chế của họ đã tạo thuận lợi cho nó.

Chắc chắn rằng ở mọi đất nước đều có các tính cách tự bằng lòng, không phải chỉ là không tìm kiếm mà còn không ham muốn cái mà họ không sở hữu, và những tính cách ấy đương nhiên không hàm chứa ác ý đối với những người có vẻ như có nhiều thuận lợi hơn. Thế nhưng nếu đại đa số có vẻ tự bằng lòng thì thực ra lại là sự không bằng lòng kết hợp với tính lười biếng hay tính thiếu nghiêm khắc với bản thân, cái đó làm cho người ta thường ưa kéo những người khác xuống cho bằng mức với mình trong khi không xúc tiến các phương tiện chính đáng để vươn mình lên. Và ngay như nếu chúng ta bó hẹp trong việc xem xét trường hợp của sự tự bằng lòng “trong sạch”, “thanh bần”, ta cũng thấy rằng nó chỉ làm ta ngưỡng mộ, khi có sự thờ ơ thuần túy đối với việc cải tiến các hoàn cảnh bên ngoài, đồng thời lại có sự nỗ lực vươn tới tiến bộ không ngừng trong giá trị tinh thần, hoặc ít nhất cũng có nhiệt tình vô tư trong việc làm lợi cho người khác. Còn một con người tự bằng lòng, hay một gia đình tự bằng lòng, không có tham vọng làm cho bất cứ ai được hạnh phúc hơn, không có tham vọng thúc đẩy điều tốt của đất nước họ hay của hàng xóm láng giềng, hoặc cải tiến bản thân họ thành người đạo đức ưu tú, những người như thế chẳng gây cho ta sự ngưỡng mộ cũng như sự tán đồng. Chúng ta sẽ có lý khi quy kết loại tự bằng lòng ấy là thiên về tính hèn yếu và thiếu tinh thần. Tính tự bằng lòng mà chúng ta tán đồng là khả năng biết đánh giá một cách vui vẻ vô tư giá trị so sánh của các đối tượng ham muốn khác nhau và biết tự nguyện từ bỏ cái nhỏ bé khi nó không tương hợp với cái lớn lao hơn. Tuy nhiên, đây là sự ưu tú có phần tự nhiên hơn của tính cách, nó thuận theo tỷ lệ với việc lo toan bận rộn một cách tích cực nhằm cải tiến tính cách của bản thân hay của nhiều người khác. Con người nào luôn luôn đo lường năng lực của mình trước các khó khăn sẽ hiểu được rằng: các khó khăn nào đối với mình là không thể vượt qua, các khó khăn nào, dẫu có thể vượt qua được, nhưng kết quả sẽ không xứng với cái giá phải trả. Người nào mà tư tưởng và hoạt động luôn được cần đến, thường xuyên được sử dụng trong các việc lớn hữu ích và khả thi, người ấy hơn ai hết không bao giờ lại chịu để cho tâm trí luẩn quẩn trong việc nghiền ngẫm sự bất mãn đối với những cái không đáng trả giá để đạt được, hoặc là không đáng đối với riêng mình. Như vậy tính cách tích cực, tự lập, không những chỉ là tốt nhất về bản chất nội tại, mà có lẽ còn bao gồm tất cả những gì thực sự ưu tú hay đáng mong muốn hiện diện ở trong loại tính cách đối lập lại.

Tính cách cố vươn lên không ngừng của người Anh và người Hoa Kỳ chỉ gợi nên một sự phê phán là họ thường dành sức lực cho những mục tiêu rất thứ yếu. Nhưng, thật ra, nền tảng của những hy vọng tốt đẹp nhất nhằm cải tiến chung cho nhân loại nằm ở trong chính bản thân tính cách ấy. Đã có nhận xét sâu sắc rằng mỗi khi có chuyện gì sai hỏng thì câu nói cửa miệng của dân Pháp là: “Cần phải nhẫn nại” (Il faut de la patience), còn của dân Anh là: “Thật là chuyện đáng xấu hổ” (What a shame!). Người nào nghĩ rằng đó là chuyện đáng xấu hổ mỗi khi thấy có gì xấu – người kết luận ngay rằng cái xấu lẽ ra có thể và cần phải được ngăn chặn, chính là những người rốt cuộc rồi sẽ làm được nhiều nhất để biến cải thế giới này tốt đẹp hơn. Nếu những ham muốn được đặt vào những chỗ thấp kém, nếu họ không vượt xa hơn các tiện nghi vật chất và phô bày sự giàu sang, thì kết quả trước mắt của năng lực sẽ không nhiều hơn là sự mở rộng liên tục quyền lực con người đối với các đối tượng vật chất; nhưng dù có như vậy đi nữa thì cái đó cũng tạo ra không gian và chuẩn bị các dụng cụ vật chất cho các thành tựu trí tuệ và xã hội vĩ đại nhất; chừng nào còn có năng lực thì người ta sẽ sử dụng nó, và nó sẽ được sử dụng càng lúc càng nhiều hơn để hoàn thiện, không phải chỉ riêng các hoàn cảnh ngoại tại, mà còn cả bản chất nội tâm của con người. Tính thụ động, không có chí, không có ham muốn là những cản trở đối với sự cải tiến, những cản trở còn tai hại hơn so với bất cứ định hướng sai nào đối với năng lực; và chỉ thông qua những tính cách đó thôi, một khi chúng tồn tại trong đông đảo quần chúng, thì bất cứ định hướng sai lầm nào của một thiểu số năng động cũng đều dẫn đến những hậu quả khủng khiếp. Chính những cái đó là nguyên nhân chủ yếu vẫn kìm giữ đại đa số nhân loại ở trong trạng thái dã man và bán khai.

Bây giờ thì chẳng còn chút nghi ngờ nào rằng các chính quyền của Một Người hay một Ít Người sẽ ưu ái tính cách thụ động, còn chính quyền của Nhiều Người sẽ ưu ái tính cách tự lập tích cực. Các nhà cầm quyền vô trách nhiệm cần sự im lặng của những kẻ bị trị hơn là cần tới bất cứ tính tích cực nào, ngoại trừ tính tích cực mà họ khống chế được. Tính dễ quy phục theo các mệnh lệnh như điều bắt buộc tự nhiên là bài học mà mọi chính quyền đều cố khắc sâu vào tâm trí những người hoàn toàn không tham gia chính quyền. Ý muốn của kẻ bề trên và luật pháp như là ý muốn của 

3

HÌNH THỨC CHÍNH THỂ MANG TÍNH ĐẠI DIỆN LÀ HÌNH THỨC CHÍNH THỂ LÝ TƯỞNG TỐT ĐẸP NHẤT

Một thời gian khá lâu (có lẽ suốt chiều dài của nền tự do ở nước Anh) người ta thường hay nói rằng nếu đảm bảo có một ông vua chuyên chế tốt thì nền quân chủ chuyên chế sẽ là hình thức chính thể tốt nhất. Tôi xem ý kiến đó là một nhận thức cấp tiến sai lầm nguy hại nhất về vấn đề hình thức chính thể nào là tốt; chừng nào ý kiến này còn chưa bị thanh toán, nó còn gây hại rất lớn cho hết thảy các xem xét về chính thể của chúng ta.

Giả thuyết này cho rằng quyền chuyên chế độc đoán trong tay của một cá nhân xuất chúng sẽ đảm bảo việc thi hành đoan chính và thông minh mọi trách nhiệm của chính thể. Pháp luật tốt sẽ được thiết lập và thi hành, pháp luật xấu sẽ được cải cách; những người tốt nhất sẽ được đặt ở mọi vị trí có trách nhiệm; công lý cũng sẽ được thực thi, các gánh nặng thuế má công cộng sẽ nhẹ nhàng và được áp đặt sáng suốt, mọi nhánh hành pháp đều được điều khiển trong sạch và thông minh, tất cả đều tương xứng với hoàn cảnh đất nước và với mức độ giáo dưỡng trí tuệ và đạo đức mà hoàn cảnh ấy cho phép. Tôi cũng muốn thừa nhận tất cả những cái đó vì mục đích tranh luận; nhưng tôi buộc phải chỉ ra sự nhượng bộ lớn đến chừng nào, và cho thấy danh hiệu đơn giản “một ông vua chuyên chế tốt” khó mà mang lại được các kết quả nói trên. Việc thực hiện các kết quả ấy thực ra hàm ý không phải một ông vua tốt đơn thuần mà phải là một đảng toàn trị. Ông ta phải luôn luôn được thông tin chính xác trong rất nhiều chi tiết về sự quản lý và hoạt động của mọi nhánh hành pháp tại mỗi địa phương của đất nước, và ông ta phải có thể, suốt hai mươi bốn tiếng trong một ngày, chú ý đầy đủ đến hết thảy mọi người, từ vua cho đến người lao động hèn mọn nhất, để thực hiện việc giám thị trong phạm vi rộng lớn ấy; hoặc là ít nhất ông ta cũng phải có khả năng phân biệt và chọn ra được trong đám đông các thần dân của mình không những một số đông những người có khả năng và trung thực nhất thích hợp cho việc điều hành mỗi nhánh hành chính công cộng dưới sự giám sát và kiểm tra, mà cả một thiểu số những người có đức hạnh và tài năng phi phàm, những người có thể tin cậy để chẳng những được giao công việc mà không cần sự giám sát kia, mà còn chính mình thi hành sự giám sát ấy đối với những người khác. Các khả năng và nghị lực đòi hỏi để hoàn tất nhiệm vụ trên một cách có thể chấp nhận được là quá phi thường, khiến thật khó tưởng tượng có một ông vua chuyên chế tốt nào như chúng ta giả định có thể sẵn sàng làm được, trừ phi chỉ để tránh những cái xấu không dung thứ được và chuẩn bị quá độ tới một cái gì đó còn ở phía trước. Nhưng vẫn có thể tranh luận được mà không cần phải tính đến những thứ mênh mông thiên địa ấy. Giả sử rằng khó khăn này được khắc phục, lúc ấy chúng ta ắt sẽ có cái gì? Một người có tinh thần tích cực siêu phàm điều hành toàn hộ hoạt động của một dân tộc thụ động về tinh thần. Tính thụ động của họ hàm chứa ngay trong ý tưởng về một quyền lực độc đoán. Toàn thể dân tộc cũng như mỗi cá nhân hợp thành nó không có tiếng nói tiềm năng nào về vận mệnh của chính mình. Họ không được thực hành ý chí của mình về phương diện quyền lợi tập thể của họ. Mọi thứ đều được quyết định thay cho họ bởi một ý chí không phải của chính họ và việc họ không tuân phục sẽ là tội lỗi theo luật pháp.

Loại người nào có thể hình thành dưới một chế độ như vậy? Tư tưởng của họ và các năng lực tích cực của họ sẽ đạt được sự phát triển nào dưới chế độ ấy? Về mặt thuần túy lý thuyết, có lẽ họ sẽ được phép suy luận nghiên cứu, chừng nào các suy xét của họ không đụng đến chính trị hoặc không có tí chút nào liên hệ với việc thực hành chúng. Trong các hoạt động thực tiễn thì nhiều nhất là họ được cho phép kiến nghị; ngay cả dưới triều các vua chuyên chế ôn hòa nhất cũng không có ai ngoài những người được thừa nhận và có tiếng tăm cao nhất là có thể hy vọng các đề nghị của họ được những kẻ điều hành công việc biết tới, nhưng cũng ít có cơ may được xem xét. Trong trường hợp đó, một người phải có sở thích phi thường về hoạt động trí tuệ cho riêng mình mới bắt bản thân mình chịu khó suy nghĩ khi biết rằng suy nghĩ của mình sẽ không thể có một hiệu quả nào đối với thế giới bên ngoài, hoặc mới tự rèn luyện những khả năng chẳng có chút cơ may nào được phép thực hiện. Hoạt động tinh thần chỉ có được động cơ kích thích đầy đủ nơi một ít người có đầu óc của một thế hệ, khi kết quả của nó có triển vọng thực hiện cho một số ứng dụng thực tế nào đó. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là toàn thể dân tộc bị thiếu thốn trí tuệ. Các sinh hoạt làm ăn bình thường nhất định phải được mỗi cá nhân hay gia đình thực hiện; các hoạt động này sẽ phát huy một số khả năng và trí tuệ nào đó trong phạm vi hạn hẹp nhất định của các ý tưởng. Có thể sẽ có một giai tầng chọn lọc gồm các nhà bác học, những người vun trồng khoa học hướng tới ứng dụng vật chất của nó hay nhằm thú vui theo đuổi công việc. Sẽ có một hệ thống quan liêu; và những kẻ được huấn luyện cho hệ thống đó sẽ được dạy cho biết tối thiểu cũng vài châm ngôn thực dụng về chính quyền và hành chính công cộng. Có thể, và thường là đúng như vậy, sẽ có một tổ chức có hệ thống của sức mạnh tinh thần ưu tú nhất trong nước về một phương hướng đặc biệt nào đó (thông thường là quân phiệt) nhằm đề cao sự vĩ đại của ông vua chuyên chế. Nhưng công chúng rộng rãi sẽ không có thông tin cũng như sẽ không có hứng thú với mọi chuyện thực hành lớn lao hơn; hoặc giả họ có biết chút gì về những chuyện này thì lại là biết rất nông cạn hời hợt, giống như những thợ cơ khí chưa từng cầm dụng cụ trong tay.

Không phải họ sẽ chỉ bị tổn thương riêng về trí tuệ mà thôi. Các khả năng đạo đức của họ cũng sẽ bị cằn cỗi. Bất cứ ở đâu mà phạm vi hành động của con người bị hạn chế một cách nhân tạo thì các cảm xúc của họ cũng bị thu hẹp lại và còi cọc đi theo cùng tỷ lệ. Hành động là thức ăn nuôi dưỡng cảm xúc, ngay cả tình cảm gia đình cũng được vun bồi bằng các giúp đỡ tự nguyện. Để cho một người không có việc gì làm nhằm phục vụ cho đất nước của mình thì anh ta cũng sẽ không quan tâm đến chuyện đó nữa. Lời người xưa nói rằng dưới chính thể chuyên chế, tối đa cũng chỉ có được một nhà ái quốc, đó chính là ông vua chuyên chế; và lời nói ấy là sự đánh giá chính xác các hiệu quả của sự khuất phục tuyệt đối, dù là đối với một ông chủ tốt và khôn ngoan. Còn lại tôn giáo: ít nhất cũng có thể tưởng rằng ở đây có một chỗ dựa tin cậy để mở mắt và khai trí cho những người bị chà đạp dưới gót chân. Thế nhưng tôn giáo, ngay cả khi giả thiết nó thoát khỏi bị xuyên tạc để phục vụ cho chế độ chuyên chế đi nữa, trong các hoàn cảnh ấy cũng không còn là mối quan tâm xã hội nữa và thu hẹp lại trong quan hệ riêng tư giữa một cá nhân với Đấng Sáng thế của anh ta, ở đó chuyện an nguy chỉ là việc cứu vớt linh hồn cá nhân mà thôi. Tôn giáo trong hình hài như thế hoàn toàn hòa hợp với chủ nghĩa vị kỷ tư lợi và hẹp hòi nhất, nó đồng nhất hóa người sùng đạo ở trong một chút ít cảm xúc về những người đồng loại với anh ta như một lạc thú duy cảm.

Một chế độ chuyên chế tốt có nghĩa là một chính thể, trong đó dù ở chừng mực phụ thuộc vào ông vua chuyên chế, các quan chức nhà nước không thực hiện các cuộc đàn áp công khai, nhưng điều khiển mọi quyền lợi tập thể của dân chúng thay cho dân chúng, suy nghĩ mọi chuyện liên quan đến quyền lợi tập thể thay cho dân chúng, tâm trí của dân chúng được hình thành bởi sự từ bỏ năng lực của chính mình và thuận tình với sự từ bỏ ấy. Phó mặc mọi thứ cho Chính quyền giống như phó thác cho mệnh trời cũng đồng nghĩa với việc không quan tâm gì đến những thứ ấy và cam chịu chấp nhận mọi kết quả, dù không vừa ý, như các trừng phạt của Tự nhiên. Ngoại trừ một số ít những người ham học hỏi có mối quan tâm trí tuệ đến việc suy luận cho riêng mình, thì trí tuệ và tình cảm của toàn thể dân chúng đều hàng phục trước các quan tâm vật chất; khi các quan tâm vật chất ấy được đảm bảo thì tâm trí và tình cảm của họ hướng tới các cuộc vui chơi và trang sức cho cuộc sống riêng tư. Nói vậy tức là nói rằng, nếu các chứng cứ lịch sử có một giá trị nào đó, một kỷ nguyên suy thoái của dân tộc đã đến: ấy là giả sử như dân tộc đã có cái gì đó đạt được rồi để mà suy thoái từ cái đó. Nếu dân tộc ấy chưa từng vươn lên cao hơn điều kiện của một dân tộc phương Đông thì trong điều kiện ấy họ sẽ tiếp tục trì trệ. Nhưng nếu họ, giống như Hy Lạp hay La Mã, đã từng thực hiện được cái gì đó cao hơn, thông qua năng lực, lòng yêu nước và sự mở mang trí tuệ, như là các phẩm chất dân tộc và là thành quả của riêng nền tự do, thì họ sẽ rơi trở lại vào tình trạng phương Đông. Và tình trạng ấy không có nghĩa là một sự thanh bình ngu xuẩn với độ an toàn kháng cự lại được với sự đổi thay còn tồi tệ hơn nữa; nó thường có nghĩa là sẽ bị giày xéo, bị chinh phục và bị biến thành bầy tôi tớ nô lệ, hoặc là bởi một ông vua chuyên chế mạnh hơn, hoặc là bởi một dân tộc man rợ ở gần nhất vẫn còn giữ được năng lực của tự do cùng với sự dã man hoang dại của nó.

Đó không phải chỉ đơn thuần là các xu thế tự nhiên mà là các tất yếu vốn gắn kết cố hữu với chính thể chuyên chế; từ đó sẽ chẳng có lối thoát nào, trừ phi đến lúc chế độ chuyên chế thuận nguyện thôi không là chế độ chuyên chế nữa; đến lúc mà ông vua chuyên chế tốt theo giả định tự từ bỏ quyền lực của mình và tuy còn giữ quyền lực dự phòng nhưng cho phép công việc chung của chính quyền được triển khai cứ như là dân chúng tự quản thực sự. Dù cho khả năng xảy ra chuyện này có ít bao nhiêu đi nữa, chúng ta vẫn có thể hình dung một ông vua chuyên chế tuân theo rất nhiều quy phạm và sự kiềm chế của chính thể lập hiến, ông ta có thể cho phép một quyền tự do báo chí và thảo luận để công luận có thể hình thành và phát biểu về các công việc quốc gia. Ông ta có thể chịu để cho các lợi ích địa phương được dân chúng tự mình điều hành mà không có sự can thiệp của chính quyền trung ương. Ông ta có thể cho phép kề cận bên mình một hay nhiều hội đồng cai trị, được toàn thể hay một bộ phận nào đó của quốc gia chọn lựa ra, nhưng vẫn giữ lại trong tay quyền đánh thuế và quyền lực lập pháp tối cao cũng như quyền uy hành pháp. Giả sử như ông ta có hành động như thế và từ bỏ quyền chuyên chế xa đến thế thì ông ta đã loại bỏ được phần lớn những đặc tính xấu xa của chế độ chuyên chế. Tính tích cực chính trị và khả năng tham gia các hoạt động công cộng gia tăng trong thực thể quốc gia mà không còn bị ngăn cản nữa và một công luận đã có thể tự hình thành chứ không phải chỉ là tiếng dội lại của chính quyền. Thế nhưng một cải tiến như thế sẽ là sự khởi đầu cho những khó khăn mới. Cái công luận độc lập với nền chuyên chính quân chủ ấy sẽ phải hoặc là về phe với ông ta hoặc chống lại ông ta: nếu không là cái này thì là cái kia. Mọi chính thể đều làm cho nhiều người không hài lòng, những người này bây giờ có cơ quan ngôn luận chính thức có thể bày tỏ các cảm xúc của họ, các ý kiến ngược lại với các biện pháp của chính quyền sẽ thường xuyên được biểu lộ. Liệu nhà vua sẽ làm gì, nhỡ khi các ý kiến không thuận ấy lại chiếm đa số? Liệu ông ta có thay đổi đường lối của mình hay không? Liệu ông ta có chiều theo ý dân chúng hay không? Nếu là có thì ông ta sẽ không còn là một ông vua chuyên chế nữa mà là một quân vương lập hiến: trở thành một cơ quan hay một thủ tướng của nhân dân, chỉ khác là không thể bị bãi chức mà thôi. Nếu là không thì ông ta hoặc là sẽ phải triệt hạ phe đối lập bằng quyền lực chuyên chế của mình, hoặc là sẽ phát sinh một sự đối kháng thường trực giữa dân chúng và một cá nhân, sự đối kháng ấy chỉ có thể có một kết cục khả dĩ. Ngay như một nguyên lý tôn giáo của sự tuân phục thụ động và một “phép thần” cũng chẳng ngăn được lâu những hệ quả tự nhiên của một tình thế như vậy. Nhà vua sẽ phải chịu thua và thích ứng với các điều kiện của một chế độ quân chủ lập hiến hoặc là nhường chỗ cho một người khác. Như thế thì chính thể chuyên chế sẽ chủ yếu chỉ còn là trên danh nghĩa, sẽ chẳng có được bao nhiêu lợi thế giả định là của nền quân chủ độc đoán; trong khi ấy nó lại thể hiện các lợi thế của chính thể tự do ở mức độ rất không hoàn hảo; bởi vì dù cho các công dân có được hưởng quyền tự do trên thực tế nhiều đến bao nhiêu đi nữa, họ vẫn không bao giờ có thể quên được rằng họ được dung thứ cho phép có quyền ấy và họ phải nhờ vào một sự nhân nhượng có thể bị lấy lại bất cứ lúc nào trong hiện trạng hiến pháp nhà nước, rằng theo pháp luật họ vẫn là những kẻ nô lệ, dẫu là của một ông chủ khôn ngoan hoặc hay gia ân.

Cũng chẳng đáng ngạc nhiên lắm, nếu các nhà cải cách thiếu kiên nhẫn và bị thất vọng phải rên rỉ vì những trở ngại chống lại các cải tiến công cộng có lợi nhất, những trở ngại gây ra bởi sự ngu dốt, sự lãnh đạm vô tình, tính khó bảo, tính ngoan cố tai ác của dân chúng, các tổ hợp đồi bại của các tính tư lợi đầy vị kỷ được trang bị bởi vũ khí hùng mạnh do các thiết chế tự do cung cấp, các nhà cải cách ấy đôi khi luyến tiếc một bàn tay sắt sẽ san bằng tất cả những trở ngại đó và ép buộc một tập hợp dân chúng cứng đầu chịu cai trị tốt hơn nữa. Tuy nhiên, (ta hãy bỏ qua một bên thực tế là thỉnh thoảng đôi khi cũng có một ông vua chuyên chế triệt bỏ sự lạm quyền, nhưng sẽ có chín mươi chín ông vua chuyên chế khác chẳng làm gì cả ngoài việc tạo nên thói lộng quyền ấy) những ai nhìn theo hướng như thế để mong thực hiện các kỳ vọng của mình, thực ra đã bỏ mất một yếu tố mang tính nguyên tắc của ý tưởng về chính thể tốt, đó là sự cải tiến bản thân dân chúng. Một trong các lợi ích của nền tự do là kẻ cầm quyền không thể làm ngơ trước ý kiến của dân chúng và không thể cải thiện các công chuyện của dân chúng thay cho họ mà lại không cải thiện họ. Nếu như giả sử rằng dân chúng có thể được cai trị tốt bất chấp ý nguyện của họ thì chính thể tốt của họ cũng sẽ không kéo dài được lâu hơn là nền tự do của một dân chúng được giải phóng nhờ quân đội nước ngoài mà không có sự hợp tác của chính họ. Quả đúng là một ông vua chuyên chế có thể giáo dục một tập hợp dân chúng, và nếu quả có làm như thế thật thì đó sẽ là sự tạ lỗi tốt nhất cho nền chuyên chế của ông ta. Thế nhưng mọi nền giáo dục đều nhằm làm cho con người không giống với các cỗ máy, nên về lâu về dài giáo dục sẽ làm họ đòi hỏi được tự mình kiểm soát các hành động của mình. Các triết gia hàng đầu của Pháp ở thế kỷ XVIII đã từng được giáo dục bởi các tín đồ dòng tu Jesuit. Có vẻ như ngay cả nền giáo dục Jesuit thực ra cũng bồi dưỡng lòng ham muốn tự do. Bất cứ cái gì tiếp thêm sinh lực, dù ít đến đâu, cho các khả năng, cũng sẽ tăng thêm lòng ham muốn nhằm thực hành nhiều hơn các khả năng ấy mà không bị ngăn trở; một nền giáo dục đại chúng sẽ là thất bại, nếu nó giáo dục dân chúng tới bất kỳ trạng thái nào đó mà không phải là trạng thái gây được cho họ lòng ham muốn và đòi hỏi.

Tôi hoàn toàn không có ý lên án sự thừa nhận quyền lực chuyên chế dưới hình thức một nền độc tài tạm thời trong những trường hợp cực kỳ khẩn cấp. Xưa kia các dân tộc tự do cũng đã từng ban phong quyền lực như thế theo sự chọn lựa của chính mình, như dùng một phương thuốc cần thiết chữa bệnh cho thể trạng tổ chức chính trị, khi căn bệnh không thể điều trị được bằng các phương tiện ít bạo lực hơn. Nhưng việc chấp nhận chế độ độc tài, ngay cả trong một thời gian giới hạn dứt khoát, cũng chỉ có thể được biện minh, nếu như nhà độc tài sử dụng toàn bộ quyền lực nắm được nhằm san bằng trở lực đã tước đoạt quyền hưởng thụ tự do của dân tộc, tương tự như Solon hay Pittacus(*). Một chính thể chuyên chế tốt là một ý tưởng hoàn toàn trá ngụy (ngoại trừ như phương tiện cho mục đích nhất thời nào đó), trên thực tế nó trở thành những điều hão huyền vô nghĩa và nguy hiểm nhất. Cái xấu hướng tới cái xấu, chế độ chuyên chế tốt ở một nước có đôi chút tiến bộ văn minh sẽ có hại nhiều hơn là ở một nước tồi tệ; bởi vì nó làm suy nhược và giảm sút tư tưởng, tình cảm và năng lực của dân chúng. Nền chuyên chế của Augustus đã chuẩn bị dân chúng La Mã cho Tiberius(*). Nếu toàn thể sắc thái tính cách của dân chúng trước tiên đã không bị hàng phục suốt gần hai thế hệ của tình trạng nô lệ êm đềm ấy, hẳn là họ đã còn đủ tinh thần để nổi loạn chống lại chế độ nô lệ ngày càng trở nên ghê tởm hơn.

Không có khó khăn gì để chỉ ra rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất là hình thức chính thể trong đó chủ quyền, hay quyền kiểm soát tối cao như một phương sách cuối cùng, được trao cho toàn thể khối tập hợp cộng đồng; mỗi một công dân không chỉ có tiếng nói trong việc vận dụng chủ quyền cơ bản ấy, mà còn ít nhất cũng thỉnh thoảng được yêu cầu tham gia thực sự vào việc cai trị bằng cách đích thân thực hiện một chức năng nào đó, mang tính địa phương hay tổng quát.

Để kiểm nghiệm giả thiết này thì trong việc khảo sát cần phải dẫn lại hai nhánh phân định phẩm chất tốt của chính thể đã được nêu ra ở chương trước; bản thân sự thẩm tra tính tốt xấu của một chính thể sẽ tiện lợi phân chia ra hai phần: chính thể ấy thúc đẩy đến đâu việc điều hành các hoạt động của xã hội bằng phương tiện là các tính năng hiện tồn của các thành viên như đạo đức, trí tuệ và tính tích cực; và hiệu quả của chính thể ra sao trong việc cải tiến hay làm hư hỏng các tính năng ấy.

Chắc không cần phải nói rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất không hàm nghĩa là hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong bất cứ tình trạng văn minh nào, mà hàm nghĩa một hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong những hoàn cảnh nhất định, một hình thức có được nhiều nhất các hậu quả lợi ích, trước mắt cũng như trong triển vọng lâu dài. Một chính thể hoàn toàn mang tính nhân dân chỉ là một tổ chức xã hội có khả năng nhận ra mọi đòi hỏi của đặc tính ấy. Tính ưu việt thể hiện trong cả hai bộ phận phân chia tính ưu tú của một hiến pháp chính trị. Một chính thể vừa cai trị tốt, vừa thúc đẩy các hình thức tốt hơn và cao hơn của tính cách dân tộc, sẽ được tán thành nhiều hơn so với bất cứ tổ chức xã hội nào khác.

Tính ưu việt của chính thể có liên quan đến hiện trạng an sinh dựa trên hai nguyên tắc của tính chân lý phổ quát và tính có thể áp dụng được, cũng như của các đề xuất tổng quát bất kỳ có thể đặt vào trong mối quan hệ với các hoạt động của con người. Nguyên tắc thứ nhất là, các quyền và lợi ích của mỗi cá nhân bất kỳ chỉ được an toàn không bị coi thường khi bản thân cá nhân ấy có khả năng và thường xuyên có ý định đương đầu bảo vệ chúng. Nguyên tắc thứ hai là, sự phồn vinh chung sẽ đạt tới tầm cao hơn và được phân phối rộng rãi hơn, tỷ lệ với số lượng và sự đa dạng của các năng lực cá nhân tham dự vào việc thúc đẩy sự phồn vinh ấy.

Đặt hai đề xuất đó trong một dạng chuyên biệt hơn cho việc áp dụng trong hiện tại; con người chỉ được an toàn khỏi bàn tay gây ác của các kẻ khác theo một tỷ lệ với việc họ có được quyền lực để tự bảo vệ mình (self-protecting); và họ chỉ đạt được kết quả ở mức độ cao trong cuộc tranh đấu với Thiên nhiên, theo một tỷ lệ với việc họ được tự lập (self-dependent), dựa vào việc họ có thể làm được gì, hoặc riêng rẽ hoặc phối hợp, hơn là dựa vào những cái người khác làm cho họ.

Đề xuất thứ nhất – rằng mỗi người là người bảo vệ an toàn duy nhất cho các quyền và lợi ích của bản thân mình – là một trong những châm ngôn cơ bản của sự khôn ngoan mà bất cứ ai có khả năng điều khiển công việc của bản thân mình cũng đều hành động hoàn toàn theo nó trong mọi chuyện phải tự quan tâm tới mình. Nhiều người rất không ưa châm ngôn này như một học thuyết chính trị và thích thóa mạ nó như một học thuyết hoàn toàn ích kỷ. Chúng ta có thể trả lời những người này rằng, bất cứ khi nào chấm dứt cái sự thật rằng loài người theo lệ thường vẫn ưu ái bản thân mình hơn những người khác, ưu ái những người gần gũi với mình nhiều hơn những người xa xôi, thì kể từ lúc ấy chế độ Cộng sản sẽ không chỉ là có thể áp dụng được mà còn là hình thức xã hội duy nhất có thể biện minh được; và tới lúc mà thời điểm ấy đến thì chế độ đó nhất định sẽ có hiệu quả. Về phần riêng tôi, là người không tin vào tính hoàn toàn vị kỷ, tôi dễ dàng thú nhận rằng chế độ Cộng sản có thể áp dụng được ngay cả bây giờ trong giới tinh hoa (elite) của loài người, và rồi sẽ trở thành có thể áp dụng được cho phần còn lại của loài người. Thế nhưng ý kiến này lại không phổ biến chút nào trong những người bảo vệ các thiết chế hiện hữu, những người cho học thuyết về tính ưu trội chung của tính tư lợi là sai lầm. Tôi nghiêng về ý nghĩ là thực ra họ cũng tin rằng đa số con người quan tâm đến bản thân mình trước khi nghĩ đến người khác. Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải nhấn mạnh sự khẳng định như thế để ủng hộ cho yêu sách mọi người cùng tham gia vào chủ quyền tối cao. Chúng ta không cần phải giả định rằng khi quyền lực thuộc về một giai cấp độc nhất nào thì giai cấp ấy sẽ hy sinh quyền lợi của các giai cấp khác cho giai cấp của mình một cách chủ tâm cố ý: sẽ là đủ khi khẳng định rằng lợi quyền của giai cấp bị loại ra luôn có nguy cơ bị bỏ qua khi vắng mặt những người bảo vệ tự nhiên của mình; còn nếu như lợi quyền ấy có được ngó tới thì lại được nhìn bằng con mắt rất khác với con mắt của những người liên can trực tiếp đến nó.

Thí dụ như ở đất nước này chẳng hạn, cái được gọi là các giai cấp cần lao có thể được xem như là bị loại ra khỏi mọi sự tham gia trực tiếp vào chính quyền. Tôi không tin rằng nói chung các giai cấp được tham gia trực tiếp vào chính quyền lại có ý định hy sinh các giai cấp cần lao cho bản thân họ. Đã có lần họ từng có ý định ấy; bằng chứng là các mưu toan dai dẳng kéo dài nhằm hạ thấp tiền lương bằng luật pháp. Thế nhưng ngày nay khuynh hướng thông thường của họ là hoàn toàn ngược lại: họ tự nguyện thực hiện các hy sinh đáng kể, đặc biệt là các quyền lợi tài chính của họ, vì lợi ích của các giai cấp cần lao; mà họ thường sai lầm làm phúc quá rộng rãi và bừa bãi. Tôi cũng không tin rằng trong lịch sử lại có nhà cầm quyền bị thúc đẩy bởi động cơ chân thành mong muốn thực hiện nghĩa vụ của họ đối với bộ phận dân chúng nghèo khó hơn trong nước họ. Mà bây giờ cũng có Nghị viện nào, hay hầu như mỗi thành viên nào của nó, lại chịu để mắt tới bất cứ vấn đề gì bằng cặp mắt của một người lao động? Mỗi khi có vấn đề nào nổi lên, mà trong đó giới lao động có mối quan tâm, thì chẳng phải là nó sẽ được xem xét dưới quan điểm bất kỳ nào đó, chỉ trừ quan điểm của những người làm thuê đó hay sao? Tôi không nói là quan điểm của những người lao động trong các vấn đề ấy nói chung gần với chân lý hơn là các quan điểm khác, tuy nhiên khi quả thực cũng rất gần; nhưng trong mọi trường hợp, nó phải được trân trọng lắng nghe, chứ không phải như tình trạng bây giờ: không chỉ ngoảnh mặt đi mà còn không đếm xỉa đến nữa. Thí dụ như vấn đề bãi công chẳng hạn, khó tin được liệu có một ai trong các thành viên lãnh đạo của thượng viện hay hạ viện lại không tin chắc rằng lẽ phải hoàn toàn ở về phía các ông chủ, rằng ý kiến của những người lao động chỉ là điều ngớ ngẩn. Những ai đã nghiên cứu vấn đề biết rất rõ chuyện này phổ biến đến đâu; nếu giả sử như tiếng nói của các tầng lớp bãi công được lắng nghe ở Quốc hội thì cung cách tranh luận quan điểm hẳn sẽ khác đi biết bao, hẳn sẽ bớt nông cạn hời hợt đi biết nhường nào.

Một điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động của con người là: không có ý đồ nào nhằm bảo vệ quyền lợi cho người khác, dù chân thành đến đâu đi nữa, lại có thể làm họ tự trói buộc chân tay mình. Một sự thật còn hiển nhiên hơn nữa là chỉ có bằng chính bàn tay của mình, con người mới có thể cải thiện đáng kể và lâu bền cho hoàn cảnh sống của mình. Thông qua ảnh hưởng liên kết của hai nguyên lý đó mà mọi cộng đồng tự do mới tránh được nhiều hơn khỏi bất công và tội ác xã hội, và đạt được nhiều hơn phồn vinh thịnh vượng so với các cộng đồng khác, hoặc so với chính bản thân họ, sau khi họ bị mất đi tự do của mình. Tương phản giữa các quốc gia tự do trên thế giới trong lúc nền tự do đang tồn tại so với các thần dân cùng thời đại ở các chế độ chuyên chế quân chủ hay chuyên chế tập đoàn: các đô thị Hy Lạp so với các tiểu bang (satrapies) Ba Tư; các bang cộng hòa Italia và các đô thị tự do xứ Flanders và Germany so với các lãnh địa phong kiến của châu Âu; Thụy Sĩ, Hà Lan và Anh so với Áo hay nước Pháp phản cách mạng. Sự thịnh vượng vượt trội của các quốc gia tự do là quá hiển nhiên đến nỗi chẳng bao giờ có thể chối cãi; trong khi đó tính ưu tú về thể chế và quan hệ xã hội tốt của họ được minh chứng bởi sự thịnh vượng và còn được biểu hiện rõ ràng trên mỗi trang lịch sử. Nếu chúng ta so sánh, không phải là một thời đại này với thời đại khác, mà là các chính thể khác nhau cùng tồn tại trong một thời đại, không một mức độ hỗn loạn nào được công khai biết đến ở trong các quốc gia tự do, dù có phóng đại lên nữa, lại có thể so sánh được ở cùng một thời điểm với sự chà đạp đầy miệt thị lên đám đông dân chúng diễn ra tràn lan khắp toàn bộ đời sống của các nước quân chủ, hoặc với một sự bạo ngược cá nhân đáng kinh tởm xuất hiện còn nhiều hơn chuyện thường ngày dưới những hệ thống cướp bóc được gọi là phân bố ngân sách và trong sự bí mật của các phiên tòa thật ghê sợ.

Cần phải thừa nhận rằng những lợi ích của nền tự do, như người ta được hưởng cho tới nay, có được là nhờ vào sự mở rộng đặc quyền ấy chỉ cho một bộ phận của cộng đồng; và rằng một chính thể mà những lợi ích đó được mở rộng không thiên vị cho mọi người vẫn còn là điều mơ ước chưa được thực hiện. Dù rằng mỗi bước tiến lại gần mục tiêu ấy đều có một giá trị độc lập và trong nhiều trường hợp không thể nào làm được nhiều hơn thế trong thực trạng của sự cải tiến tổng thể hiện nay, việc tham gia của tất cả mọi người vào các lợi ích đó là một quan niệm hoàn mỹ lý tưởng của chính thể tự do. Thuận theo tỷ lệ với việc có người nào đó, dù là ai đi nữa, bị loại khỏi nền tự do ấy, thì lợi quyền của những người bị loại đó sẽ bị bỏ rơi không có đảm bảo được chấp thuận như với những người khác, và bản thân họ cũng sẽ bị thiệt thòi về cơ may và sự khích lệ để cho họ sử dụng năng lực và lợi ích của bản thân và của cộng đồng, mà sự phồn vinh chung luôn luôn tỷ lệ thuận theo đó.

Đó là xét về phương diện an sinh hiện tại, sự điều hành tốt công việc của thế hệ bây giờ. Nếu ta chuyển sang vấn đề ảnh hưởng của hình thức chính thể lên tính cách, ta sẽ thấy tính ưu việt của chính thể nhân dân so với mọi chính thể khả dĩ khác còn mang tính quyết định và rõ ràng hơn nữa.

Vấn đề này thực ra phụ thuộc vào một vấn đề còn cơ bản hơn, tức là, đối với sự tốt đẹp chung cho nhân loại thì cái nào trong hai loại tính cách phổ biến phải là cái đáng mong muốn nhất để nó chiếm được ưu thế – loại tính tích cực hay loại tính thụ động; tức là cái chống lại cái ác hay là cái dung dưỡng cái ác; cái khuất phục theo hoàn cảnh hay cái nỗ lực bắt hoàn cảnh khuất phục theo mình.

Thói thường của các nhà đạo đức và thiện cảm chung của loài người thiên vị về phía loại tính thụ động. Các tính cách mạnh mẽ có thể được ngưỡng mộ, nhưng những người ngoan ngoãn dễ bảo là những người được người ta ưa thích hơn. Tính thụ động của những người hàng xóm tăng thêm cảm giác an toàn cho ta và có lợi cho tính làm theo ý mình của ta. Các tính cách thụ động, nếu là trường hợp ta không cần đến tính tích cực của chúng, có vẻ như không là vật cản trên đường ta đi. Một tính cách nhu thuận không phải là kẻ cạnh tranh nguy hiểm. Thế nhưng không có gì chắc chắn hơn rằng sự cải tiến trong hoạt động của nhân loại hoàn toàn là công trình của các tính cách không nhu thuận; và hơn thế nữa, đòi hỏi một trí tuệ tích cực có phẩm hạnh kiên nhẫn là dễ dàng hơn nhiều so với đòi hỏi một trí tuệ thụ động có phẩm hạnh mạnh mẽ.

Trong ba phẩm chất tinh thần khác nhau, trí tuệ, tính thực hành và đạo đức, không bao giờ có hoài nghi nào đối với hai thứ đầu tiên về việc cái nào trong hai loại tính phải có ưu thế. Mọi tính ưu việt về trí tuệ đều là kết quả của nỗ lực tích cực. Tính dám làm, khát vọng tiến lên, nỗ lực thử nghiệm và làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác, đó là cha đẻ ngay cả của các tài năng lý thuyết, nhưng chủ yếu là của các tài năng thực hành. Sự trau dồi trí tuệ tương hợp với một kiểu khác hơn là cái được mô tả mơ hồ thuộc về một tâm hồn đã dừng lại ở chuyện vui chơi hay ở việc thưởng thức đơn thuần. Tiêu chuẩn về sự suy nghĩ thực sự và mạnh mẽ, sự suy nghĩ xác định các chân lý chứ không phải các giấc mộng mơ màng, chính là sự áp dụng có kết quả vào thực hành. Ở đâu mà không có các mục đích ấy nhằm đem lại cho sự suy tư một tính xác định, một độ chính xác và một ý nghĩa dễ hiểu, thì ở đó chẳng sản sinh ra được cái gì hơn là siêu hình học thần bí của Pythagore hay kinh Vệ Đà. Về phương diện cải tiến mang tính thực hành thì điều này còn hiển nhiên hơn nữa. Một tính cách cải thiện đời sống con người là tính cách chiến đấu với các xu thế và sức mạnh thiên nhiên chứ không phải các tính cách hàng phục chúng. Các phẩm chất tự làm ra lợi ích đều nằm ở phía tính cách tích cực và mạnh mẽ, và các tập quán cũng như hành vi thúc đẩy lợi thế cho mỗi cá nhân thành viên của cộng đồng ít nhất cũng phải là bộ phận của những cái góp phần chủ yếu vào mục tiêu đưa toàn thể cộng đồng tiến lên.

Tuy nhiên về điểm tính đạo đức được ưa chuộng hơn thì có vẻ như thoạt nhìn đã thấy có chỗ đáng hoài nghi. Tôi không định viện dẫn tới cảm xúc tôn giáo nói chung khá thiên về tính cách thụ động như tính cách dễ hài hòa hơn với sự phục tùng theo ý nguyện thiêng liêng. Ki Tô giáo cũng như các tôn giáo khác đã bồi dưỡng tình cảm ấy; thế nhưng chính đặc quyền của Ki Tô giáo nhìn nhận chuyện này cũng như nhìn nhận những hiểu sai khác, là nó có khả năng từ bỏ chúng. Nếu xét một cách trừu tượng tách khỏi tôn giáo, thì một tính cách thụ động mà khuất phục trước trở ngại thay vì ráng vượt qua chúng, có thể thực không có ích gì lắm cho người khác hơn là cho bản thân, nhưng người ta có thể chờ đợi là ít nhất nó cũng vô thưởng vô phạt. Tự bằng lòng luôn được xếp vào hàng các phẩm hạnh đạo đức. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng tự bằng lòng nhất thiết và đương nhiên đi kèm với tính cách thụ động. Ở đâu mà tồn tại khát vọng muốn có một lợi thế còn chưa sở hữu, tâm trí lại không sở hữu nó một cách tiềm năng bằng chính sức lực của mình, cái tâm trí ấy sẽ có khuynh hướng nhìn những ai sở hữu nó với sự căm ghét ác độc. Một người cố vùng vẫy với hy vọng sẽ cải tiến được hoàn cảnh của mình sẽ là người có thiện cảm đối với những người khác đang bận rộn lo toan, hay đã thành đạt, cũng cùng trong việc theo đuổi ấy. Và ở đâu mà có đa số người bận rộn lo toan thì ở đó những ai chưa đạt được mục đích sẽ có được sự đồng cảm bởi tập quán của xứ sở và coi sự thất bại của mình là do còn thiếu cố gắng, hay chưa gặp thời vận, hoặc do kém may mắn. Thế nhưng kẻ nào ham muốn cái người khác sở hữu mà không chịu bỏ sức lực cố đạt được nó, thì hoặc là sẽ không ngớt càu nhàu trách số phận không đem lại cho anh ta cái mà anh ta chẳng cố làm cho mình, hoặc là sẽ đầy hằn học ghen tỵ với những người sở hữu cái mà anh ta muốn có. Tỷ lệ thuận với việc xem sự thành đạt trong cuộc sống là kết quả của số phận hay sự ngẫu nhiên chứ không phải do nỗ lực, mà tính ghen ghét cũng phát triển cùng với tỷ lệ ấy như một tính cách dân tộc. Bộ phận hay ghen ghét nhất của toàn thể loài người là những người phương Đông. Trong cái nhìn của các thầy dạy đạo đức phương Đông, trong các câu chuyện kể phương Đông, kẻ ghen ghét là khá nổi bật. Trong đời sống thực, kẻ ghen ghét là nỗi kinh hoàng cho tất cả những ai sở hữu bất cứ cái gì đáng mong muốn, dù đó là một lâu đài, một đứa con kháu khỉnh, hay thậm chí cả sức khỏe và tinh thần tốt: việc tạo nên định kiến lan truyền khắp nơi về con mắt của quỷ dữ được coi là hiệu quả của con mắt nhòm ngó của kẻ ghen ghét. Vị trí kế tiếp với những người phương Đông về mặt ghen ghét là một số người Nam Âu. Những người Tây Ban Nha đuổi bám theo tất cả các vĩ nhân của họ với sự ghen ghét, đầu độc cuộc sống của họ và thường thành công trong việc sớm làm cho sự thành đạt của họ phải dừng lại(*). Với người Pháp, đương nhiên cũng là một dân tộc phương nam, sự giáo dục cặp đôi của nền chuyên chế và Công giáo, bất chấp tính khí bốc đồng của họ, đã làm cho sự phục tùng và tính nhẫn nại trở thành tính cách chung của dân chúng cũng như tính khôn ngoan và tính ưu tú của họ là quan niệm được thừa nhận rộng rãi: và nếu tính ganh ghét lẫn nhau cũng như ganh ghét với sự ưu việt không lan tràn trong họ nhiều hơn như nó vốn có, thì tình trạng ấy được quy cho nhiều yếu tố khác rất quý giá có được ở trong tính cách Pháp; và chủ yếu là nhờ ở năng lực cá nhân vĩ đại, dù nó có thiếu bền chắc và khá thất thường so với cái hiện diện trong tính tự lập và tính tranh đấu của người Anglo-Saxon, năng lực ấy vẫn biểu lộ ra ở người Pháp hầu như trong mọi hướng mà các thiết chế của họ đã tạo thuận lợi cho nó.

Chắc chắn rằng ở mọi đất nước đều có các tính cách tự bằng lòng, không phải chỉ là không tìm kiếm mà còn không ham muốn cái mà họ không sở hữu, và những tính cách ấy đương nhiên không hàm chứa ác ý đối với những người có vẻ như có nhiều thuận lợi hơn. Thế nhưng nếu đại đa số có vẻ tự bằng lòng thì thực ra lại là sự không bằng lòng kết hợp với tính lười biếng hay tính thiếu nghiêm khắc với bản thân, cái đó làm cho người ta thường ưa kéo những người khác xuống cho bằng mức với mình trong khi không xúc tiến các phương tiện chính đáng để vươn mình lên. Và ngay như nếu chúng ta bó hẹp trong việc xem xét trường hợp của sự tự bằng lòng “trong sạch”, “thanh bần”, ta cũng thấy rằng nó chỉ làm ta ngưỡng mộ, khi có sự thờ ơ thuần túy đối với việc cải tiến các hoàn cảnh bên ngoài, đồng thời lại có sự nỗ lực vươn tới tiến bộ không ngừng trong giá trị tinh thần, hoặc ít nhất cũng có nhiệt tình vô tư trong việc làm lợi cho người khác. Còn một con người tự bằng lòng, hay một gia đình tự bằng lòng, không có tham vọng làm cho bất cứ ai được hạnh phúc hơn, không có tham vọng thúc đẩy điều tốt của đất nước họ hay của hàng xóm láng giềng, hoặc cải tiến bản thân họ thành người đạo đức ưu tú, những người như thế chẳng gây cho ta sự ngưỡng mộ cũng như sự tán đồng. Chúng ta sẽ có lý khi quy kết loại tự bằng lòng ấy là thiên về tính hèn yếu và thiếu tinh thần. Tính tự bằng lòng mà chúng ta tán đồng là khả năng biết đánh giá một cách vui vẻ vô tư giá trị so sánh của các đối tượng ham muốn khác nhau và biết tự nguyện từ bỏ cái nhỏ bé khi nó không tương hợp với cái lớn lao hơn. Tuy nhiên, đây là sự ưu tú có phần tự nhiên hơn của tính cách, nó thuận theo tỷ lệ với việc lo toan bận rộn một cách tích cực nhằm cải tiến tính cách của bản thân hay của nhiều người khác. Con người nào luôn luôn đo lường năng lực của mình trước các khó khăn sẽ hiểu được rằng: các khó khăn nào đối với mình là không thể vượt qua, các khó khăn nào, dẫu có thể vượt qua được, nhưng kết quả sẽ không xứng với cái giá phải trả. Người nào mà tư tưởng và hoạt động luôn được cần đến, thường xuyên được sử dụng trong các việc lớn hữu ích và khả thi, người ấy hơn ai hết không bao giờ lại chịu để cho tâm trí luẩn quẩn trong việc nghiền ngẫm sự bất mãn đối với những cái không đáng trả giá để đạt được, hoặc là không đáng đối với riêng mình. Như vậy tính cách tích cực, tự lập, không những chỉ là tốt nhất về bản chất nội tại, mà có lẽ còn bao gồm tất cả những gì thực sự ưu tú hay đáng mong muốn hiện diện ở trong loại tính cách đối lập lại.

Tính cách cố vươn lên không ngừng của người Anh và người Hoa Kỳ chỉ gợi nên một sự phê phán là họ thường dành sức lực cho những mục tiêu rất thứ yếu. Nhưng, thật ra, nền tảng của những hy vọng tốt đẹp nhất nhằm cải tiến chung cho nhân loại nằm ở trong chính bản thân tính cách ấy. Đã có nhận xét sâu sắc rằng mỗi khi có chuyện gì sai hỏng thì câu nói cửa miệng của dân Pháp là: “Cần phải nhẫn nại” (Il faut de la patience), còn của dân Anh là: “Thật là chuyện đáng xấu hổ” (What a shame!). Người nào nghĩ rằng đó là chuyện đáng xấu hổ mỗi khi thấy có gì xấu – người kết luận ngay rằng cái xấu lẽ ra có thể và cần phải được ngăn chặn, chính là những người rốt cuộc rồi sẽ làm được nhiều nhất để biến cải thế giới này tốt đẹp hơn. Nếu những ham muốn được đặt vào những chỗ thấp kém, nếu họ không vượt xa hơn các tiện nghi vật chất và phô bày sự giàu sang, thì kết quả trước mắt của năng lực sẽ không nhiều hơn là sự mở rộng liên tục quyền lực con người đối với các đối tượng vật chất; nhưng dù có như vậy đi nữa thì cái đó cũng tạo ra không gian và chuẩn bị các dụng cụ vật chất cho các thành tựu trí tuệ và xã hội vĩ đại nhất; chừng nào còn có năng lực thì người ta sẽ sử dụng nó, và nó sẽ được sử dụng càng lúc càng nhiều hơn để hoàn thiện, không phải chỉ riêng các hoàn cảnh ngoại tại, mà còn cả bản chất nội tâm của con người. Tính thụ động, không có chí, không có ham muốn là những cản trở đối với sự cải tiến, những cản trở còn tai hại hơn so với bất cứ định hướng sai nào đối với năng lực; và chỉ thông qua những tính cách đó thôi, một khi chúng tồn tại trong đông đảo quần chúng, thì bất cứ định hướng sai lầm nào của một thiểu số năng động cũng đều dẫn đến những hậu quả khủng khiếp. Chính những cái đó là nguyên nhân chủ yếu vẫn kìm giữ đại đa số nhân loại ở trong trạng thái dã man và bán khai.

Bây giờ thì chẳng còn chút nghi ngờ nào rằng các chính quyền của Một Người hay một Ít Người sẽ ưu ái tính cách thụ động, còn chính quyền của Nhiều Người sẽ ưu ái tính cách tự lập tích cực. Các nhà cầm quyền vô trách nhiệm cần sự im lặng của những kẻ bị trị hơn là cần tới bất cứ tính tích cực nào, ngoại trừ tính tích cực mà họ khống chế được. Tính dễ quy phục theo các mệnh lệnh như điều bắt buộc tự nhiên là bài học mà mọi chính quyền đều cố khắc sâu vào tâm trí những người hoàn toàn không tham gia chính quyền. Ý muốn của kẻ bề trên và luật pháp như là ý muốn của kẻ bề trên phải được tuân phục một cách thụ động. Thế nhưng không ai chịu làm công cụ hay vật liệu đơn thuần trong tay kẻ cầm quyền, nếu họ là người có ý chí hay tinh thần, hay có một động cơ của hoạt động nội tâm làm giá đỡ cho các hành vi; bất cứ sự biểu lộ nào của các phẩm chất ấy đáng lẽ nhận được khích lệ từ các vua chúa chuyên chế thì lại phải xin chúng hạ cố bỏ qua cho. Ngay cả khi những kẻ cầm quyền vô trách nhiệm không ý thức đầy đủ được mối hiểm nguy từ tính cách năng động của các thần dân của chúng để muốn trấn áp tính cách ấy, thì bản thân tư thế đó cũng đã là sự trấn áp rồi. Sự vô hiệu hóa nỗ lực sẽ kiềm chế nỗ lực ấy, thậm chí còn hiệu quả hơn cả mọi sự ngăn cản trực diện. Giữa sự khuất phục theo ý chí của người khác với các phẩm hạnh tự lập và tự quản có một sự bất tương hợp tự nhiên. Mức độ triệt để này nhiều hay ít tùy thuộc vào sự bó buộc là quyết liệt hay lơi lỏng. Các nhà cầm quyền khác nhau rất nhiều về chi tiết khi thực thi việc kiểm soát tự do ý chí của nhân dân, hoặc thay thế sự kiểm soát ấy bằng việc quản lý công việc của nhân dân thay cho nhân dân. Nhưng sự khác nhau chỉ là ở mức độ chứ không ở nguyên tắc; và thường khi các vua chúa chuyên chế tốt lại không câu nệ chút nào trong việc xiềng xích tự do ý chí của các thần dân. Một bạo chúa xấu, khi đã đảm bảo được sự chiều theo mọi ý muốn cá nhân của mình, có thể đôi khi còn muốn bỏ mặc dân chúng; nhưng một vua chuyên chế tốt cứ khăng khăng muốn làm điều tốt cho dân chúng bằng cách ép họ làm việc theo cách tốt hơn so với cách họ vẫn biết. Những quy tắc giới hạn mọi ngành công nghiệp hàng đầu của Pháp trong các quy trình cố định, chính là công trình của Colbert(*) vĩ đại.

Trạng thái của các khả năng ở con người là rất khác nhau, tùy theo con người cảm nhận thấy bản thân mình có phải chịu hay không phải chịu sự kiềm chế nào từ bên ngoài, khác hơn là những điều bắt buộc của tự nhiên hoặc các yêu cầu của xã hội mà anh ta chia sẻ việc áp đặt chúng, và nếu anh ta thấy chúng sai trái, anh ta có quyền công khai sự bất đồng và tích cực cố gắng thay đổi chúng. Chắc chắn là dưới một chính thể nhân dân cục bộ, ngay cả những người chưa được chia sẻ các đặc quyền đầy đủ của người công dân cũng có thể sử dụng quyền tự do này. Nhưng đó sẽ là một kích thích bổ sung mạnh mẽ cho tính tự lập và tính tự lực của bất cứ ai, ngay cả khi người đó khởi đầu từ địa vị thấp, và anh ta không bị buộc phải cảm thấy rằng sự thành công của anh ta phụ thuộc vào ấn tượng mà anh ta gây ra đối với cảm tình và lòng ưu ái của ai đó khác ngoài anh ta. Sẽ có một tác động lớn làm nản lòng cho một cá nhân và còn có tác động làm nản lòng lớn hơn nữa cho một giai cấp, nếu họ bị đặt ra ngoài hiến pháp, nếu họ bị đẩy tới chỗ phải nài xin ở ngoài cánh cửa với các vị trọng tài định đoạt số phận của họ mà không tham khảo ý kiến của họ. Điểm cực đại trong sự gia tăng tác động của tự do đến tính cách chỉ đạt được, khi con người hành động trong tư cách một công dân có mọi đặc quyền như những người khác, hoặc là trong tư cách trông đợi sẽ trở thành một công dân như thế.

Một cái còn quan trọng hơn nữa so với vấn đề cảm nhận nêu trên, đó là tính kỷ luật trong thực hành mà tính cách con người tiếp thu được nhờ vào việc các công dân thi thoảng được yêu cầu luân phiên thực hiện một chức năng xã hội nào đó trong một khoảng thời gian. Có một vấn đề hãy còn chưa được khảo sát đầy đủ, ấy là cuộc sống đời thường của con người phần nhiều chẳng đóng góp được bao nhiêu để làm cho nhận thức hay tình cảm của anh ta có được một tầm rộng lớn nào đó. Công việc của con người thường là đều đặn hằng ngày, không phải là thứ lao động vì yêu thích mà là lao động vì tư lợi trong hình thức sơ khai nhất, nhằm thỏa mãn các nhu cầu hằng ngày; cả đồ vật làm ra lẫn quá trình thực hiện đều chẳng đưa tâm trí con người đến được với những tư tưởng và tình cảm vượt ra ngoài các cá nhân; nếu có được các 

3

HÌNH THỨC CHÍNH THỂ MANG TÍNH ĐẠI DIỆN LÀ HÌNH THỨC CHÍNH THỂ LÝ TƯỞNG TỐT ĐẸP NHẤT

Một thời gian khá lâu (có lẽ suốt chiều dài của nền tự do ở nước Anh) người ta thường hay nói rằng nếu đảm bảo có một ông vua chuyên chế tốt thì nền quân chủ chuyên chế sẽ là hình thức chính thể tốt nhất. Tôi xem ý kiến đó là một nhận thức cấp tiến sai lầm nguy hại nhất về vấn đề hình thức chính thể nào là tốt; chừng nào ý kiến này còn chưa bị thanh toán, nó còn gây hại rất lớn cho hết thảy các xem xét về chính thể của chúng ta.

Giả thuyết này cho rằng quyền chuyên chế độc đoán trong tay của một cá nhân xuất chúng sẽ đảm bảo việc thi hành đoan chính và thông minh mọi trách nhiệm của chính thể. Pháp luật tốt sẽ được thiết lập và thi hành, pháp luật xấu sẽ được cải cách; những người tốt nhất sẽ được đặt ở mọi vị trí có trách nhiệm; công lý cũng sẽ được thực thi, các gánh nặng thuế má công cộng sẽ nhẹ nhàng và được áp đặt sáng suốt, mọi nhánh hành pháp đều được điều khiển trong sạch và thông minh, tất cả đều tương xứng với hoàn cảnh đất nước và với mức độ giáo dưỡng trí tuệ và đạo đức mà hoàn cảnh ấy cho phép. Tôi cũng muốn thừa nhận tất cả những cái đó vì mục đích tranh luận; nhưng tôi buộc phải chỉ ra sự nhượng bộ lớn đến chừng nào, và cho thấy danh hiệu đơn giản “một ông vua chuyên chế tốt” khó mà mang lại được các kết quả nói trên. Việc thực hiện các kết quả ấy thực ra hàm ý không phải một ông vua tốt đơn thuần mà phải là một đảng toàn trị. Ông ta phải luôn luôn được thông tin chính xác trong rất nhiều chi tiết về sự quản lý và hoạt động của mọi nhánh hành pháp tại mỗi địa phương của đất nước, và ông ta phải có thể, suốt hai mươi bốn tiếng trong một ngày, chú ý đầy đủ đến hết thảy mọi người, từ vua cho đến người lao động hèn mọn nhất, để thực hiện việc giám thị trong phạm vi rộng lớn ấy; hoặc là ít nhất ông ta cũng phải có khả năng phân biệt và chọn ra được trong đám đông các thần dân của mình không những một số đông những người có khả năng và trung thực nhất thích hợp cho việc điều hành mỗi nhánh hành chính công cộng dưới sự giám sát và kiểm tra, mà cả một thiểu số những người có đức hạnh và tài năng phi phàm, những người có thể tin cậy để chẳng những được giao công việc mà không cần sự giám sát kia, mà còn chính mình thi hành sự giám sát ấy đối với những người khác. Các khả năng và nghị lực đòi hỏi để hoàn tất nhiệm vụ trên một cách có thể chấp nhận được là quá phi thường, khiến thật khó tưởng tượng có một ông vua chuyên chế tốt nào như chúng ta giả định có thể sẵn sàng làm được, trừ phi chỉ để tránh những cái xấu không dung thứ được và chuẩn bị quá độ tới một cái gì đó còn ở phía trước. Nhưng vẫn có thể tranh luận được mà không cần phải tính đến những thứ mênh mông thiên địa ấy. Giả sử rằng khó khăn này được khắc phục, lúc ấy chúng ta ắt sẽ có cái gì? Một người có tinh thần tích cực siêu phàm điều hành toàn hộ hoạt động của một dân tộc thụ động về tinh thần. Tính thụ động của họ hàm chứa ngay trong ý tưởng về một quyền lực độc đoán. Toàn thể dân tộc cũng như mỗi cá nhân hợp thành nó không có tiếng nói tiềm năng nào về vận mệnh của chính mình. Họ không được thực hành ý chí của mình về phương diện quyền lợi tập thể của họ. Mọi thứ đều được quyết định thay cho họ bởi một ý chí không phải của chính họ và việc họ không tuân phục sẽ là tội lỗi theo luật pháp.

Loại người nào có thể hình thành dưới một chế độ như vậy? Tư tưởng của họ và các năng lực tích cực của họ sẽ đạt được sự phát triển nào dưới chế độ ấy? Về mặt thuần túy lý thuyết, có lẽ họ sẽ được phép suy luận nghiên cứu, chừng nào các suy xét của họ không đụng đến chính trị hoặc không có tí chút nào liên hệ với việc thực hành chúng. Trong các hoạt động thực tiễn thì nhiều nhất là họ được cho phép kiến nghị; ngay cả dưới triều các vua chuyên chế ôn hòa nhất cũng không có ai ngoài những người được thừa nhận và có tiếng tăm cao nhất là có thể hy vọng các đề nghị của họ được những kẻ điều hành công việc biết tới, nhưng cũng ít có cơ may được xem xét. Trong trường hợp đó, một người phải có sở thích phi thường về hoạt động trí tuệ cho riêng mình mới bắt bản thân mình chịu khó suy nghĩ khi biết rằng suy nghĩ của mình sẽ không thể có một hiệu quả nào đối với thế giới bên ngoài, hoặc mới tự rèn luyện những khả năng chẳng có chút cơ may nào được phép thực hiện. Hoạt động tinh thần chỉ có được động cơ kích thích đầy đủ nơi một ít người có đầu óc của một thế hệ, khi kết quả của nó có triển vọng thực hiện cho một số ứng dụng thực tế nào đó. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là toàn thể dân tộc bị thiếu thốn trí tuệ. Các sinh hoạt làm ăn bình thường nhất định phải được mỗi cá nhân hay gia đình thực hiện; các hoạt động này sẽ phát huy một số khả năng và trí tuệ nào đó trong phạm vi hạn hẹp nhất định của các ý tưởng. Có thể sẽ có một giai tầng chọn lọc gồm các nhà bác học, những người vun trồng khoa học hướng tới ứng dụng vật chất của nó hay nhằm thú vui theo đuổi công việc. Sẽ có một hệ thống quan liêu; và những kẻ được huấn luyện cho hệ thống đó sẽ được dạy cho biết tối thiểu cũng vài châm ngôn thực dụng về chính quyền và hành chính công cộng. Có thể, và thường là đúng như vậy, sẽ có một tổ chức có hệ thống của sức mạnh tinh thần ưu tú nhất trong nước về một phương hướng đặc biệt nào đó (thông thường là quân phiệt) nhằm đề cao sự vĩ đại của ông vua chuyên chế. Nhưng công chúng rộng rãi sẽ không có thông tin cũng như sẽ không có hứng thú với mọi chuyện thực hành lớn lao hơn; hoặc giả họ có biết chút gì về những chuyện này thì lại là biết rất nông cạn hời hợt, giống như những thợ cơ khí chưa từng cầm dụng cụ trong tay.

Không phải họ sẽ chỉ bị tổn thương riêng về trí tuệ mà thôi. Các khả năng đạo đức của họ cũng sẽ bị cằn cỗi. Bất cứ ở đâu mà phạm vi hành động của con người bị hạn chế một cách nhân tạo thì các cảm xúc của họ cũng bị thu hẹp lại và còi cọc đi theo cùng tỷ lệ. Hành động là thức ăn nuôi dưỡng cảm xúc, ngay cả tình cảm gia đình cũng được vun bồi bằng các giúp đỡ tự nguyện. Để cho một người không có việc gì làm nhằm phục vụ cho đất nước của mình thì anh ta cũng sẽ không quan tâm đến chuyện đó nữa. Lời người xưa nói rằng dưới chính thể chuyên chế, tối đa cũng chỉ có được một nhà ái quốc, đó chính là ông vua chuyên chế; và lời nói ấy là sự đánh giá chính xác các hiệu quả của sự khuất phục tuyệt đối, dù là đối với một ông chủ tốt và khôn ngoan. Còn lại tôn giáo: ít nhất cũng có thể tưởng rằng ở đây có một chỗ dựa tin cậy để mở mắt và khai trí cho những người bị chà đạp dưới gót chân. Thế nhưng tôn giáo, ngay cả khi giả thiết nó thoát khỏi bị xuyên tạc để phục vụ cho chế độ chuyên chế đi nữa, trong các hoàn cảnh ấy cũng không còn là mối quan tâm xã hội nữa và thu hẹp lại trong quan hệ riêng tư giữa một cá nhân với Đấng Sáng thế của anh ta, ở đó chuyện an nguy chỉ là việc cứu vớt linh hồn cá nhân mà thôi. Tôn giáo trong hình hài như thế hoàn toàn hòa hợp với chủ nghĩa vị kỷ tư lợi và hẹp hòi nhất, nó đồng nhất hóa người sùng đạo ở trong một chút ít cảm xúc về những người đồng loại với anh ta như một lạc thú duy cảm.

Một chế độ chuyên chế tốt có nghĩa là một chính thể, trong đó dù ở chừng mực phụ thuộc vào ông vua chuyên chế, các quan chức nhà nước không thực hiện các cuộc đàn áp công khai, nhưng điều khiển mọi quyền lợi tập thể của dân chúng thay cho dân chúng, suy nghĩ mọi chuyện liên quan đến quyền lợi tập thể thay cho dân chúng, tâm trí của dân chúng được hình thành bởi sự từ bỏ năng lực của chính mình và thuận tình với sự từ bỏ ấy. Phó mặc mọi thứ cho Chính quyền giống như phó thác cho mệnh trời cũng đồng nghĩa với việc không quan tâm gì đến những thứ ấy và cam chịu chấp nhận mọi kết quả, dù không vừa ý, như các trừng phạt của Tự nhiên. Ngoại trừ một số ít những người ham học hỏi có mối quan tâm trí tuệ đến việc suy luận cho riêng mình, thì trí tuệ và tình cảm của toàn thể dân chúng đều hàng phục trước các quan tâm vật chất; khi các quan tâm vật chất ấy được đảm bảo thì tâm trí và tình cảm của họ hướng tới các cuộc vui chơi và trang sức cho cuộc sống riêng tư. Nói vậy tức là nói rằng, nếu các chứng cứ lịch sử có một giá trị nào đó, một kỷ nguyên suy thoái của dân tộc đã đến: ấy là giả sử như dân tộc đã có cái gì đó đạt được rồi để mà suy thoái từ cái đó. Nếu dân tộc ấy chưa từng vươn lên cao hơn điều kiện của một dân tộc phương Đông thì trong điều kiện ấy họ sẽ tiếp tục trì trệ. Nhưng nếu họ, giống như Hy Lạp hay La Mã, đã từng thực hiện được cái gì đó cao hơn, thông qua năng lực, lòng yêu nước và sự mở mang trí tuệ, như là các phẩm chất dân tộc và là thành quả của riêng nền tự do, thì họ sẽ rơi trở lại vào tình trạng phương Đông. Và tình trạng ấy không có nghĩa là một sự thanh bình ngu xuẩn với độ an toàn kháng cự lại được với sự đổi thay còn tồi tệ hơn nữa; nó thường có nghĩa là sẽ bị giày xéo, bị chinh phục và bị biến thành bầy tôi tớ nô lệ, hoặc là bởi một ông vua chuyên chế mạnh hơn, hoặc là bởi một dân tộc man rợ ở gần nhất vẫn còn giữ được năng lực của tự do cùng với sự dã man hoang dại của nó.

Đó không phải chỉ đơn thuần là các xu thế tự nhiên mà là các tất yếu vốn gắn kết cố hữu với chính thể chuyên chế; từ đó sẽ chẳng có lối thoát nào, trừ phi đến lúc chế độ chuyên chế thuận nguyện thôi không là chế độ chuyên chế nữa; đến lúc mà ông vua chuyên chế tốt theo giả định tự từ bỏ quyền lực của mình và tuy còn giữ quyền lực dự phòng nhưng cho phép công việc chung của chính quyền được triển khai cứ như là dân chúng tự quản thực sự. Dù cho khả năng xảy ra chuyện này có ít bao nhiêu đi nữa, chúng ta vẫn có thể hình dung một ông vua chuyên chế tuân theo rất nhiều quy phạm và sự kiềm chế của chính thể lập hiến, ông ta có thể cho phép một quyền tự do báo chí và thảo luận để công luận có thể hình thành và phát biểu về các công việc quốc gia. Ông ta có thể chịu để cho các lợi ích địa phương được dân chúng tự mình điều hành mà không có sự can thiệp của chính quyền trung ương. Ông ta có thể cho phép kề cận bên mình một hay nhiều hội đồng cai trị, được toàn thể hay một bộ phận nào đó của quốc gia chọn lựa ra, nhưng vẫn giữ lại trong tay quyền đánh thuế và quyền lực lập pháp tối cao cũng như quyền uy hành pháp. Giả sử như ông ta có hành động như thế và từ bỏ quyền chuyên chế xa đến thế thì ông ta đã loại bỏ được phần lớn những đặc tính xấu xa của chế độ chuyên chế. Tính tích cực chính trị và khả năng tham gia các hoạt động công cộng gia tăng trong thực thể quốc gia mà không còn bị ngăn cản nữa và một công luận đã có thể tự hình thành chứ không phải chỉ là tiếng dội lại của chính quyền. Thế nhưng một cải tiến như thế sẽ là sự khởi đầu cho những khó khăn mới. Cái công luận độc lập với nền chuyên chính quân chủ ấy sẽ phải hoặc là về phe với ông ta hoặc chống lại ông ta: nếu không là cái này thì là cái kia. Mọi chính thể đều làm cho nhiều người không hài lòng, những người này bây giờ có cơ quan ngôn luận chính thức có thể bày tỏ các cảm xúc của họ, các ý kiến ngược lại với các biện pháp của chính quyền sẽ thường xuyên được biểu lộ. Liệu nhà vua sẽ làm gì, nhỡ khi các ý kiến không thuận ấy lại chiếm đa số? Liệu ông ta có thay đổi đường lối của mình hay không? Liệu ông ta có chiều theo ý dân chúng hay không? Nếu là có thì ông ta sẽ không còn là một ông vua chuyên chế nữa mà là một quân vương lập hiến: trở thành một cơ quan hay một thủ tướng của nhân dân, chỉ khác là không thể bị bãi chức mà thôi. Nếu là không thì ông ta hoặc là sẽ phải triệt hạ phe đối lập bằng quyền lực chuyên chế của mình, hoặc là sẽ phát sinh một sự đối kháng thường trực giữa dân chúng và một cá nhân, sự đối kháng ấy chỉ có thể có một kết cục khả dĩ. Ngay như một nguyên lý tôn giáo của sự tuân phục thụ động và một “phép thần” cũng chẳng ngăn được lâu những hệ quả tự nhiên của một tình thế như vậy. Nhà vua sẽ phải chịu thua và thích ứng với các điều kiện của một chế độ quân chủ lập hiến hoặc là nhường chỗ cho một người khác. Như thế thì chính thể chuyên chế sẽ chủ yếu chỉ còn là trên danh nghĩa, sẽ chẳng có được bao nhiêu lợi thế giả định là của nền quân chủ độc đoán; trong khi ấy nó lại thể hiện các lợi thế của chính thể tự do ở mức độ rất không hoàn hảo; bởi vì dù cho các công dân có được hưởng quyền tự do trên thực tế nhiều đến bao nhiêu đi nữa, họ vẫn không bao giờ có thể quên được rằng họ được dung thứ cho phép có quyền ấy và họ phải nhờ vào một sự nhân nhượng có thể bị lấy lại bất cứ lúc nào trong hiện trạng hiến pháp nhà nước, rằng theo pháp luật họ vẫn là những kẻ nô lệ, dẫu là của một ông chủ khôn ngoan hoặc hay gia ân.

Cũng chẳng đáng ngạc nhiên lắm, nếu các nhà cải cách thiếu kiên nhẫn và bị thất vọng phải rên rỉ vì những trở ngại chống lại các cải tiến công cộng có lợi nhất, những trở ngại gây ra bởi sự ngu dốt, sự lãnh đạm vô tình, tính khó bảo, tính ngoan cố tai ác của dân chúng, các tổ hợp đồi bại của các tính tư lợi đầy vị kỷ được trang bị bởi vũ khí hùng mạnh do các thiết chế tự do cung cấp, các nhà cải cách ấy đôi khi luyến tiếc một bàn tay sắt sẽ san bằng tất cả những trở ngại đó và ép buộc một tập hợp dân chúng cứng đầu chịu cai trị tốt hơn nữa. Tuy nhiên, (ta hãy bỏ qua một bên thực tế là thỉnh thoảng đôi khi cũng có một ông vua chuyên chế triệt bỏ sự lạm quyền, nhưng sẽ có chín mươi chín ông vua chuyên chế khác chẳng làm gì cả ngoài việc tạo nên thói lộng quyền ấy) những ai nhìn theo hướng như thế để mong thực hiện các kỳ vọng của mình, thực ra đã bỏ mất một yếu tố mang tính nguyên tắc của ý tưởng về chính thể tốt, đó là sự cải tiến bản thân dân chúng. Một trong các lợi ích của nền tự do là kẻ cầm quyền không thể làm ngơ trước ý kiến của dân chúng và không thể cải thiện các công chuyện của dân chúng thay cho họ mà lại không cải thiện họ. Nếu như giả sử rằng dân chúng có thể được cai trị tốt bất chấp ý nguyện của họ thì chính thể tốt của họ cũng sẽ không kéo dài được lâu hơn là nền tự do của một dân chúng được giải phóng nhờ quân đội nước ngoài mà không có sự hợp tác của chính họ. Quả đúng là một ông vua chuyên chế có thể giáo dục một tập hợp dân chúng, và nếu quả có làm như thế thật thì đó sẽ là sự tạ lỗi tốt nhất cho nền chuyên chế của ông ta. Thế nhưng mọi nền giáo dục đều nhằm làm cho con người không giống với các cỗ máy, nên về lâu về dài giáo dục sẽ làm họ đòi hỏi được tự mình kiểm soát các hành động của mình. Các triết gia hàng đầu của Pháp ở thế kỷ XVIII đã từng được giáo dục bởi các tín đồ dòng tu Jesuit. Có vẻ như ngay cả nền giáo dục Jesuit thực ra cũng bồi dưỡng lòng ham muốn tự do. Bất cứ cái gì tiếp thêm sinh lực, dù ít đến đâu, cho các khả năng, cũng sẽ tăng thêm lòng ham muốn nhằm thực hành nhiều hơn các khả năng ấy mà không bị ngăn trở; một nền giáo dục đại chúng sẽ là thất bại, nếu nó giáo dục dân chúng tới bất kỳ trạng thái nào đó mà không phải là trạng thái gây được cho họ lòng ham muốn và đòi hỏi.

Tôi hoàn toàn không có ý lên án sự thừa nhận quyền lực chuyên chế dưới hình thức một nền độc tài tạm thời trong những trường hợp cực kỳ khẩn cấp. Xưa kia các dân tộc tự do cũng đã từng ban phong quyền lực như thế theo sự chọn lựa của chính mình, như dùng một phương thuốc cần thiết chữa bệnh cho thể trạng tổ chức chính trị, khi căn bệnh không thể điều trị được bằng các phương tiện ít bạo lực hơn. Nhưng việc chấp nhận chế độ độc tài, ngay cả trong một thời gian giới hạn dứt khoát, cũng chỉ có thể được biện minh, nếu như nhà độc tài sử dụng toàn bộ quyền lực nắm được nhằm san bằng trở lực đã tước đoạt quyền hưởng thụ tự do của dân tộc, tương tự như Solon hay Pittacus(*). Một chính thể chuyên chế tốt là một ý tưởng hoàn toàn trá ngụy (ngoại trừ như phương tiện cho mục đích nhất thời nào đó), trên thực tế nó trở thành những điều hão huyền vô nghĩa và nguy hiểm nhất. Cái xấu hướng tới cái xấu, chế độ chuyên chế tốt ở một nước có đôi chút tiến bộ văn minh sẽ có hại nhiều hơn là ở một nước tồi tệ; bởi vì nó làm suy nhược và giảm sút tư tưởng, tình cảm và năng lực của dân chúng. Nền chuyên chế của Augustus đã chuẩn bị dân chúng La Mã cho Tiberius(*). Nếu toàn thể sắc thái tính cách của dân chúng trước tiên đã không bị hàng phục suốt gần hai thế hệ của tình trạng nô lệ êm đềm ấy, hẳn là họ đã còn đủ tinh thần để nổi loạn chống lại chế độ nô lệ ngày càng trở nên ghê tởm hơn.

Không có khó khăn gì để chỉ ra rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất là hình thức chính thể trong đó chủ quyền, hay quyền kiểm soát tối cao như một phương sách cuối cùng, được trao cho toàn thể khối tập hợp cộng đồng; mỗi một công dân không chỉ có tiếng nói trong việc vận dụng chủ quyền cơ bản ấy, mà còn ít nhất cũng thỉnh thoảng được yêu cầu tham gia thực sự vào việc cai trị bằng cách đích thân thực hiện một chức năng nào đó, mang tính địa phương hay tổng quát.

Để kiểm nghiệm giả thiết này thì trong việc khảo sát cần phải dẫn lại hai nhánh phân định phẩm chất tốt của chính thể đã được nêu ra ở chương trước; bản thân sự thẩm tra tính tốt xấu của một chính thể sẽ tiện lợi phân chia ra hai phần: chính thể ấy thúc đẩy đến đâu việc điều hành các hoạt động của xã hội bằng phương tiện là các tính năng hiện tồn của các thành viên như đạo đức, trí tuệ và tính tích cực; và hiệu quả của chính thể ra sao trong việc cải tiến hay làm hư hỏng các tính năng ấy.

Chắc không cần phải nói rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất không hàm nghĩa là hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong bất cứ tình trạng văn minh nào, mà hàm nghĩa một hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong những hoàn cảnh nhất định, một hình thức có được nhiều nhất các hậu quả lợi ích, trước mắt cũng như trong triển vọng lâu dài. Một chính thể hoàn toàn mang tính nhân dân chỉ là một tổ chức xã hội có khả năng nhận ra mọi đòi hỏi của đặc tính ấy. Tính ưu việt thể hiện trong cả hai bộ phận phân chia tính ưu tú của một hiến pháp chính trị. Một chính thể vừa cai trị tốt, vừa thúc đẩy các hình thức tốt hơn và cao hơn của tính cách dân tộc, sẽ được tán thành nhiều hơn so với bất cứ tổ chức xã hội nào khác.

Tính ưu việt của chính thể có liên quan đến hiện trạng an sinh dựa trên hai nguyên tắc của tính chân lý phổ quát và tính có thể áp dụng được, cũng như của các đề xuất tổng quát bất kỳ có thể đặt vào trong mối quan hệ với các hoạt động của con người. Nguyên tắc thứ nhất là, các quyền và lợi ích của mỗi cá nhân bất kỳ chỉ được an toàn không bị coi thường khi bản thân cá nhân ấy có khả năng và thường xuyên có ý định đương đầu bảo vệ chúng. Nguyên tắc thứ hai là, sự phồn vinh chung sẽ đạt tới tầm cao hơn và được phân phối rộng rãi hơn, tỷ lệ với số lượng và sự đa dạng của các năng lực cá nhân tham dự vào việc thúc đẩy sự phồn vinh ấy.

Đặt hai đề xuất đó trong một dạng chuyên biệt hơn cho việc áp dụng trong hiện tại; con người chỉ được an toàn khỏi bàn tay gây ác của các kẻ khác theo một tỷ lệ với việc họ có được quyền lực để tự bảo vệ mình (self-protecting); và họ chỉ đạt được kết quả ở mức độ cao trong cuộc tranh đấu với Thiên nhiên, theo một tỷ lệ với việc họ được tự lập (self-dependent), dựa vào việc họ có thể làm được gì, hoặc riêng rẽ hoặc phối hợp, hơn là dựa vào những cái người khác làm cho họ.

Đề xuất thứ nhất – rằng mỗi người là người bảo vệ an toàn duy nhất cho các quyền và lợi ích của bản thân mình – là một trong những châm ngôn cơ bản của sự khôn ngoan mà bất cứ ai có khả năng điều khiển công việc của bản thân mình cũng đều hành động hoàn toàn theo nó trong mọi chuyện phải tự quan tâm tới mình. Nhiều người rất không ưa châm ngôn này như một học thuyết chính trị và thích thóa mạ nó như một học thuyết hoàn toàn ích kỷ. Chúng ta có thể trả lời những người này rằng, bất cứ khi nào chấm dứt cái sự thật rằng loài người theo lệ thường vẫn ưu ái bản thân mình hơn những người khác, ưu ái những người gần gũi với mình nhiều hơn những người xa xôi, thì kể từ lúc ấy chế độ Cộng sản sẽ không chỉ là có thể áp dụng được mà còn là hình thức xã hội duy nhất có thể biện minh được; và tới lúc mà thời điểm ấy đến thì chế độ đó nhất định sẽ có hiệu quả. Về phần riêng tôi, là người không tin vào tính hoàn toàn vị kỷ, tôi dễ dàng thú nhận rằng chế độ Cộng sản có thể áp dụng được ngay cả bây giờ trong giới tinh hoa (elite) của loài người, và rồi sẽ trở thành có thể áp dụng được cho phần còn lại của loài người. Thế nhưng ý kiến này lại không phổ biến chút nào trong những người bảo vệ các thiết chế hiện hữu, những người cho học thuyết về tính ưu trội chung của tính tư lợi là sai lầm. Tôi nghiêng về ý nghĩ là thực ra họ cũng tin rằng đa số con người quan tâm đến bản thân mình trước khi nghĩ đến người khác. Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải nhấn mạnh sự khẳng định như thế để ủng hộ cho yêu sách mọi người cùng tham gia vào chủ quyền tối cao. Chúng ta không cần phải giả định rằng khi quyền lực thuộc về một giai cấp độc nhất nào thì giai cấp ấy sẽ hy sinh quyền lợi của các giai cấp khác cho giai cấp của mình một cách chủ tâm cố ý: sẽ là đủ khi khẳng định rằng lợi quyền của giai cấp bị loại ra luôn có nguy cơ bị bỏ qua khi vắng mặt những người bảo vệ tự nhiên của mình; còn nếu như lợi quyền ấy có được ngó tới thì lại được nhìn bằng con mắt rất khác với con mắt của những người liên can trực tiếp đến nó.

Thí dụ như ở đất nước này chẳng hạn, cái được gọi là các giai cấp cần lao có thể được xem như là bị loại ra khỏi mọi sự tham gia trực tiếp vào chính quyền. Tôi không tin rằng nói chung các giai cấp được tham gia trực tiếp vào chính quyền lại có ý định hy sinh các giai cấp cần lao cho bản thân họ. Đã có lần họ từng có ý định ấy; bằng chứng là các mưu toan dai dẳng kéo dài nhằm hạ thấp tiền lương bằng luật pháp. Thế nhưng ngày nay khuynh hướng thông thường của họ là hoàn toàn ngược lại: họ tự nguyện thực hiện các hy sinh đáng kể, đặc biệt là các quyền lợi tài chính của họ, vì lợi ích của các giai cấp cần lao; mà họ thường sai lầm làm phúc quá rộng rãi và bừa bãi. Tôi cũng không tin rằng trong lịch sử lại có nhà cầm quyền bị thúc đẩy bởi động cơ chân thành mong muốn thực hiện nghĩa vụ của họ đối với bộ phận dân chúng nghèo khó hơn trong nước họ. Mà bây giờ cũng có Nghị viện nào, hay hầu như mỗi thành viên nào của nó, lại chịu để mắt tới bất cứ vấn đề gì bằng cặp mắt của một người lao động? Mỗi khi có vấn đề nào nổi lên, mà trong đó giới lao động có mối quan tâm, thì chẳng phải là nó sẽ được xem xét dưới quan điểm bất kỳ nào đó, chỉ trừ quan điểm của những người làm thuê đó hay sao? Tôi không nói là quan điểm của những người lao động trong các vấn đề ấy nói chung gần với chân lý hơn là các quan điểm khác, tuy nhiên khi quả thực cũng rất gần; nhưng trong mọi trường hợp, nó phải được trân trọng lắng nghe, chứ không phải như tình trạng bây giờ: không chỉ ngoảnh mặt đi mà còn không đếm xỉa đến nữa. Thí dụ như vấn đề bãi công chẳng hạn, khó tin được liệu có một ai trong các thành viên lãnh đạo của thượng viện hay hạ viện lại không tin chắc rằng lẽ phải hoàn toàn ở về phía các ông chủ, rằng ý kiến của những người lao động chỉ là điều ngớ ngẩn. Những ai đã nghiên cứu vấn đề biết rất rõ chuyện này phổ biến đến đâu; nếu giả sử như tiếng nói của các tầng lớp bãi công được lắng nghe ở Quốc hội thì cung cách tranh luận quan điểm hẳn sẽ khác đi biết bao, hẳn sẽ bớt nông cạn hời hợt đi biết nhường nào.

Một điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động của con người là: không có ý đồ nào nhằm bảo vệ quyền lợi cho người khác, dù chân thành đến đâu đi nữa, lại có thể làm họ tự trói buộc chân tay mình. Một sự thật còn hiển nhiên hơn nữa là chỉ có bằng chính bàn tay của mình, con người mới có thể cải thiện đáng kể và lâu bền cho hoàn cảnh sống của mình. Thông qua ảnh hưởng liên kết của hai nguyên lý đó mà mọi cộng đồng tự do mới tránh được nhiều hơn khỏi bất công và tội ác xã hội, và đạt được nhiều hơn phồn vinh thịnh vượng so với các cộng đồng khác, hoặc so với chính bản thân họ, sau khi họ bị mất đi tự do của mình. Tương phản giữa các quốc gia tự do trên thế giới trong lúc nền tự do đang tồn tại so với các thần dân cùng thời đại ở các chế độ chuyên chế quân chủ hay chuyên chế tập đoàn: các đô thị Hy Lạp so với các tiểu bang (satrapies) Ba Tư; các bang cộng hòa Italia và các đô thị tự do xứ Flanders và Germany so với các lãnh địa phong kiến của châu Âu; Thụy Sĩ, Hà Lan và Anh so với Áo hay nước Pháp phản cách mạng. Sự thịnh vượng vượt trội của các quốc gia tự do là quá hiển nhiên đến nỗi chẳng bao giờ có thể chối cãi; trong khi đó tính ưu tú về thể chế và quan hệ xã hội tốt của họ được minh chứng bởi sự thịnh vượng và còn được biểu hiện rõ ràng trên mỗi trang lịch sử. Nếu chúng ta so sánh, không phải là một thời đại này với thời đại khác, mà là các chính thể khác nhau cùng tồn tại trong một thời đại, không một mức độ hỗn loạn nào được công khai biết đến ở trong các quốc gia tự do, dù có phóng đại lên nữa, lại có thể so sánh được ở cùng một thời điểm với sự chà đạp đầy miệt thị lên đám đông dân chúng diễn ra tràn lan khắp toàn bộ đời sống của các nước quân chủ, hoặc với một sự bạo ngược cá nhân đáng kinh tởm xuất hiện còn nhiều hơn chuyện thường ngày dưới những hệ thống cướp bóc được gọi là phân bố ngân sách và trong sự bí mật của các phiên tòa thật ghê sợ.

Cần phải thừa nhận rằng những lợi ích của nền tự do, như người ta được hưởng cho tới nay, có được là nhờ vào sự mở rộng đặc quyền ấy chỉ cho một bộ phận của cộng đồng; và rằng một chính thể mà những lợi ích đó được mở rộng không thiên vị cho mọi người vẫn còn là điều mơ ước chưa được thực hiện. Dù rằng mỗi bước tiến lại gần mục tiêu ấy đều có một giá trị độc lập và trong nhiều trường hợp không thể nào làm được nhiều hơn thế trong thực trạng của sự cải tiến tổng thể hiện nay, việc tham gia của tất cả mọi người vào các lợi ích đó là một quan niệm hoàn mỹ lý tưởng của chính thể tự do. Thuận theo tỷ lệ với việc có người nào đó, dù là ai đi nữa, bị loại khỏi nền tự do ấy, thì lợi quyền của những người bị loại đó sẽ bị bỏ rơi không có đảm bảo được chấp thuận như với những người khác, và bản thân họ cũng sẽ bị thiệt thòi về cơ may và sự khích lệ để cho họ sử dụng năng lực và lợi ích của bản thân và của cộng đồng, mà sự phồn vinh chung luôn luôn tỷ lệ thuận theo đó.

Đó là xét về phương diện an sinh hiện tại, sự điều hành tốt công việc của thế hệ bây giờ. Nếu ta chuyển sang vấn đề ảnh hưởng của hình thức chính thể lên tính cách, ta sẽ thấy tính ưu việt của chính thể nhân dân so với mọi chính thể khả dĩ khác còn mang tính quyết định và rõ ràng hơn nữa.

Vấn đề này thực ra phụ thuộc vào một vấn đề còn cơ bản hơn, tức là, đối với sự tốt đẹp chung cho nhân loại thì cái nào trong hai loại tính cách phổ biến phải là cái đáng mong muốn nhất để nó chiếm được ưu thế – loại tính tích cực hay loại tính thụ động; tức là cái chống lại cái ác hay là cái dung dưỡng cái ác; cái khuất phục theo hoàn cảnh hay cái nỗ lực bắt hoàn cảnh khuất phục theo mình.

Thói thường của các nhà đạo đức và thiện cảm chung của loài người thiên vị về phía loại tính thụ động. Các tính cách mạnh mẽ có thể được ngưỡng mộ, nhưng những người ngoan ngoãn dễ bảo là những người được người ta ưa thích hơn. Tính thụ động của những người hàng xóm tăng thêm cảm giác an toàn cho ta và có lợi cho tính làm theo ý mình của ta. Các tính cách thụ động, nếu là trường hợp ta không cần đến tính tích cực của chúng, có vẻ như không là vật cản trên đường ta đi. Một tính cách nhu thuận không phải là kẻ cạnh tranh nguy hiểm. Thế nhưng không có gì chắc chắn hơn rằng sự cải tiến trong hoạt động của nhân loại hoàn toàn là công trình của các tính cách không nhu thuận; và hơn thế nữa, đòi hỏi một trí tuệ tích cực có phẩm hạnh kiên nhẫn là dễ dàng hơn nhiều so với đòi hỏi một trí tuệ thụ động có phẩm hạnh mạnh mẽ.

Trong ba phẩm chất tinh thần khác nhau, trí tuệ, tính thực hành và đạo đức, không bao giờ có hoài nghi nào đối với hai thứ đầu tiên về việc cái nào trong hai loại tính phải có ưu thế. Mọi tính ưu việt về trí tuệ đều là kết quả của nỗ lực tích cực. Tính dám làm, khát vọng tiến lên, nỗ lực thử nghiệm và làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác, đó là cha đẻ ngay cả của các tài năng lý thuyết, nhưng chủ yếu là của các tài năng thực hành. Sự trau dồi trí tuệ tương hợp với một kiểu khác hơn là cái được mô tả mơ hồ thuộc về một tâm hồn đã dừng lại ở chuyện vui chơi hay ở việc thưởng thức đơn thuần. Tiêu chuẩn về sự suy nghĩ thực sự và mạnh mẽ, sự suy nghĩ xác định các chân lý chứ không phải các giấc mộng mơ màng, chính là sự áp dụng có kết quả vào thực hành. Ở đâu mà không có các mục đích ấy nhằm đem lại cho sự suy tư một tính xác định, một độ chính xác và một ý nghĩa dễ hiểu, thì ở đó chẳng sản sinh ra được cái gì hơn là siêu hình học thần bí của Pythagore hay kinh Vệ Đà. Về phương diện cải tiến mang tính thực hành thì điều này còn hiển nhiên hơn nữa. Một tính cách cải thiện đời sống con người là tính cách chiến đấu với các xu thế và sức mạnh thiên nhiên chứ không phải các tính cách hàng phục chúng. Các phẩm chất tự làm ra lợi ích đều nằm ở phía tính cách tích cực và mạnh mẽ, và các tập quán cũng như hành vi thúc đẩy lợi thế cho mỗi cá nhân thành viên của cộng đồng ít nhất cũng phải là bộ phận của những cái góp phần chủ yếu vào mục tiêu đưa toàn thể cộng đồng tiến lên.

Tuy nhiên về điểm tính đạo đức được ưa chuộng hơn thì có vẻ như thoạt nhìn đã thấy có chỗ đáng hoài nghi. Tôi không định viện dẫn tới cảm xúc tôn giáo nói chung khá thiên về tính cách thụ động như tính cách dễ hài hòa hơn với sự phục tùng theo ý nguyện thiêng liêng. Ki Tô giáo cũng như các tôn giáo khác đã bồi dưỡng tình cảm ấy; thế nhưng chính đặc quyền của Ki Tô giáo nhìn nhận chuyện này cũng như nhìn nhận những hiểu sai khác, là nó có khả năng từ bỏ chúng. Nếu xét một cách trừu tượng tách khỏi tôn giáo, thì một tính cách thụ động mà khuất phục trước trở ngại thay vì ráng vượt qua chúng, có thể thực không có ích gì lắm cho người khác hơn là cho bản thân, nhưng người ta có thể chờ đợi là ít nhất nó cũng vô thưởng vô phạt. Tự bằng lòng luôn được xếp vào hàng các phẩm hạnh đạo đức. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng tự bằng lòng nhất thiết và đương nhiên đi kèm với tính cách thụ động. Ở đâu mà tồn tại khát vọng muốn có một lợi thế còn chưa sở hữu, tâm trí lại không sở hữu nó một cách tiềm năng bằng chính sức lực của mình, cái tâm trí ấy sẽ có khuynh hướng nhìn những ai sở hữu nó với sự căm ghét ác độc. Một người cố vùng vẫy với hy vọng sẽ cải tiến được hoàn cảnh của mình sẽ là người có thiện cảm đối với những người khác đang bận rộn lo toan, hay đã thành đạt, cũng cùng trong việc theo đuổi ấy. Và ở đâu mà có đa số người bận rộn lo toan thì ở đó những ai chưa đạt được mục đích sẽ có được sự đồng cảm bởi tập quán của xứ sở và coi sự thất bại của mình là do còn thiếu cố gắng, hay chưa gặp thời vận, hoặc do kém may mắn. Thế nhưng kẻ nào ham muốn cái người khác sở hữu mà không chịu bỏ sức lực cố đạt được nó, thì hoặc là sẽ không ngớt càu nhàu trách số phận không đem lại cho anh ta cái mà anh ta chẳng cố làm cho mình, hoặc là sẽ đầy hằn học ghen tỵ với những người sở hữu cái mà anh ta muốn có. Tỷ lệ thuận với việc xem sự thành đạt trong cuộc sống là kết quả của số phận hay sự ngẫu nhiên chứ không phải do nỗ lực, mà tính ghen ghét cũng phát triển cùng với tỷ lệ ấy như một tính cách dân tộc. Bộ phận hay ghen ghét nhất của toàn thể loài người là những người phương Đông. Trong cái nhìn của các thầy dạy đạo đức phương Đông, trong các câu chuyện kể phương Đông, kẻ ghen ghét là khá nổi bật. Trong đời sống thực, kẻ ghen ghét là nỗi kinh hoàng cho tất cả những ai sở hữu bất cứ cái gì đáng mong muốn, dù đó là một lâu đài, một đứa con kháu khỉnh, hay thậm chí cả sức khỏe và tinh thần tốt: việc tạo nên định kiến lan truyền khắp nơi về con mắt của quỷ dữ được coi là hiệu quả của con mắt nhòm ngó của kẻ ghen ghét. Vị trí kế tiếp với những người phương Đông về mặt ghen ghét là một số người Nam Âu. Những người Tây Ban Nha đuổi bám theo tất cả các vĩ nhân của họ với sự ghen ghét, đầu độc cuộc sống của họ và thường thành công trong việc sớm làm cho sự thành đạt của họ phải dừng lại(*). Với người Pháp, đương nhiên cũng là một dân tộc phương nam, sự giáo dục cặp đôi của nền chuyên chế và Công giáo, bất chấp tính khí bốc đồng của họ, đã làm cho sự phục tùng và tính nhẫn nại trở thành tính cách chung của dân chúng cũng như tính khôn ngoan và tính ưu tú của họ là quan niệm được thừa nhận rộng rãi: và nếu tính ganh ghét lẫn nhau cũng như ganh ghét với sự ưu việt không lan tràn trong họ nhiều hơn như nó vốn có, thì tình trạng ấy được quy cho nhiều yếu tố khác rất quý giá có được ở trong tính cách Pháp; và chủ yếu là nhờ ở năng lực cá nhân vĩ đại, dù nó có thiếu bền chắc và khá thất thường so với cái hiện diện trong tính tự lập và tính tranh đấu của người Anglo-Saxon, năng lực ấy vẫn biểu lộ ra ở người Pháp hầu như trong mọi hướng mà các thiết chế của họ đã tạo thuận lợi cho nó.

Chắc chắn rằng ở mọi đất nước đều có các tính cách tự bằng lòng, không phải chỉ là không tìm kiếm mà còn không ham muốn cái mà họ không sở hữu, và những tính cách ấy đương nhiên không hàm chứa ác ý đối với những người có vẻ như có nhiều thuận lợi hơn. Thế nhưng nếu đại đa số có vẻ tự bằng lòng thì thực ra lại là sự không bằng lòng kết hợp với tính lười biếng hay tính thiếu nghiêm khắc với bản thân, cái đó làm cho người ta thường ưa kéo những người khác xuống cho bằng mức với mình trong khi không xúc tiến các phương tiện chính đáng để vươn mình lên. Và ngay như nếu chúng ta bó hẹp trong việc xem xét trường hợp của sự tự bằng lòng “trong sạch”, “thanh bần”, ta cũng thấy rằng nó chỉ làm ta ngưỡng mộ, khi có sự thờ ơ thuần túy đối với việc cải tiến các hoàn cảnh bên ngoài, đồng thời lại có sự nỗ lực vươn tới tiến bộ không ngừng trong giá trị tinh thần, hoặc ít nhất cũng có nhiệt tình vô tư trong việc làm lợi cho người khác. Còn một con người tự bằng lòng, hay một gia đình tự bằng lòng, không có tham vọng làm cho bất cứ ai được hạnh phúc hơn, không có tham vọng thúc đẩy điều tốt của đất nước họ hay của hàng xóm láng giềng, hoặc cải tiến bản thân họ thành người đạo đức ưu tú, những người như thế chẳng gây cho ta sự ngưỡng mộ cũng như sự tán đồng. Chúng ta sẽ có lý khi quy kết loại tự bằng lòng ấy là thiên về tính hèn yếu và thiếu tinh thần. Tính tự bằng lòng mà chúng ta tán đồng là khả năng biết đánh giá một cách vui vẻ vô tư giá trị so sánh của các đối tượng ham muốn khác nhau và biết tự nguyện từ bỏ cái nhỏ bé khi nó không tương hợp với cái lớn lao hơn. Tuy nhiên, đây là sự ưu tú có phần tự nhiên hơn của tính cách, nó thuận theo tỷ lệ với việc lo toan bận rộn một cách tích cực nhằm cải tiến tính cách của bản thân hay của nhiều người khác. Con người nào luôn luôn đo lường năng lực của mình trước các khó khăn sẽ hiểu được rằng: các khó khăn nào đối với mình là không thể vượt qua, các khó khăn nào, dẫu có thể vượt qua được, nhưng kết quả sẽ không xứng với cái giá phải trả. Người nào mà tư tưởng và hoạt động luôn được cần đến, thường xuyên được sử dụng trong các việc lớn hữu ích và khả thi, người ấy hơn ai hết không bao giờ lại chịu để cho tâm trí luẩn quẩn trong việc nghiền ngẫm sự bất mãn đối với những cái không đáng trả giá để đạt được, hoặc là không đáng đối với riêng mình. Như vậy tính cách tích cực, tự lập, không những chỉ là tốt nhất về bản chất nội tại, mà có lẽ còn bao gồm tất cả những gì thực sự ưu tú hay đáng mong muốn hiện diện ở trong loại tính cách đối lập lại.

Tính cách cố vươn lên không ngừng của người Anh và người Hoa Kỳ chỉ gợi nên một sự phê phán là họ thường dành sức lực cho những mục tiêu rất thứ yếu. Nhưng, thật ra, nền tảng của những hy vọng tốt đẹp nhất nhằm cải tiến chung cho nhân loại nằm ở trong chính bản thân tính cách ấy. Đã có nhận xét sâu sắc rằng mỗi khi có chuyện gì sai hỏng thì câu nói cửa miệng của dân Pháp là: “Cần phải nhẫn nại” (Il faut de la patience), còn của dân Anh là: “Thật là chuyện đáng xấu hổ” (What a shame!). Người nào nghĩ rằng đó là chuyện đáng xấu hổ mỗi khi thấy có gì xấu – người kết luận ngay rằng cái xấu lẽ ra có thể và cần phải được ngăn chặn, chính là những người rốt cuộc rồi sẽ làm được nhiều nhất để biến cải thế giới này tốt đẹp hơn. Nếu những ham muốn được đặt vào những chỗ thấp kém, nếu họ không vượt xa hơn các tiện nghi vật chất và phô bày sự giàu sang, thì kết quả trước mắt của năng lực sẽ không nhiều hơn là sự mở rộng liên tục quyền lực con người đối với các đối tượng vật chất; nhưng dù có như vậy đi nữa thì cái đó cũng tạo ra không gian và chuẩn bị các dụng cụ vật chất cho các thành tựu trí tuệ và xã hội vĩ đại nhất; chừng nào còn có năng lực thì người ta sẽ sử dụng nó, và nó sẽ được sử dụng càng lúc càng nhiều hơn để hoàn thiện, không phải chỉ riêng các hoàn cảnh ngoại tại, mà còn cả bản chất nội tâm của con người. Tính thụ động, không có chí, không có ham muốn là những cản trở đối với sự cải tiến, những cản trở còn tai hại hơn so với bất cứ định hướng sai nào đối với năng lực; và chỉ thông qua những tính cách đó thôi, một khi chúng tồn tại trong đông đảo quần chúng, thì bất cứ định hướng sai lầm nào của một thiểu số năng động cũng đều dẫn đến những hậu quả khủng khiếp. Chính những cái đó là nguyên nhân chủ yếu vẫn kìm giữ đại đa số nhân loại ở trong trạng thái dã man và bán khai.

Bây giờ thì chẳng còn chút nghi ngờ nào rằng các chính quyền của Một Người hay một Ít Người sẽ ưu ái tính cách thụ động, còn chính quyền của Nhiều Người sẽ ưu ái tính cách tự lập tích cực. Các nhà cầm quyền vô trách nhiệm cần sự im lặng của những kẻ bị trị hơn là cần tới bất cứ tính tích cực nào, ngoại trừ tính tích cực mà họ khống chế được. Tính dễ quy phục theo các mệnh lệnh như điều bắt buộc tự nhiên là bài học mà mọi chính quyền đều cố khắc sâu vào tâm trí những người hoàn toàn không tham gia chính quyền. Ý muốn của kẻ bề trên và luật pháp như là ý muốn của kẻ bề trên phải được tuân phục một cách thụ động. Thế nhưng không ai chịu làm công cụ hay vật liệu đơn thuần trong tay kẻ cầm quyền, nếu họ là người có ý chí hay tinh thần, hay có một động cơ của hoạt động nội tâm làm giá đỡ cho các hành vi; bất cứ sự biểu lộ nào của các phẩm chất ấy đáng lẽ nhận được khích lệ từ các vua chúa chuyên chế thì lại phải xin chúng hạ cố bỏ qua cho. Ngay cả khi những kẻ cầm quyền vô trách nhiệm không ý thức đầy đủ được mối hiểm nguy từ tính cách năng động của các thần dân của chúng để muốn trấn áp tính cách ấy, thì bản thân tư thế đó cũng đã là sự trấn áp rồi. Sự vô hiệu hóa nỗ lực sẽ kiềm chế nỗ lực ấy, thậm chí còn hiệu quả hơn cả mọi sự ngăn cản trực diện. Giữa sự khuất phục theo ý chí của người khác với các phẩm hạnh tự lập và tự quản có một sự bất tương hợp tự nhiên. Mức độ triệt để này nhiều hay ít tùy thuộc vào sự bó buộc là quyết liệt hay lơi lỏng. Các nhà cầm quyền khác nhau rất nhiều về chi tiết khi thực thi việc kiểm soát tự do ý chí của nhân dân, hoặc thay thế sự kiểm soát ấy bằng việc quản lý công việc của nhân dân thay cho nhân dân. Nhưng sự khác nhau chỉ là ở mức độ chứ không ở nguyên tắc; và thường khi các vua chúa chuyên chế tốt lại không câu nệ chút nào trong việc xiềng xích tự do ý chí của các thần dân. Một bạo chúa xấu, khi đã đảm bảo được sự chiều theo mọi ý muốn cá nhân của mình, có thể đôi khi còn muốn bỏ mặc dân chúng; nhưng một vua chuyên chế tốt cứ khăng khăng muốn làm điều tốt cho dân chúng bằng cách ép họ làm việc theo cách tốt hơn so với cách họ vẫn biết. Những quy tắc giới hạn mọi ngành công nghiệp hàng đầu của Pháp trong các quy trình cố định, chính là công trình của Colbert(*) vĩ đại.

Trạng thái của các khả năng ở con người là rất khác nhau, tùy theo con người cảm nhận thấy bản thân mình có phải chịu hay không phải chịu sự kiềm chế nào từ bên ngoài, khác hơn là những điều bắt buộc của tự nhiên hoặc các yêu cầu của xã hội mà anh ta chia sẻ việc áp đặt chúng, và nếu anh ta thấy chúng sai trái, anh ta có quyền công khai sự bất đồng và tích cực cố gắng thay đổi chúng. Chắc chắn là dưới một chính thể nhân dân cục bộ, ngay cả những người chưa được chia sẻ các đặc quyền đầy đủ của người công dân cũng có thể sử dụng quyền tự do này. Nhưng đó sẽ là một kích thích bổ sung mạnh mẽ cho tính tự lập và tính tự lực của bất cứ ai, ngay cả khi người đó khởi đầu từ địa vị thấp, và anh ta không bị buộc phải cảm thấy rằng sự thành công của anh ta phụ thuộc vào ấn tượng mà anh ta gây ra đối với cảm tình và lòng ưu ái của ai đó khác ngoài anh ta. Sẽ có một tác động lớn làm nản lòng cho một cá nhân và còn có tác động làm nản lòng lớn hơn nữa cho một giai cấp, nếu họ bị đặt ra ngoài hiến pháp, nếu họ bị đẩy tới chỗ phải nài xin ở ngoài cánh cửa với các vị trọng tài định đoạt số phận của họ mà không tham khảo ý kiến của họ. Điểm cực đại trong sự gia tăng tác động của tự do đến tính cách chỉ đạt được, khi con người hành động trong tư cách một công dân có mọi đặc quyền như những người khác, hoặc là trong tư cách trông đợi sẽ trở thành một công dân như thế.

Một cái còn quan trọng hơn nữa so với vấn đề cảm nhận nêu trên, đó là tính kỷ luật trong thực hành mà tính cách con người tiếp thu được nhờ vào việc các công dân thi thoảng được yêu cầu luân phiên thực hiện một chức năng xã hội nào đó trong một khoảng thời gian. Có một vấn đề hãy còn chưa được khảo sát đầy đủ, ấy là cuộc sống đời thường của con người phần nhiều chẳng đóng góp được bao nhiêu để làm cho nhận thức hay tình cảm của anh ta có được một tầm rộng lớn nào đó. Công việc của con người thường là đều đặn hằng ngày, không phải là thứ lao động vì yêu thích mà là lao động vì tư lợi trong hình thức sơ khai nhất, nhằm thỏa mãn các nhu cầu hằng ngày; cả đồ vật làm ra lẫn quá trình thực hiện đều chẳng đưa tâm trí con người đến được với những tư tưởng và tình cảm vượt ra ngoài các cá nhân; nếu có được các sách hướng dẫn thì cũng chẳng có kích thích ham muốn đọc chúng; trong đa số các trường hợp một cá nhân không tiếp cận được với người nào có văn hóa cao hơn bản thân anh ta. Nếu cho anh ta làm công việc gì đó phục vụ công chúng thì ở mức độ nhất định chuyện này sẽ bù đắp được mọi thiếu hụt ấy. Nếu hoàn cảnh cho phép phân công cho anh ta một số trách nhiệm công cộng đủ lớn, nó sẽ khiến anh ta trở thành con người được rèn luyện. Tuy hệ thống xã hội và các tư tưởng đạo đức thời cổ đại có những khiếm khuyết, nhưng việc thực hành theo kiểu tòa án dicastery(*) và hội nghị ecclesia(*) đã khiến cho chuẩn mực trí tuệ của một công dân Athens trung bình vượt xa mọi chuẩn mực tương ứng của các đám đông khác được biết tới ở thời cổ đại hay hiện đại. Các bằng chứng cho điều này hiện rõ ràng trên mỗi trang sách của vị sử gia vĩ đại về Hy Lạp của chúng ta [ám chỉ sử gia Anh George Grote – N.D]; nhưng chắc là chúng ta không cần phải lưu ý thêm điều gì khác nữa, ngoài chất lượng cao của các diễn văn mà các nhà hùng biện vĩ đại đã tính toán để tác động hiệu quả nhất lên sự hiểu biết và ý chí của họ. Một lợi ích cùng loại này, tuy ở mức độ ít hơn nhiều, đã được tạo ra trong những người dân Anh trung lưu lớp dưới bởi nghĩa vụ của họ được xếp vào bồi thẩm đoàn phục vụ cho nhiệm vụ cấp xã: việc này tuy không có nhiều, cũng không liên tục và cũng chẳng đưa họ tới được thật nhiều sự phong phú đa dạng của các suy nghĩ cao cả, so sánh với sự giáo dục nhân dân mà mỗi công dân Athens thu nhận được từ các thiết chế dân chủ của đô thị, nhưng nó cũng làm cho họ thành những người rất khác về mặt tư tưởng và về mặt phát triển các khả năng, so với những người chẳng hề làm gì khác trong đời ngoài việc cạo giấy hay bán hàng ở sau quầy.

Phần đạo đức của sự chỉ dạy, có được do việc tham gia của các công dân với tư cách cá nhân vào các chức năng công cộng, ngay nếu như hiếm hoi, cũng còn đáng hoan nghênh nhiều hơn nữa. Một khi thật say sưa với công việc, anh ta sẽ được kêu gọi để cân nhắc các quyền lợi không phải chỉ của riêng bản thân mình; để được hướng dẫn bởi một quy tắc khác với sự thiên vị cho cá nhân mình trong trường hợp có mâu thuẫn; để áp dụng cho tất cả mọi người các nguyên tắc và châm ngôn mà lý do tồn tại của chúng là hướng tới sự tốt đẹp chung: thông thường trong công việc của mình anh ta sẽ được kết giao với những trí tuệ hiểu biết nhiều hơn anh ta về tư tưởng và hoạt động tư duy, mà việc học hỏi chúng sẽ cung cấp cho anh ta lý lẽ để hiểu biết và khuyến khích anh ta cảm nhận được quyền lợi chung. Anh ta sẽ có cơ hội cảm nhận rằng mình là một phần của công chúng và bất cứ cái gì có lợi cho công chúng cũng là có lợi cho mình. Ở đâu mà không có trường học dạy tinh thần cộng đồng như thế, thì khó mà nuôi dưỡng được một ý nghĩa nào cho những con người cá thể trong tình trạng thiếu vắng tình thế xã hội cao cả để họ có được một trách nhiệm nào đối với xã hội, ngoại trừ tuân theo pháp luật và phục tùng chính quyền. Sẽ không có được cảm xúc bất vụ lợi của việc đồng hóa mình với công chúng. Mọi tư tưởng và tình cảm, dù là thuộc về quyền lợi hay trách nhiệm, đều dồn cả vào cá nhân và gia đình. Con người đó sẽ không bao giờ nghĩ tới bất cứ quyền lợi tập thể nào, bất cứ mục tiêu nào được theo đuổi trong sự liên kết cùng với những người khác, ngoại trừ các mục tiêu trong sự tranh đua với họ và làm thiệt hại cho họ ở chừng mực nào đó. Một người láng giềng không có liên minh hay kết giao nào, vì lẽ anh ta chẳng khi nào bận rộn lo toan với bất cứ công việc chung nào để cùng hưởng lợi, cho nên anh ta chỉ còn là một đối thủ cạnh tranh. Như thế thì ngay cả đạo đức cá nhân cũng bị tổn hại, còn đạo đức công cộng thì thực chẳng còn gì. Giả sử như đó là trạng thái sự vật có tính phổ quát và duy nhất khả dĩ, thì khát vọng tột cùng của người đề ra luật pháp và của 

3

HÌNH THỨC CHÍNH THỂ MANG TÍNH ĐẠI DIỆN LÀ HÌNH THỨC CHÍNH THỂ LÝ TƯỞNG TỐT ĐẸP NHẤT

Một thời gian khá lâu (có lẽ suốt chiều dài của nền tự do ở nước Anh) người ta thường hay nói rằng nếu đảm bảo có một ông vua chuyên chế tốt thì nền quân chủ chuyên chế sẽ là hình thức chính thể tốt nhất. Tôi xem ý kiến đó là một nhận thức cấp tiến sai lầm nguy hại nhất về vấn đề hình thức chính thể nào là tốt; chừng nào ý kiến này còn chưa bị thanh toán, nó còn gây hại rất lớn cho hết thảy các xem xét về chính thể của chúng ta.

Giả thuyết này cho rằng quyền chuyên chế độc đoán trong tay của một cá nhân xuất chúng sẽ đảm bảo việc thi hành đoan chính và thông minh mọi trách nhiệm của chính thể. Pháp luật tốt sẽ được thiết lập và thi hành, pháp luật xấu sẽ được cải cách; những người tốt nhất sẽ được đặt ở mọi vị trí có trách nhiệm; công lý cũng sẽ được thực thi, các gánh nặng thuế má công cộng sẽ nhẹ nhàng và được áp đặt sáng suốt, mọi nhánh hành pháp đều được điều khiển trong sạch và thông minh, tất cả đều tương xứng với hoàn cảnh đất nước và với mức độ giáo dưỡng trí tuệ và đạo đức mà hoàn cảnh ấy cho phép. Tôi cũng muốn thừa nhận tất cả những cái đó vì mục đích tranh luận; nhưng tôi buộc phải chỉ ra sự nhượng bộ lớn đến chừng nào, và cho thấy danh hiệu đơn giản “một ông vua chuyên chế tốt” khó mà mang lại được các kết quả nói trên. Việc thực hiện các kết quả ấy thực ra hàm ý không phải một ông vua tốt đơn thuần mà phải là một đảng toàn trị. Ông ta phải luôn luôn được thông tin chính xác trong rất nhiều chi tiết về sự quản lý và hoạt động của mọi nhánh hành pháp tại mỗi địa phương của đất nước, và ông ta phải có thể, suốt hai mươi bốn tiếng trong một ngày, chú ý đầy đủ đến hết thảy mọi người, từ vua cho đến người lao động hèn mọn nhất, để thực hiện việc giám thị trong phạm vi rộng lớn ấy; hoặc là ít nhất ông ta cũng phải có khả năng phân biệt và chọn ra được trong đám đông các thần dân của mình không những một số đông những người có khả năng và trung thực nhất thích hợp cho việc điều hành mỗi nhánh hành chính công cộng dưới sự giám sát và kiểm tra, mà cả một thiểu số những người có đức hạnh và tài năng phi phàm, những người có thể tin cậy để chẳng những được giao công việc mà không cần sự giám sát kia, mà còn chính mình thi hành sự giám sát ấy đối với những người khác. Các khả năng và nghị lực đòi hỏi để hoàn tất nhiệm vụ trên một cách có thể chấp nhận được là quá phi thường, khiến thật khó tưởng tượng có một ông vua chuyên chế tốt nào như chúng ta giả định có thể sẵn sàng làm được, trừ phi chỉ để tránh những cái xấu không dung thứ được và chuẩn bị quá độ tới một cái gì đó còn ở phía trước. Nhưng vẫn có thể tranh luận được mà không cần phải tính đến những thứ mênh mông thiên địa ấy. Giả sử rằng khó khăn này được khắc phục, lúc ấy chúng ta ắt sẽ có cái gì? Một người có tinh thần tích cực siêu phàm điều hành toàn hộ hoạt động của một dân tộc thụ động về tinh thần. Tính thụ động của họ hàm chứa ngay trong ý tưởng về một quyền lực độc đoán. Toàn thể dân tộc cũng như mỗi cá nhân hợp thành nó không có tiếng nói tiềm năng nào về vận mệnh của chính mình. Họ không được thực hành ý chí của mình về phương diện quyền lợi tập thể của họ. Mọi thứ đều được quyết định thay cho họ bởi một ý chí không phải của chính họ và việc họ không tuân phục sẽ là tội lỗi theo luật pháp.

Loại người nào có thể hình thành dưới một chế độ như vậy? Tư tưởng của họ và các năng lực tích cực của họ sẽ đạt được sự phát triển nào dưới chế độ ấy? Về mặt thuần túy lý thuyết, có lẽ họ sẽ được phép suy luận nghiên cứu, chừng nào các suy xét của họ không đụng đến chính trị hoặc không có tí chút nào liên hệ với việc thực hành chúng. Trong các hoạt động thực tiễn thì nhiều nhất là họ được cho phép kiến nghị; ngay cả dưới triều các vua chuyên chế ôn hòa nhất cũng không có ai ngoài những người được thừa nhận và có tiếng tăm cao nhất là có thể hy vọng các đề nghị của họ được những kẻ điều hành công việc biết tới, nhưng cũng ít có cơ may được xem xét. Trong trường hợp đó, một người phải có sở thích phi thường về hoạt động trí tuệ cho riêng mình mới bắt bản thân mình chịu khó suy nghĩ khi biết rằng suy nghĩ của mình sẽ không thể có một hiệu quả nào đối với thế giới bên ngoài, hoặc mới tự rèn luyện những khả năng chẳng có chút cơ may nào được phép thực hiện. Hoạt động tinh thần chỉ có được động cơ kích thích đầy đủ nơi một ít người có đầu óc của một thế hệ, khi kết quả của nó có triển vọng thực hiện cho một số ứng dụng thực tế nào đó. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là toàn thể dân tộc bị thiếu thốn trí tuệ. Các sinh hoạt làm ăn bình thường nhất định phải được mỗi cá nhân hay gia đình thực hiện; các hoạt động này sẽ phát huy một số khả năng và trí tuệ nào đó trong phạm vi hạn hẹp nhất định của các ý tưởng. Có thể sẽ có một giai tầng chọn lọc gồm các nhà bác học, những người vun trồng khoa học hướng tới ứng dụng vật chất của nó hay nhằm thú vui theo đuổi công việc. Sẽ có một hệ thống quan liêu; và những kẻ được huấn luyện cho hệ thống đó sẽ được dạy cho biết tối thiểu cũng vài châm ngôn thực dụng về chính quyền và hành chính công cộng. Có thể, và thường là đúng như vậy, sẽ có một tổ chức có hệ thống của sức mạnh tinh thần ưu tú nhất trong nước về một phương hướng đặc biệt nào đó (thông thường là quân phiệt) nhằm đề cao sự vĩ đại của ông vua chuyên chế. Nhưng công chúng rộng rãi sẽ không có thông tin cũng như sẽ không có hứng thú với mọi chuyện thực hành lớn lao hơn; hoặc giả họ có biết chút gì về những chuyện này thì lại là biết rất nông cạn hời hợt, giống như những thợ cơ khí chưa từng cầm dụng cụ trong tay.

Không phải họ sẽ chỉ bị tổn thương riêng về trí tuệ mà thôi. Các khả năng đạo đức của họ cũng sẽ bị cằn cỗi. Bất cứ ở đâu mà phạm vi hành động của con người bị hạn chế một cách nhân tạo thì các cảm xúc của họ cũng bị thu hẹp lại và còi cọc đi theo cùng tỷ lệ. Hành động là thức ăn nuôi dưỡng cảm xúc, ngay cả tình cảm gia đình cũng được vun bồi bằng các giúp đỡ tự nguyện. Để cho một người không có việc gì làm nhằm phục vụ cho đất nước của mình thì anh ta cũng sẽ không quan tâm đến chuyện đó nữa. Lời người xưa nói rằng dưới chính thể chuyên chế, tối đa cũng chỉ có được một nhà ái quốc, đó chính là ông vua chuyên chế; và lời nói ấy là sự đánh giá chính xác các hiệu quả của sự khuất phục tuyệt đối, dù là đối với một ông chủ tốt và khôn ngoan. Còn lại tôn giáo: ít nhất cũng có thể tưởng rằng ở đây có một chỗ dựa tin cậy để mở mắt và khai trí cho những người bị chà đạp dưới gót chân. Thế nhưng tôn giáo, ngay cả khi giả thiết nó thoát khỏi bị xuyên tạc để phục vụ cho chế độ chuyên chế đi nữa, trong các hoàn cảnh ấy cũng không còn là mối quan tâm xã hội nữa và thu hẹp lại trong quan hệ riêng tư giữa một cá nhân với Đấng Sáng thế của anh ta, ở đó chuyện an nguy chỉ là việc cứu vớt linh hồn cá nhân mà thôi. Tôn giáo trong hình hài như thế hoàn toàn hòa hợp với chủ nghĩa vị kỷ tư lợi và hẹp hòi nhất, nó đồng nhất hóa người sùng đạo ở trong một chút ít cảm xúc về những người đồng loại với anh ta như một lạc thú duy cảm.

Một chế độ chuyên chế tốt có nghĩa là một chính thể, trong đó dù ở chừng mực phụ thuộc vào ông vua chuyên chế, các quan chức nhà nước không thực hiện các cuộc đàn áp công khai, nhưng điều khiển mọi quyền lợi tập thể của dân chúng thay cho dân chúng, suy nghĩ mọi chuyện liên quan đến quyền lợi tập thể thay cho dân chúng, tâm trí của dân chúng được hình thành bởi sự từ bỏ năng lực của chính mình và thuận tình với sự từ bỏ ấy. Phó mặc mọi thứ cho Chính quyền giống như phó thác cho mệnh trời cũng đồng nghĩa với việc không quan tâm gì đến những thứ ấy và cam chịu chấp nhận mọi kết quả, dù không vừa ý, như các trừng phạt của Tự nhiên. Ngoại trừ một số ít những người ham học hỏi có mối quan tâm trí tuệ đến việc suy luận cho riêng mình, thì trí tuệ và tình cảm của toàn thể dân chúng đều hàng phục trước các quan tâm vật chất; khi các quan tâm vật chất ấy được đảm bảo thì tâm trí và tình cảm của họ hướng tới các cuộc vui chơi và trang sức cho cuộc sống riêng tư. Nói vậy tức là nói rằng, nếu các chứng cứ lịch sử có một giá trị nào đó, một kỷ nguyên suy thoái của dân tộc đã đến: ấy là giả sử như dân tộc đã có cái gì đó đạt được rồi để mà suy thoái từ cái đó. Nếu dân tộc ấy chưa từng vươn lên cao hơn điều kiện của một dân tộc phương Đông thì trong điều kiện ấy họ sẽ tiếp tục trì trệ. Nhưng nếu họ, giống như Hy Lạp hay La Mã, đã từng thực hiện được cái gì đó cao hơn, thông qua năng lực, lòng yêu nước và sự mở mang trí tuệ, như là các phẩm chất dân tộc và là thành quả của riêng nền tự do, thì họ sẽ rơi trở lại vào tình trạng phương Đông. Và tình trạng ấy không có nghĩa là một sự thanh bình ngu xuẩn với độ an toàn kháng cự lại được với sự đổi thay còn tồi tệ hơn nữa; nó thường có nghĩa là sẽ bị giày xéo, bị chinh phục và bị biến thành bầy tôi tớ nô lệ, hoặc là bởi một ông vua chuyên chế mạnh hơn, hoặc là bởi một dân tộc man rợ ở gần nhất vẫn còn giữ được năng lực của tự do cùng với sự dã man hoang dại của nó.

Đó không phải chỉ đơn thuần là các xu thế tự nhiên mà là các tất yếu vốn gắn kết cố hữu với chính thể chuyên chế; từ đó sẽ chẳng có lối thoát nào, trừ phi đến lúc chế độ chuyên chế thuận nguyện thôi không là chế độ chuyên chế nữa; đến lúc mà ông vua chuyên chế tốt theo giả định tự từ bỏ quyền lực của mình và tuy còn giữ quyền lực dự phòng nhưng cho phép công việc chung của chính quyền được triển khai cứ như là dân chúng tự quản thực sự. Dù cho khả năng xảy ra chuyện này có ít bao nhiêu đi nữa, chúng ta vẫn có thể hình dung một ông vua chuyên chế tuân theo rất nhiều quy phạm và sự kiềm chế của chính thể lập hiến, ông ta có thể cho phép một quyền tự do báo chí và thảo luận để công luận có thể hình thành và phát biểu về các công việc quốc gia. Ông ta có thể chịu để cho các lợi ích địa phương được dân chúng tự mình điều hành mà không có sự can thiệp của chính quyền trung ương. Ông ta có thể cho phép kề cận bên mình một hay nhiều hội đồng cai trị, được toàn thể hay một bộ phận nào đó của quốc gia chọn lựa ra, nhưng vẫn giữ lại trong tay quyền đánh thuế và quyền lực lập pháp tối cao cũng như quyền uy hành pháp. Giả sử như ông ta có hành động như thế và từ bỏ quyền chuyên chế xa đến thế thì ông ta đã loại bỏ được phần lớn những đặc tính xấu xa của chế độ chuyên chế. Tính tích cực chính trị và khả năng tham gia các hoạt động công cộng gia tăng trong thực thể quốc gia mà không còn bị ngăn cản nữa và một công luận đã có thể tự hình thành chứ không phải chỉ là tiếng dội lại của chính quyền. Thế nhưng một cải tiến như thế sẽ là sự khởi đầu cho những khó khăn mới. Cái công luận độc lập với nền chuyên chính quân chủ ấy sẽ phải hoặc là về phe với ông ta hoặc chống lại ông ta: nếu không là cái này thì là cái kia. Mọi chính thể đều làm cho nhiều người không hài lòng, những người này bây giờ có cơ quan ngôn luận chính thức có thể bày tỏ các cảm xúc của họ, các ý kiến ngược lại với các biện pháp của chính quyền sẽ thường xuyên được biểu lộ. Liệu nhà vua sẽ làm gì, nhỡ khi các ý kiến không thuận ấy lại chiếm đa số? Liệu ông ta có thay đổi đường lối của mình hay không? Liệu ông ta có chiều theo ý dân chúng hay không? Nếu là có thì ông ta sẽ không còn là một ông vua chuyên chế nữa mà là một quân vương lập hiến: trở thành một cơ quan hay một thủ tướng của nhân dân, chỉ khác là không thể bị bãi chức mà thôi. Nếu là không thì ông ta hoặc là sẽ phải triệt hạ phe đối lập bằng quyền lực chuyên chế của mình, hoặc là sẽ phát sinh một sự đối kháng thường trực giữa dân chúng và một cá nhân, sự đối kháng ấy chỉ có thể có một kết cục khả dĩ. Ngay như một nguyên lý tôn giáo của sự tuân phục thụ động và một “phép thần” cũng chẳng ngăn được lâu những hệ quả tự nhiên của một tình thế như vậy. Nhà vua sẽ phải chịu thua và thích ứng với các điều kiện của một chế độ quân chủ lập hiến hoặc là nhường chỗ cho một người khác. Như thế thì chính thể chuyên chế sẽ chủ yếu chỉ còn là trên danh nghĩa, sẽ chẳng có được bao nhiêu lợi thế giả định là của nền quân chủ độc đoán; trong khi ấy nó lại thể hiện các lợi thế của chính thể tự do ở mức độ rất không hoàn hảo; bởi vì dù cho các công dân có được hưởng quyền tự do trên thực tế nhiều đến bao nhiêu đi nữa, họ vẫn không bao giờ có thể quên được rằng họ được dung thứ cho phép có quyền ấy và họ phải nhờ vào một sự nhân nhượng có thể bị lấy lại bất cứ lúc nào trong hiện trạng hiến pháp nhà nước, rằng theo pháp luật họ vẫn là những kẻ nô lệ, dẫu là của một ông chủ khôn ngoan hoặc hay gia ân.

Cũng chẳng đáng ngạc nhiên lắm, nếu các nhà cải cách thiếu kiên nhẫn và bị thất vọng phải rên rỉ vì những trở ngại chống lại các cải tiến công cộng có lợi nhất, những trở ngại gây ra bởi sự ngu dốt, sự lãnh đạm vô tình, tính khó bảo, tính ngoan cố tai ác của dân chúng, các tổ hợp đồi bại của các tính tư lợi đầy vị kỷ được trang bị bởi vũ khí hùng mạnh do các thiết chế tự do cung cấp, các nhà cải cách ấy đôi khi luyến tiếc một bàn tay sắt sẽ san bằng tất cả những trở ngại đó và ép buộc một tập hợp dân chúng cứng đầu chịu cai trị tốt hơn nữa. Tuy nhiên, (ta hãy bỏ qua một bên thực tế là thỉnh thoảng đôi khi cũng có một ông vua chuyên chế triệt bỏ sự lạm quyền, nhưng sẽ có chín mươi chín ông vua chuyên chế khác chẳng làm gì cả ngoài việc tạo nên thói lộng quyền ấy) những ai nhìn theo hướng như thế để mong thực hiện các kỳ vọng của mình, thực ra đã bỏ mất một yếu tố mang tính nguyên tắc của ý tưởng về chính thể tốt, đó là sự cải tiến bản thân dân chúng. Một trong các lợi ích của nền tự do là kẻ cầm quyền không thể làm ngơ trước ý kiến của dân chúng và không thể cải thiện các công chuyện của dân chúng thay cho họ mà lại không cải thiện họ. Nếu như giả sử rằng dân chúng có thể được cai trị tốt bất chấp ý nguyện của họ thì chính thể tốt của họ cũng sẽ không kéo dài được lâu hơn là nền tự do của một dân chúng được giải phóng nhờ quân đội nước ngoài mà không có sự hợp tác của chính họ. Quả đúng là một ông vua chuyên chế có thể giáo dục một tập hợp dân chúng, và nếu quả có làm như thế thật thì đó sẽ là sự tạ lỗi tốt nhất cho nền chuyên chế của ông ta. Thế nhưng mọi nền giáo dục đều nhằm làm cho con người không giống với các cỗ máy, nên về lâu về dài giáo dục sẽ làm họ đòi hỏi được tự mình kiểm soát các hành động của mình. Các triết gia hàng đầu của Pháp ở thế kỷ XVIII đã từng được giáo dục bởi các tín đồ dòng tu Jesuit. Có vẻ như ngay cả nền giáo dục Jesuit thực ra cũng bồi dưỡng lòng ham muốn tự do. Bất cứ cái gì tiếp thêm sinh lực, dù ít đến đâu, cho các khả năng, cũng sẽ tăng thêm lòng ham muốn nhằm thực hành nhiều hơn các khả năng ấy mà không bị ngăn trở; một nền giáo dục đại chúng sẽ là thất bại, nếu nó giáo dục dân chúng tới bất kỳ trạng thái nào đó mà không phải là trạng thái gây được cho họ lòng ham muốn và đòi hỏi.

Tôi hoàn toàn không có ý lên án sự thừa nhận quyền lực chuyên chế dưới hình thức một nền độc tài tạm thời trong những trường hợp cực kỳ khẩn cấp. Xưa kia các dân tộc tự do cũng đã từng ban phong quyền lực như thế theo sự chọn lựa của chính mình, như dùng một phương thuốc cần thiết chữa bệnh cho thể trạng tổ chức chính trị, khi căn bệnh không thể điều trị được bằng các phương tiện ít bạo lực hơn. Nhưng việc chấp nhận chế độ độc tài, ngay cả trong một thời gian giới hạn dứt khoát, cũng chỉ có thể được biện minh, nếu như nhà độc tài sử dụng toàn bộ quyền lực nắm được nhằm san bằng trở lực đã tước đoạt quyền hưởng thụ tự do của dân tộc, tương tự như Solon hay Pittacus(*). Một chính thể chuyên chế tốt là một ý tưởng hoàn toàn trá ngụy (ngoại trừ như phương tiện cho mục đích nhất thời nào đó), trên thực tế nó trở thành những điều hão huyền vô nghĩa và nguy hiểm nhất. Cái xấu hướng tới cái xấu, chế độ chuyên chế tốt ở một nước có đôi chút tiến bộ văn minh sẽ có hại nhiều hơn là ở một nước tồi tệ; bởi vì nó làm suy nhược và giảm sút tư tưởng, tình cảm và năng lực của dân chúng. Nền chuyên chế của Augustus đã chuẩn bị dân chúng La Mã cho Tiberius(*). Nếu toàn thể sắc thái tính cách của dân chúng trước tiên đã không bị hàng phục suốt gần hai thế hệ của tình trạng nô lệ êm đềm ấy, hẳn là họ đã còn đủ tinh thần để nổi loạn chống lại chế độ nô lệ ngày càng trở nên ghê tởm hơn.

Không có khó khăn gì để chỉ ra rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất là hình thức chính thể trong đó chủ quyền, hay quyền kiểm soát tối cao như một phương sách cuối cùng, được trao cho toàn thể khối tập hợp cộng đồng; mỗi một công dân không chỉ có tiếng nói trong việc vận dụng chủ quyền cơ bản ấy, mà còn ít nhất cũng thỉnh thoảng được yêu cầu tham gia thực sự vào việc cai trị bằng cách đích thân thực hiện một chức năng nào đó, mang tính địa phương hay tổng quát.

Để kiểm nghiệm giả thiết này thì trong việc khảo sát cần phải dẫn lại hai nhánh phân định phẩm chất tốt của chính thể đã được nêu ra ở chương trước; bản thân sự thẩm tra tính tốt xấu của một chính thể sẽ tiện lợi phân chia ra hai phần: chính thể ấy thúc đẩy đến đâu việc điều hành các hoạt động của xã hội bằng phương tiện là các tính năng hiện tồn của các thành viên như đạo đức, trí tuệ và tính tích cực; và hiệu quả của chính thể ra sao trong việc cải tiến hay làm hư hỏng các tính năng ấy.

Chắc không cần phải nói rằng hình thức chính thể lý tưởng tốt nhất không hàm nghĩa là hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong bất cứ tình trạng văn minh nào, mà hàm nghĩa một hình thức có thể áp dụng hay chọn lựa trong những hoàn cảnh nhất định, một hình thức có được nhiều nhất các hậu quả lợi ích, trước mắt cũng như trong triển vọng lâu dài. Một chính thể hoàn toàn mang tính nhân dân chỉ là một tổ chức xã hội có khả năng nhận ra mọi đòi hỏi của đặc tính ấy. Tính ưu việt thể hiện trong cả hai bộ phận phân chia tính ưu tú của một hiến pháp chính trị. Một chính thể vừa cai trị tốt, vừa thúc đẩy các hình thức tốt hơn và cao hơn của tính cách dân tộc, sẽ được tán thành nhiều hơn so với bất cứ tổ chức xã hội nào khác.

Tính ưu việt của chính thể có liên quan đến hiện trạng an sinh dựa trên hai nguyên tắc của tính chân lý phổ quát và tính có thể áp dụng được, cũng như của các đề xuất tổng quát bất kỳ có thể đặt vào trong mối quan hệ với các hoạt động của con người. Nguyên tắc thứ nhất là, các quyền và lợi ích của mỗi cá nhân bất kỳ chỉ được an toàn không bị coi thường khi bản thân cá nhân ấy có khả năng và thường xuyên có ý định đương đầu bảo vệ chúng. Nguyên tắc thứ hai là, sự phồn vinh chung sẽ đạt tới tầm cao hơn và được phân phối rộng rãi hơn, tỷ lệ với số lượng và sự đa dạng của các năng lực cá nhân tham dự vào việc thúc đẩy sự phồn vinh ấy.

Đặt hai đề xuất đó trong một dạng chuyên biệt hơn cho việc áp dụng trong hiện tại; con người chỉ được an toàn khỏi bàn tay gây ác của các kẻ khác theo một tỷ lệ với việc họ có được quyền lực để tự bảo vệ mình (self-protecting); và họ chỉ đạt được kết quả ở mức độ cao trong cuộc tranh đấu với Thiên nhiên, theo một tỷ lệ với việc họ được tự lập (self-dependent), dựa vào việc họ có thể làm được gì, hoặc riêng rẽ hoặc phối hợp, hơn là dựa vào những cái người khác làm cho họ.

Đề xuất thứ nhất – rằng mỗi người là người bảo vệ an toàn duy nhất cho các quyền và lợi ích của bản thân mình – là một trong những châm ngôn cơ bản của sự khôn ngoan mà bất cứ ai có khả năng điều khiển công việc của bản thân mình cũng đều hành động hoàn toàn theo nó trong mọi chuyện phải tự quan tâm tới mình. Nhiều người rất không ưa châm ngôn này như một học thuyết chính trị và thích thóa mạ nó như một học thuyết hoàn toàn ích kỷ. Chúng ta có thể trả lời những người này rằng, bất cứ khi nào chấm dứt cái sự thật rằng loài người theo lệ thường vẫn ưu ái bản thân mình hơn những người khác, ưu ái những người gần gũi với mình nhiều hơn những người xa xôi, thì kể từ lúc ấy chế độ Cộng sản sẽ không chỉ là có thể áp dụng được mà còn là hình thức xã hội duy nhất có thể biện minh được; và tới lúc mà thời điểm ấy đến thì chế độ đó nhất định sẽ có hiệu quả. Về phần riêng tôi, là người không tin vào tính hoàn toàn vị kỷ, tôi dễ dàng thú nhận rằng chế độ Cộng sản có thể áp dụng được ngay cả bây giờ trong giới tinh hoa (elite) của loài người, và rồi sẽ trở thành có thể áp dụng được cho phần còn lại của loài người. Thế nhưng ý kiến này lại không phổ biến chút nào trong những người bảo vệ các thiết chế hiện hữu, những người cho học thuyết về tính ưu trội chung của tính tư lợi là sai lầm. Tôi nghiêng về ý nghĩ là thực ra họ cũng tin rằng đa số con người quan tâm đến bản thân mình trước khi nghĩ đến người khác. Tuy nhiên, cũng không nhất thiết phải nhấn mạnh sự khẳng định như thế để ủng hộ cho yêu sách mọi người cùng tham gia vào chủ quyền tối cao. Chúng ta không cần phải giả định rằng khi quyền lực thuộc về một giai cấp độc nhất nào thì giai cấp ấy sẽ hy sinh quyền lợi của các giai cấp khác cho giai cấp của mình một cách chủ tâm cố ý: sẽ là đủ khi khẳng định rằng lợi quyền của giai cấp bị loại ra luôn có nguy cơ bị bỏ qua khi vắng mặt những người bảo vệ tự nhiên của mình; còn nếu như lợi quyền ấy có được ngó tới thì lại được nhìn bằng con mắt rất khác với con mắt của những người liên can trực tiếp đến nó.

Thí dụ như ở đất nước này chẳng hạn, cái được gọi là các giai cấp cần lao có thể được xem như là bị loại ra khỏi mọi sự tham gia trực tiếp vào chính quyền. Tôi không tin rằng nói chung các giai cấp được tham gia trực tiếp vào chính quyền lại có ý định hy sinh các giai cấp cần lao cho bản thân họ. Đã có lần họ từng có ý định ấy; bằng chứng là các mưu toan dai dẳng kéo dài nhằm hạ thấp tiền lương bằng luật pháp. Thế nhưng ngày nay khuynh hướng thông thường của họ là hoàn toàn ngược lại: họ tự nguyện thực hiện các hy sinh đáng kể, đặc biệt là các quyền lợi tài chính của họ, vì lợi ích của các giai cấp cần lao; mà họ thường sai lầm làm phúc quá rộng rãi và bừa bãi. Tôi cũng không tin rằng trong lịch sử lại có nhà cầm quyền bị thúc đẩy bởi động cơ chân thành mong muốn thực hiện nghĩa vụ của họ đối với bộ phận dân chúng nghèo khó hơn trong nước họ. Mà bây giờ cũng có Nghị viện nào, hay hầu như mỗi thành viên nào của nó, lại chịu để mắt tới bất cứ vấn đề gì bằng cặp mắt của một người lao động? Mỗi khi có vấn đề nào nổi lên, mà trong đó giới lao động có mối quan tâm, thì chẳng phải là nó sẽ được xem xét dưới quan điểm bất kỳ nào đó, chỉ trừ quan điểm của những người làm thuê đó hay sao? Tôi không nói là quan điểm của những người lao động trong các vấn đề ấy nói chung gần với chân lý hơn là các quan điểm khác, tuy nhiên khi quả thực cũng rất gần; nhưng trong mọi trường hợp, nó phải được trân trọng lắng nghe, chứ không phải như tình trạng bây giờ: không chỉ ngoảnh mặt đi mà còn không đếm xỉa đến nữa. Thí dụ như vấn đề bãi công chẳng hạn, khó tin được liệu có một ai trong các thành viên lãnh đạo của thượng viện hay hạ viện lại không tin chắc rằng lẽ phải hoàn toàn ở về phía các ông chủ, rằng ý kiến của những người lao động chỉ là điều ngớ ngẩn. Những ai đã nghiên cứu vấn đề biết rất rõ chuyện này phổ biến đến đâu; nếu giả sử như tiếng nói của các tầng lớp bãi công được lắng nghe ở Quốc hội thì cung cách tranh luận quan điểm hẳn sẽ khác đi biết bao, hẳn sẽ bớt nông cạn hời hợt đi biết nhường nào.

Một điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động của con người là: không có ý đồ nào nhằm bảo vệ quyền lợi cho người khác, dù chân thành đến đâu đi nữa, lại có thể làm họ tự trói buộc chân tay mình. Một sự thật còn hiển nhiên hơn nữa là chỉ có bằng chính bàn tay của mình, con người mới có thể cải thiện đáng kể và lâu bền cho hoàn cảnh sống của mình. Thông qua ảnh hưởng liên kết của hai nguyên lý đó mà mọi cộng đồng tự do mới tránh được nhiều hơn khỏi bất công và tội ác xã hội, và đạt được nhiều hơn phồn vinh thịnh vượng so với các cộng đồng khác, hoặc so với chính bản thân họ, sau khi họ bị mất đi tự do của mình. Tương phản giữa các quốc gia tự do trên thế giới trong lúc nền tự do đang tồn tại so với các thần dân cùng thời đại ở các chế độ chuyên chế quân chủ hay chuyên chế tập đoàn: các đô thị Hy Lạp so với các tiểu bang (satrapies) Ba Tư; các bang cộng hòa Italia và các đô thị tự do xứ Flanders và Germany so với các lãnh địa phong kiến của châu Âu; Thụy Sĩ, Hà Lan và Anh so với Áo hay nước Pháp phản cách mạng. Sự thịnh vượng vượt trội của các quốc gia tự do là quá hiển nhiên đến nỗi chẳng bao giờ có thể chối cãi; trong khi đó tính ưu tú về thể chế và quan hệ xã hội tốt của họ được minh chứng bởi sự thịnh vượng và còn được biểu hiện rõ ràng trên mỗi trang lịch sử. Nếu chúng ta so sánh, không phải là một thời đại này với thời đại khác, mà là các chính thể khác nhau cùng tồn tại trong một thời đại, không một mức độ hỗn loạn nào được công khai biết đến ở trong các quốc gia tự do, dù có phóng đại lên nữa, lại có thể so sánh được ở cùng một thời điểm với sự chà đạp đầy miệt thị lên đám đông dân chúng diễn ra tràn lan khắp toàn bộ đời sống của các nước quân chủ, hoặc với một sự bạo ngược cá nhân đáng kinh tởm xuất hiện còn nhiều hơn chuyện thường ngày dưới những hệ thống cướp bóc được gọi là phân bố ngân sách và trong sự bí mật của các phiên tòa thật ghê sợ.

Cần phải thừa nhận rằng những lợi ích của nền tự do, như người ta được hưởng cho tới nay, có được là nhờ vào sự mở rộng đặc quyền ấy chỉ cho một bộ phận của cộng đồng; và rằng một chính thể mà những lợi ích đó được mở rộng không thiên vị cho mọi người vẫn còn là điều mơ ước chưa được thực hiện. Dù rằng mỗi bước tiến lại gần mục tiêu ấy đều có một giá trị độc lập và trong nhiều trường hợp không thể nào làm được nhiều hơn thế trong thực trạng của sự cải tiến tổng thể hiện nay, việc tham gia của tất cả mọi người vào các lợi ích đó là một quan niệm hoàn mỹ lý tưởng của chính thể tự do. Thuận theo tỷ lệ với việc có người nào đó, dù là ai đi nữa, bị loại khỏi nền tự do ấy, thì lợi quyền của những người bị loại đó sẽ bị bỏ rơi không có đảm bảo được chấp thuận như với những người khác, và bản thân họ cũng sẽ bị thiệt thòi về cơ may và sự khích lệ để cho họ sử dụng năng lực và lợi ích của bản thân và của cộng đồng, mà sự phồn vinh chung luôn luôn tỷ lệ thuận theo đó.

Đó là xét về phương diện an sinh hiện tại, sự điều hành tốt công việc của thế hệ bây giờ. Nếu ta chuyển sang vấn đề ảnh hưởng của hình thức chính thể lên tính cách, ta sẽ thấy tính ưu việt của chính thể nhân dân so với mọi chính thể khả dĩ khác còn mang tính quyết định và rõ ràng hơn nữa.

Vấn đề này thực ra phụ thuộc vào một vấn đề còn cơ bản hơn, tức là, đối với sự tốt đẹp chung cho nhân loại thì cái nào trong hai loại tính cách phổ biến phải là cái đáng mong muốn nhất để nó chiếm được ưu thế – loại tính tích cực hay loại tính thụ động; tức là cái chống lại cái ác hay là cái dung dưỡng cái ác; cái khuất phục theo hoàn cảnh hay cái nỗ lực bắt hoàn cảnh khuất phục theo mình.

Thói thường của các nhà đạo đức và thiện cảm chung của loài người thiên vị về phía loại tính thụ động. Các tính cách mạnh mẽ có thể được ngưỡng mộ, nhưng những người ngoan ngoãn dễ bảo là những người được người ta ưa thích hơn. Tính thụ động của những người hàng xóm tăng thêm cảm giác an toàn cho ta và có lợi cho tính làm theo ý mình của ta. Các tính cách thụ động, nếu là trường hợp ta không cần đến tính tích cực của chúng, có vẻ như không là vật cản trên đường ta đi. Một tính cách nhu thuận không phải là kẻ cạnh tranh nguy hiểm. Thế nhưng không có gì chắc chắn hơn rằng sự cải tiến trong hoạt động của nhân loại hoàn toàn là công trình của các tính cách không nhu thuận; và hơn thế nữa, đòi hỏi một trí tuệ tích cực có phẩm hạnh kiên nhẫn là dễ dàng hơn nhiều so với đòi hỏi một trí tuệ thụ động có phẩm hạnh mạnh mẽ.

Trong ba phẩm chất tinh thần khác nhau, trí tuệ, tính thực hành và đạo đức, không bao giờ có hoài nghi nào đối với hai thứ đầu tiên về việc cái nào trong hai loại tính phải có ưu thế. Mọi tính ưu việt về trí tuệ đều là kết quả của nỗ lực tích cực. Tính dám làm, khát vọng tiến lên, nỗ lực thử nghiệm và làm những cái mới mẻ vì lợi ích của bản thân hay của người khác, đó là cha đẻ ngay cả của các tài năng lý thuyết, nhưng chủ yếu là của các tài năng thực hành. Sự trau dồi trí tuệ tương hợp với một kiểu khác hơn là cái được mô tả mơ hồ thuộc về một tâm hồn đã dừng lại ở chuyện vui chơi hay ở việc thưởng thức đơn thuần. Tiêu chuẩn về sự suy nghĩ thực sự và mạnh mẽ, sự suy nghĩ xác định các chân lý chứ không phải các giấc mộng mơ màng, chính là sự áp dụng có kết quả vào thực hành. Ở đâu mà không có các mục đích ấy nhằm đem lại cho sự suy tư một tính xác định, một độ chính xác và một ý nghĩa dễ hiểu, thì ở đó chẳng sản sinh ra được cái gì hơn là siêu hình học thần bí của Pythagore hay kinh Vệ Đà. Về phương diện cải tiến mang tính thực hành thì điều này còn hiển nhiên hơn nữa. Một tính cách cải thiện đời sống con người là tính cách chiến đấu với các xu thế và sức mạnh thiên nhiên chứ không phải các tính cách hàng phục chúng. Các phẩm chất tự làm ra lợi ích đều nằm ở phía tính cách tích cực và mạnh mẽ, và các tập quán cũng như hành vi thúc đẩy lợi thế cho mỗi cá nhân thành viên của cộng đồng ít nhất cũng phải là bộ phận của những cái góp phần chủ yếu vào mục tiêu đưa toàn thể cộng đồng tiến lên.

Tuy nhiên về điểm tính đạo đức được ưa chuộng hơn thì có vẻ như thoạt nhìn đã thấy có chỗ đáng hoài nghi. Tôi không định viện dẫn tới cảm xúc tôn giáo nói chung khá thiên về tính cách thụ động như tính cách dễ hài hòa hơn với sự phục tùng theo ý nguyện thiêng liêng. Ki Tô giáo cũng như các tôn giáo khác đã bồi dưỡng tình cảm ấy; thế nhưng chính đặc quyền của Ki Tô giáo nhìn nhận chuyện này cũng như nhìn nhận những hiểu sai khác, là nó có khả năng từ bỏ chúng. Nếu xét một cách trừu tượng tách khỏi tôn giáo, thì một tính cách thụ động mà khuất phục trước trở ngại thay vì ráng vượt qua chúng, có thể thực không có ích gì lắm cho người khác hơn là cho bản thân, nhưng người ta có thể chờ đợi là ít nhất nó cũng vô thưởng vô phạt. Tự bằng lòng luôn được xếp vào hàng các phẩm hạnh đạo đức. Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu cho rằng tự bằng lòng nhất thiết và đương nhiên đi kèm với tính cách thụ động. Ở đâu mà tồn tại khát vọng muốn có một lợi thế còn chưa sở hữu, tâm trí lại không sở hữu nó một cách tiềm năng bằng chính sức lực của mình, cái tâm trí ấy sẽ có khuynh hướng nhìn những ai sở hữu nó với sự căm ghét ác độc. Một người cố vùng vẫy với hy vọng sẽ cải tiến được hoàn cảnh của mình sẽ là người có thiện cảm đối với những người khác đang bận rộn lo toan, hay đã thành đạt, cũng cùng trong việc theo đuổi ấy. Và ở đâu mà có đa số người bận rộn lo toan thì ở đó những ai chưa đạt được mục đích sẽ có được sự đồng cảm bởi tập quán của xứ sở và coi sự thất bại của mình là do còn thiếu cố gắng, hay chưa gặp thời vận, hoặc do kém may mắn. Thế nhưng kẻ nào ham muốn cái người khác sở hữu mà không chịu bỏ sức lực cố đạt được nó, thì hoặc là sẽ không ngớt càu nhàu trách số phận không đem lại cho anh ta cái mà anh ta chẳng cố làm cho mình, hoặc là sẽ đầy hằn học ghen tỵ với những người sở hữu cái mà anh ta muốn có. Tỷ lệ thuận với việc xem sự thành đạt trong cuộc sống là kết quả của số phận hay sự ngẫu nhiên chứ không phải do nỗ lực, mà tính ghen ghét cũng phát triển cùng với tỷ lệ ấy như một tính cách dân tộc. Bộ phận hay ghen ghét nhất của toàn thể loài người là những người phương Đông. Trong cái nhìn của các thầy dạy đạo đức phương Đông, trong các câu chuyện kể phương Đông, kẻ ghen ghét là khá nổi bật. Trong đời sống thực, kẻ ghen ghét là nỗi kinh hoàng cho tất cả những ai sở hữu bất cứ cái gì đáng mong muốn, dù đó là một lâu đài, một đứa con kháu khỉnh, hay thậm chí cả sức khỏe và tinh thần tốt: việc tạo nên định kiến lan truyền khắp nơi về con mắt của quỷ dữ được coi là hiệu quả của con mắt nhòm ngó của kẻ ghen ghét. Vị trí kế tiếp với những người phương Đông về mặt ghen ghét là một số người Nam Âu. Những người Tây Ban Nha đuổi bám theo tất cả các vĩ nhân của họ với sự ghen ghét, đầu độc cuộc sống của họ và thường thành công trong việc sớm làm cho sự thành đạt của họ phải dừng lại(*). Với người Pháp, đương nhiên cũng là một dân tộc phương nam, sự giáo dục cặp đôi của nền chuyên chế và Công giáo, bất chấp tính khí bốc đồng của họ, đã làm cho sự phục tùng và tính nhẫn nại trở thành tính cách chung của dân chúng cũng như tính khôn ngoan và tính ưu tú của họ là quan niệm được thừa nhận rộng rãi: và nếu tính ganh ghét lẫn nhau cũng như ganh ghét với sự ưu việt không lan tràn trong họ nhiều hơn như nó vốn có, thì tình trạng ấy được quy cho nhiều yếu tố khác rất quý giá có được ở trong tính cách Pháp; và chủ yếu là nhờ ở năng lực cá nhân vĩ đại, dù nó có thiếu bền chắc và khá thất thường so với cái hiện diện trong tính tự lập và tính tranh đấu của người Anglo-Saxon, năng lực ấy vẫn biểu lộ ra ở người Pháp hầu như trong mọi hướng mà các thiết chế của họ đã tạo thuận lợi cho nó.

Chắc chắn rằng ở mọi đất nước đều có các tính cách tự bằng lòng, không phải chỉ là không tìm kiếm mà còn không ham muốn cái mà họ không sở hữu, và những tính cách ấy đương nhiên không hàm chứa ác ý đối với những người có vẻ như có nhiều thuận lợi hơn. Thế nhưng nếu đại đa số có vẻ tự bằng lòng thì thực ra lại là sự không bằng lòng kết hợp với tính lười biếng hay tính thiếu nghiêm khắc với bản thân, cái đó làm cho người ta thường ưa kéo những người khác xuống cho bằng mức với mình trong khi không xúc tiến các phương tiện chính đáng để vươn mình lên. Và ngay như nếu chúng ta bó hẹp trong việc xem xét trường hợp của sự tự bằng lòng “trong sạch”, “thanh bần”, ta cũng thấy rằng nó chỉ làm ta ngưỡng mộ, khi có sự thờ ơ thuần túy đối với việc cải tiến các hoàn cảnh bên ngoài, đồng thời lại có sự nỗ lực vươn tới tiến bộ không ngừng trong giá trị tinh thần, hoặc ít nhất cũng có nhiệt tình vô tư trong việc làm lợi cho người khác. Còn một con người tự bằng lòng, hay một gia đình tự bằng lòng, không có tham vọng làm cho bất cứ ai được hạnh phúc hơn, không có tham vọng thúc đẩy điều tốt của đất nước họ hay của hàng xóm láng giềng, hoặc cải tiến bản thân họ thành người đạo đức ưu tú, những người như thế chẳng gây cho ta sự ngưỡng mộ cũng như sự tán đồng. Chúng ta sẽ có lý khi quy kết loại tự bằng lòng ấy là thiên về tính hèn yếu và thiếu tinh thần. Tính tự bằng lòng mà chúng ta tán đồng là khả năng biết đánh giá một cách vui vẻ vô tư giá trị so sánh của các đối tượng ham muốn khác nhau và biết tự nguyện từ bỏ cái nhỏ bé khi nó không tương hợp với cái lớn lao hơn. Tuy nhiên, đây là sự ưu tú có phần tự nhiên hơn của tính cách, nó thuận theo tỷ lệ với việc lo toan bận rộn một cách tích cực nhằm cải tiến tính cách của bản thân hay của nhiều người khác. Con người nào luôn luôn đo lường năng lực của mình trước các khó khăn sẽ hiểu được rằng: các khó khăn nào đối với mình là không thể vượt qua, các khó khăn nào, dẫu có thể vượt qua được, nhưng kết quả sẽ không xứng với cái giá phải trả. Người nào mà tư tưởng và hoạt động luôn được cần đến, thường xuyên được sử dụng trong các việc lớn hữu ích và khả thi, người ấy hơn ai hết không bao giờ lại chịu để cho tâm trí luẩn quẩn trong việc nghiền ngẫm sự bất mãn đối với những cái không đáng trả giá để đạt được, hoặc là không đáng đối với riêng mình. Như vậy tính cách tích cực, tự lập, không những chỉ là tốt nhất về bản chất nội tại, mà có lẽ còn bao gồm tất cả những gì thực sự ưu tú hay đáng mong muốn hiện diện ở trong loại tính cách đối lập lại.

Tính cách cố vươn lên không ngừng của người Anh và người Hoa Kỳ chỉ gợi nên một sự phê phán là họ thường dành sức lực cho những mục tiêu rất thứ yếu. Nhưng, thật ra, nền tảng của những hy vọng tốt đẹp nhất nhằm cải tiến chung cho nhân loại nằm ở trong chính bản thân tính cách ấy. Đã có nhận xét sâu sắc rằng mỗi khi có chuyện gì sai hỏng thì câu nói cửa miệng của dân Pháp là: “Cần phải nhẫn nại” (Il faut de la patience), còn của dân Anh là: “Thật là chuyện đáng xấu hổ” (What a shame!). Người nào nghĩ rằng đó là chuyện đáng xấu hổ mỗi khi thấy có gì xấu – người kết luận ngay rằng cái xấu lẽ ra có thể và cần phải được ngăn chặn, chính là những người rốt cuộc rồi sẽ làm được nhiều nhất để biến cải thế giới này tốt đẹp hơn. Nếu những ham muốn được đặt vào những chỗ thấp kém, nếu họ không vượt xa hơn các tiện nghi vật chất và phô bày sự giàu sang, thì kết quả trước mắt của năng lực sẽ không nhiều hơn là sự mở rộng liên tục quyền lực con người đối với các đối tượng vật chất; nhưng dù có như vậy đi nữa thì cái đó cũng tạo ra không gian và chuẩn bị các dụng cụ vật chất cho các thành tựu trí tuệ và xã hội vĩ đại nhất; chừng nào còn có năng lực thì người ta sẽ sử dụng nó, và nó sẽ được sử dụng càng lúc càng nhiều hơn để hoàn thiện, không phải chỉ riêng các hoàn cảnh ngoại tại, mà còn cả bản chất nội tâm của con người. Tính thụ động, không có chí, không có ham muốn là những cản trở đối với sự cải tiến, những cản trở còn tai hại hơn so với bất cứ định hướng sai nào đối với năng lực; và chỉ thông qua những tính cách đó thôi, một khi chúng tồn tại trong đông đảo quần chúng, thì bất cứ định hướng sai lầm nào của một thiểu số năng động cũng đều dẫn đến những hậu quả khủng khiếp. Chính những cái đó là nguyên nhân chủ yếu vẫn kìm giữ đại đa số nhân loại ở trong trạng thái dã man và bán khai.

Bây giờ thì chẳng còn chút nghi ngờ nào rằng các chính quyền của Một Người hay một Ít Người sẽ ưu ái tính cách thụ động, còn chính quyền của Nhiều Người sẽ ưu ái tính cách tự lập tích cực. Các nhà cầm quyền vô trách nhiệm cần sự im lặng của những kẻ bị trị hơn là cần tới bất cứ tính tích cực nào, ngoại trừ tính tích cực mà họ khống chế được. Tính dễ quy phục theo các mệnh lệnh như điều bắt buộc tự nhiên là bài học mà mọi chính quyền đều cố khắc sâu vào tâm trí những người hoàn toàn không tham gia chính quyền. Ý muốn của kẻ bề trên và luật pháp như là ý muốn của kẻ bề trên phải được tuân phục một cách thụ động. Thế nhưng không ai chịu làm công cụ hay vật liệu đơn thuần trong tay kẻ cầm quyền, nếu họ là người có ý chí hay tinh thần, hay có một động cơ của hoạt động nội tâm làm giá đỡ cho các hành vi; bất cứ sự biểu lộ nào của các phẩm chất ấy đáng lẽ nhận được khích lệ từ các vua chúa chuyên chế thì lại phải xin chúng hạ cố bỏ qua cho. Ngay cả khi những kẻ cầm quyền vô trách nhiệm không ý thức đầy đủ được mối hiểm nguy từ tính cách năng động của các thần dân của chúng để muốn trấn áp tính cách ấy, thì bản thân tư thế đó cũng đã là sự trấn áp rồi. Sự vô hiệu hóa nỗ lực sẽ kiềm chế nỗ lực ấy, thậm chí còn hiệu quả hơn cả mọi sự ngăn cản trực diện. Giữa sự khuất phục theo ý chí của người khác với các phẩm hạnh tự lập và tự quản có một sự bất tương hợp tự nhiên. Mức độ triệt để này nhiều hay ít tùy thuộc vào sự bó buộc là quyết liệt hay lơi lỏng. Các nhà cầm quyền khác nhau rất nhiều về chi tiết khi thực thi việc kiểm soát tự do ý chí của nhân dân, hoặc thay thế sự kiểm soát ấy bằng việc quản lý công việc của nhân dân thay cho nhân dân. Nhưng sự khác nhau chỉ là ở mức độ chứ không ở nguyên tắc; và thường khi các vua chúa chuyên chế tốt lại không câu nệ chút nào trong việc xiềng xích tự do ý chí của các thần dân. Một bạo chúa xấu, khi đã đảm bảo được sự chiều theo mọi ý muốn cá nhân của mình, có thể đôi khi còn muốn bỏ mặc dân chúng; nhưng một vua chuyên chế tốt cứ khăng khăng muốn làm điều tốt cho dân chúng bằng cách ép họ làm việc theo cách tốt hơn so với cách họ vẫn biết. Những quy tắc giới hạn mọi ngành công nghiệp hàng đầu của Pháp trong các quy trình cố định, chính là công trình của Colbert(*) vĩ đại.

Trạng thái của các khả năng ở con người là rất khác nhau, tùy theo con người cảm nhận thấy bản thân mình có phải chịu hay không phải chịu sự kiềm chế nào từ bên ngoài, khác hơn là những điều bắt buộc của tự nhiên hoặc các yêu cầu của xã hội mà anh ta chia sẻ việc áp đặt chúng, và nếu anh ta thấy chúng sai trái, anh ta có quyền công khai sự bất đồng và tích cực cố gắng thay đổi chúng. Chắc chắn là dưới một chính thể nhân dân cục bộ, ngay cả những người chưa được chia sẻ các đặc quyền đầy đủ của người công dân cũng có thể sử dụng quyền tự do này. Nhưng đó sẽ là một kích thích bổ sung mạnh mẽ cho tính tự lập và tính tự lực của bất cứ ai, ngay cả khi người đó khởi đầu từ địa vị thấp, và anh ta không bị buộc phải cảm thấy rằng sự thành công của anh ta phụ thuộc vào ấn tượng mà anh ta gây ra đối với cảm tình và lòng ưu ái của ai đó khác ngoài anh ta. Sẽ có một tác động lớn làm nản lòng cho một cá nhân và còn có tác động làm nản lòng lớn hơn nữa cho một giai cấp, nếu họ bị đặt ra ngoài hiến pháp, nếu họ bị đẩy tới chỗ phải nài xin ở ngoài cánh cửa với các vị trọng tài định đoạt số phận của họ mà không tham khảo ý kiến của họ. Điểm cực đại trong sự gia tăng tác động của tự do đến tính cách chỉ đạt được, khi con người hành động trong tư cách một công dân có mọi đặc quyền như những người khác, hoặc là trong tư cách trông đợi sẽ trở thành một công dân như thế.

Một cái còn quan trọng hơn nữa so với vấn đề cảm nhận nêu trên, đó là tính kỷ luật trong thực hành mà tính cách con người tiếp thu được nhờ vào việc các công dân thi thoảng được yêu cầu luân phiên thực hiện một chức năng xã hội nào đó trong một khoảng thời gian. Có một vấn đề hãy còn chưa được khảo sát đầy đủ, ấy là cuộc sống đời thường của con người phần nhiều chẳng đóng góp được bao nhiêu để làm cho nhận thức hay tình cảm của anh ta có được một tầm rộng lớn nào đó. Công việc của con người thường là đều đặn hằng ngày, không phải là thứ lao động vì yêu thích mà là lao động vì tư lợi trong hình thức sơ khai nhất, nhằm thỏa mãn các nhu cầu hằng ngày; cả đồ vật làm ra lẫn quá trình thực hiện đều chẳng đưa tâm trí con người đến được với những tư tưởng và tình cảm vượt ra ngoài các cá nhân; nếu có được các sách hướng dẫn thì cũng chẳng có kích thích ham muốn đọc chúng; trong đa số các trường hợp một cá nhân không tiếp cận được với người nào có văn hóa cao hơn bản thân anh ta. Nếu cho anh ta làm công việc gì đó phục vụ công chúng thì ở mức độ nhất định chuyện này sẽ bù đắp được mọi thiếu hụt ấy. Nếu hoàn cảnh cho phép phân công cho anh ta một số trách nhiệm công cộng đủ lớn, nó sẽ khiến anh ta trở thành con người được rèn luyện. Tuy hệ thống xã hội và các tư tưởng đạo đức thời cổ đại có những khiếm khuyết, nhưng việc thực hành theo kiểu tòa án dicastery(*) và hội nghị ecclesia(*) đã khiến cho chuẩn mực trí tuệ của một công dân Athens trung bình vượt xa mọi chuẩn mực tương ứng của các đám đông khác được biết tới ở thời cổ đại hay hiện đại. Các bằng chứng cho điều này hiện rõ ràng trên mỗi trang sách của vị sử gia vĩ đại về Hy Lạp của chúng ta [ám chỉ sử gia Anh George Grote – N.D]; nhưng chắc là chúng ta không cần phải lưu ý thêm điều gì khác nữa, ngoài chất lượng cao của các diễn văn mà các nhà hùng biện vĩ đại đã tính toán để tác động hiệu quả nhất lên sự hiểu biết và ý chí của họ. Một lợi ích cùng loại này, tuy ở mức độ ít hơn nhiều, đã được tạo ra trong những người dân Anh trung lưu lớp dưới bởi nghĩa vụ của họ được xếp vào bồi thẩm đoàn phục vụ cho nhiệm vụ cấp xã: việc này tuy không có nhiều, cũng không liên tục và cũng chẳng đưa họ tới được thật nhiều sự phong phú đa dạng của các suy nghĩ cao cả, so sánh với sự giáo dục nhân dân mà mỗi công dân Athens thu nhận được từ các thiết chế dân chủ của đô thị, nhưng nó cũng làm cho họ thành những người rất khác về mặt tư tưởng và về mặt phát triển các khả năng, so với những người chẳng hề làm gì khác trong đời ngoài việc cạo giấy hay bán hàng ở sau quầy.

Phần đạo đức của sự chỉ dạy, có được do việc tham gia của các công dân với tư cách cá nhân vào các chức năng công cộng, ngay nếu như hiếm hoi, cũng còn đáng hoan nghênh nhiều hơn nữa. Một khi thật say sưa với công việc, anh ta sẽ được kêu gọi để cân nhắc các quyền lợi không phải chỉ của riêng bản thân mình; để được hướng dẫn bởi một quy tắc khác với sự thiên vị cho cá nhân mình trong trường hợp có mâu thuẫn; để áp dụng cho tất cả mọi người các nguyên tắc và châm ngôn mà lý do tồn tại của chúng là hướng tới sự tốt đẹp chung: thông thường trong công việc của mình anh ta sẽ được kết giao với những trí tuệ hiểu biết nhiều hơn anh ta về tư tưởng và hoạt động tư duy, mà việc học hỏi chúng sẽ cung cấp cho anh ta lý lẽ để hiểu biết và khuyến khích anh ta cảm nhận được quyền lợi chung. Anh ta sẽ có cơ hội cảm nhận rằng mình là một phần của công chúng và bất cứ cái gì có lợi cho công chúng cũng là có lợi cho mình. Ở đâu mà không có trường học dạy tinh thần cộng đồng như thế, thì khó mà nuôi dưỡng được một ý nghĩa nào cho những con người cá thể trong tình trạng thiếu vắng tình thế xã hội cao cả để họ có được một trách nhiệm nào đối với xã hội, ngoại trừ tuân theo pháp luật và phục tùng chính quyền. Sẽ không có được cảm xúc bất vụ lợi của việc đồng hóa mình với công chúng. Mọi tư tưởng và tình cảm, dù là thuộc về quyền lợi hay trách nhiệm, đều dồn cả vào cá nhân và gia đình. Con người đó sẽ không bao giờ nghĩ tới bất cứ quyền lợi tập thể nào, bất cứ mục tiêu nào được theo đuổi trong sự liên kết cùng với những người khác, ngoại trừ các mục tiêu trong sự tranh đua với họ và làm thiệt hại cho họ ở chừng mực nào đó. Một người láng giềng không có liên minh hay kết giao nào, vì lẽ anh ta chẳng khi nào bận rộn lo toan với bất cứ công việc chung nào để cùng hưởng lợi, cho nên anh ta chỉ còn là một đối thủ cạnh tranh. Như thế thì ngay cả đạo đức cá nhân cũng bị tổn hại, còn đạo đức công cộng thì thực chẳng còn gì. Giả sử như đó là trạng thái sự vật có tính phổ quát và duy nhất khả dĩ, thì khát vọng tột cùng của người đề ra luật pháp và của người dạy đạo đức sẽ chỉ còn có thể là cố ép số đông cộng đồng biến thành bầy cừu theo sát bên nhau thản nhiên gặm cỏ.

Góp lại những xem xét trên đây ta thấy rõ rằng chỉ có chính phủ được toàn dân tham dự là thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu cấp bách của tình trạng xã hội, rằng bất cứ sự tham dự nào, kể cả trong chức năng công cộng nhỏ bé nhất, cũng là hữu ích; rằng ở mọi nơi sự tham dự ấy phải rộng lớn như mức độ cải tiến chung của cộng đồng cho phép; và rằng không có gì đáng mong muốn hơn là sự thừa nhận của mọi người cùng chia sẻ chủ quyền nhà nước. Nhưng vì trong một cộng đồng vượt quá một đô thị đơn lẻ nhỏ bé, thì không thể tất cả mọi người đều đích thân tham dự vào mọi việc công cộng được, ngoại trừ một phần nhỏ công việc nào đó, từ đó suy ra rằng loại chính thể hoàn hảo lý tưởng phải là chính thể mang tính đại diện.

 

Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.

Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng