Chính thể đại diện -Chương 2: Tiêu chuẩn cho biết sự tốt đẹp của một hình thức chính thể
Hình thức chính thể cho bất cứ một đất nước nhất định nào đó là tùy theo sự chọn lựa (với một số điều kiện xác định), bây giờ phải xem xét việc chọn lựa dựa trên giác độ chủ yếu nào; các đặc trưng nào của hình thức chính thể là phù hợp nhất để gia tăng những lợi ích của một xã hội nhất định nào đó.
Trước khi đi vào vấn đề đó có lẽ cần phải xác định các chức năng đích thực của chính thể là gì; bởi lẽ toàn bộ chính thể chỉ là một phương tiện, nên tính thích đáng của phương tiện phải phụ thuộc vào sự thích nghi của nó đối với mục tiêu. Thế nhưng cái kiểu cách đặt vấn đề như thế không giúp ích được bao nhiêu cho việc khảo cứu nó như người ta có thể tưởng, thậm chí kiểu cách ấy không cho ta thấy rõ toàn bộ vấn đề. Trước hết đó là vì các chức năng đích thực của chính thể không phải là một thứ cố định mà là khác nhau trong các tình trạng khác nhau của xã hội; trong tình trạng lạc hậu chúng mang tính bao quát hơn nhiều so với tình trạng tiên tiến. Thứ nữa là không thể đánh giá đầy đủ đặc điểm của một chính thể hay một tập hợp các thiết chế, nếu ta giới hạn sự chú ý trong phạm vi chính đáng của các chức năng cai trị. Bởi vì dù cho tính tốt đẹp của một chính thể nhất thiết bị giới hạn trong phạm vi ấy, thế nhưng thật không may là sự xấu xa của nó lại không phải vậy. Mọi thứ xấu xa ở mọi mức độ mà loài người có thể cảm nhận được đều có thể do chính quyền đem tới; và không có cái tốt đẹp nào khả dĩ cho sự tồn tại xã hội lại có thể thực hiện được vượt ra khỏi khuôn khổ mà một thiết chế chính thể tương thích với nó và cho nó cơ may đạt được. Không nói chi tới các hiệu ứng gián tiếp, sự can thiệp trực tiếp của các nhà chức trách không hề có giới hạn nào ngoài sự sinh tồn của con người, và ảnh hưởng của chính thể lên an sinh của xã hội không thể được xem xét hay đánh giá bằng cách nào khác hơn là căn cứ vào toàn bộ lợi ích của con người.
Khi xem xét một chính thể tốt hay xấu ta buộc phải đương đầu với một đối tượng hết sức phức tạp, đó là lợi ích tích hợp của xã hội, nên ta cần thử tiến hành một sự phân loại về những lợi ích này. Những lợi ích ấy, khi được xem xét thành những nhóm nhất định, có thể cho ta chỉ bảo về những phẩm chất mà một hình thức chính thể là thích hợp để xúc tiến những lợi ích khác nhau ấy. Sẽ rất dễ dàng, nếu ta có thể nói được một xã hội tốt gồm có các yếu tố như là thế này và thế này, một trong các yếu tố ấy đòi hỏi các điều kiện thế này, một yếu tố khác đòi hỏi điều kiện thế kia; do vậy mà chính thể bao gồm được ở mức độ cao nhất tất cả các điều kiện ấy sẽ phải là chính thể tốt nhất. Lý thuyết chính thể như vậy hẳn là có thể được xây dựng lên từ các định lý riêng rẽ về các yếu tố tạo nên một trạng thái xã hội tốt đẹp.
Thật không may là việc đếm và phân loại các thành tố của an sinh xã hội để tạo thành những định lý như thế không phải là một việc dễ dàng. Đa số những người thuộc thế hệ vừa qua hay hiện nay chuyên tâm vào lĩnh vực triết học chính trị với một sự tinh tường nào đó đều cảm nhận được tầm quan trọng của một việc phân loại như thế; nhưng theo chỗ tôi biết thì nỗ lực cho tới nay hãy còn hạn chế ở một bước duy nhất. Việc phân loại bắt đầu và kết thúc bởi việc phân chia các nhu cầu cấp bách của xã hội thành hai đối cực, đó là Trật tự và Tiến bộ (nói theo ngôn từ của các nhà tư tưởng Pháp); Bền vững và Tiến bộ theo từ ngữ của Coleridge(*). Sự phân chia này có vẻ hợp lý và khá quyến rũ nhờ vẻ bề ngoài đối lập minh bạch giữa hai khâu của nó và sự khác biệt rõ rệt giữa các tình cảm mà chúng gợi nên. Thế nhưng tôi e rằng (dù cho có thể chấp nhận vì mục tiêu đàm luận đại chúng thế nào đi nữa) sự phân biệt giữa Trật tự, hay Bền vững, và Tiến bộ được áp dụng để xác định các phẩm chất cần thiết cho chính thể là không khoa học và không đúng đắn.
Vì rằng trước hết Trật tự và Tiến bộ là cái gì? Liên can đến Tiến bộ thì không có gì khó khăn hay thoạt nhìn thấy không có gì có vẻ như vậy. Khi nói về Tiến bộ như một trong các nhu cầu của xã hội con người thì hẳn là hàm ý Cải tiến. Đó là một ý tưởng rõ ràng, tạm chấp nhận được. Nhưng Trật tự là cái gì? Đôi khi nó có thể ít nhiều hàm ý được phần nào, nhưng hầu như chẳng bao giờ nó hàm ý được toàn thể cái mà xã hội cần, do nó loại trừ sự cải tiến.
Trong ý nghĩa hẹp nhất được thừa nhận, Trật tự hàm ý Tuân phục. Người ta nói một chính thể duy trì được trật tự nếu như nó thành công trong việc tạo ra sự tuân phục bản thân nó. Thế nhưng có các mức độ khác nhau của sự tuân phục và không phải bất cứ mức độ nào cũng đáng tán dương. Chỉ có một chế độ chuyên chế triệt để mới đòi hỏi mỗi cá nhân công dân của nó tuân phục vô điều kiện bất cứ chỉ thị nào của người đương quyền. Ít nhất chúng ta cũng phải giới hạn định nghĩa các chỉ thị như thế phải là áp dụng chung cho mọi người và được ban hành trong một hình thức được cân nhắc kỹ lưỡng của luật pháp. Trật tự được hiểu như thế hẳn là biểu hiện thuộc tính không thể thiếu được của chính thể. Kẻ nào không có khả năng làm cho các sắc lệnh của mình được tuân theo thì không thể được xem là thực thi việc cai trị. Thế nhưng dù cho cái đó là một điều kiện cần, nó không thể được coi là mục tiêu của chính thể. Chính thể làm cho mình được tuân phục là để có thể hoàn thành được các mục đích nào khác nữa. Chúng ta hãy còn đang phải tìm xem cái mục đích khác, mà chính thể phải thực hiện này là gì, bằng cách rút nó ra từ ý tưởng về sự cải tiến và đó là mục đích phải được thực hiện trong bất kỳ xã hội nào dù là trì trệ hay tiến bộ.
Trong một ý nghĩa mở rộng hơn nào đó, Trật tự hàm nghĩa duy trì hòa bình bằng cách chấm dứt bạo lực cá nhân. Trật tự được xem là tồn tại ở nơi mà dân chúng của đất nước ấy, như một quy luật phổ biến, đã không còn phân xử các cuộc tranh chấp của mình bằng bạo lực cá nhân, cũng như đã học được thói quen trao cho giới chức công quyền giải quyết các tranh cãi và bồi thường thiệt hại. Thế nhưng trong việc sử dụng thuật ngữ theo nghĩa rộng hơn ấy cũng như theo nghĩa hẹp trước đây, Trật tự thể hiện một trong các điều kiện của chính thể hơn là thể hiện mục đích của nó hay tiêu chuẩn cho thấy tính ưu việt của nó. Bởi vì tập quán có thể được thiết lập êm xuôi để phục tùng chính quyền và trao cho nhà chức trách giải quyết mọi chuyện tranh chấp, thế nhưng cung cách mà chính quyền đối xử với các chuyện tranh chấp cũng như các chuyện khác liên can đến bản thân nó, lại có thể khác biệt ở suốt cự ly chia cách giữa cái cung cách tốt nhất với cái cung cách tồi tệ nhất.
Nếu chúng ta định bao hàm trong ý tưởng Trật tự tất cả những gì mà xã hội đòi hỏi ở chính thể nhưng không bao hàm trong ý tưởng về sự Tiến bộ, chúng ta cần phải định nghĩa Trật tự như là việc duy trì mọi thứ tốt đẹp đã có, còn Tiến bộ là bao hàm sự gia tăng những thứ đó. Sự phân biệt này quả bao hàm tất cả những gì mà ta có thể đòi hỏi một chính thể phải tiến hành trong lĩnh vực này hay trong lĩnh vực khác. Nhưng sự phân biệt được hiểu như thế chẳng đem lại cơ sở nào cho môn triết học về chính thể. Chúng ta không thể nói rằng trong việc định ra hiến pháp cho một chính thể, một số điều khoản là nhằm dành cho Trật tự, còn những cái kia là cho Tiến bộ; vì lẽ các điều kiện của Trật tự theo nghĩa ta vừa xác định và các điều kiện của Tiến bộ không hề đối lập nhau mà cùng là một thứ. Các cơ quan hướng tới việc duy trì cái tốt đẹp đã có của xã hội cũng chính là các cơ quan thúc đẩy việc gia tăng nó, và ngược lại: cái duy nhất khác biệt là các cơ quan cần thiết cho mục đích sau có mức độ lớn hơn rất nhiều so với cho mục đích trước.
Thí dụ như các phẩm chất cá nhân nào của các công dân góp phần chủ yếu tạo nên sự gia tăng các hành vi tốt, tài quản lý giỏi, thành đạt và phồn vinh đã tồn tại trong xã hội? Bất cứ ai cũng sẽ đồng ý rằng các phẩm chất ấy là tính cần cù, tính liêm chính, công bằng và khôn ngoan. Nhưng phải chăng tất cả các phẩm chất ấy lại cũng chính là những cái góp phần chủ yếu tạo nên sự cải tiến hay không? Và phải chăng bất kỳ sự lớn mạnh nào của những đức tính này ở trong cộng đồng thì tự nó cũng là sự lớn mạnh to tát nhất của những cải tiến? Nếu phải vậy thì dù là phẩm chất nào trong chính thể mang tính thúc đẩy như cần cù, liêm chính, công bằng và khôn ngoan cũng đều góp phần như nhau cho sự bền vững và cho sự tiến bộ; chỉ có điều là cần có các phẩm chất ấy nhiều hơn để làm cho xã hội tiến bộ rõ rệt so với việc đơn thuần giữ cho nó bền vững.
Ta lại thử hỏi: có các thuộc tính đặc thù nào trong con người có vẻ chuyên trách hơn cho Tiến bộ mà lại không quá trực tiếp gợi đến các ý tưởng về Trật tự hay Bền vững? Các phẩm chất ấy chủ yếu là tính tích cực, tính dám làm và tính can đảm. Nhưng phải chăng tất cả các phẩm chất ấy lại không cần thiết cho việc duy trì cái tốt đang có cũng như cho việc gia tăng cái tốt ấy? Nếu như có cái gì là chắc chắn trong hoạt động của con người thì đó là những cái thu hoạch quý giá chỉ được duy trì liên tục bằng chính những năng lượng để đạt được chúng. Cái gì bị để mặc cho tự lo liệu lấy đều không tránh khỏi bị mai một. Những gì mà thành công của chúng làm cho người ta lơi lỏng tập quán quan tâm chăm sóc cũng như lòng sốt sắng đối đầu với các trở ngại, thường ít khi nào lại duy trì được lâu dài sự thịnh vượng của chúng ở đỉnh cao. Thuộc tính tinh thần đặc trưng riêng cho Tiến bộ và là cực điểm của xu thế hướng tới nó chính là Tính độc đáo hay Sáng tạo. Thế nhưng chính nó cũng là cần thiết không kém cho Bền vững, bởi vì trong những biến động không tránh khỏi của hoạt động con người, các hiểm nguy và bất lợi gia tăng liên tục; chúng phải được đối chọi lại bằng các kỹ xảo và nguồn lực mới để giữ cho mọi chuyện được duy trì ngay như cả ở mức độ như trước. Vậy thì bất cứ phẩm chất nào của chính thể hướng tới khích lệ tính tích cực, năng lực, tính can đảm, tính độc đáo, đều là cần thiết cho cả Bền vững lẫn Tiến bộ; chỉ có điều là mức độ đòi hỏi trung bình đủ cho mục đích trước có phần nào đó ít hơn so với mục đích sau.
Bây giờ ta chuyển từ các đòi hỏi tinh thần sang các đòi hỏi ngoại tại và khách quan của xã hội; không thể nào chỉ ra được một kỹ xảo nào đó trong hoạt động chính trị hay trong việc sắp đặt các hoạt động xã hội lại dẫn tới Trật tự hay Tiến bộ; bất cứ cái gì thúc đẩy cái này thì cũng thúc đẩy cả hai. Ta lấy thí dụ như thiết chế chung của cảnh sát. Trật tự là đối tượng có vẻ được quan tâm trực tiếp nhất trong tính hiệu quả của bộ phận tổ chức xã hội này. Nhưng nếu như thúc đẩy gia tăng Trật tự có hiệu quả tức là trấn áp tội phạm và làm cho mọi người đều cảm thấy con người họ và sở hữu của họ được an toàn, thế thì còn có tình trạng nào ích lợi hơn nữa cho Tiến bộ hay không? Sự an toàn cho sở hữu càng vững chắc hơn là điều kiện chủ yếu và nguyên nhân tạo nên sản xuất càng gia tăng nhiều hơn, đó chính là Tiến bộ trong khía cạnh quen thuộc và thô thiển nhất của nó. Sự trấn áp tội ác tốt hơn thì sẽ dập tắt khuynh hướng phạm tội, và đó là Tiến bộ trong một ý nghĩa nào đó còn cao hơn nữa. Việc giải phóng cho cá nhân khỏi các mối lo lắng và sợ hãi của tình trạng bảo hộ yếu kém sẽ làm cho các khả năng của anh ta được tự do sử dụng trong bất cứ nỗ lực mới nào để cải tiến tình trạng của bản thân anh ta cũng như của những người khác: trong lúc đó cũng chính nguyên nhân này – khi gắn bó anh ta với sự sinh tồn của xã hội và làm cho anh ta không nhìn thấy kẻ thù hiện tại hay kẻ thù trong tương lai nơi những đồng loại của mình – sẽ bồi dưỡng tất cả các cảm xúc thiện lương và hữu ái này đối với những người khác và mối quan tâm tới an sinh chung của cộng đồng, đó đều là những bộ phận rất quan trọng cho sự cải tiến xã hội.
Ta lại lấy một trường hợp quen thuộc như một hệ thống thu thuế và tài chính lành mạnh. Hệ thống này nói chung được xếp vào lĩnh vực Trật tự. Thế nhưng liệu có cái gì ích lợi cho Tiến bộ hơn nó hay không? Một hệ thống tài chính thúc đẩy gia tăng cho một cái này thì những ưu điểm của nó cũng dẫn đến đóng góp cho cái kia. Thí dụ như kinh tế vừa gìn giữ kho của cải hiện hữu của sự thịnh vượng quốc gia và vừa tạo thuận lợi cho việc tạo ra thêm nhiều của cải hơn. Một sự chia sẻ đúng đắn gánh nặng đóng thuế bằng cách nêu gương đạo đức và lương tâm cho mỗi công dân áp dụng vào các điều chỉnh đầy khó khăn, và một minh chứng cho giá trị mà nhà cầm quyền lãnh đạo gắn vào các việc ấy, những cái đó sẽ có xu thế giáo dục cảm nhận đạo đức cộng đồng ở mức độ cao, cả về phương diện tính chặt chẽ lẫn sự chính xác [trong việc đóng thuế]. Kiểu đánh thuế như vậy, không gây trở ngại cho nền công nghiệp hay can thiệp không cần thiết vào quyền tự do của công dân, sẽ thúc đẩy không chỉ việc gìn giữ mà còn làm gia tăng thêm sự thịnh vượng quốc gia và khích lệ việc sử dụng tích cực hơn nữa các khả năng cá nhân. Ngược lại, mọi sai lầm trong tài chính và đánh thuế gây cản trở cho sự cải tiến vật chất và tinh thần của dân chúng, nếu ở mức độ đủ nghiêm trọng, thì đồng thời cũng gây ra sự bần cùng và làm nhụt chí kinh doanh của họ. Tóm lại, nói chung khi xét Trật tự và Bền vững trong ý nghĩa rộng nhất của nó, thì để ổn định các ưu thế đang hiện hữu, những cái cần thiết cho Tiến bộ chỉ là những cái cần thiết cho Trật tự ở mức độ cao hơn mà thôi; những cái cần thiết cho Bền vững đơn thuần chỉ là những cái cần thiết cho Tiến bộ ở chừng mức nào đó ít hơn.
Để ủng hộ cho lập trường xem Trật tự là khác biệt nội tại với Tiến bộ, và xem việc gìn giữ cái hiện tồn và việc giành lấy cái tốt bổ sung thêm là rất khác nhau, đặng dùng chúng làm cơ sở cho việc phân loại căn bản, người ta sẽ nhắc nhở chúng ta rằng Tiến bộ có thể phải trả giá bằng Trật tự, rằng trong khi chúng ta đang giành giật hay cố giành giật lấy một thứ tốt này thì chúng ta có thể mất đi thứ khác: ví dụ như có tiến bộ về của cải trong khi hư hỏng về phẩm hạnh. Cứ cho là thế đi nữa thì điều này cũng không chứng minh được Tiến bộ là thứ khác biệt về chủng loại so với Bền vững, mà chỉ chứng tỏ rằng của cải là thứ khác biệt với phẩm hạnh. Tiến bộ chính là bền vững cùng với cái gì đó thêm vào nữa; và không phải là lời giải đáp cho vấn đề trên bằng cách nói rằng Tiến bộ trong một chuyện không hàm ý Bền vững trong mọi chuyện. Tiến bộ trong một việc không có nghĩa là Tiến bộ trong mọi việc. Tiến bộ trong một loại nào đó bao gồm Bền vững trong cùng loại đó; một khi Bền vững bị hy sinh cho Tiến bộ thuộc một loại đặc thù nào đó thì Tiến bộ kia còn bị hy sinh nhiều hơn cho chuyện đó; và không phải chỉ có lợi ích của riêng Bền vững bị bỏ qua mà cả lợi ích chung của Tiến bộ cũng bị lầm lẫn, nếu như là chuyện không đáng phải hy sinh.
Nếu giả sử có phải dùng chút nào đó các ý tưởng tương phản không đúng cách ấy để khởi đầu cho tính chính xác khoa học đối với nhận xét về chính thể tốt, thì bỏ đi định nghĩa từ ngữ Trật tự và nói rằng chính thể tốt nhất là chính thể dẫn đến Tiến bộ sẽ là đúng đắn về mặt triết học nhiều hơn. Bởi vì Tiến bộ bao gồm Trật tự, còn Trật tự thì không bao gồm Tiến bộ. Tiến bộ là mức độ cao hơn của cái là Trật tự trong mức độ ít hơn. Trong bất cứ ý nghĩa nào khác thì Trật tự chỉ là một phần của các tiền đề cần thiết cho một chính thể tốt, chứ không phải là ý tưởng và thực chất của nó. Trật tự có thể tìm được một vị trí thích đáng hơn trong các điều kiện của Tiến hộ; bởi vì rằng nếu chúng ta muốn gia tăng tổng số cái tốt của mình thì không gì thiết yếu hơn là việc chăm sóc cho những cái đã có rồi. Sau khi đã giàu có hơn rồi mà còn muốn ráng sức thêm nữa thì quy tắc đầu tiên phải là không hoang phí vô ích của cải đang có. Trật tự được xem xét như thế không phải là một mục đích bổ sung thêm vào cho hòa hợp với Tiến bộ, mà là bộ phận và phương tiện của bản thân Tiến bộ. Nếu lợi lộc về một phương diện này thu được bằng tổn thất nhiều hơn tương đương về chính phương diện ấy hay về phương diện khác nào đó thì sẽ không có được Tiến bộ. Sự dẫn tới Tiến bộ được hiểu như vậy sẽ bao gồm toàn bộ sự ưu tú của một chính thể.
Tuy nhiên, dù cho được bảo vệ về mặt siêu hình học thì cái định nghĩa về tiêu chuẩn cho chính thể tốt như vậy cũng không thích đáng, và rằng tuy nó chứa đựng toàn bộ sự thật, nhưng lại chỉ gợi nên một phần của nó thôi. Cái mà thuật ngữ Tiến bộ gợi ra là ý tưởng tiến lên phía trước, trong khi hàm nghĩa của nó ở đây chỉ bao gồm việc ngăn ngừa tụt hậu. Vẫn chính là những nguyên nhân xã hội ấy – những niềm tin, những cảm xúc, các thiết chế và các thực tiễn – cũng cần thiết vừa để ngăn ngừa cho xã hội khỏi thoái hóa, vừa để đem lại sự tiếp tục tiến lên. Ở đâu không có hy vọng cho cải tiến, thì ở đó cuộc sống cũng vẫn không khác gì hơn là cuộc đấu tranh không ngừng nhằm chống lại các nguyên nhân gây sa đọa; giống như là tình hình hiện nay. Chính trị, trong quan niệm của người xưa, tựu trung chỉ hoàn toàn nhằm vào điểm này: xu thế tự nhiên của con người và sản phẩm của họ là suy đồi, tuy nhiên xu thế ấy có thể bị vô hiệu hóa trong thời gian dài vô hạn bằng các thiết chế tốt và sự cai trị đức hạnh. Dù cho ngày nay chúng ta không còn giữ quan điểm như thế nữa, dù cho đa số con người thời nay rao giảng một tín điều ngược lại, tin tưởng rằng xu thế của mọi vật về toàn thể là cải tiến đi lên; chúng ta không nên quên rằng luôn có một dòng chảy mãi mãi không ngừng trong hoạt động của con người hướng đến cái xấu xa hơn, nó bao gồm mọi thứ điên rồ, mọi thứ tội lỗi, mọi thứ cẩu thả, biếng nhác và buông trôi của loài người; cái dòng chảy ấy chỉ được kiểm soát và giữ cho nó đừng cuốn trôi đi mọi thứ ở trước nó bởi nỗ lực thường xuyên của một số người này và nỗ lực từng đợt của một số người khác, nhằm thúc đẩy hướng đi của những đối tượng tốt đẹp và xứng đáng với nhân phẩm. Nó sản sinh ra ý tưởng không trọn vẹn về tầm quan trọng của những phấn đấu nhằm cải tiến và nâng cao bản tính con người cũng như cuộc sống, với giả định rằng giá trị chủ yếu của chúng là ở số lượng cải tiến thực sự được các phương tiện này thực hiện, và rằng hệ quả của việc ngừng lại các phấn đấu ấy chỉ đơn thuần là việc chúng ta sẽ dậm chân tại chỗ. Một chút giảm bớt các nỗ lực ấy thôi có thể chẳng những làm ngưng trệ việc cải tiến mà còn đảo ngược xu thế chung quay nó về phía tồi tệ hơn; xu thế xấu đó một khi khởi động sẽ có thể tiếp diễn với tốc độ gia tăng nhanh chóng và trở nên càng ngày càng khó kiểm soát, cho tới lúc nó đạt tới trạng thái thường gặp trong lịch sử, là trạng thái mà trong đó nhiều bộ phận to lớn của nhân loại ngay cả tới nay vẫn còn phải khom lưng uốn gối; khi ấy thì phải cần đến sức mạnh siêu nhân nào đó mới đảo ngược được trào lưu và đem lại một khởi đầu mới cho chuyển động tiến lên.
Các lý lẽ ấy làm cho từ ngữ Tiến bộ cũng không thích đáng để trở thành cơ sở cho việc phân loại cần thiết đối với các hình thức chính thể, giống như các thuật ngữ Trật tự và Bền vững. Cái nghịch đề cơ bản (fundamental antithesis) mà các từ ngữ ấy biểu hiện ra không nằm trong bản thân những sự vật, mà nằm nhiều hơn ở trong các loại hình của tính cách con người ứng phó lại chúng. Chúng ta cũng biết là có những tâm thức trong đó sự thận trọng chiếm ưu thế và có những tâm thức khác trong đó sự liều lĩnh chiếm ưu thế; trong một số tâm thức sự mong muốn né tránh hiểm nguy cho những gì đã có là cảm xúc mạnh hơn so với cảm xúc muốn thúc đẩy việc cải tiến cái cũ và thu được các lợi thế mới; một số tâm thức khác lại thiên về hướng ngược lại, háo hức với tương lai nhiều hơn là cẩn trọng với cái tốt hiện tại. Con đường đi đến mục tiêu của cả hai là như nhau, nhưng họ đều có khả năng lầm đường lạc lối về hai hướng ngược nhau. Việc xem xét này là rất quan trọng trong việc sắp xếp nhân sự của mọi đoàn thể chính trị: các nhân vật của cả hai kiểu mẫu ấy nên cùng được đưa vào sao cho mỗi xu thế có thể bị kiềm chế bớt, chừng nào mà chúng là quá đáng, bởi một tỷ lệ thích đáng của xu thế kia. Với điều kiện không thu nhận vào đó bất cứ cái gì không nhất quán với nó thì sẽ không cần thiết phải có điều khoản quy định minh nhiên (express provision)(*) để bảo hiểm cho mục tiêu này. Một sự hòa trộn tự nhiên và tự phát giữa già và trẻ, giữa những người đã có địa vị và danh vọng cùng những người đang còn tạo lập chúng, nói chung sẽ là đáp án đầy đủ cho mục tiêu, chỉ cần là sự cân bằng tự nhiên ấy không bị quấy rối bởi việc điều chỉnh giả tạo.
Vì rằng dấu hiệu đặc trưng được chấp nhận chung nhiều nhất để phân loại các nhu cầu cấp bách của xã hội không có được các tính chất cần thiết cho việc áp dụng ấy, chúng ta buộc phải tìm kiếm dấu hiệu đặc trưng khác nào đó thích ứng hơn với mục đích. Dấu hiệu đặc trưng như thế có lẽ sẽ được chỉ ra bởi các xem xét mà tôi sẽ triển khai ở đây.
Nếu chúng ta tự hỏi rằng một chính thể tốt trong mọi ý nghĩa của nó, bao gồm từ người hèn mọn nhất tới người quyền quý nhất, phụ thuộc vào các nguyên nhân và điều kiện gì, chúng ta sẽ thấy rằng điều chủ yếu nhất bao trùm lên mọi thứ khác chính là phẩm chất của các con người hợp thành cái xã hội mà chính thể đang vận hành trong đó.
Chúng ta có thể lấy nền hành chính tư pháp như một thí dụ thứ nhất, nó là thích đáng hơn cả bởi vì không có bộ phận công vụ nào khác mà bộ máy thuần túy, các quy phạm và kỹ xảo phục vụ cho việc tiến hành các hoạt động chi tiết, lại có hiệu quả mang tính sống còn đến thế. Nhưng ngay cả những cái đó xét về tầm quan trọng cũng phải chịu nhường chỗ cho các phẩm chất của con người; tác nhân tham gia công việc. Nói gì được nữa về hiệu quả của các quy phạm thủ tục đảm bảo cho mục tiêu công lý, nếu điều kiện đạo đức của dân chúng ở tình trạng khiến cho các lời chứng nói chung là dối trá, còn các quan tòa và những người dưới quyền họ lại nhận hối lộ? Thêm thí dụ khác, các thiết chế làm sao có thể đảm bảo được một nền hành chính địa phương tốt, nếu như ở đó tồn tại một sự lãnh đạm đối với người dân đến mức mà những người có thể điều hành một cách trung thực và có năng lực lại không được đưa vào phục vụ và các chức trách lại được giao phó cho những kẻ nhận làm vì có tư lợi mong được thăng tiến? Liệu có ích lợi gì chăng đối với một hệ thống đại diện rộng rãi nhất, nếu như các cử tri chẳng quan tâm chọn lựa những người tốt nhất làm đại biểu nghị viện mà lại chọn những kẻ chi nhiều tiền nhất để được bầu? Làm sao mà một Quốc hội có thể làm việc vì sự tốt đẹp, nếu như các đại biểu của nó có thể bị mua chuộc, hay tính dễ bị kích động của họ không được hiệu chỉnh bởi kỷ luật công cộng hoặc tính tự kiềm chế khiến cho họ không có khả năng thận trọng bình tĩnh và phải dùng đến bạo lực tay chân trên sàn nhà quốc hội hoặc bắn vào nhau bằng súng ống? Làm sao mà một chính phủ hay bất cứ tổ chức liên kết nào có thể xúc tiến được công việc trong một cung cách khả dĩ bởi một đám người đầy ganh ghét tới mức nếu có ai trong bọn họ có vẻ thành đạt về việc nào đó thì những người đáng lẽ phải cộng tác với anh ta lại âm mưu ngầm hại anh ta? Một khi mà tính khí chung của dân chúng là thuộc loại mỗi cá nhân chỉ lo cho lợi ích mang tính ích kỷ của riêng mình, không màng tới việc chia sẻ cho lợi ích chung, thì trong tình trạng ấy một chính thể tốt là chuyện bất khả. Ảnh hưởng của các khuyết tật trí tuệ gây cản trở cho mọi yếu tố của chính thể tốt là điều hiển nhiên chẳng cần minh họa. Chính thể bao gồm các hành vi của con người; nếu như các tác nhân, hay những người lựa chọn các tác nhân, hay những người mà các tác nhân phải chịu trách nhiệm trước họ, hay những ai đứng xem mà ý kiến của họ ảnh hưởng đến tất cả những người trên, nếu tất cả những người này chỉ là một đám đông vô tri, đần độn và đầy các thành kiến xấu xa, nếu như thế thì mọi hoạt động của chính phủ đều sẽ thất bại; trong khi đó tùy theo tỷ lệ số người vượt lên trên chuẩn mực ấy mà chính thể sẽ cải tiến được phẩm chất của mình, vươn lên đến đỉnh điểm ưu tú, khả dĩ đạt được nhưng chưa ở đâu đạt được, ở đỉnh điểm này các quan chức chính phủ bản thân họ là những con người có phẩm hạnh và trí tuệ thượng hạng được bao quanh bởi một bầu không khí công luận có đạo đức và khai minh.
Như vậy yếu tố thứ nhất của chính thể tốt là phẩm hạnh và trí tuệ của những con người hợp thành cộng đồng, điểm quan trọng nhất của tính ưu tú mà một hình thức chính thể có thể có được là đẩy mạnh phẩm hạnh và trí tuệ của bản thân dân chúng. Câu hỏi đầu tiên đối với tất cả các thiết chế chính trị là chúng sẽ nhắm tới bồi dưỡng đến đâu cho các thành viên của cộng đồng những phẩm chất đáng mong muốn khác nhau về đạo đức và trí tuệ; hay nói cách khác (theo phân loại đầy đủ hơn của Bentham(*)) là về đạo đức, trí tuệ và tính tích cực. Chính thể nào làm được việc đó tốt nhất có nhiều khả năng sẽ là ưu tú nhất về mọi phương diện khác nữa, bởi vì mọi tính ưu tú khả dĩ trong các thao tác thực tiễn của chính thể phụ thuộc vào các phẩm chất ấy đang hiện hữu trong dân chúng.
Chúng ta có thể xem xét mức độ hướng tới gia tăng tổng số các phẩm chất tốt về mặt tập thể cũng như cá nhân có trong cộng đồng chịu sự cai trị như một tiêu chí cho tính ưu tú của chính thể; bởi vì ngoại trừ tình trạng an sinh của họ là mục tiêu duy nhất của chính thể thì các phẩm chất tốt của họ sẽ cung cấp động lực cho bộ máy hoạt động. Điều này không đụng chạm tới phẩm chất của bản thân bộ máy như một phần tử cấu thành giá trị của một chính thể; nghĩa là cái mức độ mà bộ máy thích nghi đặng lợi dụng các phẩm chất tốt có thể hiện hữu ở bất cứ thời điểm nào và biến chúng thành công cụ phục vụ cho các mục tiêu đúng đắn. Chúng ta hãy lại lấy vấn đề tư pháp làm thí dụ minh họa. Đối với một hệ thống tòa án nào đó, tính ưu tú của nền hành chính tư pháp là ở trong cái tỷ lệ phức hợp của giá trị có nơi những người cấu thành các tòa án và giá trị của công luận ảnh hưởng hay kiểm soát chúng. Tuy nhiên, toàn bộ sự khác biệt giữa một hệ thống tư pháp tốt và xấu nằm ở các kỹ xảo được chọn lựa, nhằm đưa bất cứ giá trị đạo đức và trí tuệ nào hiện hữu trong cộng đồng vào chịu sự quản lý của pháp luật và làm cho nó có hiệu lực đúng đắn thể hiện trên kết quả. Các sắp xếp chọn lựa quan tòa sao cho có phẩm hạnh và trí tuệ bình quân ở mức cao nhất; các hình thức thủ tục lành mạnh; tính công khai cho phép quan sát và phê bình bất cứ sai sót nào; quyền tự do thảo luận và phê bình thông qua báo chí; kiểu cách lấy chứng cứ tùy thuộc theo việc nó thích ứng tốt hay xấu với sự thật được suy luận ra; các điều kiện dễ dàng cho việc tiếp cận với tòa án ở bất cứ tầm quan trọng nào; các sắp xếp nhằm phát hiện tội ác và bắt giữ tội phạm: tất cả mọi thứ ấy không phải là sức mạnh, nhưng là bộ máy đem sức mạnh tới tiếp xúc với vật chướng ngại; bộ máy tự nó không có hành động gì, nhưng thiếu nó thì sức mạnh dù có nhiều đến đâu đi nữa cũng sẽ bị tiêu phí vô hiệu quả.
Một sự phân biệt tương tự cũng tồn tại đối với việc tổ chức các bộ phận hành pháp. Bộ máy của chúng là tốt khi định ra được những trắc nghiệm rõ ràng để đánh giá các quan chức, định ra được những quy tắc thích đáng cho việc cất nhắc họ; khi mà công việc được phân bố tiện lợi giữa những người phải giải quyết nó, một trật tự tiện lợi và có phương pháp được thiết lập cho việc giải quyết công việc, hồ sơ về công việc có chuẩn mực và dễ hiểu được lưu giữ sau khi giải quyết; khi mà mỗi cá nhân đều biết rõ phần việc thuộc trách nhiệm của mình và những người khác cũng biết anh ta chịu trách nhiệm đó; khi mà công việc kiểm tra được trù liệu tốt nhất đảm bảo chống lại thói cẩu thả, sự thiên vị, sự lạm dụng chức vụ trong mỗi hành vi của cơ quan. Nhưng việc kiểm tra chính trị đối với các hành vi của cơ quan sẽ không tự nó hành động nhiều hơn so với cái dây cương hướng dẫn con ngựa mà lại không có người cưỡi. Nếu như các viên chức kiểm tra cũng thối nát ăn hối lộ hay cũng cẩu thả y như những kẻ mà họ phải kiểm tra, và nếu như công chúng, cái giây cót của toàn bộ cỗ máy kiểm tra, lại quá ngu dốt, quá thụ động, hay là quá dửng dưng và quá vô tâm để làm phần việc của mình, thì cũng chẳng có mấy lợi lộc thu được từ bộ máy hành chính ưu tú nhất. Nhưng dù sao một bộ máy tốt bao giờ cũng vẫn hơn bộ máy xấu. Nó cho phép một sự hoạt động hay kiểm tra quyền lực trong hiện trạng còn thiếu hoàn hảo như thế có được tác động với lợi thế nhiều nhất; và không có nó thì chẳng có hoạt động hay kiểm tra quyền lực nào có thể làm được. Như tính công khai chẳng hạn, nó chẳng ngăn cản cái xấu cũng không kích thích cái tốt, nếu công chúng không nhìn vào những gì được làm; nhưng không có tính công khai thì họ làm sao có thể kiểm tra cũng như khích lệ cái mà họ không được phép nhìn thấy? Việc tổ chức hoàn hảo lý tưởng của một công sở là sao cho ở đó quyền lợi của viên chức hoàn toàn trùng hợp với trách nhiệm của anh ta. Chỉ hệ thống đơn thuần thôi sẽ không làm được điều đó, nhưng không có một hệ thống thích đáng được trù liệu cho mục tiêu thì lại càng không có cơ may để cho điều đó được thực hiện.
Những gì chúng ta đã nói về việc sắp xếp quản trị chi tiết của chính thể càng hiển nhiên đúng với việc tổ chức toàn cục của chính thể. Mọi chính thể có mục tiêu trở thành ưu tú đều là tổ chức của bộ phận nào đó của các phẩm chất tốt hiện hữu trong các cá nhân thành viên của cộng đồng nhằm điều khiển các công việc tập thể của họ. Một hiến pháp mang tính đại diện là phương tiện để đem chuẩn mực chung về trí tuệ và tính thiện lương đang tồn tại trong cộng đồng cũng như trí tuệ và phẩm hạnh cá nhân của các thành viên khôn ngoan nhất, quy vào chính thể trực tiếp hơn và đầu tư chúng vào chính thể với ảnh hưởng rộng lớn hơn so với ảnh hưởng của chúng có thể có trong bất cứ kiểu cách tổ chức nào khác; dù rằng trong kiểu cách tổ chức nào khác ấy thì ảnh hưởng đó cũng là ngọn nguồn sản sinh ra mọi cái tốt có trong chính thể và làm cho mọi cái xấu không thể gây trở ngại. Các thiết chế của đất nước tổ chức thành công càng nhiều các phẩm chất tốt, và kiểu cách tổ chức càng tốt bao nhiêu thì chính thể càng ưu tú hơn bấy nhiêu.
Vậy là giờ đây chúng ta đã có cơ sở cho sự phân chia hai mặt giá trị mà mọi hệ thống thiết chế chính trị có thể có được. Nó bao gồm một phần là mức độ tiến bộ tinh thần chung của cộng đồng mà các thiết chế ấy xúc tiến, sự tiến bộ ở đây bao gồm các mặt trí tuệ, phẩm hạnh, tính tích cực thực tiễn và tính hiệu quả; và một phần nữa là mức độ của sự hoàn hảo mà các thiết chế ấy tổ chức lại giá trị đạo đức, trí tuệ và tính tích cực đã có sẵn, sao cho nó tác động hiệu quả nhất tới các hoạt động công cộng. Người ta phán xét chính thể thông qua tác động của nó lên con người, tác động của nó lên những sự việc, thông qua việc nó tạo nên các công dân như thế nào và nó làm gì với họ; xu thế của nó là cải tiến hay làm hư hỏng bản thân dân chúng, tính tốt xấu của việc làm mà nó thực hiện cho họ và thông qua họ. Chính thể đồng thời vừa là một ảnh hưởng lớn tác động lên tâm trí con người, và cũng vừa là một tập hợp các sắp xếp có tổ chức cho nhiệm vụ hoạt động công cộng; trong khả năng đầu tiên tác dụng lợi ích của nó chủ yếu là gián tiếp nhưng không vì thế mà bớt đi ý nghĩa sống còn, trong khi ấy tác dụng gây hại của nó lại có thể là trực tiếp.
Sự khác biệt giữa hai chức năng ấy của chính thể không phải là khác biệt đơn thuần về mức độ như là giữa Trật tự và Tiến bộ mà là sự khác biệt về chất. Nhưng chúng ta không được cho rằng chúng không có quan hệ mật thiết với nhau. Các thiết chế đảm bảo cho việc điều hành tốt nhất các hoạt động công cộng trong hiện trạng giáo hóa thì chỉ riêng nó thôi cũng có xu hướng tiếp tục cải tiến hiện trạng đó. Một tập hợp dân chúng đã có được luật pháp công minh nhất, một nền tư pháp hiệu quả và trong sạch nhất, một nền hành chính khai minh nhất, một nền tài chính công bằng và ít sai sót nhất, dân chúng ấy tương thích với giai đoạn đã đạt tới tiến bộ về đạo đức và trí tuệ, có thể chuyển nhanh một cách ngay thẳng sang giai đoạn cao hơn. Cũng không có kiểu cách nào để các thiết chế chính trị có thể đóng góp hiệu quả hơn cho sự tiến bộ của dân chúng ngoài việc làm cho công việc trực tiếp của họ được tiến hành tốt hơn. Ngược lại, nếu bộ máy của họ được kiến tạo quá tồi khiến họ thực hiện công việc chuyên môn của mình thật tệ hại, thì hiệu quả được cảm nhận bằng cả ngàn cách là sự suy giảm đạo đức và giết chết trí tuệ cùng tính tích cực của dân chúng. Nhưng sự khác biệt vẫn cứ là hiện thực bởi vì đó chỉ là một trong các phương cách để các thiết chế chính trị cải tiến hay làm hư hỏng tâm trí con người, và các nguyên nhân cũng như các kiểu cách của ảnh hưởng lợi ích hay độc hại vẫn còn là một sự phân biệt và là chủ đề rộng lớn hơn cho việc nghiên cứu.
Trong hai phương thức vận hành mà một hình thức chính thể hay một tập hợp các thiết chế chính trị tác động lên hạnh phúc của cộng đồng – hoặc vận hành như một cơ quan giáo dục quốc gia, hoặc như là các sắp xếp của nó nhằm tiến hành các hoạt động công cộng ở tình trạng giáo dục đang tồn tại – loại vận hành sau hiển nhiên là ít biến đổi hơn theo sự khác biệt của đất nước và tình trạng văn minh so với loại vận hành trước. Cách vận hành sau không liên quan gì nhiều đến hiến pháp cơ bản của một chính thể. Phương thức điều hành công việc thực tiễn của chính thể là tốt nhất dưới một hiến pháp tự do; nhưng nó cũng có thể là tốt nhất dưới nền quân chủ chuyên chế, chỉ có điều ít có khả năng nền quân chủ chuyên chế lại thực hành nó. Chẳng hạn, luật pháp về quyền sở hữu; các nguyên tắc về chứng lý và quy trình tư pháp; hệ thống thu thuế và quản trị tài chính, những cái đó không nhất thiết phải khác nhau trong các hình thức chính thể khác nhau. Mỗi một vấn đề ấy đều có các nguyên lý và quy tắc riêng, là đối tượng để nghiên cứu riêng rẽ. Khoa luật học tổng quát, pháp chế dân sự và hình sự, chính sách tài chính và thương mại, bản thân chúng là các môn khoa học hay nói đúng hơn là các bộ phận riêng rẽ của một khoa học toàn diện hay nghệ thuật về chính thể; các học thuyết khai minh nhất về tất cả các chủ đề này, dù cho chúng có vẻ như không được thấu hiểu đồng đều như nhau hay được thực hành dưới tất cả các hình thức chính thể, nhưng nếu được thấu hiểu và được thực hành thì nói chung chúng đều mang lại lợi ích như nhau dưới mọi chính thể. Cũng đúng là các học thuyết ấy không thể được áp dụng mà không có ít nhiều biến cải cho phù hợp với tất cả các tình trạng xã hội cũng như tâm trí con người; tuy nhiên cho tới nay đa số các học thuyết ấy đòi hỏi các biến cải đơn thuần về chi tiết nhằm thích ứng với bất cứ tình trạng xã hội nào đủ tiên tiến để có được các nhà cầm quyền có khả năng hiểu được chúng. Một chính thể mà các học thuyết ấy không thích hợp về toàn thể, hẳn phải là một chính thể bản thân nó thật tồi tệ hay thật đối lập với tình cảm của công chúng, đến nỗi không thể duy trì sự tồn tại của bản thân nó bằng các phương tiện trung thực.
Còn đối với phần lợi ích của cộng đồng liên quan đến việc huấn luyện bản thân dân chúng tốt hơn hay kém hơn thì lại khác. Xét như công cụ cho mục đích giáo dục dân chúng, các phương thức cần phải khác biệt triệt để tùy theo giai đoạn tiến bộ đã đạt được. Việc thừa nhận chân lý này, tuy phần nhiều có tính kinh nghiệm hơn là có tính triết lý, có thể xem là điểm chủ chốt của tính ưu việt của các học thuyết chính trị trong hiện tại so với các học thuyết của thời kỳ trước đây, thời kỳ mà người ta thường tuyên cáo một nền dân chủ đại diện của nước Anh hay Pháp bằng các luận cứ cũng có thể áp dụng thích hợp ngang bằng để chứng minh cho hình thức chính thể của người Bedouins hay Malays. Trạng thái của các cộng đồng khác nhau về mặt văn hóa và phát triển thay đổi từ phía thấp với điều kiện không cao hơn bao nhiêu so với loài vật phát triển nhất. Tới phía cao thì khoảng cách cũng khá lớn và tương lai có thể còn nới rộng nó ra nhiều hơn nữa. Một cộng đồng chỉ có thể phát triển từ một trong các trạng thái ấy vươn lên mức cao hơn bởi sự hội tụ các ảnh hưởng, và trong số ảnh hưởng đó chính thể đối với các thần dân là ảnh hưởng chủ chốt. Trong mọi tình trạng cải tiến đã từng đạt được của con người thì, ngoại trừ đức tin tôn giáo, bản chất và mức độ của quyền uy thực hành trên các cá nhân, sự phân bố quyền lực và các điều kiện ra lệnh cùng tuân phục, là những ảnh hưởng hùng mạnh nhất làm cho họ thành những người như hiện hữu và khiến họ trở thành những người như họ có thể. Họ có thể bị dừng lại chưa tới được một điểm nào đó trong sự tiến bộ của mình vì sự thích ứng kém của chính thể của họ với giai đoạn đặc thù ấy trên đường tiến lên. Và một cống hiến không thể thiếu được của một chính thể mà nhờ đó chính thể có thể được tha thứ cho hầu hết mọi thiếu sót khác tương thích với tiến bộ, đó chính là hiệu quả của nó lên dân chúng có lợi hay không có lợi cho bước tiếp theo mà dân chúng cần phải trải qua để vươn lên mức cao hơn.
Như vậy (để nhắc lại một thí dụ cũ) một dân chúng ở trạng thái độc lập hoang dã, trong đó mỗi người sống cho bản thân, không phải chịu bất cứ kiểm soát bên ngoài nào trừ những lúc tình cờ, dân chúng ấy thực tế không có khả năng đạt được tiến bộ nào trong sự khai hóa cho đến khi họ học được rằng cần phải tuân phục. Do đó đức tính không thể thiếu được trong một chính thể tự thiết lập trước dân chúng loại này, là tự làm cho mình được tuân phục. Để có thể làm được điều đó thì hiến pháp của chính thể phải gần như hoặc hoàn toàn là chuyên chế. Còn một hiến pháp ít nhiều mang tính nhân dân lại phụ thuộc vào sự tự nguyện từ bỏ quyền tự do hành động cá nhân của những thành viên khác nhau trong cộng đồng, hiến pháp ấy có thể thất bại trong việc ép buộc những người học trò phải học bài học đầu tiên trong giai đoạn tiến bộ ấy của họ. Cho nên, việc khai hóa các bộ lạc như thế, khi nó không phải do kết quả của việc sáp nhập với các bộ lạc khác đã có văn minh rồi, hầu như bao giờ cũng là công việc của một người cầm quyền chuyên chế dẫn xuất quyền lực của mình hoặc từ tôn giáo, hoặc từ năng lực quân sự phi phàm; rất thường khi phải nhờ vào sự trợ giúp từ bên ngoài.
Mặt khác, các chủng tộc chưa khai hóa, nhất là các chủng tộc can đảm và nhiều sinh lực nhất, thường chống lại công việc lao động liên tục nhàm chán. Nhưng mọi nền văn minh hiện thực đều phải trả cái giá đó; không có việc lao động như thế thì chẳng những tâm trí không được đưa vào kỷ luật để trở thành tập quán cần thiết cho xã hội văn minh, mà thế giới vật chất chuẩn bị cho nó cũng không có được. Ở đây cần có một sự trùng hợp hiếm hoi của các tình huống, vì thế thường phải có một khoảng thời gian dài để hòa hợp dân chúng như thế với tính cần cù siêng năng, trừ phi có khoảng thời gian họ bị bắt buộc phải chăm chỉ. Do đó ngay như cảnh nô lệ cá nhân, bằng cách luyện cho khởi đầu đời sống công nghiệp và áp đặt nó như một nghề nghiệp độc nhất cho bộ phận đông đảo nhất của cộng đồng, cũng có thể thúc đẩy nhanh sự quá độ tiến tới một nền tự do tốt đẹp hơn so với việc tranh đấu và cướp đoạt. Cũng chẳng cần phải nói thêm rằng sự bào chữa cho chế độ nô lệ chỉ có giá trị trong tình trạng rất sơ khai của xã hội. Một dân tộc văn minh sẽ có thừa các phương tiện khác để truyền bá sự khai hóa cho những người chịu ảnh hưởng của họ; và chế độ nô lệ trong mọi chi tiết của nó thật quá ghê tởm đối với chính thể pháp quyền vốn là cơ sở cho mọi đời sống hiện đại, và nó cũng là quá đồi bại đối với giai cấp chủ nô, khi họ cũng đồng thời phải bước vào dưới ảnh hưởng văn minh, cho nên chấp nhận chế độ nô lệ trong bất cứ tình huống nào của đời sống hiện đại là rơi trở lại vào tình trạng còn tồi tệ hơn cả tình trạng dã man.
Tuy nhiên, hầu như mọi dân tộc văn minh ngày nay, trong một vài thời kỳ lịch sử của họ, đều đã từng cấu thành bởi những người nô lệ chiếm đa số. Một dân tộc trong điều kiện như thế đòi hỏi vực những người nô lệ đứng dậy từ một tổ chức xã hội rất khác so với dân tộc của những người hoang dã. Nếu họ là những người có bản tính giàu sinh lực, và nhất là nếu có một giai tầng cần cù siêng năng, không phải là nô lệ cũng chẳng phải là chủ nô (như trong trường hợp Hy Lạp), liên kết với họ trong cùng một cộng đồng, thì có lẽ để giành chắc được sự cải tiến sẽ chẳng cần gì hơn là làm cho họ được tự do: khi được giải phóng rồi họ thường có thể, giống như những người tự do La Mã, đồng thời được kết nạp thành công dân với đầy đủ quyền năng. Thế nhưng đó không phải là điều kiện bình thường của chế độ nô lệ và là dấu hiệu rằng điều kiện đó đang trở thành lỗi thời. Một nô lệ, đúng với tên gọi, là người đã không học được cách tự giúp mình. Anh ta chắc chắn đã tiến được một bước từ tình trạng hoang dã. Anh ta còn chưa học được bài học đầu tiên cần thiết của một xã hội chính trị. Anh ta mới học được rằng cần phải tuân phục. Nhưng cái mà anh ta tuân phục chỉ là một mệnh lệnh trực tiếp. Đó là đặc trưng của các nô lệ bẩm sinh, không có khả năng thích ứng hành vi của mình theo quy tắc hay luật pháp. Họ chỉ có thể làm cái gì họ được ra lệnh, và chỉ vào lúc họ được lệnh làm cái đó. Nếu người làm họ sợ sệt đang đứng trước mặt họ và đe dọa trừng phạt họ thì họ tuân theo; nhưng khi người đó quay lưng lại thì công việc sẽ không được thực hiện. Động cơ định đoạt họ hẳn là không gợi tới quyền lợi của họ mà gợi tới bản năng của họ, một hy vọng tức thời hay một sự khủng bố tức thời. Một chế độ chuyên chế mà có thể chế ngự tính hoang dã, thì trong chừng mực nó là chuyên chế, nó sẽ chỉ củng cố sự bất lực cho kẻ nô lệ. Nhưng họ [những kẻ nô lệ] sẽ hoàn toàn không điều khiển được một chính thể đặt dưới sự kiểm soát của chính bản thân họ. Sự cải tiến cho họ không thể đến từ chính họ mà phải được đưa thẳng vào từ bên ngoài. Bước mà họ phải đi và là lộ trình duy nhất để cải tiến họ, là phải nâng từ một chính thể của ý chí lên thành một chính thể của luật pháp. Họ phải được dạy cho biết tự quản, và ở giai đoạn xuất phát điều đó có nghĩa là học được khả năng hành động dựa trên các chỉ dẫn chung. Cái họ cần không phải là một chính thể của sức mạnh, mà là một chính thể của sự hướng dẫn. Tuy nhiên, ở trạng thái còn quá thấp kém như thế, họ không có được sự hướng dẫn nào ngoài những người mà họ xem như là những kẻ đang nắm giữ sức mạnh; nên loại chính thể thích hợp đối với họ là chính thể có sức mạnh nhưng hiếm khi sử dụng nó: một kiểu chuyên chế gia trưởng (parental despotism) hay quý tộc giống như hình thức Xã hội chủ nghĩa của St. Simon; một chính thể duy trì việc giám thị chung đối với mọi hoạt động của xã hội, giữ cho mỗi cá nhân cảm nhận thấy sự hiện diện của sức mạnh đủ để bắt họ tuân phục theo các quy tắc đã ban hành, nhưng lại không thể hạ mình xuống điều chỉnh mọi chi tiết vụn vặt của nghề nghiệp và đời sống và nhất thiết phải khuyến khích cho các cá nhân tự mình làm nhiều hơn. Chính thể như thế, có thể gọi là chính thể giật dây (government of leading-strings), có vẻ như là cần phải có để nhanh chóng nhất đưa một tập hợp dân chúng như thế vượt qua bước cần thiết tiếp theo trong tiến bộ xã hội. Hình như đó chính là ý tưởng về chính thể của người Incas ở Peru, và chính thể của người Jesuits ở Paraguay cũng như vậy. Chắc tôi không cần phải lưu ý rằng chính thể giật dây chỉ có thể chấp nhận được như phương tiện huấn luyện cho dân chúng dần dần tự đi một mình.
Minh họa tiếp tục xa hơn nữa thì thật không đúng chỗ. Nỗ lực nghiên cứu xem loại chính thể nào là thích hợp cho mọi tình trạng đã biết của xã hội thì sẽ là soạn một luận thuyết, không phải về chính thể đại diện nữa, mà là về một khoa học chính trị nói chung. Chúng ta chỉ vay mượn của môn triết học chính trị các nguyên lý chung của nó nhằm phục vụ cho mục tiêu giới hạn của chúng ta mà thôi. Để xác định hình thức chính thể thích hợp nhất cho bất cứ dân chúng riêng biệt nào thì ta phải có khả năng phân biệt trong số các nhược điểm và khiếm khuyết thuộc về dân chúng ấy những gì là cản trở cấp bách cho tiến bộ, ta phải phát hiện được cái gì trong đó đã làm họ dừng lại (như đã xảy ra). Chính thể tốt nhất cho họ là chính thể nào hướng tới việc đem lại cho họ nhiều nhất cái họ thiếu thốn mà vì đó họ đã không tiến lên được hoặc tiến lên một cách khập khiễng và không cân đối. Tuy nhiên, ta không được phép quên những cái dự trữ cần thiết có trong mọi thứ vì mục đích cải tiến những thứ đó, hay mục đích Tiến bộ, ấy là trong khi tìm kiếm cái tốt cần thiết thì không được làm tổn hại, hay làm tổn hại thật ít như có thể, đến những gì đã có. Một dân tộc hoang dã phải được dạy cho biết tuân phục, nhưng không phải bằng cái cung cách như biến cải họ thành một dân tộc nô lệ. Và (để cho nhận xét mang tính tổng quát hơn) cái hình thức chính thể hiệu quả nhất đưa được một dân tộc vượt qua giai đoạn tiếp theo của tiến bộ, sẽ vẫn còn chưa phải là thích đáng cho họ, nếu nó làm điều đó bằng một cung cách sẽ gây trở ngại hoặc sẽ làm cho họ trở thành không thích hợp cho bước tiến kế tiếp sau nữa. Những trường hợp như thế là rất thường gặp và là những sự kiện đáng buồn nhất trong lịch sử. Hệ thống đẳng cấp Ai Cập, chế độ chuyên chế gia trưởng Trung Hoa, đều đã từng là công cụ rất thích hợp để đưa các quốc gia ấy lên đỉnh cao văn minh mà họ đã đạt tới. Nhưng sau khi đạt tới điểm đó rồi thì họ bị đưa vào một sự ngưng trệ lâu dài do thiếu thốn tinh thần tự do và cá tính; các thiết chế đã đưa họ đi xa được như vậy lại làm cho họ không có khả năng tiếp thu những điều kiện cần thiết cho cải tiến; và bởi vì các thiết chế không bị đập tan để nhường chỗ cho những cái khác, cho nên sự cải tiến thêm nữa đã bị dừng lại.
Tương phản với các dân tộc này, ta hãy xem xét thí dụ về một tính cách đối nghịch tạo nên bởi một dân tộc khác tương đối nhỏ bé ở phương Đông – những người Do Thái. Họ cũng đã có một nền quân chủ chuyên chế và hệ thống đẳng cấp, và các thiết chế tổ chức của họ cũng có nguồn gốc tăng lữ giống như người Hindu. Những cái đó tác động lên họ cũng giống như tác động lên các dân tộc khác – ép họ vào sự chăm chỉ siêng năng và trật tự, đem lại cho họ một đời sống quốc gia. Nhưng cả các nhà vua lẫn các thầy tu mà họ có được đều không thành khuôn mẫu độc nhất cho tính cách của họ, giống như đã xảy ra với các dân tộc khác. Tôn giáo của họ cho phép những người có thiên tư và có phong thái tôn giáo cao được xem như là, và được tự coi mình như là, người được Thượng Đế truyền cảm hứng; tôn giáo ấy đã đem lại sự tồn tại cho một thiết chế phi tổ chức quý giá không sao kể xiết: tầng lớp của các nhà Tiên tri (có thể gọi thiết chế đó như vậy). Dưới sự bảo trợ của tính cách thiêng liêng của họ, [sự bảo trợ] nói chung có hiệu quả tuy không phải luôn luôn là như thế, các nhà Tiên tri đã trở thành một quyền lực trong dân tộc, thường còn mạnh hơn vai trò của vua chúa và tăng lữ, và họ duy trì được ở một góc nhỏ của Trái đất sự đối kháng đối với các ảnh hưởng, và là cái bảo đảm hiện thực duy nhất cho sự tiến bộ được liên tục. Do vậy mà tôn giáo ở đây không phải là cái vẫn thường hay gặp ở các nơi khác: đó là không thần thánh hóa mọi thứ đã được thiết lập và không phải là rào cản cho sự tiếp tục cải tiến. Nhận xét của một người Do Thái xuất chúng, M. Salvador, rằng các nhà Tiên tri, đối với Giáo hội và Nhà nước, là cái tương đương với quyền tự do hiện đại của báo chí, là một quan niệm đúng đắn nhưng không đầy đủ về cái phần được thực hiện bởi yếu tố vĩ đại này của đời sống người Do Thái trong lịch sử dân tộc và toàn cầu. Do chỗ xem Bộ chuẩn tắc của Thượng Đế là không bao giờ hoàn tất, nên các nhân vật xuất sắc nhất về thiên tư và đạo đức không những có thể nhân danh quyền uy trực tiếp của Đấng Toàn năng để phản đối và bài xích bất cứ điều gì họ cảm thấy đáng lên án, mà họ còn có thể đưa ra các diễn giải tốt hơn và cao cả hơn cho tôn giáo dân tộc, và kể từ lúc đó chúng sẽ trở thành bộ phận của tôn giáo. Cho nên, bất cứ ai có thể tự gạt bỏ thói quen đọc Kinh Thánh cứ y như là một cuốn sách, cái thói quen mãi tới gần đây vẫn ăn sâu như nhau vào nếp nghĩ của các tín đồ Ki Tô giáo và những người không tín ngưỡng, người ấy sẽ phải thán phục khi nhận ra khoảng cách rộng lớn giữa đạo đức và tôn giáo của năm quyển đầu của kinh Cựu Ước (Pentateuch), hay thậm chí của các cuốn sách lịch sử (công trình không có sai lầm của những người Hebrew bảo thủ trong trật tự tăng lữ), với đạo đức và tôn giáo của các lời Tiên tri: một khoảng cách cũng rộng như giữa các lời Tiên tri và sách Phúc Âm (Gospels). Các điều kiện thuận lợi hơn cho Tiến bộ đã không thể tồn tại một cách dễ dàng, do vậy mà những người Do Thái, thay vì tĩnh tại giống như những người châu Á khác, đã là dân tộc tiến bộ nhất thời cổ đại đứng sau người Hy Lạp, và cùng với những người này đã là khởi điểm và động lực chủ chốt thúc đẩy sự khai hóa hiện đại.
Như vậy, sẽ không thể hiểu nổi vấn đề thích ứng của các hình thức chính thể với các tình trạng xã hội, nếu chỉ tính đến có bước tiếp theo mà không tính đến tất cả các bước xã hội sẽ phải làm; phải tính đến cả hai thứ: cái có thể dự kiến và cái ở tầm xa hơn không xác định, không nhìn thấy được vào lúc hiện tại. Suy ra rằng để phán xét giá trị của các hình thức chính thể thì lý tưởng nhất là cái hình thức chính thể được cấu tạo thích hợp nhất cho bản thân nó, nghĩa là, nếu tồn tại các điều kiện cần thiết đem lại hiệu quả cho xu thế lợi ích của nó, thì hình thức chính thể lý tưởng nhất sẽ là cái tạo thuận lợi thúc đẩy nhiều hơn so với mọi hình thức chính thể khác, không phải chỉ một cải tiến nào đó, mà tất cả mọi hình thức và mọi mức độ của nó. Sau vấn đề này rồi, ta cần xem xét tất cả các loại điều kiện tinh thần phải như thế nào để cho phép chính thể ấy thực hiện được các xu thế của nó, các khuyết điểm khác nhau nào khiến cho một dân tộc không có khả năng thu hoạch được lợi ích của nó. Khi đó sẽ có thể xây dựng một định lý của các tình huống mà trong đó hình thức chính thể có thể được du nhập một cách khôn ngoan; và cũng sẽ có thể phán xét trường hợp nào thì không nên du nhập nó, các hình thức tổ chức xã hội cấp thấp nào có thể đưa được các cộng đồng đó một cách tốt nhất vượt qua các giai đoạn trung gian mà họ phải trải qua, trước khi họ trở nên thích hợp cho hình thức chính thể tốt nhất.
2
TIÊU CHUẨN CHO BIẾT SỰ TỐT ĐẸP CỦA MỘT HÌNH THỨC CHÍNH THỂ
Hình thức chính thể cho bất cứ một đất nước nhất định nào đó là tùy theo sự chọn lựa (với một số điều kiện xác định), bây giờ phải xem xét việc chọn lựa dựa trên giác độ chủ yếu nào; các đặc trưng nào của hình thức chính thể là phù hợp nhất để gia tăng những lợi ích của một xã hội nhất định nào đó.
Trước khi đi vào vấn đề đó có lẽ cần phải xác định các chức năng đích thực của chính thể là gì; bởi lẽ toàn bộ chính thể chỉ là một phương tiện, nên tính thích đáng của phương tiện phải phụ thuộc vào sự thích nghi của nó đối với mục tiêu. Thế nhưng cái kiểu cách đặt vấn đề như thế không giúp ích được bao nhiêu cho việc khảo cứu nó như người ta có thể tưởng, thậm chí kiểu cách ấy không cho ta thấy rõ toàn bộ vấn đề. Trước hết đó là vì các chức năng đích thực của chính thể không phải là một thứ cố định mà là khác nhau trong các tình trạng khác nhau của xã hội; trong tình trạng lạc hậu chúng mang tính bao quát hơn nhiều so với tình trạng tiên tiến. Thứ nữa là không thể đánh giá đầy đủ đặc điểm của một chính thể hay một tập hợp các thiết chế, nếu ta giới hạn sự chú ý trong phạm vi chính đáng của các chức năng cai trị. Bởi vì dù cho tính tốt đẹp của một chính thể nhất thiết bị giới hạn trong phạm vi ấy, thế nhưng thật không may là sự xấu xa của nó lại không phải vậy. Mọi thứ xấu xa ở mọi mức độ mà loài người có thể cảm nhận được đều có thể do chính quyền đem tới; và không có cái tốt đẹp nào khả dĩ cho sự tồn tại xã hội lại có thể thực hiện được vượt ra khỏi khuôn khổ mà một thiết chế chính thể tương thích với nó và cho nó cơ may đạt được. Không nói chi tới các hiệu ứng gián tiếp, sự can thiệp trực tiếp của các nhà chức trách không hề có giới hạn nào ngoài sự sinh tồn của con người, và ảnh hưởng của chính thể lên an sinh của xã hội không thể được xem xét hay đánh giá bằng cách nào khác hơn là căn cứ vào toàn bộ lợi ích của con người.
Khi xem xét một chính thể tốt hay xấu ta buộc phải đương đầu với một đối tượng hết sức phức tạp, đó là lợi ích tích hợp của xã hội, nên ta cần thử tiến hành một sự phân loại về những lợi ích này. Những lợi ích ấy, khi được xem xét thành những nhóm nhất định, có thể cho ta chỉ bảo về những phẩm chất mà một hình thức chính thể là thích hợp để xúc tiến những lợi ích khác nhau ấy. Sẽ rất dễ dàng, nếu ta có thể nói được một xã hội tốt gồm có các yếu tố như là thế này và thế này, một trong các yếu tố ấy đòi hỏi các điều kiện thế này, một yếu tố khác đòi hỏi điều kiện thế kia; do vậy mà chính thể bao gồm được ở mức độ cao nhất tất cả các điều kiện ấy sẽ phải là chính thể tốt nhất. Lý thuyết chính thể như vậy hẳn là có thể được xây dựng lên từ các định lý riêng rẽ về các yếu tố tạo nên một trạng thái xã hội tốt đẹp.
Thật không may là việc đếm và phân loại các thành tố của an sinh xã hội để tạo thành những định lý như thế không phải là một việc dễ dàng. Đa số những người thuộc thế hệ vừa qua hay hiện nay chuyên tâm vào lĩnh vực triết học chính trị với một sự tinh tường nào đó đều cảm nhận được tầm quan trọng của một việc phân loại như thế; nhưng theo chỗ tôi biết thì nỗ lực cho tới nay hãy còn hạn chế ở một bước duy nhất. Việc phân loại bắt đầu và kết thúc bởi việc phân chia các nhu cầu cấp bách của xã hội thành hai đối cực, đó là Trật tự và Tiến bộ (nói theo ngôn từ của các nhà tư tưởng Pháp); Bền vững và Tiến bộ theo từ ngữ của Coleridge(*). Sự phân chia này có vẻ hợp lý và khá quyến rũ nhờ vẻ bề ngoài đối lập minh bạch giữa hai khâu của nó và sự khác biệt rõ rệt giữa các tình cảm mà chúng gợi nên. Thế nhưng tôi e rằng (dù cho có thể chấp nhận vì mục tiêu đàm luận đại chúng thế nào đi nữa) sự phân biệt giữa Trật tự, hay Bền vững, và Tiến bộ được áp dụng để xác định các phẩm chất cần thiết cho chính thể là không khoa học và không đúng đắn.
Vì rằng trước hết Trật tự và Tiến bộ là cái gì? Liên can đến Tiến bộ thì không có gì khó khăn hay thoạt nhìn thấy không có gì có vẻ như vậy. Khi nói về Tiến bộ như một trong các nhu cầu của xã hội con người thì hẳn là hàm ý Cải tiến. Đó là một ý tưởng rõ ràng, tạm chấp nhận được. Nhưng Trật tự là cái gì? Đôi khi nó có thể ít nhiều hàm ý được phần nào, nhưng hầu như chẳng bao giờ nó hàm ý được toàn thể cái mà xã hội cần, do nó loại trừ sự cải tiến.
Trong ý nghĩa hẹp nhất được thừa nhận, Trật tự hàm ý Tuân phục. Người ta nói một chính thể duy trì được trật tự nếu như nó thành công trong việc tạo ra sự tuân phục bản thân nó. Thế nhưng có các mức độ khác nhau của sự tuân phục và không phải bất cứ mức độ nào cũng đáng tán dương. Chỉ có một chế độ chuyên chế triệt để mới đòi hỏi mỗi cá nhân công dân của nó tuân phục vô điều kiện bất cứ chỉ thị nào của người đương quyền. Ít nhất chúng ta cũng phải giới hạn định nghĩa các chỉ thị như thế phải là áp dụng chung cho mọi người và được ban hành trong một hình thức được cân nhắc kỹ lưỡng của luật pháp. Trật tự được hiểu như thế hẳn là biểu hiện thuộc tính không thể thiếu được của chính thể. Kẻ nào không có khả năng làm cho các sắc lệnh của mình được tuân theo thì không thể được xem là thực thi việc cai trị. Thế nhưng dù cho cái đó là một điều kiện cần, nó không thể được coi là mục tiêu của chính thể. Chính thể làm cho mình được tuân phục là để có thể hoàn thành được các mục đích nào khác nữa. Chúng ta hãy còn đang phải tìm xem cái mục đích khác, mà chính thể phải thực hiện này là gì, bằng cách rút nó ra từ ý tưởng về sự cải tiến và đó là mục đích phải được thực hiện trong bất kỳ xã hội nào dù là trì trệ hay tiến bộ.
Trong một ý nghĩa mở rộng hơn nào đó, Trật tự hàm nghĩa duy trì hòa bình bằng cách chấm dứt bạo lực cá nhân. Trật tự được xem là tồn tại ở nơi mà dân chúng của đất nước ấy, như một quy luật phổ biến, đã không còn phân xử các cuộc tranh chấp của mình bằng bạo lực cá nhân, cũng như đã học được thói quen trao cho giới chức công quyền giải quyết các tranh cãi và bồi thường thiệt hại. Thế nhưng trong việc sử dụng thuật ngữ theo nghĩa rộng hơn ấy cũng như theo nghĩa hẹp trước đây, Trật tự thể hiện một trong các điều kiện của chính thể hơn là thể hiện mục đích của nó hay tiêu chuẩn cho thấy tính ưu việt của nó. Bởi vì tập quán có thể được thiết lập êm xuôi để phục tùng chính quyền và trao cho nhà chức trách giải quyết mọi chuyện tranh chấp, thế nhưng cung cách mà chính quyền đối xử với các chuyện tranh chấp cũng như các chuyện khác liên can đến bản thân nó, lại có thể khác biệt ở suốt cự ly chia cách giữa cái cung cách tốt nhất với cái cung cách tồi tệ nhất.
Nếu chúng ta định bao hàm trong ý tưởng Trật tự tất cả những gì mà xã hội đòi hỏi ở chính thể nhưng không bao hàm trong ý tưởng về sự Tiến bộ, chúng ta cần phải định nghĩa Trật tự như là việc duy trì mọi thứ tốt đẹp đã có, còn Tiến bộ là bao hàm sự gia tăng những thứ đó. Sự phân biệt này quả bao hàm tất cả những gì mà ta có thể đòi hỏi một chính thể phải tiến hành trong lĩnh vực này hay trong lĩnh vực khác. Nhưng sự phân biệt được hiểu như thế chẳng đem lại cơ sở nào cho môn triết học về chính thể. Chúng ta không thể nói rằng trong việc định ra hiến pháp cho một chính thể, một số điều khoản là nhằm dành cho Trật tự, còn những cái kia là cho Tiến bộ; vì lẽ các điều kiện của Trật tự theo nghĩa ta vừa xác định và các điều kiện của Tiến bộ không hề đối lập nhau mà cùng là một thứ. Các cơ quan hướng tới việc duy trì cái tốt đẹp đã có của xã hội cũng chính là các cơ quan thúc đẩy việc gia tăng nó, và ngược lại: cái duy nhất khác biệt là các cơ quan cần thiết cho mục đích sau có mức độ lớn hơn rất nhiều so với cho mục đích trước.
Thí dụ như các phẩm chất cá nhân nào của các công dân góp phần chủ yếu tạo nên sự gia tăng các hành vi tốt, tài quản lý giỏi, thành đạt và phồn vinh đã tồn tại trong xã hội? Bất cứ ai cũng sẽ đồng ý rằng các phẩm chất ấy là tính cần cù, tính liêm chính, công bằng và khôn ngoan. Nhưng phải chăng tất cả các phẩm chất ấy lại cũng chính là những cái góp phần chủ yếu tạo nên sự cải tiến hay không? Và phải chăng bất kỳ sự lớn mạnh nào của những đức tính này ở trong cộng đồng thì tự nó cũng là sự lớn mạnh to tát nhất của những cải tiến? Nếu phải vậy thì dù là phẩm chất nào trong chính thể mang tính thúc đẩy như cần cù, liêm chính, công bằng và khôn ngoan cũng đều góp phần như nhau cho sự bền vững và cho sự tiến bộ; chỉ có điều là cần có các phẩm chất ấy nhiều hơn để làm cho xã hội tiến bộ rõ rệt so với việc đơn thuần giữ cho nó bền vững.
Ta lại thử hỏi: có các thuộc tính đặc thù nào trong con người có vẻ chuyên trách hơn cho Tiến bộ mà lại không quá trực tiếp gợi đến các ý tưởng về Trật tự hay Bền vững? Các phẩm chất ấy chủ yếu là tính tích cực, tính dám làm và tính can đảm. Nhưng phải chăng tất cả các phẩm chất ấy lại không cần thiết cho việc duy trì cái tốt đang có cũng như cho việc gia tăng cái tốt ấy? Nếu như có cái gì là chắc chắn trong hoạt động của con người thì đó là những cái thu hoạch quý giá chỉ được duy trì liên tục bằng chính những năng lượng để đạt được chúng. Cái gì bị để mặc cho tự lo liệu lấy đều không tránh khỏi bị mai một. Những gì mà thành công của chúng làm cho người ta lơi lỏng tập quán quan tâm chăm sóc cũng như lòng sốt sắng đối đầu với các trở ngại, thường ít khi nào lại duy trì được lâu dài sự thịnh vượng của chúng ở đỉnh cao. Thuộc tính tinh thần đặc trưng riêng cho Tiến bộ và là cực điểm của xu thế hướng tới nó chính là Tính độc đáo hay Sáng tạo. Thế nhưng chính nó cũng là cần thiết không kém cho Bền vững, bởi vì trong những biến động không tránh khỏi của hoạt động con người, các hiểm nguy và bất lợi gia tăng liên tục; chúng phải được đối chọi lại bằng các kỹ xảo và nguồn lực mới để giữ cho mọi chuyện được duy trì ngay như cả ở mức độ như trước. Vậy thì bất cứ phẩm chất nào của chính thể hướng tới khích lệ tính tích cực, năng lực, tính can đảm, tính độc đáo, đều là cần thiết cho cả Bền vững lẫn Tiến bộ; chỉ có điều là mức độ đòi hỏi trung bình đủ cho mục đích trước có phần nào đó ít hơn so với mục đích sau.
Bây giờ ta chuyển từ các đòi hỏi tinh thần sang các đòi hỏi ngoại tại và khách quan của xã hội; không thể nào chỉ ra được một kỹ xảo nào đó trong hoạt động chính trị hay trong việc sắp đặt các hoạt động xã hội lại dẫn tới Trật tự hay Tiến bộ; bất cứ cái gì thúc đẩy cái này thì cũng thúc đẩy cả hai. Ta lấy thí dụ như thiết chế chung của cảnh sát. Trật tự là đối tượng có vẻ được quan tâm trực tiếp nhất trong tính hiệu quả của bộ phận tổ chức xã hội này. Nhưng nếu như thúc đẩy gia tăng Trật tự có hiệu quả tức là trấn áp tội phạm và làm cho mọi người đều cảm thấy con người họ và sở hữu của họ được an toàn, thế thì còn có tình trạng nào ích lợi hơn nữa cho Tiến bộ hay không? Sự an toàn cho sở hữu càng vững chắc hơn là điều kiện chủ yếu và nguyên nhân tạo nên sản xuất càng gia tăng nhiều hơn, đó chính là Tiến bộ trong khía cạnh quen thuộc và thô thiển nhất của nó. Sự trấn áp tội ác tốt hơn thì sẽ dập tắt khuynh hướng phạm tội, và đó là Tiến bộ trong một ý nghĩa nào đó còn cao hơn nữa. Việc giải phóng cho cá nhân khỏi các mối lo lắng và sợ hãi của tình trạng bảo hộ yếu kém sẽ làm cho các khả năng của anh ta được tự do sử dụng trong bất cứ nỗ lực mới nào để cải tiến tình trạng của bản thân anh ta cũng như của những người khác: trong lúc đó cũng chính nguyên nhân này – khi gắn bó anh ta với sự sinh tồn của xã hội và làm cho anh ta không nhìn thấy kẻ thù hiện tại hay kẻ thù trong tương lai nơi những đồng loại của mình – sẽ bồi dưỡng tất cả các cảm xúc thiện lương và hữu ái này đối với những người khác và mối quan tâm tới an sinh chung của cộng đồng, đó đều là những bộ phận rất quan trọng cho sự cải tiến xã hội.
Ta lại lấy một trường hợp quen thuộc như một hệ thống thu thuế và tài chính lành mạnh. Hệ thống này nói chung được xếp vào lĩnh vực Trật tự. Thế nhưng liệu có cái gì ích lợi cho Tiến bộ hơn nó hay không? Một hệ thống tài chính thúc đẩy gia tăng cho một cái này thì những ưu điểm của nó cũng dẫn đến đóng góp cho cái kia. Thí dụ như kinh tế vừa gìn giữ kho của cải hiện hữu của sự thịnh vượng quốc gia và vừa tạo thuận lợi cho việc tạo ra thêm nhiều của cải hơn. Một sự chia sẻ đúng đắn gánh nặng đóng thuế bằng cách nêu gương đạo đức và lương tâm cho mỗi công dân áp dụng vào các điều chỉnh đầy khó khăn, và một minh chứng cho giá trị mà nhà cầm quyền lãnh đạo gắn vào các việc ấy, những cái đó sẽ có xu thế giáo dục cảm nhận đạo đức cộng đồng ở mức độ cao, cả về phương diện tính chặt chẽ lẫn sự chính xác [trong việc đóng thuế]. Kiểu đánh thuế như vậy, không gây trở ngại cho nền công nghiệp hay can thiệp không cần thiết vào quyền tự do của công dân, sẽ thúc đẩy không chỉ việc gìn giữ mà còn làm gia tăng thêm sự thịnh vượng quốc gia và khích lệ việc sử dụng tích cực hơn nữa các khả năng cá nhân. Ngược lại, mọi sai lầm trong tài chính và đánh thuế gây cản trở cho sự cải tiến vật chất và tinh thần của dân chúng, nếu ở mức độ đủ nghiêm trọng, thì đồng thời cũng gây ra sự bần cùng và làm nhụt chí kinh doanh của họ. Tóm lại, nói chung khi xét Trật tự và Bền vững trong ý nghĩa rộng nhất của nó, thì để ổn định các ưu thế đang hiện hữu, những cái cần thiết cho Tiến bộ chỉ là những cái cần thiết cho Trật tự ở mức độ cao hơn mà thôi; những cái cần thiết cho Bền vững đơn thuần chỉ là những cái cần thiết cho Tiến bộ ở chừng mức nào đó ít hơn.
Để ủng hộ cho lập trường xem Trật tự là khác biệt nội tại với Tiến bộ, và xem việc gìn giữ cái hiện tồn và việc giành lấy cái tốt bổ sung thêm là rất khác nhau, đặng dùng chúng làm cơ sở cho việc phân loại căn bản, người ta sẽ nhắc nhở chúng ta rằng Tiến bộ có thể phải trả giá bằng Trật tự, rằng trong khi chúng ta đang giành giật hay cố giành giật lấy một thứ tốt này thì chúng ta có thể mất đi thứ khác: ví dụ như có tiến bộ về của cải trong khi hư hỏng về phẩm hạnh. Cứ cho là thế đi nữa thì điều này cũng không chứng minh được Tiến bộ là thứ khác biệt về chủng loại so với Bền vững, mà chỉ chứng tỏ rằng của cải là thứ khác biệt với phẩm hạnh. Tiến bộ chính là bền vững cùng với cái gì đó thêm vào nữa; và không phải là lời giải đáp cho vấn đề trên bằng cách nói rằng Tiến bộ trong một chuyện không hàm ý Bền vững trong mọi chuyện. Tiến bộ trong một việc không có nghĩa là Tiến bộ trong mọi việc. Tiến bộ trong một loại nào đó bao gồm Bền vững trong cùng loại đó; một khi Bền vững bị hy sinh cho Tiến bộ thuộc một loại đặc thù nào đó thì Tiến bộ kia còn bị hy sinh nhiều hơn cho chuyện đó; và không phải chỉ có lợi ích của riêng Bền vững bị bỏ qua mà cả lợi ích chung của Tiến bộ cũng bị lầm lẫn, nếu như là chuyện không đáng phải hy sinh.
Nếu giả sử có phải dùng chút nào đó các ý tưởng tương phản không đúng cách ấy để khởi đầu cho tính chính xác khoa học đối với nhận xét về chính thể tốt, thì bỏ đi định nghĩa từ ngữ Trật tự và nói rằng chính thể tốt nhất là chính thể dẫn đến Tiến bộ sẽ là đúng đắn về mặt triết học nhiều hơn. Bởi vì Tiến bộ bao gồm Trật tự, còn Trật tự thì không bao gồm Tiến bộ. Tiến bộ là mức độ cao hơn của cái là Trật tự trong mức độ ít hơn. Trong bất cứ ý nghĩa nào khác thì Trật tự chỉ là một phần của các tiền đề cần thiết cho một chính thể tốt, chứ không phải là ý tưởng và thực chất của nó. Trật tự có thể tìm được một vị trí thích đáng hơn trong các điều kiện của Tiến hộ; bởi vì rằng nếu chúng ta muốn gia tăng tổng số cái tốt của mình thì không gì thiết yếu hơn là việc chăm sóc cho những cái đã có rồi. Sau khi đã giàu có hơn rồi mà còn muốn ráng sức thêm nữa thì quy tắc đầu tiên phải là không hoang phí vô ích của cải đang có. Trật tự được xem xét như thế không phải là một mục đích bổ sung thêm vào cho hòa hợp với Tiến bộ, mà là bộ phận và phương tiện của bản thân Tiến bộ. Nếu lợi lộc về một phương diện này thu được bằng tổn thất nhiều hơn tương đương về chính phương diện ấy hay về phương diện khác nào đó thì sẽ không có được Tiến bộ. Sự dẫn tới Tiến bộ được hiểu như vậy sẽ bao gồm toàn bộ sự ưu tú của một chính thể.
Tuy nhiên, dù cho được bảo vệ về mặt siêu hình học thì cái định nghĩa về tiêu chuẩn cho chính thể tốt như vậy cũng không thích đáng, và rằng tuy nó chứa đựng toàn bộ sự thật, nhưng lại chỉ gợi nên một phần của nó thôi. Cái mà thuật ngữ Tiến bộ gợi ra là ý tưởng tiến lên phía trước, trong khi hàm nghĩa của nó ở đây chỉ bao gồm việc ngăn ngừa tụt hậu. Vẫn chính là những nguyên nhân xã hội ấy – những niềm tin, những cảm xúc, các thiết chế và các thực tiễn – cũng cần thiết vừa để ngăn ngừa cho xã hội khỏi thoái hóa, vừa để đem lại sự tiếp tục tiến lên. Ở đâu không có hy vọng cho cải tiến, thì ở đó cuộc sống cũng vẫn không khác gì hơn là cuộc đấu tranh không ngừng nhằm chống lại các nguyên nhân gây sa đọa; giống như là tình hình hiện nay. Chính trị, trong quan niệm của người xưa, tựu trung chỉ hoàn toàn nhằm vào điểm này: xu thế tự nhiên của con người và sản phẩm của họ là suy đồi, tuy nhiên xu thế ấy có thể bị vô hiệu hóa trong thời gian dài vô hạn bằng các thiết chế tốt và sự cai trị đức hạnh. Dù cho ngày nay chúng ta không còn giữ quan điểm như thế nữa, dù cho đa số con người thời nay rao giảng một tín điều ngược lại, tin tưởng rằng xu thế của mọi vật về toàn thể là cải tiến đi lên; chúng ta không nên quên rằng luôn có một dòng chảy mãi mãi không ngừng trong hoạt động của con người hướng đến cái xấu xa hơn, nó bao gồm mọi thứ điên rồ, mọi thứ tội lỗi, mọi thứ cẩu thả, biếng nhác và buông trôi của loài người; cái dòng chảy ấy chỉ được kiểm soát và giữ cho nó đừng cuốn trôi đi mọi thứ ở trước nó bởi nỗ lực thường xuyên của một số người này và nỗ lực từng đợt của một số người khác, nhằm thúc đẩy hướng đi của những đối tượng tốt đẹp và xứng đáng với nhân phẩm. Nó sản sinh ra ý tưởng không trọn vẹn về tầm quan trọng của những phấn đấu nhằm cải tiến và nâng cao bản tính con người cũng như cuộc sống, với giả định rằng giá trị chủ yếu của chúng là ở số lượng cải tiến thực sự được các phương tiện này thực hiện, và rằng hệ quả của việc ngừng lại các phấn đấu ấy chỉ đơn thuần là việc chúng ta sẽ dậm chân tại chỗ. Một chút giảm bớt các nỗ lực ấy thôi có thể chẳng những làm ngưng trệ việc cải tiến mà còn đảo ngược xu thế chung quay nó về phía tồi tệ hơn; xu thế xấu đó một khi khởi động sẽ có thể tiếp diễn với tốc độ gia tăng nhanh chóng và trở nên càng ngày càng khó kiểm soát, cho tới lúc nó đạt tới trạng thái thường gặp trong lịch sử, là trạng thái mà trong đó nhiều bộ phận to lớn của nhân loại ngay cả tới nay vẫn còn phải khom lưng uốn gối; khi ấy thì phải cần đến sức mạnh siêu nhân nào đó mới đảo ngược được trào lưu và đem lại một khởi đầu mới cho chuyển động tiến lên.
Các lý lẽ ấy làm cho từ ngữ Tiến bộ cũng không thích đáng để trở thành cơ sở cho việc phân loại cần thiết đối với các hình thức chính thể, giống như các thuật ngữ Trật tự và Bền vững. Cái nghịch đề cơ bản (fundamental antithesis) mà các từ ngữ ấy biểu hiện ra không nằm trong bản thân những sự vật, mà nằm nhiều hơn ở trong các loại hình của tính cách con người ứng phó lại chúng. Chúng ta cũng biết là có những tâm thức trong đó sự thận trọng chiếm ưu thế và có những tâm thức khác trong đó sự liều lĩnh chiếm ưu thế; trong một số tâm thức sự mong muốn né tránh hiểm nguy cho những gì đã có là cảm xúc mạnh hơn so với cảm xúc muốn thúc đẩy việc cải tiến cái cũ và thu được các lợi thế mới; một số tâm thức khác lại thiên về hướng ngược lại, háo hức với tương lai nhiều hơn là cẩn trọng với cái tốt hiện tại. Con đường đi đến mục tiêu của cả hai là như nhau, nhưng họ đều có khả năng lầm đường lạc lối về hai hướng ngược nhau. Việc xem xét này là rất quan trọng trong việc sắp xếp nhân sự của mọi đoàn thể chính trị: các nhân vật của cả hai kiểu mẫu ấy nên cùng được đưa vào sao cho mỗi xu thế có thể bị kiềm chế bớt, chừng nào mà chúng là quá đáng, bởi một tỷ lệ thích đáng của xu thế kia. Với điều kiện không thu nhận vào đó bất cứ cái gì không nhất quán với nó thì sẽ không cần thiết phải có điều khoản quy định minh nhiên (express provision)(*) để bảo hiểm cho mục tiêu này. Một sự hòa trộn tự nhiên và tự phát giữa già và trẻ, giữa những người đã có địa vị và danh vọng cùng những người đang còn tạo lập chúng, nói chung sẽ là đáp án đầy đủ cho mục tiêu, chỉ cần là sự cân bằng tự nhiên ấy không bị quấy rối bởi việc điều chỉnh giả tạo.
Vì rằng dấu hiệu đặc trưng được chấp nhận chung nhiều nhất để phân loại các nhu cầu cấp bách của xã hội không có được các tính chất cần thiết cho việc áp dụng ấy, chúng ta buộc phải tìm kiếm dấu hiệu đặc trưng khác nào đó thích ứng hơn với mục đích. Dấu hiệu đặc trưng như thế có lẽ sẽ được chỉ ra bởi các xem xét mà tôi sẽ triển khai ở đây.
Nếu chúng ta tự hỏi rằng một chính thể tốt trong mọi ý nghĩa của nó, bao gồm từ người hèn mọn nhất tới người quyền quý nhất, phụ thuộc vào các nguyên nhân và điều kiện gì, chúng ta sẽ thấy rằng điều chủ yếu nhất bao trùm lên mọi thứ khác chính là phẩm chất của các con người hợp thành cái xã hội mà chính thể đang vận hành trong đó.
Chúng ta có thể lấy nền hành chính tư pháp như một thí dụ thứ nhất, nó là thích đáng hơn cả bởi vì không có bộ phận công vụ nào khác mà bộ máy thuần túy, các quy phạm và kỹ xảo phục vụ cho việc tiến hành các hoạt động chi tiết, lại có hiệu quả mang tính sống còn đến thế. Nhưng ngay cả những cái đó xét về tầm quan trọng cũng phải chịu nhường chỗ cho các phẩm chất của con người; tác nhân tham gia công việc. Nói gì được nữa về hiệu quả của các quy phạm thủ tục đảm bảo cho mục tiêu công lý, nếu điều kiện đạo đức của dân chúng ở tình trạng khiến cho các lời chứng nói chung là dối trá, còn các quan tòa và những người dưới quyền họ lại nhận hối lộ? Thêm thí dụ khác, các thiết chế làm sao có thể đảm bảo được một nền hành chính địa phương tốt, nếu như ở đó tồn tại một sự lãnh đạm đối với người dân đến mức mà những người có thể điều hành một cách trung thực và có năng lực lại không được đưa vào phục vụ và các chức trách lại được giao phó cho những kẻ nhận làm vì có tư lợi mong được thăng tiến? Liệu có ích lợi gì chăng đối với một hệ thống đại diện rộng rãi nhất, nếu như các cử tri chẳng quan tâm chọn lựa những người tốt nhất làm đại biểu nghị viện mà lại chọn những kẻ chi nhiều tiền nhất để được bầu? Làm sao mà một Quốc hội có thể làm việc vì sự tốt đẹp, nếu như các đại biểu của nó có thể bị mua chuộc, hay tính dễ bị kích động của họ không được hiệu chỉnh bởi kỷ luật công cộng hoặc tính tự kiềm chế khiến cho họ không có khả năng thận trọng bình tĩnh và phải dùng đến bạo lực tay chân trên sàn nhà quốc hội hoặc bắn vào nhau bằng súng ống? Làm sao mà một chính phủ hay bất cứ tổ chức liên kết nào có thể xúc tiến được công việc trong một cung cách khả dĩ bởi một đám người đầy ganh ghét tới mức nếu có ai trong bọn họ có vẻ thành đạt về việc nào đó thì những người đáng lẽ phải cộng tác với anh ta lại âm mưu ngầm hại anh ta? Một khi mà tính khí chung của dân chúng là thuộc loại mỗi cá nhân chỉ lo cho lợi ích mang tính ích kỷ của riêng mình, không màng tới việc chia sẻ cho lợi ích chung, thì trong tình trạng ấy một chính thể tốt là chuyện bất khả. Ảnh hưởng của các khuyết tật trí tuệ gây cản trở cho mọi yếu tố của chính thể tốt là điều hiển nhiên chẳng cần minh họa. Chính thể bao gồm các hành vi của con người; nếu như các tác nhân, hay những người lựa chọn các tác nhân, hay những người mà các tác nhân phải chịu trách nhiệm trước họ, hay những ai đứng xem mà ý kiến của họ ảnh hưởng đến tất cả những người trên, nếu tất cả những người này chỉ là một đám đông vô tri, đần độn và đầy các thành kiến xấu xa, nếu như thế thì mọi hoạt động của chính phủ đều sẽ thất bại; trong khi đó tùy theo tỷ lệ số người vượt lên trên chuẩn mực ấy mà chính thể sẽ cải tiến được phẩm chất của mình, vươn lên đến đỉnh điểm ưu tú, khả dĩ đạt được nhưng chưa ở đâu đạt được, ở đỉnh điểm này các quan chức chính phủ bản thân họ là những con người có phẩm hạnh và trí tuệ thượng hạng được bao quanh bởi một bầu không khí công luận có đạo đức và khai minh.
Như vậy yếu tố thứ nhất của chính thể tốt là phẩm hạnh và trí tuệ của những con người hợp thành cộng đồng, điểm quan trọng nhất của tính ưu tú mà một hình thức chính thể có thể có được là đẩy mạnh phẩm hạnh và trí tuệ của bản thân dân chúng. Câu hỏi đầu tiên đối với tất cả các thiết chế chính trị là chúng sẽ nhắm tới bồi dưỡng đến đâu cho các thành viên của cộng đồng những phẩm chất đáng mong muốn khác nhau về đạo đức và trí tuệ; hay nói cách khác (theo phân loại đầy đủ hơn của Bentham(*)) là về đạo đức, trí tuệ và tính tích cực. Chính thể nào làm được việc đó tốt nhất có nhiều khả năng sẽ là ưu tú nhất về mọi phương diện khác nữa, bởi vì mọi tính ưu tú khả dĩ trong các thao tác thực tiễn của chính thể phụ thuộc vào các phẩm chất ấy đang hiện hữu trong dân chúng.
Chúng ta có thể xem xét mức độ hướng tới gia tăng tổng số các phẩm chất tốt về mặt tập thể cũng như cá nhân có trong cộng đồng chịu sự cai trị như một tiêu chí cho tính ưu tú của chính thể; bởi vì ngoại trừ tình trạng an sinh của họ là mục tiêu duy nhất của chính thể thì các phẩm chất tốt của họ sẽ cung cấp động lực cho bộ máy hoạt động. Điều này không đụng chạm tới phẩm chất của bản thân bộ máy như một phần tử cấu thành giá trị của một chính thể; nghĩa là cái mức độ mà bộ máy thích nghi đặng lợi dụng các phẩm chất tốt có thể hiện hữu ở bất cứ thời điểm nào và biến chúng thành công cụ phục vụ cho các mục tiêu đúng đắn. Chúng ta hãy lại lấy vấn đề tư pháp làm thí dụ minh họa. Đối với một hệ thống tòa án nào đó, tính ưu tú của nền hành chính tư pháp là ở trong cái tỷ lệ phức hợp của giá trị có nơi những người cấu thành các tòa án và giá trị của công luận ảnh hưởng hay kiểm soát chúng. Tuy nhiên, toàn bộ sự khác biệt giữa một hệ thống tư pháp tốt và xấu nằm ở các kỹ xảo được chọn lựa, nhằm đưa bất cứ giá trị đạo đức và trí tuệ nào hiện hữu trong cộng đồng vào chịu sự quản lý của pháp luật và làm cho nó có hiệu lực đúng đắn thể hiện trên kết quả. Các sắp xếp chọn lựa quan tòa sao cho có phẩm hạnh và trí tuệ bình quân ở mức cao nhất; các hình thức thủ tục lành mạnh; tính công khai cho phép quan sát và phê bình bất cứ sai sót nào; quyền tự do thảo luận và phê bình thông qua báo chí; kiểu cách lấy chứng cứ tùy thuộc theo việc nó thích ứng tốt hay xấu với sự thật được suy luận ra; các điều kiện dễ dàng cho việc tiếp cận với tòa án ở bất cứ tầm quan trọng nào; các sắp xếp nhằm phát hiện tội ác và bắt giữ tội phạm: tất cả mọi thứ ấy không phải là sức mạnh, nhưng là bộ máy đem sức mạnh tới tiếp xúc với vật chướng ngại; bộ máy tự nó không có hành động gì, nhưng thiếu nó thì sức mạnh dù có nhiều đến đâu đi nữa cũng sẽ bị tiêu phí vô hiệu quả.
Một sự phân biệt tương tự cũng tồn tại đối với việc tổ chức các bộ phận hành pháp. Bộ máy của chúng là tốt khi định ra được những trắc nghiệm rõ ràng để đánh giá các quan chức, định ra được những quy tắc thích đáng cho việc cất nhắc họ; khi mà công việc được phân bố tiện lợi giữa những người phải giải quyết nó, một trật tự tiện lợi và có phương pháp được thiết lập cho việc giải quyết công việc, hồ sơ về công việc có chuẩn mực và dễ hiểu được lưu giữ sau khi giải quyết; khi mà mỗi cá nhân đều biết rõ phần việc thuộc trách nhiệm của mình và những người khác cũng biết anh ta chịu trách nhiệm đó; khi mà công việc kiểm tra được trù liệu tốt nhất đảm bảo chống lại thói cẩu thả, sự thiên vị, sự lạm dụng chức vụ trong mỗi hành vi của cơ quan. Nhưng việc kiểm tra chính trị đối với các hành vi của cơ quan sẽ không tự nó hành động nhiều hơn so với cái dây cương hướng dẫn con ngựa mà lại không có người cưỡi. Nếu như các viên chức kiểm tra cũng thối nát ăn hối lộ hay cũng cẩu thả y như những kẻ mà họ phải kiểm tra, và nếu như công chúng, cái giây cót của toàn bộ cỗ máy kiểm tra, lại quá ngu dốt, quá thụ động, hay là quá dửng dưng và quá vô tâm để làm phần việc của mình, thì cũng chẳng có mấy lợi lộc thu được từ bộ máy hành chính ưu tú nhất. Nhưng dù sao một bộ máy tốt bao giờ cũng vẫn hơn bộ máy xấu. Nó cho phép một sự hoạt động hay kiểm tra quyền lực trong hiện trạng còn thiếu hoàn hảo như thế có được tác động với lợi thế nhiều nhất; và không có nó thì chẳng có hoạt động hay kiểm tra quyền lực nào có thể làm được. Như tính công khai chẳng hạn, nó chẳng ngăn cản cái xấu cũng không kích thích cái tốt, nếu công chúng không nhìn vào những gì được làm; nhưng không có tính công khai thì họ làm sao có thể kiểm tra cũng như khích lệ cái mà họ không được phép nhìn thấy? Việc tổ chức hoàn hảo lý tưởng của một công sở là sao cho ở đó quyền lợi của viên chức hoàn toàn trùng hợp với trách nhiệm của anh ta. Chỉ hệ thống đơn thuần thôi sẽ không làm được điều đó, nhưng không có một hệ thống thích đáng được trù liệu cho mục tiêu thì lại càng không có cơ may để cho điều đó được thực hiện.
Những gì chúng ta đã nói về việc sắp xếp quản trị chi tiết của chính thể càng hiển nhiên đúng với việc tổ chức toàn cục của chính thể. Mọi chính thể có mục tiêu trở thành ưu tú đều là tổ chức của bộ phận nào đó của các phẩm chất tốt hiện hữu trong các cá nhân thành viên của cộng đồng nhằm điều khiển các công việc tập thể của họ. Một hiến pháp mang tính đại diện là phương tiện để đem chuẩn mực chung về trí tuệ và tính thiện lương đang tồn tại trong cộng đồng cũng như trí tuệ và phẩm hạnh cá nhân của các thành viên khôn ngoan nhất, quy vào chính thể trực tiếp hơn và đầu tư chúng vào chính thể với ảnh hưởng rộng lớn hơn so với ảnh hưởng của chúng có thể có trong bất cứ kiểu cách tổ chức nào khác; dù rằng trong kiểu cách tổ chức nào khác ấy thì ảnh hưởng đó cũng là ngọn nguồn sản sinh ra mọi cái tốt có trong chính thể và làm cho mọi cái xấu không thể gây trở ngại. Các thiết chế của đất nước tổ chức thành công càng nhiều các phẩm chất tốt, và kiểu cách tổ chức càng tốt bao nhiêu thì chính thể càng ưu tú hơn bấy nhiêu.
Vậy là giờ đây chúng ta đã có cơ sở cho sự phân chia hai mặt giá trị mà mọi hệ thống thiết chế chính trị có thể có được. Nó bao gồm một phần là mức độ tiến bộ tinh thần chung của cộng đồng mà các thiết chế ấy xúc tiến, sự tiến bộ ở đây bao gồm các mặt trí tuệ, phẩm hạnh, tính tích cực thực tiễn và tính hiệu quả; và một phần nữa là mức độ của sự hoàn hảo mà các thiết chế ấy tổ chức lại giá trị đạo đức, trí tuệ và tính tích cực đã có sẵn, sao cho nó tác động hiệu quả nhất tới các hoạt động công cộng. Người ta phán xét chính thể thông qua tác động của nó lên con người, tác động của nó lên những sự việc, thông qua việc nó tạo nên các công dân như thế nào và nó làm gì với họ; xu thế của nó là cải tiến hay làm hư hỏng bản thân dân chúng, tính tốt xấu của việc làm mà nó thực hiện cho họ và thông qua họ. Chính thể đồng thời vừa là một ảnh hưởng lớn tác động lên tâm trí con người, và cũng vừa là một tập hợp các sắp xếp có tổ chức cho nhiệm vụ hoạt động công cộng; trong khả năng đầu tiên tác dụng lợi ích của nó chủ yếu là gián tiếp nhưng không vì thế mà bớt đi ý nghĩa sống còn, trong khi ấy tác dụng gây hại của nó lại có thể là trực tiếp.
Sự khác biệt giữa hai chức năng ấy của chính thể không phải là khác biệt đơn thuần về mức độ như là giữa Trật tự và Tiến bộ mà là sự khác biệt về chất. Nhưng chúng ta không được cho rằng chúng không có quan hệ mật thiết với nhau. Các thiết chế đảm bảo cho việc điều hành tốt nhất các hoạt động công cộng trong hiện trạng giáo hóa thì chỉ riêng nó thôi cũng có xu hướng tiếp tục cải tiến hiện trạng đó. Một tập hợp dân chúng đã có được luật pháp công minh nhất, một nền tư pháp hiệu quả và trong sạch nhất, một nền hành chính khai minh nhất, một nền tài chính công bằng và ít sai sót nhất, dân chúng ấy tương thích với giai đoạn đã đạt tới tiến bộ về đạo đức và trí tuệ, có thể chuyển nhanh một cách ngay thẳng sang giai đoạn cao hơn. Cũng không có kiểu cách nào để các thiết chế chính trị có thể đóng góp hiệu quả hơn cho sự tiến bộ của dân chúng ngoài việc làm cho công việc trực tiếp của họ được tiến hành tốt hơn. Ngược lại, nếu bộ máy của họ được kiến tạo quá tồi khiến họ thực hiện công việc chuyên môn của mình thật tệ hại, thì hiệu quả được cảm nhận bằng cả ngàn cách là sự suy giảm đạo đức và giết chết trí tuệ cùng tính tích cực của dân chúng. Nhưng sự khác biệt vẫn cứ là hiện thực bởi vì đó chỉ là một trong các phương cách để các thiết chế chính trị cải tiến hay làm hư hỏng tâm trí con người, và các nguyên nhân cũng như các kiểu cách của ảnh hưởng lợi ích hay độc hại vẫn còn là một sự phân biệt và là chủ đề rộng lớn hơn cho việc nghiên cứu.
Trong hai phương thức vận hành mà một hình thức chính thể hay một tập hợp các thiết chế chính trị tác động lên hạnh phúc của cộng đồng – hoặc vận hành như một cơ quan giáo dục quốc gia, hoặc như là các sắp xếp của nó nhằm tiến hành các hoạt động công cộng ở tình trạng giáo dục đang tồn tại – loại vận hành sau hiển nhiên là ít biến đổi hơn theo sự khác biệt của đất nước và tình trạng văn minh so với loại vận hành trước. Cách vận hành sau không liên quan gì nhiều đến hiến pháp cơ bản của một chính thể. Phương thức điều hành công việc thực tiễn của chính thể là tốt nhất dưới một hiến pháp tự do; nhưng nó cũng có thể là tốt nhất dưới nền quân chủ chuyên chế, chỉ có điều ít có khả năng nền quân chủ chuyên chế lại thực hành nó. Chẳng hạn, luật pháp về quyền sở hữu; các nguyên tắc về chứng lý và quy trình tư pháp; hệ thống thu thuế và quản trị tài chính, những cái đó không nhất thiết phải khác nhau trong các hình thức chính thể khác nhau. Mỗi một vấn đề ấy đều có các nguyên lý và quy tắc riêng, là đối tượng để nghiên cứu riêng rẽ. Khoa luật học tổng quát, pháp chế dân sự và hình sự, chính sách tài chính và thương mại, bản thân chúng là các môn khoa học hay nói đúng hơn là các bộ phận riêng rẽ của một khoa học toàn diện hay nghệ thuật về chính thể; các học thuyết khai minh nhất về tất cả các chủ đề này, dù cho chúng có vẻ như không được thấu hiểu đồng đều như nhau hay được thực hành dưới tất cả các hình thức chính thể, nhưng nếu được thấu hiểu và được thực hành thì nói chung chúng đều mang lại lợi ích như nhau dưới mọi chính thể. Cũng đúng là các học thuyết ấy không thể được áp dụng mà không có ít nhiều biến cải cho phù hợp với tất cả các tình trạng xã hội cũng như tâm trí con người; tuy nhiên cho tới nay đa số các học thuyết ấy đòi hỏi các biến cải đơn thuần về chi tiết nhằm thích ứng với bất cứ tình trạng xã hội nào đủ tiên tiến để có được các nhà cầm quyền có khả năng hiểu được chúng. Một chính thể mà các học thuyết ấy không thích hợp về toàn thể, hẳn phải là một chính thể bản thân nó thật tồi tệ hay thật đối lập với tình cảm của công chúng, đến nỗi không thể duy trì sự tồn tại của bản thân nó bằng các phương tiện trung thực.
Còn đối với phần lợi ích của cộng đồng liên quan đến việc huấn luyện bản thân dân chúng tốt hơn hay kém hơn thì lại khác. Xét như công cụ cho mục đích giáo dục dân chúng, các phương thức cần phải khác biệt triệt để tùy theo giai đoạn tiến bộ đã đạt được. Việc thừa nhận chân lý này, tuy phần nhiều có tính kinh nghiệm hơn là có tính triết lý, có thể xem là điểm chủ chốt của tính ưu việt của các học thuyết chính trị trong hiện tại so với các học thuyết của thời kỳ trước đây, thời kỳ mà người ta thường tuyên cáo một nền dân chủ đại diện của nước Anh hay Pháp bằng các luận cứ cũng có thể áp dụng thích hợp ngang bằng để chứng minh cho hình thức chính thể của người Bedouins hay Malays. Trạng thái của các cộng đồng khác nhau về mặt văn hóa và phát triển thay đổi từ phía thấp với điều kiện không cao hơn bao nhiêu so với loài vật phát triển nhất. Tới phía cao thì khoảng cách cũng khá lớn và tương lai có thể còn nới rộng nó ra nhiều hơn nữa. Một cộng đồng chỉ có thể phát triển từ một trong các trạng thái ấy vươn lên mức cao hơn bởi sự hội tụ các ảnh hưởng, và trong số ảnh hưởng đó chính thể đối với các thần dân là ảnh hưởng chủ chốt. Trong mọi tình trạng cải tiến đã từng đạt được của con người thì, ngoại trừ đức tin tôn giáo, bản chất và mức độ của quyền uy thực hành trên các cá nhân, sự phân bố quyền lực và các điều kiện ra lệnh cùng tuân phục, là những ảnh hưởng hùng mạnh nhất làm cho họ thành những người như hiện hữu và khiến họ trở thành những người như họ có thể. Họ có thể bị dừng lại chưa tới được một điểm nào đó trong sự tiến bộ của mình vì sự thích ứng kém của chính thể của họ với giai đoạn đặc thù ấy trên đường tiến lên. Và một cống hiến không thể thiếu được của một chính thể mà nhờ đó chính thể có thể được tha thứ cho hầu hết mọi thiếu sót khác tương thích với tiến bộ, đó chính là hiệu quả của nó lên dân chúng có lợi hay không có lợi cho bước tiếp theo mà dân chúng cần phải trải qua để vươn lên mức cao hơn.
Như vậy (để nhắc lại một thí dụ cũ) một dân chúng ở trạng thái độc lập hoang dã, trong đó mỗi người sống cho bản thân, không phải chịu bất cứ kiểm soát bên ngoài nào trừ những lúc tình cờ, dân chúng ấy thực tế không có khả năng đạt được tiến bộ nào trong sự khai hóa cho đến khi họ học được rằng cần phải tuân phục. Do đó đức tính không thể thiếu được trong một chính thể tự thiết lập trước dân chúng loại này, là tự làm cho mình được tuân phục. Để có thể làm được điều đó thì hiến pháp của chính thể phải gần như hoặc hoàn toàn là chuyên chế. Còn một hiến pháp ít nhiều mang tính nhân dân lại phụ thuộc vào sự tự nguyện từ bỏ quyền tự do hành động cá nhân của những thành viên khác nhau trong cộng đồng, hiến pháp ấy có thể thất bại trong việc ép buộc những người học trò phải học bài học đầu tiên trong giai đoạn tiến bộ ấy của họ. Cho nên, việc khai hóa các bộ lạc như thế, khi nó không phải do kết quả của việc sáp nhập với các bộ lạc khác đã có văn minh rồi, hầu như bao giờ cũng là công việc của một người cầm quyền chuyên chế dẫn xuất quyền lực của mình hoặc từ tôn giáo, hoặc từ năng lực quân sự phi phàm; rất thường khi phải nhờ vào sự trợ giúp từ bên ngoài.
Mặt khác, các chủng tộc chưa khai hóa, nhất là các chủng tộc can đảm và nhiều sinh lực nhất, thường chống lại công việc lao động liên tục nhàm chán. Nhưng mọi nền văn minh hiện thực đều phải trả cái giá đó; không có việc lao động như thế thì chẳng những tâm trí không được đưa vào kỷ luật để trở thành tập quán cần thiết cho xã hội văn minh, mà thế giới vật chất chuẩn bị cho nó cũng không có được. Ở đây cần có một sự trùng hợp hiếm hoi của các tình huống, vì thế thường phải có một khoảng thời gian dài để hòa hợp dân chúng như thế với tính cần cù siêng năng, trừ phi có khoảng thời gian họ bị bắt buộc phải chăm chỉ. Do đó ngay như cảnh nô lệ cá nhân, bằng cách luyện cho khởi đầu đời sống công nghiệp và áp đặt nó như một nghề nghiệp độc nhất cho bộ phận đông đảo nhất của cộng đồng, cũng có thể thúc đẩy nhanh sự quá độ tiến tới một nền tự do tốt đẹp hơn so với việc tranh đấu và cướp đoạt. Cũng chẳng cần phải nói thêm rằng sự bào chữa cho chế độ nô lệ chỉ có giá trị trong tình trạng rất sơ khai của xã hội. Một dân tộc văn minh sẽ có thừa các phương tiện khác để truyền bá sự khai hóa cho những người chịu ảnh hưởng của họ; và chế độ nô lệ trong mọi chi tiết của nó thật quá ghê tởm đối với chính thể pháp quyền vốn là cơ sở cho mọi đời sống hiện đại, và nó cũng là quá đồi bại đối với giai cấp chủ nô, khi họ cũng đồng thời phải bước vào dưới ảnh hưởng văn minh, cho nên chấp nhận chế độ nô lệ trong bất cứ tình huống nào của đời sống hiện đại là rơi trở lại vào tình trạng còn tồi tệ hơn cả tình trạng dã man.
Tuy nhiên, hầu như mọi dân tộc văn minh ngày nay, trong một vài thời kỳ lịch sử của họ, đều đã từng cấu thành bởi những người nô lệ chiếm đa số. Một dân tộc trong điều kiện như thế đòi hỏi vực những người nô lệ đứng dậy từ một tổ chức xã hội rất khác so với dân tộc của những người hoang dã. Nếu họ là những người có bản tính giàu sinh lực, và nhất là nếu có một giai tầng cần cù siêng năng, không phải là nô lệ cũng chẳng phải là chủ nô (như trong trường hợp Hy Lạp), liên kết với họ trong cùng một cộng đồng, thì có lẽ để giành chắc được sự cải tiến sẽ chẳng cần gì hơn là làm cho họ được tự do: khi được giải phóng rồi họ thường có thể, giống như những người tự do La Mã, đồng thời được kết nạp thành công dân với đầy đủ quyền năng. Thế nhưng đó không phải là điều kiện bình thường của chế độ nô lệ và là dấu hiệu rằng điều kiện đó đang trở thành lỗi thời. Một nô lệ, đúng với tên gọi, là người đã không học được cách tự giúp mình. Anh ta chắc chắn đã tiến được một bước từ tình trạng hoang dã. Anh ta còn chưa học được bài học đầu tiên cần thiết của một xã hội chính trị. Anh ta mới học được rằng cần phải tuân phục. Nhưng cái mà anh ta tuân phục chỉ là một mệnh lệnh trực tiếp. Đó là đặc trưng của các nô lệ bẩm sinh, không có khả năng thích ứng hành vi của mình theo quy tắc hay luật pháp. Họ chỉ có thể làm cái gì họ được ra lệnh, và chỉ vào lúc họ được lệnh làm cái đó. Nếu người làm họ sợ sệt đang đứng trước mặt họ và đe dọa trừng phạt họ thì họ tuân theo; nhưng khi người đó quay lưng lại thì công việc sẽ không được thực hiện. Động cơ định đoạt họ hẳn là không gợi tới quyền lợi của họ mà gợi tới bản năng của họ, một hy vọng tức thời hay một sự khủng bố tức thời. Một chế độ chuyên chế mà có thể chế ngự tính hoang dã, thì trong chừng mực nó là chuyên chế, nó sẽ chỉ củng cố sự bất lực cho kẻ nô lệ. Nhưng họ [những kẻ nô lệ] sẽ hoàn toàn không điều khiển được một chính thể đặt dưới sự kiểm soát của chính bản thân họ. Sự cải tiến cho họ không thể đến từ chính họ mà phải được đưa thẳng vào từ bên ngoài. Bước mà họ phải đi và là lộ trình duy nhất để cải tiến họ, là phải nâng từ một chính thể của ý chí lên thành một chính thể của luật pháp. Họ phải được dạy cho biết tự quản, và ở giai đoạn xuất phát điều đó có nghĩa là học được khả năng hành động dựa trên các chỉ dẫn chung. Cái họ cần không phải là một chính thể của sức mạnh, mà là một chính thể của sự hướng dẫn. Tuy nhiên, ở trạng thái còn quá thấp kém như thế, họ không có được sự hướng dẫn nào ngoài những người mà họ xem như là những kẻ đang nắm giữ sức mạnh; nên loại chính thể thích hợp đối với họ là chính thể có sức mạnh nhưng hiếm khi sử dụng nó: một kiểu chuyên chế gia trưởng (parental despotism) hay quý tộc giống như hình thức Xã hội chủ nghĩa của St. Simon; một chính thể duy trì việc giám thị chung đối với mọi hoạt động của xã hội, giữ cho mỗi cá nhân cảm nhận thấy sự hiện diện của sức mạnh đủ để bắt họ tuân phục theo các quy tắc đã ban hành, nhưng lại không thể hạ mình xuống điều chỉnh mọi chi tiết vụn vặt của nghề nghiệp và đời sống và nhất thiết phải khuyến khích cho các cá nhân tự mình làm nhiều hơn. Chính thể như thế, có thể gọi là chính thể giật dây (government of leading-strings), có vẻ như là cần phải có để nhanh chóng nhất đưa một tập hợp dân chúng như thế vượt qua bước cần thiết tiếp theo trong tiến bộ xã hội. Hình như đó chính là ý tưởng về chính thể của người Incas ở Peru, và chính thể của người Jesuits ở Paraguay cũng như vậy. Chắc tôi không cần phải lưu ý rằng chính thể giật dây chỉ có thể chấp nhận được như phương tiện huấn luyện cho dân chúng dần dần tự đi một mình.
Minh họa tiếp tục xa hơn nữa thì thật không đúng chỗ. Nỗ lực nghiên cứu xem loại chính thể nào là thích hợp cho mọi tình trạng đã biết của xã hội thì sẽ là soạn một luận thuyết, không phải về chính thể đại diện nữa, mà là về một khoa học chính trị nói chung. Chúng ta chỉ vay mượn của môn triết học chính trị các nguyên lý chung của nó nhằm phục vụ cho mục tiêu giới hạn của chúng ta mà thôi. Để xác định hình thức chính thể thích hợp nhất cho bất cứ dân chúng riêng biệt nào thì ta phải có khả năng phân biệt trong số các nhược điểm và khiếm khuyết thuộc về dân chúng ấy những gì là cản trở cấp bách cho tiến bộ, ta phải phát hiện được cái gì trong đó đã làm họ dừng lại (như đã xảy ra). Chính thể tốt nhất cho họ là chính thể nào hướng tới việc đem lại cho họ nhiều nhất cái họ thiếu thốn mà vì đó họ đã không tiến lên được hoặc tiến lên một cách khập khiễng và không cân đối. Tuy nhiên, ta không được phép quên những cái dự trữ cần thiết có trong mọi thứ vì mục đích cải tiến những thứ đó, hay mục đích Tiến bộ, ấy là trong khi tìm kiếm cái tốt cần thiết thì không được làm tổn hại, hay làm tổn hại thật ít như có thể, đến những gì đã có. Một dân tộc hoang dã phải được dạy cho biết tuân phục, nhưng không phải bằng cái cung cách như biến cải họ thành một dân tộc nô lệ. Và (để cho nhận xét mang tính tổng quát hơn) cái hình thức chính thể hiệu quả nhất đưa được một dân tộc vượt qua giai đoạn tiếp theo của tiến bộ, sẽ vẫn còn chưa phải là thích đáng cho họ, nếu nó làm điều đó bằng một cung cách sẽ gây trở ngại hoặc sẽ làm cho họ trở thành không thích hợp cho bước tiến kế tiếp sau nữa. Những trường hợp như thế là rất thường gặp và là những sự kiện đáng buồn nhất trong lịch sử. Hệ thống đẳng cấp Ai Cập, chế độ chuyên chế gia trưởng Trung Hoa, đều đã từng là công cụ rất thích hợp để đưa các quốc gia ấy lên đỉnh cao văn minh mà họ đã đạt tới. Nhưng sau khi đạt tới điểm đó rồi thì họ bị đưa vào một sự ngưng trệ lâu dài do thiếu thốn tinh thần tự do và cá tính; các thiết chế đã đưa họ đi xa được như vậy lại làm cho họ không có khả năng tiếp thu những điều kiện cần thiết cho cải tiến; và bởi vì các thiết chế không bị đập tan để nhường chỗ cho những cái khác, cho nên sự cải tiến thêm nữa đã bị dừng lại.
Tương phản với các dân tộc này, ta hãy xem xét thí dụ về một tính cách đối nghịch tạo nên bởi một dân tộc khác tương đối nhỏ bé ở phương Đông – những người Do Thái. Họ cũng đã có một nền quân chủ chuyên chế và hệ thống đẳng cấp, và các thiết chế tổ chức của họ cũng có nguồn gốc tăng lữ giống như người Hindu. Những cái đó tác động lên họ cũng giống như tác động lên các dân tộc khác – ép họ vào sự chăm chỉ siêng năng và trật tự, đem lại cho họ một đời sống quốc gia. Nhưng cả các nhà vua lẫn các thầy tu mà họ có được đều không thành khuôn mẫu độc nhất cho tính cách của họ, giống như đã xảy ra với các dân tộc khác. Tôn giáo của họ cho phép những người có thiên tư và có phong thái tôn giáo cao được xem như là, và được tự coi mình như là, người được Thượng Đế truyền cảm hứng; tôn giáo ấy đã đem lại sự tồn tại cho một thiết chế phi tổ chức quý giá không sao kể xiết: tầng lớp của các nhà Tiên tri (có thể gọi thiết chế đó như vậy). Dưới sự bảo trợ của tính cách thiêng liêng của họ, [sự bảo trợ] nói chung có hiệu quả tuy không phải luôn luôn là như thế, các nhà Tiên tri đã trở thành một quyền lực trong dân tộc, thường còn mạnh hơn vai trò của vua chúa và tăng lữ, và họ duy trì được ở một góc nhỏ của Trái đất sự đối kháng đối với các ảnh hưởng, và là cái bảo đảm hiện thực duy nhất cho sự tiến bộ được liên tục. Do vậy mà tôn giáo ở đây không phải là cái vẫn thường hay gặp ở các nơi khác: đó là không thần thánh hóa mọi thứ đã được thiết lập và không phải là rào cản cho sự tiếp tục cải tiến. Nhận xét của một người Do Thái xuất chúng, M. Salvador, rằng các nhà Tiên tri, đối với Giáo hội và Nhà nước, là cái tương đương với quyền tự do hiện đại của báo chí, là một quan niệm đúng đắn nhưng không đầy đủ về cái phần được thực hiện bởi yếu tố vĩ đại này của đời sống người Do Thái trong lịch sử dân tộc và toàn cầu. Do chỗ xem Bộ chuẩn tắc của Thượng Đế là không bao giờ hoàn tất, nên các nhân vật xuất sắc nhất về thiên tư và đạo đức không những có thể nhân danh quyền uy trực tiếp của Đấng Toàn năng để phản đối và bài xích bất cứ điều gì họ cảm thấy đáng lên án, mà họ còn có thể đưa ra các diễn giải tốt hơn và cao cả hơn cho tôn giáo dân tộc, và kể từ lúc đó chúng sẽ trở thành bộ phận của tôn giáo. Cho nên, bất cứ ai có thể tự gạt bỏ thói quen đọc Kinh Thánh cứ y như là một cuốn sách, cái thói quen mãi tới gần đây vẫn ăn sâu như nhau vào nếp nghĩ của các tín đồ Ki Tô giáo và những người không tín ngưỡng, người ấy sẽ phải thán phục khi nhận ra khoảng cách rộng lớn giữa đạo đức và tôn giáo của năm quyển đầu của kinh Cựu Ước (Pentateuch), hay thậm chí của các cuốn sách lịch sử (công trình không có sai lầm của những người Hebrew bảo thủ trong trật tự tăng lữ), với đạo đức và tôn giáo của các lời Tiên tri: một khoảng cách cũng rộng như giữa các lời Tiên tri và sách Phúc Âm (Gospels). Các điều kiện thuận lợi hơn cho Tiến bộ đã không thể tồn tại một cách dễ dàng, do vậy mà những người Do Thái, thay vì tĩnh tại giống như những người châu Á khác, đã là dân tộc tiến bộ nhất thời cổ đại đứng sau người Hy Lạp, và cùng với những người này đã là khởi điểm và động lực chủ chốt thúc đẩy sự khai hóa hiện đại.
Như vậy, sẽ không thể hiểu nổi vấn đề thích ứng của các hình thức chính thể với các tình trạng xã hội, nếu chỉ tính đến có bước tiếp theo mà không tính đến tất cả các bước xã hội sẽ phải làm; phải tính đến cả hai thứ: cái có thể dự kiến và cái ở tầm xa hơn không xác định, không nhìn thấy được vào lúc hiện tại. Suy ra rằng để phán xét giá trị của các hình thức chính thể thì lý tưởng nhất là cái hình thức chính thể được cấu tạo thích hợp nhất cho bản thân nó, nghĩa là, nếu tồn tại các điều kiện cần thiết đem lại hiệu quả cho xu thế lợi ích của nó, thì hình thức chính thể lý tưởng nhất sẽ là cái tạo thuận lợi thúc đẩy nhiều hơn so với mọi hình thức chính thể khác, không phải chỉ một cải tiến nào đó, mà tất cả mọi hình thức và mọi mức độ của nó. Sau vấn đề này rồi, ta cần xem xét tất cả các loại điều kiện tinh thần phải như thế nào để cho phép chính thể ấy thực hiện được các xu thế của nó, các khuyết điểm khác nhau nào khiến cho một dân tộc không có khả năng thu hoạch được lợi ích của nó. Khi đó sẽ có thể xây dựng một định lý của các tình huống mà trong đó hình thức chính thể có thể được du nhập một cách khôn ngoan; và cũng sẽ có thể phán xét trường hợp nào thì không nên du nhập nó, các hình thức tổ chức xã hội cấp thấp nào có thể đưa được các cộng đồng đó một cách tốt nhất vượt qua các giai đoạn trung gian mà họ phải trải qua, trước khi họ trở nên thích hợp cho hình thức chính thể tốt nhất.
Trong các câu hỏi trên thì câu hỏi cuối cùng không liên can tới chúng ta ở đây, nhưng câu hỏi đầu tiên là một bộ phận chủ yếu trong chủ đề của chúng ta: vì rằng chúng ta có thể lập tức đề xuất không chút liều lĩnh một tuyên ngôn mà các minh họa và chứng minh cho nó sẽ được trình bày trong các trang kế tiếp; tuyên ngôn đó là: cái hình thức chính thể tốt đẹp một cách lý tưởng nhất sẽ được tìm thấy ở một trong các biến thể của Hệ thống mang tính đại diện.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
