Vì một nền tự do mới - Chương 1: Di sản của chủ nghĩa tự do cá nhân (Phần cuối)
Suy thoái từ bên trong
Nhưng sau khi giành được những chiến thắng cục bộ đầy ấn tượng trước chủ nghĩa can thiệp của nhà nước, những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển bắt đầu đánh mất tinh thần cấp tiến, đánh mất sự kiên trì bền bỉ trong việc đưa cuộc chiến chống lại chủ nghĩa can thiệp bảo thủ của nhà nước đến chiến thắng cuối cùng. Thay vì sử dụng những thắng lợi cục bộ như là bàn đạp để tiếp tục gây áp lực, họ dần đánh mất nhiệt huyết với sự đổi thay và sự thuần khiết trong nguyên tắc. Họ trở nên bằng lòng với việc chỉ bảo vệ những gì đã đạt được, và như thế, tự biến mình từ một phong trào cấp tiến thành một phong trào bảo thủ — “bảo thủ” theo nghĩa, chỉ chăm chăm duy trì nguyên trạng. Tóm lại, những người theo chủ nghĩa tự do đã để ngỏ cánh cửa cho chủ nghĩa xã hội trở thành đảng của hy vọng và của chủ nghĩa cấp tiến, và thậm chí cho cả những người theo chủ nghĩa tập đoàn sau này tự nhận mình là “tự do” và “tiến bộ” để đối lập với những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển bị chụp mũ là “cực hữu” và “bảo thủ”. Chính vì đã để mình bị “đóng khung” trong vị trí không còn hy vọng nào khác ngoài sự trì trệ, ngoài tình trạng không đổi thay, họ đã mắc phải một sai lầm chiến lược vừa dại dột vừa không thể đứng vững trong một thế giới luôn thay đổi.
Nhưng sự suy thoái của chủ nghĩa tự do không chỉ nằm ở lập trường và chiến lược, mà còn ở ngay trong nguyên tắc. Bởi những người theo chủ nghĩa tự do đã bằng lòng để quyền lực gây chiến nằm trong tay Nhà nước, để quyền lực giáo dục nằm trong tay Nhà nước, để quyền lực về tiền tệ, ngân hàng và cả đường sá cũng nằm trong tay Nhà nước — tóm lại, họ đã nhượng bộ quyền thống trị của Nhà nước đối với tất cả những đòn bẩy quyền lực trọng yếu trong xã hội. Trái ngược hẳn với sự thù địch triệt để của những người theo chủ nghĩa tự do thế kỷ XVIII đối với cơ quan hành pháp và bộ máy quan liêu, những người theo chủ nghĩa tự do thế kỷ XIX lại dung túng, thậm chí hoan nghênh, sự phình to của quyền lực hành pháp và sự bành trướng của tầng lớp quan liêu công chức đã ăn sâu bén rễ trong xã hội.
Hơn nữa, nguyên tắc và chiến lược đã hòa quyện vào nhau trong quá trình suy tàn của chủ nghĩa tự do gắn bó với “phong trào bãi nô” trong thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX – vốn khẳng định rằng, dù thiết chế đó là chế độ nô lệ hay bất kỳ hình thái nào khác của chủ nghĩa can thiệp nhà nước, thì nó cũng phải bị xóa bỏ càng nhanh càng tốt. Bởi vì, việc xóa bỏ ngay lập tức chủ nghĩa can thiệp nhà nước, dẫu khó thành hiện thực, vẫn là lập trường đạo đức duy nhất có thể chấp nhận được. Bởi, nếu ưu tiên sự xóa bỏ từng bước hơn là xóa bỏ ngay lập tức một thiết chế độc ác và cưỡng bức, thì chẳng khác nào phê chuẩn và dung túng cho sự độc ác ấy, và như vậy là vi phạm những nguyên tắc cốt lõi của chủ nghĩa tự do cá nhân. Như nhà bãi nô vĩ đại đồng thời là người theo chủ nghĩa tự do cá nhân William Lloyd Garrison giải thích: “Dù chúng ta có tha thiết thúc đẩy việc bãi bỏ chế độ nô lệ ngay lập tức đến đâu, thì than ôi! cuối cùng, nó cũng sẽ chỉ là sự bãi bỏ từng bước một. Chúng ta chưa bao giờ nói rằng chế độ nô lệ sẽ bị lật đổ chỉ bằng một đòn; nhưng nói rằng nó phải bị lật đổ, thì chúng ta sẽ luôn khẳng định.”[1]
Có hai thay đổi cực kỳ quan trọng trong triết lý và hệ tư tưởng của chủ nghĩa tự do cổ điển – vừa minh họa vừa góp phần làm cho nó suy tàn như một thế lực cấp tiến, tiến bộ và sống động ở phương Tây. Thay đổi đầu tiên, và cũng là quan trọng nhất, diễn ra vào đầu đến giữa thế kỷ XIX: từ bỏ triết lý về quyền tự nhiên, để thay thế bằng chủ nghĩa công lợi kỹ trị. Thay vì đặt nền tảng tự do trên tính đạo đức bắt buộc của quyền con người và quyền sở hữu, tức là thay vì xem tự do trước hết dựa trên nền tảng của quyền và công lý, chủ nghĩa công lợi lại coi tự do chỉ như phương tiện tốt nhất để đạt tới một thứ “phúc lợi chung” hay “lợi ích chung” vốn được định nghĩa khá mơ hồ. Có hai hệ quả nghiêm trọng từ sự chuyển dịch này. Thứ nhất, sự thuần khiết của mục tiêu và tính nhất quán của nguyên tắc tất yếu bị phá vỡ. Vì, trong khi người theo quyền tự nhiên – tìm kiếm đạo đức và công lý – sẽ kiên quyết bám chặt vào nguyên tắc thuần túy, thì người theo chủ nghĩa công lợi lại chỉ coi tự do như một giải pháp tình thế. Mà tính tình thế thì có thể thay đổi theo chiều gió, cho nên, trong phép tính chi phí – lợi ích lạnh lùng, người theo chủ nghĩa công lợi sẽ dễ dàng nghiêng về can thiệp nhà nước trong từng trường hợp cụ thể, và từ đó đánh mất nguyên tắc. Thực tế, đây chính là điều đã xảy ra với những người theo chủ nghĩa công lợi phái Bentham ở Anh: khởi đầu bằng chủ nghĩa tự do cá nhân và tự do kinh doanh, họ ngày càng dễ dàng trượt sâu vào chủ nghĩa can thiệp nhà nước. Một ví dụ điển hình là nỗ lực kiến tạo một hệ thống công vụ và hành pháp “hiệu quả”, và vì thế mạnh mẽ – nơi mà “hiệu quả” được ưu tiên, thậm chí thay thế cho mọi khái niệm về công lý hay quyền.
Thứ hai, và cũng quan trọng không kém, thật hiếm khi tìm thấy một người theo chủ nghĩa công lợi vừa mang tính cấp tiến, vừa khao khát xóa bỏ ngay lập tức cái ác và sự cưỡng bức. Những người công lợi, do tận tụy với sự tiện dụng và tính thực tế, gần như chắc chắn phản đối bất kỳ thay đổi nào có tính đảo lộn hay cấp tiến. Chưa từng có nhà cách mạng nào thuộc phái công lợi. Vì vậy, những người theo phái công lợi không bao giờ là những nhà bãi nô ngay tức khắc. Người ủng hộ bãi nô sở dĩ như thế vì họ mong muốn loại bỏ sai trái và bất công càng nhanh càng tốt. Khi đã chọn mục tiêu ấy, thì không còn chỗ cho kiểu cân nhắc chi phí – lợi ích một cách hời hợt, tùy tiện. Do đó, những người tự do cổ điển theo phái công lợi đã từ bỏ tinh thần cấp tiến và trở thành những nhà cải cách tiệm tiến. Nhưng khi trở thành những nhà cải cách, họ tất yếu tự đặt mình vào vị trí cố vấn và chuyên gia hiệu quả cho Nhà nước. Nói cách khác, họ buộc phải từ bỏ cả nguyên tắc lẫn chiến lược mang tính nguyên tắc của chủ nghĩa tự do cá nhân. Những người công lợi cuối cùng trở thành kẻ biện hộ cho trật tự hiện có, cho hiện trạng, và vì vậy rất dễ bị những người xã hội chủ nghĩa và những người ủng hộ tập đoàn tiến bộ cáo buộc là những kẻ thiển cận, bảo thủ, chống lại mọi thay đổi. Thế là, khởi đầu vốn là những người cấp tiến và cách mạng, đối lập với phe bảo thủ, nhưng rồi, kết cục, những người theo phái tự do cổ điển lại trở thành hình ảnh phản chiếu của chính cái mà họ từng chống đối.
Quá trình làm tê liệt chủ nghĩa tự do cá nhân bởi chủ nghĩa công lợi vẫn còn tiếp diễn cho đến tận ngày nay. Ngay từ buổi đầu của tư tưởng kinh tế, chủ nghĩa công lợi đã thâu tóm kinh tế học thị trường tự do thông qua ảnh hưởng của Bentham và Ricardo – và ngày nay ảnh hưởng ấy vẫn mạnh mẽ như trước. Kinh tế học thị trường tự do hiện đại đầy rẫy những lời kêu gọi tiệm tiến; khinh miệt đạo đức, công lý và nguyên tắc nhất quán; và sẵn sàng từ bỏ nguyên tắc thị trường tự do chỉ vì những phép tính chi phí – lợi ích. Bởi thế, kinh tế học thị trường tự do đương đại thường bị giới trí thức nhìn nhận như chỉ là lời biện hộ cho một hiện trạng được điều chỉnh chút ít – và thường thì, cáo buộc như thế là đúng.
Thay đổi thứ hai, góp phần củng cố hệ tư tưởng của những người theo chủ nghĩa tự do cổ điển, diễn ra vào cuối thế kỷ XIX, khi – ít nhất là trong vài thập kỷ – họ tiếp nhận các học thuyết của chủ nghĩa tiến hóa xã hội, thường được gọi là “chủ nghĩa Darwin xã hội.” Nhìn chung, các nhà sử học ủng hộ chủ nghĩa can thiệp của nhà nước đã bôi nhọ những người theo chủ nghĩa tự do kiểu Darwin xã hội ủng hội tự do kinh doanh, như Herbert Spencer và William Graham Sumner, như thể họ là những kẻ tàn nhẫn cổ xúy cho việc tiêu diệt, hay ít nhất là sự biến mất, của những người bị coi là “không thích hợp” về mặt xã hội. Phần lớn những lời buộc tội ấy chỉ là việc “tô vẽ” học thuyết kinh tế và xã hội học thị trường tự do vốn vững chắc bằng lớp vỏ hào nhoáng của thuyết tiến hóa đang thịnh hành lúc bấy giờ. Nhưng khía cạnh thực sự quan trọng – và cũng gây tê liệt – của chủ nghĩa Darwin xã hội nằm ở chỗ họ đã chuyển tải một cách bất hợp pháp sang lĩnh vực xã hội quan điểm cho rằng các loài (hay sau này là gen) thay đổi vô cùng chậm chạp, phải mất hàng thiên niên kỷ. Vì vậy, những người theo chủ nghĩa tự do kiểu Darwin xã hội đã từ bỏ chính ý tưởng về cách mạng hay thay đổi triệt để, thay vào đó là thái độ ngồi yên chờ đợi những biến đổi tiến hóa tất yếu, nhỏ bé, kéo dài qua vô số thế kỷ. Tóm lại, khi bỏ qua thực tế rằng chủ nghĩa tự do từng phải phá vỡ quyền lực của tầng lớp tinh hoa thống trị bằng một loạt thay đổi triệt để và các cuộc cách mạng, những người theo chủ nghĩa Darwin xã hội đã trở thành bảo thủ, rao giảng chống lại mọi biện pháp triệt để và chỉ ủng hộ những thay đổi tiệm tiến, vụn vặt nhất[2].
Thực tế, chính Spencer – nhà tư tưởng tự do cá nhân vĩ đại – lại là minh chứng hấp dẫn cho sự chuyển biến ấy trong chủ nghĩa tự do cổ điển (tương ứng ở Mỹ là William Graham Sumner). Ở một nghĩa nào đó, Herbert Spencer chính là hiện thân cho phần lớn sự suy tàn của chủ nghĩa tự do trong thế kỷ XIX. Vì khởi đầu, ông là một người theo chủ nghĩa tự do cực kỳ cấp tiến, gần như một nhà tự do cá nhân thuần túy. Nhưng khi chịu ảnh hưởng của môn xã hội học và thuyết Darwin xã hội, Spencer đã từ bỏ chủ nghĩa tự do cá nhân như một phong trào năng động, cấp tiến trong dòng chảy lịch sử, dù trên bình diện lý thuyết thuần túy ông vẫn không hề rời bỏ nó. Dẫu còn kỳ vọng vào thắng lợi sau cùng của tự do thuần khiết – của “hợp đồng” đối lập với “địa vị”, của công nghiệp đối lập với quân phiệt – Spencer bắt đầu coi thắng lợi ấy là điều tất yếu, nhưng chỉ có thể đạt được sau hàng thiên niên kỷ tiến hóa dần dần. Bởi vậy, Spencer đã thôi không còn giữ chủ nghĩa tự do như một tín điều đấu tranh, cấp tiến, mà chỉ giới hạn nó trong thực tiễn như một hành động phòng thủ, bảo thủ và mệt mỏi chống lại chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa can thiệp nhà nước đang phát triển của thời đại mình.
Nhưng nếu chủ nghĩa công lợi – được củng cố thêm bởi thuyết Darwin xã hội – là tác nhân chính gây ra sự suy thoái về mặt triết học và tư tưởng trong phong trào tự do, thì lý do quan trọng nhất, thậm chí mang tính hủy diệt, dẫn đến sự sụp đổ của nó chính là việc từ bỏ những nguyên tắc từng được coi là rất nghiêm ngặt trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh, chống đế quốc và chống chủ nghĩa quân phiệt. Hết nước này đến nước khác, chính tiếng gọi quyến rũ của nhà nước dân tộc và đế quốc đã phá hủy chủ nghĩa tự do cổ điển. Ở Anh, cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, những người theo chủ nghĩa tự do đã từ bỏ chính sách “Tiểu Anh” (Little Englandism – thuật ngữ chỉ trào lưu phản đối sự mở rộng của Đế quốc Anh – ND), vốn chống chiến tranh và chống đế quốc của Cobden, Bright và trường phái Manchester. Thay vào đó, họ chấp nhận một nhãn hiệu trơ tráo là “Chủ nghĩa đế quốc tự do”—cùng phe bảo thủ trong công cuộc bành trướng đế quốc, và cùng với phe bảo thủ lẫn xã hội chủ nghĩa cánh hữu trong tinh thần đế quốc và chủ nghĩa tập thể mang tính hủy diệt của Thế chiến I. Ở Đức, Bismarck đã thành công trong việc chia rẽ những người theo chủ nghĩa tự do – vốn trước đó gần như đã giành thắng lợi – bằng sự cám dỗ của việc thống nhất nước Đức bằng súng đạn và máu người. Ở cả hai nước, kết quả đều là sự hủy diệt sự nghiệp của chủ nghĩa tự do.
Tại Mỹ, đảng tự do cổ điển từ lâu vốn là Đảng Dân chủ, vào cuối thế kỷ XIX được biết đến như “đảng của tự do cá nhân.” Về cơ bản, đây không chỉ là đảng của tự do cá nhân mà còn là đảng của tự do kinh tế; kiên quyết chống lại luật Cấm rượu, luật xanh ngày Chủ nhật (Sunday blue laws – các luật hạn chế hay cấm một số hoạt động vào Chủ Nhật nhằm tôn vinh Ngày Sa-bát của Kitô giáo – ND), và giáo dục bắt buộc; đồng thời tận tụy bảo vệ thương mại tự do, tiền tệ cứng (không có lạm phát do chính phủ tạo ra), tách ngân hàng ra khỏi nhà nước, và một chính phủ ở mức tối thiểu. Họ coi quyền lực của bang là rất nhỏ, còn quyền lực liên bang thì gần như không tồn tại. Về đối ngoại, Đảng Dân chủ, dù kém nhất quán hơn, vẫn có xu hướng là đảng của hòa bình, phản đối quân phiệt và chống đế quốc. Nhưng cả tự do cá nhân lẫn tự do kinh tế đều bị từ bỏ khi đảng này bị phe Bryan chiếm đoạt vào năm 1896 (Bryan forces – chỉ lực lượng ủng hộ William Jennings Bryan, chính trị gia, diễn giả nổi tiếng và ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ năm 1896 – ND). Và hai thập kỷ sau, chính sách đối ngoại không can thiệp cũng bị Woodrow Wilson thô bạo từ bỏ. Chính sự can thiệp và cuộc chiến đó (Thế chiến I – ND) đã mở ra một thế kỷ đầy chết chóc và tàn phá, của chiến tranh và những chế độ chuyên chế mới; đồng thời, ở tất cả các quốc gia tham chiến, cũng mở ra kỷ nguyên của chủ nghĩa can thiệp nhà-nước-tập-đoàn mới– một Nhà nước phúc lợi–chiến tranh, do liên minh giữa Chính phủ tập quyền, các tập đoàn lớn, công đoàn và giới trí thức điều hành – như chúng ta đã nhắc tới bên trên.
Thật vậy, hơi thở cuối cùng của chủ nghĩa tự do ủng hộ tự do kinh doanh ở Mỹ chính là những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân kiên cường nhưng đã già, những người vào buổi đầu thế kỷ đã tập hợp lại để thành lập Liên minh Chống Đế quốc, nhằm phản đối cuộc chiến tranh Mỹ–Tây Ban Nha và sau đó là cuộc chiến tranh đế quốc của Mỹ nhằm đè bẹp người Philippines đang đấu tranh giành độc lập dân tộc khỏi cả Tây Ban Nha lẫn Mỹ. Với con mắt ngày nay, ý tưởng về một người chống đế quốc mà không phải là Marxist có thể dường như kỳ lạ; nhưng trên thực tế, tinh thần phản đế khởi nguồn từ những người theo phái tự do cổ điển ủng hộ tự do kinh doanh, như Cobden và Bright ở Anh, hay Eugen Richter ở Phổ. Liên minh Chống Đế quốc, do nhà công nghiệp kiêm kinh tế gia Boston Edward Atkinson (cùng với Sumner) lãnh đạo, phần lớn bao gồm những nhà tự do cấp tiến từng dấn thân cho cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ nô lệ, rồi sau đó là bảo vệ thương mại tự do, tiền tệ cứng và chính phủ tối thiểu. Với họ, trận chiến cuối cùng chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ chỉ đơn giản là một phần tất yếu trong cuộc chiến trường kỳ chống lại cưỡng bức, chủ nghĩa can thiệp nhà nước và bất công—chống lại Chính phủ tập quyền trong mọi lĩnh vực của đời sống, cả trong nước lẫn trên trường quốc tế.
Chúng ta vừa lần theo câu chuyện khá ảm đạm về sự suy tàn và sụp đổ của chủ nghĩa tự do cổ điển, sau khi nó từng vươn lên và giành được những thắng lợi cục bộ trong các thế kỷ trước. Vậy thì, điều gì đã khiến cho tư tưởng và hoạt động của phái tự do cá nhân lại hồi sinh và nở rộ trong vài năm gần đây, đặc biệt là ở Hoa Kỳ? Làm sao mà những thế lực và liên minh hùng mạnh của chủ nghĩa can thiệp nhà nước lại có thể nhượng bộ trước một phong trào tự do cá nhân đang hồi sinh? Chẳng phải sự trỗi dậy của chủ nghĩa can thiệp nhà nước cuối thế kỷ XIX và trong thế kỷ XX lẽ ra phải là nguyên nhân gây ra u ám, thay vì báo hiệu sự tỉnh thức của chủ nghĩa tự do cá nhân tưởng chừng đã hấp hối? Vì sao chủ nghĩa tự do cá nhân lại không bị chôn vùi hẳn?
Chúng ta đã thấy vì sao chủ nghĩa tự do cá nhân vốn tự nhiên trỗi dậy trước hết và đầy đủ nhất ở Mỹ—một vùng đất thấm đẫm truyền thống tự do cá nhân. Nhưng chúng ta vẫn chưa đi vào câu hỏi: Vì sao có sự hồi sinh của chủ nghĩa tự do cá nhân trong những năm gần đây? Những điều kiện đương thời nào đã dẫn tới bước phát triển đáng ngạc nhiên này? Chúng ta sẽ phải hoãn việc trả lời câu hỏi này cho đến cuối cuốn sách, sau khi xem xét tín điều của chủ nghĩa tự do cá nhân là gì, và tín điều ấy có thể được áp dụng như thế nào để giải quyết những vấn đề trọng yếu trong xã hội chúng ta.
[1] Trích trong The Antislavery Argument do William H. Pease và Jane H. Pease, biên tập, (Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965), trang xxxv.
[2] Trớ trêu là, lý thuyết tiến hóa hiện đại đang từng bước từ bỏ hoàn toàn lý thuyết về sự thay đổi tiến hóa theo hướng tiệm tiến. Thay vào đó, người ta nhận thấy rằng bức tranh chính xác hơn hẳn là những bước nhảy vọt đột ngột và mạnh mẽ từ trạng thái cân bằng của loài sang trạng thái khác; được gọi là lý thuyết “thay đổi nhảy vọt”. Một trong những người giải thích quan điểm mới này, Giáo sư Stephen Jay Gould, viết: “Thuyết tiệm tiến là triết lý về sự thay đổi, không phải là một sự suy diễn từ tự nhiên... Thuyết tiệm tiến cũng có những thành phần tư tưởng mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng cho sự thành công trước đây của nó hơn là bất kỳ sự phù hợp khách quan nào với tự nhiên ở bên ngoài... Tính hữu dụng của thuyết tiệm tiến như một hệ tư tưởng phải giải thích phần lớn ảnh hưởng của nó, vì nó đã trở thành giáo điều tinh túy của chủ nghĩa tự do chống lại sự thay đổi cấp tiến—những bước nhảy vọt đột ngột là chống lại quy luật tự nhiên”. —Stephen Jay Gould, “Evolution: Explosion, Not Ascent,” New York Times (ngày 22 tháng 1 năm 1978).
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
