Chính thể đại diện -Chương 4: Trong các điều kiện xã hội nào chính thể đại diện không thể áp dụng được
Chúng ta đã nhận ra rằng chính thể mang tính đại diện là loại hình lý tưởng của tổ chức xã hội hoàn hảo nhất, mà một bộ phận nhất định của nhân loại càng có mức độ phát triển cao bao nhiêu thì nó càng thích hợp hơn bấy nhiêu. Trình độ phát triển văn hóa càng thấp kém thì hình thức chính thể ấy nói chung càng ít thích hợp hơn; tuy rằng điều này không phải đúng một cách phổ quát, vì sự thích ứng của một dân tộc đối với chính thể đại diện không phụ thuộc nhiều lắm vào vị trí của họ trong bảng thứ hạng chung của loài người mà phụ thuộc nhiều hơn vào mức độ họ sở hữu các điều kiện cần thiết riêng biệt; thế nhưng các điều kiện cần thiết này lại liên quan khá chặt chẽ với trình độ tiến bộ chung của họ đến nỗi sự sai biệt giữa hai mức độ này là ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Trước hết, chúng ta hãy khảo sát xem: đến điểm nào thì chính thể đại diện hoàn toàn không thể áp dụng được, hoặc vì nó không thích hợp, hoặc vì có một hình thức khác thích hợp hơn.
Trước hết, cũng như bất cứ hình thức chính thể nào khác, chính thể đại diện là không thích hợp vì không thể tồn tại bền vững được khi nó không đáp ứng ba điều kiện cơ bản liệt kê ở chương đầu. Các điều kiện đó là – 1. Dân chúng cần phải thuận nguyện chấp nhận nó. 2. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó. 3. Họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Sự thuận nguyện của dân chúng chấp nhận chính thể đại diện chỉ trở thành vấn đề thực tiễn, khi có một người cầm quyền khai minh, hoặc một hay nhiều ngoại bang có ảnh hưởng quyết định lên số phận của một dân tộc, có ý định đưa ra yêu cầu thiết lập nó. Đối với các nhà cải cách mang tính cá nhân thì đây không phải là vấn đề, vì nếu ngay từ đầu không có phương án nào khác chống lại ý đồ của họ, ngoài việc ý kiến của dân chúng hãy còn chưa ở phía họ, thì họ đã có sẵn câu trả lời thích đáng, đó là cố giành lấy sự ủng hộ của dân chúng về phía mình. Khi công luận quả thực là chống đối thì sự thù địch thường nhằm vào sự đổi thay hơn là nhằm vào bản thân chính thể đại diện. Trường hợp chống đối như thế cũng không phải là không có; đôi khi có một ác cảm mang tính tôn giáo chống lại bất kỳ sự giới hạn quyền lực nào đối với tập đoàn cầm quyền nào đó, nhưng nói chung bài học về sự tuân phục thụ động chỉ có nghĩa là sự quy phục trước các quyền lực hiện hành, dù là quân chủ hay nhân dân. Trong mọi trường hợp, khi toan tính lập nên chính thể đại diện có vẻ như được thực hiện đôi chút nào đó, thì trở ngại được dự báo là ở sự lãnh đạm đối với nó và sự không hiểu biết các quá trình cũng như các đòi hỏi của nó, hơn là ở sự chống đối trực diện. Tuy nhiên những yếu tố này cũng rất tai hại và khó hóa giải không kém sự căm ghét thực thụ; vì trong đa số các trường hợp, thay đổi phương hướng của một tình cảm tích cực còn dễ dàng hơn tạo ra nó ở một trạng thái trước đây thụ động. Khi một dân chúng không biết trân trọng hiến pháp mang tính đại diện cũng như không đủ gắn bó với nó, thì sau đó cũng chẳng có cơ may là họ sẽ duy trì được hiến pháp ấy. Ở đất nước nào thì nền hành pháp cũng là nhánh chính quyền nắm giữ quyền hành trước mắt và tiếp xúc trực tiếp với công chúng; về nguyên tắc mọi hy vọng cũng như e sợ của các cá nhân đều hướng tới nó và nó đại diện cả việc làm tốt lẫn sự uy hiếp cùng uy tín của chính quyền trước con mắt công chúng. Cho nên nếu cơ quan có
4
TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI NÀO CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN KHÔNG THỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC
Chúng ta đã nhận ra rằng chính thể mang tính đại diện là loại hình lý tưởng của tổ chức xã hội hoàn hảo nhất, mà một bộ phận nhất định của nhân loại càng có mức độ phát triển cao bao nhiêu thì nó càng thích hợp hơn bấy nhiêu. Trình độ phát triển văn hóa càng thấp kém thì hình thức chính thể ấy nói chung càng ít thích hợp hơn; tuy rằng điều này không phải đúng một cách phổ quát, vì sự thích ứng của một dân tộc đối với chính thể đại diện không phụ thuộc nhiều lắm vào vị trí của họ trong bảng thứ hạng chung của loài người mà phụ thuộc nhiều hơn vào mức độ họ sở hữu các điều kiện cần thiết riêng biệt; thế nhưng các điều kiện cần thiết này lại liên quan khá chặt chẽ với trình độ tiến bộ chung của họ đến nỗi sự sai biệt giữa hai mức độ này là ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Trước hết, chúng ta hãy khảo sát xem: đến điểm nào thì chính thể đại diện hoàn toàn không thể áp dụng được, hoặc vì nó không thích hợp, hoặc vì có một hình thức khác thích hợp hơn.
Trước hết, cũng như bất cứ hình thức chính thể nào khác, chính thể đại diện là không thích hợp vì không thể tồn tại bền vững được khi nó không đáp ứng ba điều kiện cơ bản liệt kê ở chương đầu. Các điều kiện đó là – 1. Dân chúng cần phải thuận nguyện chấp nhận nó. 2. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó. 3. Họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Sự thuận nguyện của dân chúng chấp nhận chính thể đại diện chỉ trở thành vấn đề thực tiễn, khi có một người cầm quyền khai minh, hoặc một hay nhiều ngoại bang có ảnh hưởng quyết định lên số phận của một dân tộc, có ý định đưa ra yêu cầu thiết lập nó. Đối với các nhà cải cách mang tính cá nhân thì đây không phải là vấn đề, vì nếu ngay từ đầu không có phương án nào khác chống lại ý đồ của họ, ngoài việc ý kiến của dân chúng hãy còn chưa ở phía họ, thì họ đã có sẵn câu trả lời thích đáng, đó là cố giành lấy sự ủng hộ của dân chúng về phía mình. Khi công luận quả thực là chống đối thì sự thù địch thường nhằm vào sự đổi thay hơn là nhằm vào bản thân chính thể đại diện. Trường hợp chống đối như thế cũng không phải là không có; đôi khi có một ác cảm mang tính tôn giáo chống lại bất kỳ sự giới hạn quyền lực nào đối với tập đoàn cầm quyền nào đó, nhưng nói chung bài học về sự tuân phục thụ động chỉ có nghĩa là sự quy phục trước các quyền lực hiện hành, dù là quân chủ hay nhân dân. Trong mọi trường hợp, khi toan tính lập nên chính thể đại diện có vẻ như được thực hiện đôi chút nào đó, thì trở ngại được dự báo là ở sự lãnh đạm đối với nó và sự không hiểu biết các quá trình cũng như các đòi hỏi của nó, hơn là ở sự chống đối trực diện. Tuy nhiên những yếu tố này cũng rất tai hại và khó hóa giải không kém sự căm ghét thực thụ; vì trong đa số các trường hợp, thay đổi phương hướng của một tình cảm tích cực còn dễ dàng hơn tạo ra nó ở một trạng thái trước đây thụ động. Khi một dân chúng không biết trân trọng hiến pháp mang tính đại diện cũng như không đủ gắn bó với nó, thì sau đó cũng chẳng có cơ may là họ sẽ duy trì được hiến pháp ấy. Ở đất nước nào thì nền hành pháp cũng là nhánh chính quyền nắm giữ quyền hành trước mắt và tiếp xúc trực tiếp với công chúng; về nguyên tắc mọi hy vọng cũng như e sợ của các cá nhân đều hướng tới nó và nó đại diện cả việc làm tốt lẫn sự uy hiếp cùng uy tín của chính quyền trước con mắt công chúng. Cho nên nếu cơ quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát hành pháp mà không có các quan chức có uy tín, được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi tình cảm và công luận trong nước, thì cơ quan hành pháp sẽ luôn có cách đẩy họ qua một bên hoặc ép buộc họ phải phục vụ cho nó và nó tin chắc sẽ nhận được sự ủng hộ trong việc làm như thế. Các thiết chế đại diện nhất thiết phải phụ thuộc vào sự sẵn sàng của dân chúng tranh đấu cho các thiết chế ấy trong trường hợp chúng có nguy cơ bị đe dọa. Nếu chuyện này ít được coi trọng, các thiết chế đại diện sẽ hiếm khi nào có được đôi chút địa vị vững chắc, và nếu có thì chắc chẳng bao lâu rồi cũng sẽ bị đánh đổ, một khi người cầm đầu chính quyền, hay lãnh tụ của chính đảng, tập trung sức mạnh ra tay (coup de main) mạo hiểm để giành lấy quyền lực tuyệt đối.
Các xem xét này liên quan tới hai nguyên nhân đầu tiên cho sự thất bại của chính thể đại diện. Nguyên nhân thứ ba là khi dân chúng thiếu ý chí hay khả năng thực hiện phần trách nhiệm thuộc về họ ở trong một hiến pháp đại diện. Khi chẳng có ai, hay chỉ một phe nhóm nhỏ nào đó, cảm thấy có mức độ quan tâm đến việc chung của Nhà nước, sự quan tâm cần thiết để hình thành công luận, lúc đó các cử tri sẽ chẳng mấy khi sử dụng tới quyền bỏ phiếu, trừ phi để phục vụ cho quyền lợi riêng, cho quyền lợi địa phương, hay cho quyền lợi của những kẻ mà họ có quan hệ chặt chẽ và bị phụ thuộc. Trong tình trạng của công chúng như vậy thì giai cấp nhỏ bé giành được quyền chỉ huy các cơ quan đại diện phần nhiều sẽ sử dụng chúng đơn thuần như phương tiện tìm kiếm vận may cho riêng mình. Nếu hành pháp yếu ớt thì đất nước sẽ rối loạn trong các cuộc đấu đá giành địa vị; nếu hành pháp mạnh mẽ thì nó sẽ tự biến mình thành chuyên chế, với giá rẻ của sự thỏa hiệp vô nguyên tắc bằng cách chia nhau chiến lợi phẩm cùng người đại diện, nhất là những người có khả năng gây phiền nhiễu; kết quả duy nhất của sự đại diện quốc gia là ngoài những kẻ thực sự cai trị thì còn có thêm một quốc hội chia năm xẻ bảy trước công chúng và chẳng có phe nào trong quốc hội có vẻ quan tâm chút ít đến việc dẹp bỏ sự lộng quyền. Thế nhưng nếu sự xấu xa dừng lại ở đây thì có thể cái giá ấy cũng đáng trả cho sự công khai và sự tranh cãi, vì, tuy không ổn định, nhưng dù sao vẫn là hai đặc điểm luôn đi kèm theo bất cứ tính đại diện nào, ngay cả sự đại diện chỉ trên danh nghĩa. Thí dụ như ở Vương quốc Hy Lạp hiện đại(*), không còn nghi ngờ nào nữa rằng những kẻ săn tìm địa vị (place-hunters) chiếm hầu hết thành phần quốc hội đại diện, dù đóng góp rất ít hay chẳng chút nào cho sự cai trị tốt mà cũng chẳng làm giảm đi được bao nhiêu quyền lực tùy tiện của hành pháp, nhưng vẫn còn duy trì được ý tưởng về quyền của dân chúng và đóng góp nhiều cho quyền tự do báo chí được tồn tại ở đất nước này. Tuy nhiên, điều tốt lành ấy đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bên cạnh cơ quan đại diện nhân dân phải có một chế độ quân chủ thế tập. Nếu như thay vì tranh đấu để ủng hộ cho người cầm quyền đứng đầu ấy, các phe nhóm vị kỷ và hèn hạ lại đấu đá cho địa vị đứng đầu của bản thân mình, chúng có thể đưa đất nước, giống như châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, vào trong tình trạng cách mạng và nội chiến liên miên. Một chuỗi dài những cuộc phiêu lưu chính trị sẽ nối nhau thực hiện một chế độ chuyên chế không dựa trên pháp luật mà chỉ dựa vào bạo lực; và danh hiệu lẫn hình thức của chính thể đại diện chỉ được dùng để làm cho chế độ quân chủ không thể đạt được sự ổn định và vững chắc hầu giảm bớt đi những tệ nạn ấy.
Những điều trình bày ở trên là các trường hợp mà chính thể đại diện không thể tồn tại bền lâu. Còn có những trường hợp khác mà chính thể đại diện tuy cũng có thể tồn tại, nhưng một hình thức chính thể khác có khi là thích đáng hơn. Về nguyên tắc, đó là những trường hợp, khi mà để tiến lên nền văn minh, dân chúng cần phải học được
TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI NÀO CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN KHÔNG THỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC
Chúng ta đã nhận ra rằng chính thể mang tính đại diện là loại hình lý tưởng của tổ chức xã hội hoàn hảo nhất, mà một bộ phận nhất định của nhân loại càng có mức độ phát triển cao bao nhiêu thì nó càng thích hợp hơn bấy nhiêu. Trình độ phát triển văn hóa càng thấp kém thì hình thức chính thể ấy nói chung càng ít thích hợp hơn; tuy rằng điều này không phải đúng một cách phổ quát, vì sự thích ứng của một dân tộc đối với chính thể đại diện không phụ thuộc nhiều lắm vào vị trí của họ trong bảng thứ hạng chung của loài người mà phụ thuộc nhiều hơn vào mức độ họ sở hữu các điều kiện cần thiết riêng biệt; thế nhưng các điều kiện cần thiết này lại liên quan khá chặt chẽ với trình độ tiến bộ chung của họ đến nỗi sự sai biệt giữa hai mức độ này là ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Trước hết, chúng ta hãy khảo sát xem: đến điểm nào thì chính thể đại diện hoàn toàn không thể áp dụng được, hoặc vì nó không thích hợp, hoặc vì có một hình thức khác thích hợp hơn.
Trước hết, cũng như bất cứ hình thức chính thể nào khác, chính thể đại diện là không thích hợp vì không thể tồn tại bền vững được khi nó không đáp ứng ba điều kiện cơ bản liệt kê ở chương đầu. Các điều kiện đó là – 1. Dân chúng cần phải thuận nguyện chấp nhận nó. 2. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó. 3. Họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Sự thuận nguyện của dân chúng chấp nhận chính thể đại diện chỉ trở thành vấn đề thực tiễn, khi có một người cầm quyền khai minh, hoặc một hay nhiều ngoại bang có ảnh hưởng quyết định lên số phận của một dân tộc, có ý định đưa ra yêu cầu thiết lập nó. Đối với các nhà cải cách mang tính cá nhân thì đây không phải là vấn đề, vì nếu ngay từ đầu không có phương án nào khác chống lại ý đồ của họ, ngoài việc ý kiến của dân chúng hãy còn chưa ở phía họ, thì họ đã có sẵn câu trả lời thích đáng, đó là cố giành lấy sự ủng hộ của dân chúng về phía mình. Khi công luận quả thực là chống đối thì sự thù địch thường nhằm vào sự đổi thay hơn là nhằm vào bản thân chính thể đại diện. Trường hợp chống đối như thế cũng không phải là không có; đôi khi có một ác cảm mang tính tôn giáo chống lại bất kỳ sự giới hạn quyền lực nào đối với tập đoàn cầm quyền nào đó, nhưng nói chung bài học về sự tuân phục thụ động chỉ có nghĩa là sự quy phục trước các quyền lực hiện hành, dù là quân chủ hay nhân dân. Trong mọi trường hợp, khi toan tính lập nên chính thể đại diện có vẻ như được thực hiện đôi chút nào đó, thì trở ngại được dự báo là ở sự lãnh đạm đối với nó và sự không hiểu biết các quá trình cũng như các đòi hỏi của nó, hơn là ở sự chống đối trực diện. Tuy nhiên những yếu tố này cũng rất tai hại và khó hóa giải không kém sự căm ghét thực thụ; vì trong đa số các trường hợp, thay đổi phương hướng của một tình cảm tích cực còn dễ dàng hơn tạo ra nó ở một trạng thái trước đây thụ động. Khi một dân chúng không biết trân trọng hiến pháp mang tính đại diện cũng như không đủ gắn bó với nó, thì sau đó cũng chẳng có cơ may là họ sẽ duy trì được hiến pháp ấy. Ở đất nước nào thì nền hành pháp cũng là nhánh chính quyền nắm giữ quyền hành trước mắt và tiếp xúc trực tiếp với công chúng; về nguyên tắc mọi hy vọng cũng như e sợ của các cá nhân đều hướng tới nó và nó đại diện cả việc làm tốt lẫn sự uy hiếp cùng uy tín của chính quyền trước con mắt công chúng. Cho nên nếu cơ quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát hành pháp mà không có các quan chức có uy tín, được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi tình cảm và công luận trong nước, thì cơ quan hành pháp sẽ luôn có cách đẩy họ qua một bên hoặc ép buộc họ phải phục vụ cho nó và nó tin chắc sẽ nhận được sự ủng hộ trong việc làm như thế. Các thiết chế đại diện nhất thiết phải phụ thuộc vào sự sẵn sàng của dân chúng tranh đấu cho các thiết chế ấy trong trường hợp chúng có nguy cơ bị đe dọa. Nếu chuyện này ít được coi trọng, các thiết chế đại diện sẽ hiếm khi nào có được đôi chút địa vị vững chắc, và nếu có thì chắc chẳng bao lâu rồi cũng sẽ bị đánh đổ, một khi người cầm đầu chính quyền, hay lãnh tụ của chính đảng, tập trung sức mạnh ra tay (coup de main) mạo hiểm để giành lấy quyền lực tuyệt đối.
Các xem xét này liên quan tới hai nguyên nhân đầu tiên cho sự thất bại của chính thể đại diện. Nguyên nhân thứ ba là khi dân chúng thiếu ý chí hay khả năng thực hiện phần trách nhiệm thuộc về họ ở trong một hiến pháp đại diện. Khi chẳng có ai, hay chỉ một phe nhóm nhỏ nào đó, cảm thấy có mức độ quan tâm đến việc chung của Nhà nước, sự quan tâm cần thiết để hình thành công luận, lúc đó các cử tri sẽ chẳng mấy khi sử dụng tới quyền bỏ phiếu, trừ phi để phục vụ cho quyền lợi riêng, cho quyền lợi địa phương, hay cho quyền lợi của những kẻ mà họ có quan hệ chặt chẽ và bị phụ thuộc. Trong tình trạng của công chúng như vậy thì giai cấp nhỏ bé giành được quyền chỉ huy các cơ quan đại diện phần nhiều sẽ sử dụng chúng đơn thuần như phương tiện tìm kiếm vận may cho riêng mình. Nếu hành pháp yếu ớt thì đất nước sẽ rối loạn trong các cuộc đấu đá giành địa vị; nếu hành pháp mạnh mẽ thì nó sẽ tự biến mình thành chuyên chế, với giá rẻ của sự thỏa hiệp vô nguyên tắc bằng cách chia nhau chiến lợi phẩm cùng người đại diện, nhất là những người có khả năng gây phiền nhiễu; kết quả duy nhất của sự đại diện quốc gia là ngoài những kẻ thực sự cai trị thì còn có thêm một quốc hội chia năm xẻ bảy trước công chúng và chẳng có phe nào trong quốc hội có vẻ quan tâm chút ít đến việc dẹp bỏ sự lộng quyền. Thế nhưng nếu sự xấu xa dừng lại ở đây thì có thể cái giá ấy cũng đáng trả cho sự công khai và sự tranh cãi, vì, tuy không ổn định, nhưng dù sao vẫn là hai đặc điểm luôn đi kèm theo bất cứ tính đại diện nào, ngay cả sự đại diện chỉ trên danh nghĩa. Thí dụ như ở Vương quốc Hy Lạp hiện đại(*), không còn nghi ngờ nào nữa rằng những kẻ săn tìm địa vị (place-hunters) chiếm hầu hết thành phần quốc hội đại diện, dù đóng góp rất ít hay chẳng chút nào cho sự cai trị tốt mà cũng chẳng làm giảm đi được bao nhiêu quyền lực tùy tiện của hành pháp, nhưng vẫn còn duy trì được ý tưởng về quyền của dân chúng và đóng góp nhiều cho quyền tự do báo chí được tồn tại ở đất nước này. Tuy nhiên, điều tốt lành ấy đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bên cạnh cơ quan đại diện nhân dân phải có một chế độ quân chủ thế tập. Nếu như thay vì tranh đấu để ủng hộ cho người cầm quyền đứng đầu ấy, các phe nhóm vị kỷ và hèn hạ lại đấu đá cho địa vị đứng đầu của bản thân mình, chúng có thể đưa đất nước, giống như châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, vào trong tình trạng cách mạng và nội chiến liên miên. Một chuỗi dài những cuộc phiêu lưu chính trị sẽ nối nhau thực hiện một chế độ chuyên chế không dựa trên pháp luật mà chỉ dựa vào bạo lực; và danh hiệu lẫn hình thức của chính thể đại diện chỉ được dùng để làm cho chế độ quân chủ không thể đạt được sự ổn định và vững chắc hầu giảm bớt đi những tệ nạn ấy.
Những điều trình bày ở trên là các trường hợp mà chính thể đại diện không thể tồn tại bền lâu. Còn có những trường hợp khác mà chính thể đại diện tuy cũng có thể tồn tại, nhưng một hình thức chính thể khác có khi là thích đáng hơn. Về nguyên tắc, đó là những trường hợp, khi mà để tiến lên nền văn minh, dân chúng cần phải học được một số bài học, tiếp thu được một số thói quen, nhưng chính thể đại diện có lẽ sẽ là trở ngại cho việc tiếp thu những cái đó.
Trường hợp hiển nhiên nhất trong số này là trường hợp đã được xét đến, khi mà dân chúng còn phải học bài học đầu tiên của nền văn minh là sự tuân phục. Một chủng tộc đã từng được tôi luyện sức mạnh và lòng can đảm trong các cuộc đấu tranh với thiên nhiên và các láng giềng của họ, nhưng hãy còn chưa vững vàng trong việc tuân phục thường trực với bất cứ cấp trên chung nào, sẽ ít có khả năng tiếp thu được thói quen này dưới chính quyền tập thể của chính chủng tộc đó. Một quốc hội đại diện rút ra từ chính số người này có thể sẽ chỉ giản đơn phản ánh sự bất phục tòng hỗn loạn của họ. Quyền uy của quốc hội có thể sẽ bị khước từ trong mọi thủ tục mà nó đặt ra nhằm cải thiện phần nào tính độc lập hoang dã của họ. Kiểu cách mà các bộ tộc này thường được dạy cho biết phục tùng theo các điều kiện sơ đẳng của xã hội văn minh là thông qua nhu cầu chiến tranh và dựa vào quyền uy chuyên chế không thay thế được của kẻ chỉ huy quân sự. Một lãnh tụ quân đội là cấp trên duy nhất mà họ phục tùng, ngoại trừ nhà tiên tri thỉnh thoảng được coi là thượng đế truyền cho linh cảm hay pháp sư được xem như có quyền năng phi thường. Những người này có thể có uy lực nhất thời, nhưng vì thuần túy mang tính cá nhân nên hiếm khi tạo ra thay đổi trong tập quán chung của dân chúng, trừ trường hợp nhà tiên tri như Mahomed, cũng đồng thời là nhà chỉ huy quân sự, tiến lên thành ông tổ truyền đạo có vũ trang của một tôn giáo mới; hoặc trừ phi các chỉ huy quân sự liên minh với ảnh hưởng của ông ta và biến nó thành chỗ dựa cho việc cai trị của họ.
Một dân tộc cũng không thích hợp với chính thể đại diện, khi có khuyết điểm ngược lại với khuyết điểm trên, đó là sự thụ động thái quá và sẵn sàng tuân phục bạo chúa. Nếu một dân chúng có tính cách phục tùng đến như thế và nhờ hoàn cảnh mà có thể nhận được các thiết chế đại diện, họ nhất định sẽ lựa chọn các bạo chúa của họ làm đại điện cho họ và cái ách có thể được tạo ra còn nặng nề hơn đối với họ bởi kỹ xảo mới thoạt nhìn (prima facie) tưởng chừng có vẻ như làm nhẹ đi. Ngược lại, nhiều trường hợp một dân chúng từ từ thoát khỏi các điều kiện ấy nhờ sự giúp đỡ của một quyền lực trung ương mà địa vị đó làm cho nó trở thành đối thủ của các lãnh chúa địa phương và kết thúc bằng việc trở thành ông chủ của các lãnh chúa ấy, điều đáng kể nhất đó là ông chủ một mình. Lịch sử nước Pháp từ Hugh Capet(*) tới Richelieu(*) và Louis XIV(*) là một thí dụ sự việc diễn biến liên tục theo hướng đó. Ngay cả khi nhà vua không hùng mạnh hơn các lãnh chúa của ông ta bao nhiêu, thì những lợi thế rất lớn mà ông ta khai thác được từ địa vị độc tôn của mình, đều được các sử gia Pháp thừa nhận. Tất cả những người bị áp bức ở các địa phương đều ngước mắt hướng về phía ông ta; ông ta là đối tượng của hy vọng và niềm tin ở khắp mọi nơi trong vương quốc; trong khi đó mỗi kẻ thống trị địa phương chỉ hùng mạnh ở một phạm vi không gian ít nhiều giới hạn. Từ khắp nơi trong nước người ta tìm kiếm nơi ẩn náu và sự che chở ở dưới cánh tay của ông ta để chống lại một kẻ này rồi một kẻ khác trong những kẻ đàn áp trực tiếp. Uy thế của ông ta tiến bộ chậm chạp, nhưng nó là kết quả của việc sử dụng thành công lợi thế mà cơ hội chỉ dành riêng cho ông ta. Chắc chắn là cùng song hành với tiến trình này, tập quán phục tùng sự đàn áp cũng giảm bớt theo. Quyền lợi của nhà vua là ở chỗ cổ vũ mọi mưu toan cục bộ của các nông nô nhằm giải phóng mình thoát khỏi các ông chủ của họ và đặt mình dưới sự thần phục trực tiếp bản thân ông ta. Dưới sự bảo trợ của ông ta đã hình thành rất nhiều cộng đồng không biết một ai khác trên đầu ngoài nhà vua. Tuân phục theo nhà vua ở một khoảng cách, tự bản thân nó đã là sự tự do, so với quyền thống trị
4
TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI NÀO CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN KHÔNG THỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC
Chúng ta đã nhận ra rằng chính thể mang tính đại diện là loại hình lý tưởng của tổ chức xã hội hoàn hảo nhất, mà một bộ phận nhất định của nhân loại càng có mức độ phát triển cao bao nhiêu thì nó càng thích hợp hơn bấy nhiêu. Trình độ phát triển văn hóa càng thấp kém thì hình thức chính thể ấy nói chung càng ít thích hợp hơn; tuy rằng điều này không phải đúng một cách phổ quát, vì sự thích ứng của một dân tộc đối với chính thể đại diện không phụ thuộc nhiều lắm vào vị trí của họ trong bảng thứ hạng chung của loài người mà phụ thuộc nhiều hơn vào mức độ họ sở hữu các điều kiện cần thiết riêng biệt; thế nhưng các điều kiện cần thiết này lại liên quan khá chặt chẽ với trình độ tiến bộ chung của họ đến nỗi sự sai biệt giữa hai mức độ này là ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Trước hết, chúng ta hãy khảo sát xem: đến điểm nào thì chính thể đại diện hoàn toàn không thể áp dụng được, hoặc vì nó không thích hợp, hoặc vì có một hình thức khác thích hợp hơn.
Trước hết, cũng như bất cứ hình thức chính thể nào khác, chính thể đại diện là không thích hợp vì không thể tồn tại bền vững được khi nó không đáp ứng ba điều kiện cơ bản liệt kê ở chương đầu. Các điều kiện đó là – 1. Dân chúng cần phải thuận nguyện chấp nhận nó. 2. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó. 3. Họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Sự thuận nguyện của dân chúng chấp nhận chính thể đại diện chỉ trở thành vấn đề thực tiễn, khi có một người cầm quyền khai minh, hoặc một hay nhiều ngoại bang có ảnh hưởng quyết định lên số phận của một dân tộc, có ý định đưa ra yêu cầu thiết lập nó. Đối với các nhà cải cách mang tính cá nhân thì đây không phải là vấn đề, vì nếu ngay từ đầu không có phương án nào khác chống lại ý đồ của họ, ngoài việc ý kiến của dân chúng hãy còn chưa ở phía họ, thì họ đã có sẵn câu trả lời thích đáng, đó là cố giành lấy sự ủng hộ của dân chúng về phía mình. Khi công luận quả thực là chống đối thì sự thù địch thường nhằm vào sự đổi thay hơn là nhằm vào bản thân chính thể đại diện. Trường hợp chống đối như thế cũng không phải là không có; đôi khi có một ác cảm mang tính tôn giáo chống lại bất kỳ sự giới hạn quyền lực nào đối với tập đoàn cầm quyền nào đó, nhưng nói chung bài học về sự tuân phục thụ động chỉ có nghĩa là sự quy phục trước các quyền lực hiện hành, dù là quân chủ hay nhân dân. Trong mọi trường hợp, khi toan tính lập nên chính thể đại diện có vẻ như được thực hiện đôi chút nào đó, thì trở ngại được dự báo là ở sự lãnh đạm đối với nó và sự không hiểu biết các quá trình cũng như các đòi hỏi của nó, hơn là ở sự chống đối trực diện. Tuy nhiên những yếu tố này cũng rất tai hại và khó hóa giải không kém sự căm ghét thực thụ; vì trong đa số các trường hợp, thay đổi phương hướng của một tình cảm tích cực còn dễ dàng hơn tạo ra nó ở một trạng thái trước đây thụ động. Khi một dân chúng không biết trân trọng hiến pháp mang tính đại diện cũng như không đủ gắn bó với nó, thì sau đó cũng chẳng có cơ may là họ sẽ duy trì được hiến pháp ấy. Ở đất nước nào thì nền hành pháp cũng là nhánh chính quyền nắm giữ quyền hành trước mắt và tiếp xúc trực tiếp với công chúng; về nguyên tắc mọi hy vọng cũng như e sợ của các cá nhân đều hướng tới nó và nó đại diện cả việc làm tốt lẫn sự uy hiếp cùng uy tín của chính quyền trước con mắt công chúng. Cho nên nếu cơ quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát hành pháp mà không có các quan chức có uy tín, được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi tình cảm và công luận trong nước, thì cơ quan hành pháp sẽ luôn có cách đẩy họ qua một bên hoặc ép buộc họ phải phục vụ cho nó và nó tin chắc sẽ nhận được sự ủng hộ trong việc làm như thế. Các thiết chế đại diện nhất thiết phải phụ thuộc vào sự sẵn sàng của dân chúng tranh đấu cho các thiết chế ấy trong trường hợp chúng có nguy cơ bị đe dọa. Nếu chuyện này ít được coi trọng, các thiết chế đại diện sẽ hiếm khi nào có được đôi chút địa vị vững chắc, và nếu có thì chắc chẳng bao lâu rồi cũng sẽ bị đánh đổ, một khi người cầm đầu chính quyền, hay lãnh tụ của chính đảng, tập trung sức mạnh ra tay (coup de main) mạo hiểm để giành lấy quyền lực tuyệt đối.
Các xem xét này liên quan tới hai nguyên nhân đầu tiên cho sự thất bại của chính thể đại diện. Nguyên nhân thứ ba là khi dân chúng thiếu ý chí hay khả năng thực hiện phần trách nhiệm thuộc về họ ở trong một hiến pháp đại diện. Khi chẳng có ai, hay chỉ một phe nhóm nhỏ nào đó, cảm thấy có mức độ quan tâm đến việc chung của Nhà nước, sự quan tâm cần thiết để hình thành công luận, lúc đó các cử tri sẽ chẳng mấy khi sử dụng tới quyền bỏ phiếu, trừ phi để phục vụ cho quyền lợi riêng, cho quyền lợi địa phương, hay cho quyền lợi của những kẻ mà họ có quan hệ chặt chẽ và bị phụ thuộc. Trong tình trạng của công chúng như vậy thì giai cấp nhỏ bé giành được quyền chỉ huy các cơ quan đại diện phần nhiều sẽ sử dụng chúng đơn thuần như phương tiện tìm kiếm vận may cho riêng mình. Nếu hành pháp yếu ớt thì đất nước sẽ rối loạn trong các cuộc đấu đá giành địa vị; nếu hành pháp mạnh mẽ thì nó sẽ tự biến mình thành chuyên chế, với giá rẻ của sự thỏa hiệp vô nguyên tắc bằng cách chia nhau chiến lợi phẩm cùng người đại diện, nhất là những người có khả năng gây phiền nhiễu; kết quả duy nhất của sự đại diện quốc gia là ngoài những kẻ thực sự cai trị thì còn có thêm một quốc hội chia năm xẻ bảy trước công chúng và chẳng có phe nào trong quốc hội có vẻ quan tâm chút ít đến việc dẹp bỏ sự lộng quyền. Thế nhưng nếu sự xấu xa dừng lại ở đây thì có thể cái giá ấy cũng đáng trả cho sự công khai và sự tranh cãi, vì, tuy không ổn định, nhưng dù sao vẫn là hai đặc điểm luôn đi kèm theo bất cứ tính đại diện nào, ngay cả sự đại diện chỉ trên danh nghĩa. Thí dụ như ở Vương quốc Hy Lạp hiện đại(*), không còn nghi ngờ nào nữa rằng những kẻ săn tìm địa vị (place-hunters) chiếm hầu hết thành phần quốc hội đại diện, dù đóng góp rất ít hay chẳng chút nào cho sự cai trị tốt mà cũng chẳng làm giảm đi được bao nhiêu quyền lực tùy tiện của hành pháp, nhưng vẫn còn duy trì được ý tưởng về quyền của dân chúng và đóng góp nhiều cho quyền tự do báo chí được tồn tại ở đất nước này. Tuy nhiên, điều tốt lành ấy đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bên cạnh cơ quan đại diện nhân dân phải có một chế độ quân chủ thế tập. Nếu như thay vì tranh đấu để ủng hộ cho người cầm quyền đứng đầu ấy, các phe nhóm vị kỷ và hèn hạ lại đấu đá cho địa vị đứng đầu của bản thân mình, chúng có thể đưa đất nước, giống như châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, vào trong tình trạng cách mạng và nội chiến liên miên. Một chuỗi dài những cuộc phiêu lưu chính trị sẽ nối nhau thực hiện một chế độ chuyên chế không dựa trên pháp luật mà chỉ dựa vào bạo lực; và danh hiệu lẫn hình thức của chính thể đại diện chỉ được dùng để làm cho chế độ quân chủ không thể đạt được sự ổn định và vững chắc hầu giảm bớt đi những tệ nạn ấy.
Những điều trình bày ở trên là các trường hợp mà chính thể đại diện không thể tồn tại bền lâu. Còn có những trường hợp khác mà chính thể đại diện tuy cũng có thể tồn tại, nhưng một hình thức chính thể khác có khi là thích đáng hơn. Về nguyên tắc, đó là những trường hợp, khi mà để tiến lên nền văn minh, dân chúng cần phải học được một số bài học, tiếp thu được một số thói quen, nhưng chính thể đại diện có lẽ sẽ là trở ngại cho việc tiếp thu những cái đó.
Trường hợp hiển nhiên nhất trong số này là trường hợp đã được xét đến, khi mà dân chúng còn phải học bài học đầu tiên của nền văn minh là sự tuân phục. Một chủng tộc đã từng được tôi luyện sức mạnh và lòng can đảm trong các cuộc đấu tranh với thiên nhiên và các láng giềng của họ, nhưng hãy còn chưa vững vàng trong việc tuân phục thường trực với bất cứ cấp trên chung nào, sẽ ít có khả năng tiếp thu được thói quen này dưới chính quyền tập thể của chính chủng tộc đó. Một quốc hội đại diện rút ra từ chính số người này có thể sẽ chỉ giản đơn phản ánh sự bất phục tòng hỗn loạn của họ. Quyền uy của quốc hội có thể sẽ bị khước từ trong mọi thủ tục mà nó đặt ra nhằm cải thiện phần nào tính độc lập hoang dã của họ. Kiểu cách mà các bộ tộc này thường được dạy cho biết phục tùng theo các điều kiện sơ đẳng của xã hội văn minh là thông qua nhu cầu chiến tranh và dựa vào quyền uy chuyên chế không thay thế được của kẻ chỉ huy quân sự. Một lãnh tụ quân đội là cấp trên duy nhất mà họ phục tùng, ngoại trừ nhà tiên tri thỉnh thoảng được coi là thượng đế truyền cho linh cảm hay pháp sư được xem như có quyền năng phi thường. Những người này có thể có uy lực nhất thời, nhưng vì thuần túy mang tính cá nhân nên hiếm khi tạo ra thay đổi trong tập quán chung của dân chúng, trừ trường hợp nhà tiên tri như Mahomed, cũng đồng thời là nhà chỉ huy quân sự, tiến lên thành ông tổ truyền đạo có vũ trang của một tôn giáo mới; hoặc trừ phi các chỉ huy quân sự liên minh với ảnh hưởng của ông ta và biến nó thành chỗ dựa cho việc cai trị của họ.
Một dân tộc cũng không thích hợp với chính thể đại diện, khi có khuyết điểm ngược lại với khuyết điểm trên, đó là sự thụ động thái quá và sẵn sàng tuân phục bạo chúa. Nếu một dân chúng có tính cách phục tùng đến như thế và nhờ hoàn cảnh mà có thể nhận được các thiết chế đại diện, họ nhất định sẽ lựa chọn các bạo chúa của họ làm đại điện cho họ và cái ách có thể được tạo ra còn nặng nề hơn đối với họ bởi kỹ xảo mới thoạt nhìn (prima facie) tưởng chừng có vẻ như làm nhẹ đi. Ngược lại, nhiều trường hợp một dân chúng từ từ thoát khỏi các điều kiện ấy nhờ sự giúp đỡ của một quyền lực trung ương mà địa vị đó làm cho nó trở thành đối thủ của các lãnh chúa địa phương và kết thúc bằng việc trở thành ông chủ của các lãnh chúa ấy, điều đáng kể nhất đó là ông chủ một mình. Lịch sử nước Pháp từ Hugh Capet(*) tới Richelieu(*) và Louis XIV(*) là một thí dụ sự việc diễn biến liên tục theo hướng đó. Ngay cả khi nhà vua không hùng mạnh hơn các lãnh chúa của ông ta bao nhiêu, thì những lợi thế rất lớn mà ông ta khai thác được từ địa vị độc tôn của mình, đều được các sử gia Pháp thừa nhận. Tất cả những người bị áp bức ở các địa phương đều ngước mắt hướng về phía ông ta; ông ta là đối tượng của hy vọng và niềm tin ở khắp mọi nơi trong vương quốc; trong khi đó mỗi kẻ thống trị địa phương chỉ hùng mạnh ở một phạm vi không gian ít nhiều giới hạn. Từ khắp nơi trong nước người ta tìm kiếm nơi ẩn náu và sự che chở ở dưới cánh tay của ông ta để chống lại một kẻ này rồi một kẻ khác trong những kẻ đàn áp trực tiếp. Uy thế của ông ta tiến bộ chậm chạp, nhưng nó là kết quả của việc sử dụng thành công lợi thế mà cơ hội chỉ dành riêng cho ông ta. Chắc chắn là cùng song hành với tiến trình này, tập quán phục tùng sự đàn áp cũng giảm bớt theo. Quyền lợi của nhà vua là ở chỗ cổ vũ mọi mưu toan cục bộ của các nông nô nhằm giải phóng mình thoát khỏi các ông chủ của họ và đặt mình dưới sự thần phục trực tiếp bản thân ông ta. Dưới sự bảo trợ của ông ta đã hình thành rất nhiều cộng đồng không biết một ai khác trên đầu ngoài nhà vua. Tuân phục theo nhà vua ở một khoảng cách, tự bản thân nó đã là sự tự do, so với quyền thống trị của viên lãnh chúa ở trong lâu đài ngay sát cạnh; và nhà vua, suốt thời gian dài, buộc phải ở vị thế thi hành quyền uy của mình như một đồng minh hơn là một ông chủ của các giai tầng mà ông ta giúp đỡ giải phóng họ. Bằng cung cách như thế, một quyền lực trung ương, về nguyên tắc là chuyên chế, nhưng trên thực tế nói chung bị giới hạn nhiều, đã là công cụ đưa dân chúng trải qua giai đoạn cải tiến cần thiết, điều khó có thể đạt được bằng một chính thể đại diện. Ở châu Âu [thời của Mill], vẫn còn có những nơi phải trải qua con đường này vì không có con đường khác. Ở một nước như nước Nga, hầu như chỉ có một chính quyền chuyên chế hoặc một cuộc thảm sát toàn thể mới có thể đem lại sự giải phóng cho nông nô.
Cũng là các diễn biến lịch sử đã minh họa thật thuyết phục một kiểu cách khác nữa, ở đó một nền quân chủ không giới hạn đã vượt qua được các chướng ngại trên con đường tiến bộ; những chướng ngại mà một chính thể đại diện, do khuynh hướng tự nhiên của nó, có khi lại làm cho trầm trọng thêm. Một trong các trở ngại mạnh nhất đối với sự cải tiến, ngay cả tới giai đoạn tiến bộ rồi, chính là tinh thần địa phương thâm căn cố đế. Một số bộ phận nhân loại, về nhiều phương diện khác, tỏ ra có khả năng và sẵn sàng cho nền tự do, có thể lại không đủ trình độ để hợp nhất thành một dân tộc, dù là nhỏ nhất. Không phải chỉ có tính ganh ghét và ác cảm khiến họ không ưa nhau và ngăn cản mọi khả năng cho một sự hợp nhất tự nguyện, nhưng có thể họ còn chưa tiếp thu được bất cứ tình cảm và tập quán nào khả dĩ làm cho sự hợp nhất trở thành hiện thực, giả sử như sự hợp nhất được hoàn thành về danh nghĩa. Họ có thể giống như các công dân của một cộng đồng cổ đại hay cư dân của một làng xã châu Á, đã có được khá nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các khả năng của họ ở các tập thể làng xã hay đô thị, và thậm chí đã thực hiện được một chính quyền nhân dân tương đối hiệu quả ở tầm vóc giới hạn ấy, nhưng có thể mới chỉ có những thiện cảm mong manh đối với mọi thứ xa hơn nữa và chưa có được thói quen và khả năng xử sự đối với các quyền lợi chung trong một lãnh thổ quốc gia rộng lớn.
Tôi không được biết một thí dụ nào có sẵn trong lịch sử, trong đó một số các nguyên tử hay hạt chính trị như thế lại hợp nhất lại thành một tập thể và học được cách cảm nhận bản thân mình như một dân tộc, ngoại trừ trước đó họ đã trải qua một sự khuất phục trước một quyền uy trung ương chung cho tất cả(*). Chính là thông qua thói quen làm theo cái quyền uy ấy, tham dự vào các kế hoạch của nó và phục vụ cho các mục tiêu của nó mà một tập hợp dân chúng, như chúng ta đã giả định, sẽ thu nhận được vào đầu óc mình khái niệm về các quyền lợi rộng lớn chung cho một lãnh thổ địa lý được mở rộng. Ngược lại, những quyền lợi như thế nhất thiết phải là sự xem xét ưu tiên trong tâm trí của nhà cầm quyền trung ương; và thông qua các mối quan hệ ít nhiều thân thiết mà ông ta gia tăng quan hệ với các địa phương, các quan hệ ấy trở thành quen thuộc đối với tâm trí chung. Sự cạnh tranh thuận lợi nhất của các tình huống mà bước đi ấy được tiến hành, hẳn sẽ là tình huống tạo nên các thiết chế đại diện mà chưa có chính thể đại diện; một hay nhiều cơ quan đại diện rút ra từ các địa phương biến thành trợ thủ và công cụ của quyền lực trung ương, nhưng ít khi nào mưu toan ngáng trở hay kiểm soát nó. Bằng cách thức như thế mà dân chúng được đưa vào hội đồng, dù không chia sẻ quyền lực tối cao, nhưng sự giáo dục chính trị của quyền uy trung ương được thực hiện đúng cách, đạt nhiều hiệu quả hơn so với các cách thức khác đối với các người đứng đầu địa phương và đối với dân chúng nói chung. Trong khi đó một truyền thống duy trì chính quyền bằng sự đồng thuận chung, hay ít nhất cũng không thể có được sự phê chuẩn của truyền thống đối với chính quyền nếu thiếu điều này, thì khi sự đồng thuận được thần thánh hóa thành tục lệ, nó rất thường mang lại một kết thúc tồi tệ cho một khởi đầu tốt và là một trong
TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI NÀO CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN KHÔNG THỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC
Chúng ta đã nhận ra rằng chính thể mang tính đại diện là loại hình lý tưởng của tổ chức xã hội hoàn hảo nhất, mà một bộ phận nhất định của nhân loại càng có mức độ phát triển cao bao nhiêu thì nó càng thích hợp hơn bấy nhiêu. Trình độ phát triển văn hóa càng thấp kém thì hình thức chính thể ấy nói chung càng ít thích hợp hơn; tuy rằng điều này không phải đúng một cách phổ quát, vì sự thích ứng của một dân tộc đối với chính thể đại diện không phụ thuộc nhiều lắm vào vị trí của họ trong bảng thứ hạng chung của loài người mà phụ thuộc nhiều hơn vào mức độ họ sở hữu các điều kiện cần thiết riêng biệt; thế nhưng các điều kiện cần thiết này lại liên quan khá chặt chẽ với trình độ tiến bộ chung của họ đến nỗi sự sai biệt giữa hai mức độ này là ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Trước hết, chúng ta hãy khảo sát xem: đến điểm nào thì chính thể đại diện hoàn toàn không thể áp dụng được, hoặc vì nó không thích hợp, hoặc vì có một hình thức khác thích hợp hơn.
Trước hết, cũng như bất cứ hình thức chính thể nào khác, chính thể đại diện là không thích hợp vì không thể tồn tại bền vững được khi nó không đáp ứng ba điều kiện cơ bản liệt kê ở chương đầu. Các điều kiện đó là – 1. Dân chúng cần phải thuận nguyện chấp nhận nó. 2. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó. 3. Họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Sự thuận nguyện của dân chúng chấp nhận chính thể đại diện chỉ trở thành vấn đề thực tiễn, khi có một người cầm quyền khai minh, hoặc một hay nhiều ngoại bang có ảnh hưởng quyết định lên số phận của một dân tộc, có ý định đưa ra yêu cầu thiết lập nó. Đối với các nhà cải cách mang tính cá nhân thì đây không phải là vấn đề, vì nếu ngay từ đầu không có phương án nào khác chống lại ý đồ của họ, ngoài việc ý kiến của dân chúng hãy còn chưa ở phía họ, thì họ đã có sẵn câu trả lời thích đáng, đó là cố giành lấy sự ủng hộ của dân chúng về phía mình. Khi công luận quả thực là chống đối thì sự thù địch thường nhằm vào sự đổi thay hơn là nhằm vào bản thân chính thể đại diện. Trường hợp chống đối như thế cũng không phải là không có; đôi khi có một ác cảm mang tính tôn giáo chống lại bất kỳ sự giới hạn quyền lực nào đối với tập đoàn cầm quyền nào đó, nhưng nói chung bài học về sự tuân phục thụ động chỉ có nghĩa là sự quy phục trước các quyền lực hiện hành, dù là quân chủ hay nhân dân. Trong mọi trường hợp, khi toan tính lập nên chính thể đại diện có vẻ như được thực hiện đôi chút nào đó, thì trở ngại được dự báo là ở sự lãnh đạm đối với nó và sự không hiểu biết các quá trình cũng như các đòi hỏi của nó, hơn là ở sự chống đối trực diện. Tuy nhiên những yếu tố này cũng rất tai hại và khó hóa giải không kém sự căm ghét thực thụ; vì trong đa số các trường hợp, thay đổi phương hướng của một tình cảm tích cực còn dễ dàng hơn tạo ra nó ở một trạng thái trước đây thụ động. Khi một dân chúng không biết trân trọng hiến pháp mang tính đại diện cũng như không đủ gắn bó với nó, thì sau đó cũng chẳng có cơ may là họ sẽ duy trì được hiến pháp ấy. Ở đất nước nào thì nền hành pháp cũng là nhánh chính quyền nắm giữ quyền hành trước mắt và tiếp xúc trực tiếp với công chúng; về nguyên tắc mọi hy vọng cũng như e sợ của các cá nhân đều hướng tới nó và nó đại diện cả việc làm tốt lẫn sự uy hiếp cùng uy tín của chính quyền trước con mắt công chúng. Cho nên nếu cơ quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát hành pháp mà không có các quan chức có uy tín, được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi tình cảm và công luận trong nước, thì cơ quan hành pháp sẽ luôn có cách đẩy họ qua một bên hoặc ép buộc họ phải phục vụ cho nó và nó tin chắc sẽ nhận được sự ủng hộ trong việc làm như thế. Các thiết chế đại diện nhất thiết phải phụ thuộc vào sự sẵn sàng của dân chúng tranh đấu cho các thiết chế ấy trong trường hợp chúng có nguy cơ bị đe dọa. Nếu chuyện này ít được coi trọng, các thiết chế đại diện sẽ hiếm khi nào có được đôi chút địa vị vững chắc, và nếu có thì chắc chẳng bao lâu rồi cũng sẽ bị đánh đổ, một khi người cầm đầu chính quyền, hay lãnh tụ của chính đảng, tập trung sức mạnh ra tay (coup de main) mạo hiểm để giành lấy quyền lực tuyệt đối.
Các xem xét này liên quan tới hai nguyên nhân đầu tiên cho sự thất bại của chính thể đại diện. Nguyên nhân thứ ba là khi dân chúng thiếu ý chí hay khả năng thực hiện phần trách nhiệm thuộc về họ ở trong một hiến pháp đại diện. Khi chẳng có ai, hay chỉ một phe nhóm nhỏ nào đó, cảm thấy có mức độ quan tâm đến việc chung của Nhà nước, sự quan tâm cần thiết để hình thành công luận, lúc đó các cử tri sẽ chẳng mấy khi sử dụng tới quyền bỏ phiếu, trừ phi để phục vụ cho quyền lợi riêng, cho quyền lợi địa phương, hay cho quyền lợi của những kẻ mà họ có quan hệ chặt chẽ và bị phụ thuộc. Trong tình trạng của công chúng như vậy thì giai cấp nhỏ bé giành được quyền chỉ huy các cơ quan đại diện phần nhiều sẽ sử dụng chúng đơn thuần như phương tiện tìm kiếm vận may cho riêng mình. Nếu hành pháp yếu ớt thì đất nước sẽ rối loạn trong các cuộc đấu đá giành địa vị; nếu hành pháp mạnh mẽ thì nó sẽ tự biến mình thành chuyên chế, với giá rẻ của sự thỏa hiệp vô nguyên tắc bằng cách chia nhau chiến lợi phẩm cùng người đại diện, nhất là những người có khả năng gây phiền nhiễu; kết quả duy nhất của sự đại diện quốc gia là ngoài những kẻ thực sự cai trị thì còn có thêm một quốc hội chia năm xẻ bảy trước công chúng và chẳng có phe nào trong quốc hội có vẻ quan tâm chút ít đến việc dẹp bỏ sự lộng quyền. Thế nhưng nếu sự xấu xa dừng lại ở đây thì có thể cái giá ấy cũng đáng trả cho sự công khai và sự tranh cãi, vì, tuy không ổn định, nhưng dù sao vẫn là hai đặc điểm luôn đi kèm theo bất cứ tính đại diện nào, ngay cả sự đại diện chỉ trên danh nghĩa. Thí dụ như ở Vương quốc Hy Lạp hiện đại(*), không còn nghi ngờ nào nữa rằng những kẻ săn tìm địa vị (place-hunters) chiếm hầu hết thành phần quốc hội đại diện, dù đóng góp rất ít hay chẳng chút nào cho sự cai trị tốt mà cũng chẳng làm giảm đi được bao nhiêu quyền lực tùy tiện của hành pháp, nhưng vẫn còn duy trì được ý tưởng về quyền của dân chúng và đóng góp nhiều cho quyền tự do báo chí được tồn tại ở đất nước này. Tuy nhiên, điều tốt lành ấy đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bên cạnh cơ quan đại diện nhân dân phải có một chế độ quân chủ thế tập. Nếu như thay vì tranh đấu để ủng hộ cho người cầm quyền đứng đầu ấy, các phe nhóm vị kỷ và hèn hạ lại đấu đá cho địa vị đứng đầu của bản thân mình, chúng có thể đưa đất nước, giống như châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, vào trong tình trạng cách mạng và nội chiến liên miên. Một chuỗi dài những cuộc phiêu lưu chính trị sẽ nối nhau thực hiện một chế độ chuyên chế không dựa trên pháp luật mà chỉ dựa vào bạo lực; và danh hiệu lẫn hình thức của chính thể đại diện chỉ được dùng để làm cho chế độ quân chủ không thể đạt được sự ổn định và vững chắc hầu giảm bớt đi những tệ nạn ấy.
Những điều trình bày ở trên là các trường hợp mà chính thể đại diện không thể tồn tại bền lâu. Còn có những trường hợp khác mà chính thể đại diện tuy cũng có thể tồn tại, nhưng một hình thức chính thể khác có khi là thích đáng hơn. Về nguyên tắc, đó là những trường hợp, khi mà để tiến lên nền văn minh, dân chúng cần phải học được một số bài học, tiếp thu được một số thói quen, nhưng chính thể đại diện có lẽ sẽ là trở ngại cho việc tiếp thu những cái đó.
Trường hợp hiển nhiên nhất trong số này là trường hợp đã được xét đến, khi mà dân chúng còn phải học bài học đầu tiên của nền văn minh là sự tuân phục. Một chủng tộc đã từng được tôi luyện sức mạnh và lòng can đảm trong các cuộc đấu tranh với thiên nhiên và các láng giềng của họ, nhưng hãy còn chưa vững vàng trong việc tuân phục thường trực với bất cứ cấp trên chung nào, sẽ ít có khả năng tiếp thu được thói quen này dưới chính quyền tập thể của chính chủng tộc đó. Một quốc hội đại diện rút ra từ chính số người này có thể sẽ chỉ giản đơn phản ánh sự bất phục tòng hỗn loạn của họ. Quyền uy của quốc hội có thể sẽ bị khước từ trong mọi thủ tục mà nó đặt ra nhằm cải thiện phần nào tính độc lập hoang dã của họ. Kiểu cách mà các bộ tộc này thường được dạy cho biết phục tùng theo các điều kiện sơ đẳng của xã hội văn minh là thông qua nhu cầu chiến tranh và dựa vào quyền uy chuyên chế không thay thế được của kẻ chỉ huy quân sự. Một lãnh tụ quân đội là cấp trên duy nhất mà họ phục tùng, ngoại trừ nhà tiên tri thỉnh thoảng được coi là thượng đế truyền cho linh cảm hay pháp sư được xem như có quyền năng phi thường. Những người này có thể có uy lực nhất thời, nhưng vì thuần túy mang tính cá nhân nên hiếm khi tạo ra thay đổi trong tập quán chung của dân chúng, trừ trường hợp nhà tiên tri như Mahomed, cũng đồng thời là nhà chỉ huy quân sự, tiến lên thành ông tổ truyền đạo có vũ trang của một tôn giáo mới; hoặc trừ phi các chỉ huy quân sự liên minh với ảnh hưởng của ông ta và biến nó thành chỗ dựa cho việc cai trị của họ.
Một dân tộc cũng không thích hợp với chính thể đại diện, khi có khuyết điểm ngược lại với khuyết điểm trên, đó là sự thụ động thái quá và sẵn sàng tuân phục bạo chúa. Nếu một dân chúng có tính cách phục tùng đến như thế và nhờ hoàn cảnh mà có thể nhận được các thiết chế đại diện, họ nhất định sẽ lựa chọn các bạo chúa của họ làm đại điện cho họ và cái ách có thể được tạo ra còn nặng nề hơn đối với họ bởi kỹ xảo mới thoạt nhìn (prima facie) tưởng chừng có vẻ như làm nhẹ đi. Ngược lại, nhiều trường hợp một dân chúng từ từ thoát khỏi các điều kiện ấy nhờ sự giúp đỡ của một quyền lực trung ương mà địa vị đó làm cho nó trở thành đối thủ của các lãnh chúa địa phương và kết thúc bằng việc trở thành ông chủ của các lãnh chúa ấy, điều đáng kể nhất đó là ông chủ một mình. Lịch sử nước Pháp từ Hugh Capet(*) tới Richelieu(*) và Louis XIV(*) là một thí dụ sự việc diễn biến liên tục theo hướng đó. Ngay cả khi nhà vua không hùng mạnh hơn các lãnh chúa của ông ta bao nhiêu, thì những lợi thế rất lớn mà ông ta khai thác được từ địa vị độc tôn của mình, đều được các sử gia Pháp thừa nhận. Tất cả những người bị áp bức ở các địa phương đều ngước mắt hướng về phía ông ta; ông ta là đối tượng của hy vọng và niềm tin ở khắp mọi nơi trong vương quốc; trong khi đó mỗi kẻ thống trị địa phương chỉ hùng mạnh ở một phạm vi không gian ít nhiều giới hạn. Từ khắp nơi trong nước người ta tìm kiếm nơi ẩn náu và sự che chở ở dưới cánh tay của ông ta để chống lại một kẻ này rồi một kẻ khác trong những kẻ đàn áp trực tiếp. Uy thế của ông ta tiến bộ chậm chạp, nhưng nó là kết quả của việc sử dụng thành công lợi thế mà cơ hội chỉ dành riêng cho ông ta. Chắc chắn là cùng song hành với tiến trình này, tập quán phục tùng sự đàn áp cũng giảm bớt theo. Quyền lợi của nhà vua là ở chỗ cổ vũ mọi mưu toan cục bộ của các nông nô nhằm giải phóng mình thoát khỏi các ông chủ của họ và đặt mình dưới sự thần phục trực tiếp bản thân ông ta. Dưới sự bảo trợ của ông ta đã hình thành rất nhiều cộng đồng không biết một ai khác trên đầu ngoài nhà vua. Tuân phục theo nhà vua ở một khoảng cách, tự bản thân nó đã là sự tự do, so với quyền thống trị của viên lãnh chúa ở trong lâu đài ngay sát cạnh; và nhà vua, suốt thời gian dài, buộc phải ở vị thế thi hành quyền uy của mình như một đồng minh hơn là một ông chủ của các giai tầng mà ông ta giúp đỡ giải phóng họ. Bằng cung cách như thế, một quyền lực trung ương, về nguyên tắc là chuyên chế, nhưng trên thực tế nói chung bị giới hạn nhiều, đã là công cụ đưa dân chúng trải qua giai đoạn cải tiến cần thiết, điều khó có thể đạt được bằng một chính thể đại diện. Ở châu Âu [thời của Mill], vẫn còn có những nơi phải trải qua con đường này vì không có con đường khác. Ở một nước như nước Nga, hầu như chỉ có một chính quyền chuyên chế hoặc một cuộc thảm sát toàn thể mới có thể đem lại sự giải phóng cho nông nô.
Cũng là các diễn biến lịch sử đã minh họa thật thuyết phục một kiểu cách khác nữa, ở đó một nền quân chủ không giới hạn đã vượt qua được các chướng ngại trên con đường tiến bộ; những chướng ngại mà một chính thể đại diện, do khuynh hướng tự nhiên của nó, có khi lại làm cho trầm trọng thêm. Một trong các trở ngại mạnh nhất đối với sự cải tiến, ngay cả tới giai đoạn tiến bộ rồi, chính là tinh thần địa phương thâm căn cố đế. Một số bộ phận nhân loại, về nhiều phương diện khác, tỏ ra có khả năng và sẵn sàng cho nền tự do, có thể lại không đủ trình độ để hợp nhất thành một dân tộc, dù là nhỏ nhất. Không phải chỉ có tính ganh ghét và ác cảm khiến họ không ưa nhau và ngăn cản mọi khả năng cho một sự hợp nhất tự nguyện, nhưng có thể họ còn chưa tiếp thu được bất cứ tình cảm và tập quán nào khả dĩ làm cho sự hợp nhất trở thành hiện thực, giả sử như sự hợp nhất được hoàn thành về danh nghĩa. Họ có thể giống như các công dân của một cộng đồng cổ đại hay cư dân của một làng xã châu Á, đã có được khá nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các khả năng của họ ở các tập thể làng xã hay đô thị, và thậm chí đã thực hiện được một chính quyền nhân dân tương đối hiệu quả ở tầm vóc giới hạn ấy, nhưng có thể mới chỉ có những thiện cảm mong manh đối với mọi thứ xa hơn nữa và chưa có được thói quen và khả năng xử sự đối với các quyền lợi chung trong một lãnh thổ quốc gia rộng lớn.
Tôi không được biết một thí dụ nào có sẵn trong lịch sử, trong đó một số các nguyên tử hay hạt chính trị như thế lại hợp nhất lại thành một tập thể và học được cách cảm nhận bản thân mình như một dân tộc, ngoại trừ trước đó họ đã trải qua một sự khuất phục trước một quyền uy trung ương chung cho tất cả(*). Chính là thông qua thói quen làm theo cái quyền uy ấy, tham dự vào các kế hoạch của nó và phục vụ cho các mục tiêu của nó mà một tập hợp dân chúng, như chúng ta đã giả định, sẽ thu nhận được vào đầu óc mình khái niệm về các quyền lợi rộng lớn chung cho một lãnh thổ địa lý được mở rộng. Ngược lại, những quyền lợi như thế nhất thiết phải là sự xem xét ưu tiên trong tâm trí của nhà cầm quyền trung ương; và thông qua các mối quan hệ ít nhiều thân thiết mà ông ta gia tăng quan hệ với các địa phương, các quan hệ ấy trở thành quen thuộc đối với tâm trí chung. Sự cạnh tranh thuận lợi nhất của các tình huống mà bước đi ấy được tiến hành, hẳn sẽ là tình huống tạo nên các thiết chế đại diện mà chưa có chính thể đại diện; một hay nhiều cơ quan đại diện rút ra từ các địa phương biến thành trợ thủ và công cụ của quyền lực trung ương, nhưng ít khi nào mưu toan ngáng trở hay kiểm soát nó. Bằng cách thức như thế mà dân chúng được đưa vào hội đồng, dù không chia sẻ quyền lực tối cao, nhưng sự giáo dục chính trị của quyền uy trung ương được thực hiện đúng cách, đạt nhiều hiệu quả hơn so với các cách thức khác đối với các người đứng đầu địa phương và đối với dân chúng nói chung. Trong khi đó một truyền thống duy trì chính quyền bằng sự đồng thuận chung, hay ít nhất cũng không thể có được sự phê chuẩn của truyền thống đối với chính quyền nếu thiếu điều này, thì khi sự đồng thuận được thần thánh hóa thành tục lệ, nó rất thường mang lại một kết thúc tồi tệ cho một khởi đầu tốt và là một trong những nguyên nhân thường gặp của sự bất hạnh đáng buồn đã làm chững lại sự cải tiến ở giai đoạn rất sớm tại rất nhiều nước, bởi vì cách làm của một thời kỳ nào đó lại ngăn trở cách làm của các thời kỳ kế tiếp theo sau. Trong khi ấy người ta lại có thể lại bỏ qua một điều gần như một chân lý chính trị, rằng chính nhờ vua chúa vô trách nhiệm hơn là nhờ chính thể đại diện mà vô số các đơn vị chính trị nhỏ bé có thể được kết nối lại thành một dân tộc với các tình cảm chung của sự cố kết, đủ mạnh để bảo vệ mình chống lại sự chinh phục của ngoại xâm, và có được các công việc đủ đa dạng cũng như đủ lớn lao để lo toan và qua đó, phát huy thích đáng trí tuệ xã hội cũng như chính trị của cư dân.
Vì một số lý do như thế mà một chính thể quân chủ không bị các thiết chế đại diện kìm hãm mà còn được ủng hộ nữa, sẽ là hình thức tổ chức xã hội thích hợp nhất trong các thời kỳ sơ khai của bất cứ cộng đồng nào, không ngoại trừ cả các cộng đồng-đô thị giống như Hy Lạp cổ đại; ở đó sự cai trị của nhà vua đặt dưới sự kiểm soát của công luận thực sự, nhưng không phô trương bề ngoài hay mang tính hiến pháp, đã tạo mọi thiết chế tự do đi trước trong lịch sử với một thời gian có lẽ rất dài, và cuối cùng thì nhường chỗ cho các chế độ tập đoàn trị của một số gia tộc trong một khoảng thời gian cũng rất dài.
Có thể chỉ ra hàng trăm thiếu sót hay kém cỏi khác trong dân chúng, khiến cho họ không đủ tư cách sử dụng được tối ưu chính thể đại diện; thế nhưng về các mặt này cũng không hiển nhiên là sự cai trị của Một Người hay của Một Ít Người lại có xu thế nào đó chữa trị hay làm giảm bớt được sự xấu xa. Các thành kiến rất mạnh đủ loại; tính bảo thủ cố chấp giữ lại các tập quán cũ; các khiếm khuyết rõ ràng trong tính cách dân tộc hay sự ngu dốt thuần túy, và sự thiếu hụt trong bồi dưỡng tính cách, nếu thịnh hành trong dân chúng thì những cái đó sẽ được phản ánh trung thực một cách tổng thể trong các cơ quan đại diện của họ; và nếu như xảy ra chuyện là chính quyền hành pháp, trong việc điều khiển trực tiếp các việc công cộng, lại nắm trong tay những người không có các khiếm khuyết ấy, khi đó thì những người này sẽ thường xuyên làm được nhiều điều tốt hơn, nếu họ không bị cản trở bởi sự cần thiết phải thi hành theo sự chuẩn y của các hội đồng như thế đối với họ. Thế nhưng chỉ riêng địa vị đơn thuần của nhà cầm quyền thì bản thân địa vị ấy không truyền cho họ mối quan tâm và xu hướng hành động theo hướng đem lại lợi ích chung ở trong các trường hợp này, giống như ở các trường hợp khác mà chúng ta đã khảo sát. Từ những yếu kém chung của một dân tộc hay của một tình trạng văn minh, thì Một Người cùng các cố vấn của ông ta, hay Một Ít Người, thường cũng chẳng là ngoại lệ; trừ trường hợp họ là người ngoại bang thuộc về một dân tộc ưu tú hơn hay một tình trạng xã hội tiến bộ hơn. Khi đó quả thực những người cầm quyền có thể là ưu tú hơn về văn minh ở bất cứ mức độ nào, so với những người chịu sự cai trị của họ; và sự khuất phục trước chính quyền ngoại bang như thế, bất chấp những xấu xa không tránh khỏi của nó, thường sẽ là có lợi lớn nhất cho dân chúng, đưa họ nhanh chóng đi qua được nhiều giai đoạn của sự tiến bộ và gạt bỏ đi các trở ngại cho sự cải tiến có thể đã kéo dài vô hạn định, nếu cư dân chịu thần phục bị để mặc cho các cơ hội và xu thế tự nhiên bản địa mà không được trợ giúp. Trong một đất nước không chịu quyền thống trị của ngoại bang, nguyên nhân đầy đủ duy nhất tạo ra được lợi ích tương tự là sự tình cờ hiếm hoi có một nhà vua thiên tài phi thường. Trong lịch sử cũng có được một số ít các nhà vua như thế, may mắn cho nhân loại là họ đã trị vì đủ lâu dài để đem lại một số cải tiến bền lâu bằng cách để lại cho dân chúng một sự bảo vệ của thế hệ đã lớn lên dưới ảnh hưởng của các ông vua ấy. Charlemagne(*) có thể được
4
TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI NÀO CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN KHÔNG THỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC
Chúng ta đã nhận ra rằng chính thể mang tính đại diện là loại hình lý tưởng của tổ chức xã hội hoàn hảo nhất, mà một bộ phận nhất định của nhân loại càng có mức độ phát triển cao bao nhiêu thì nó càng thích hợp hơn bấy nhiêu. Trình độ phát triển văn hóa càng thấp kém thì hình thức chính thể ấy nói chung càng ít thích hợp hơn; tuy rằng điều này không phải đúng một cách phổ quát, vì sự thích ứng của một dân tộc đối với chính thể đại diện không phụ thuộc nhiều lắm vào vị trí của họ trong bảng thứ hạng chung của loài người mà phụ thuộc nhiều hơn vào mức độ họ sở hữu các điều kiện cần thiết riêng biệt; thế nhưng các điều kiện cần thiết này lại liên quan khá chặt chẽ với trình độ tiến bộ chung của họ đến nỗi sự sai biệt giữa hai mức độ này là ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Trước hết, chúng ta hãy khảo sát xem: đến điểm nào thì chính thể đại diện hoàn toàn không thể áp dụng được, hoặc vì nó không thích hợp, hoặc vì có một hình thức khác thích hợp hơn.
Trước hết, cũng như bất cứ hình thức chính thể nào khác, chính thể đại diện là không thích hợp vì không thể tồn tại bền vững được khi nó không đáp ứng ba điều kiện cơ bản liệt kê ở chương đầu. Các điều kiện đó là – 1. Dân chúng cần phải thuận nguyện chấp nhận nó. 2. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó. 3. Họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Sự thuận nguyện của dân chúng chấp nhận chính thể đại diện chỉ trở thành vấn đề thực tiễn, khi có một người cầm quyền khai minh, hoặc một hay nhiều ngoại bang có ảnh hưởng quyết định lên số phận của một dân tộc, có ý định đưa ra yêu cầu thiết lập nó. Đối với các nhà cải cách mang tính cá nhân thì đây không phải là vấn đề, vì nếu ngay từ đầu không có phương án nào khác chống lại ý đồ của họ, ngoài việc ý kiến của dân chúng hãy còn chưa ở phía họ, thì họ đã có sẵn câu trả lời thích đáng, đó là cố giành lấy sự ủng hộ của dân chúng về phía mình. Khi công luận quả thực là chống đối thì sự thù địch thường nhằm vào sự đổi thay hơn là nhằm vào bản thân chính thể đại diện. Trường hợp chống đối như thế cũng không phải là không có; đôi khi có một ác cảm mang tính tôn giáo chống lại bất kỳ sự giới hạn quyền lực nào đối với tập đoàn cầm quyền nào đó, nhưng nói chung bài học về sự tuân phục thụ động chỉ có nghĩa là sự quy phục trước các quyền lực hiện hành, dù là quân chủ hay nhân dân. Trong mọi trường hợp, khi toan tính lập nên chính thể đại diện có vẻ như được thực hiện đôi chút nào đó, thì trở ngại được dự báo là ở sự lãnh đạm đối với nó và sự không hiểu biết các quá trình cũng như các đòi hỏi của nó, hơn là ở sự chống đối trực diện. Tuy nhiên những yếu tố này cũng rất tai hại và khó hóa giải không kém sự căm ghét thực thụ; vì trong đa số các trường hợp, thay đổi phương hướng của một tình cảm tích cực còn dễ dàng hơn tạo ra nó ở một trạng thái trước đây thụ động. Khi một dân chúng không biết trân trọng hiến pháp mang tính đại diện cũng như không đủ gắn bó với nó, thì sau đó cũng chẳng có cơ may là họ sẽ duy trì được hiến pháp ấy. Ở đất nước nào thì nền hành pháp cũng là nhánh chính quyền nắm giữ quyền hành trước mắt và tiếp xúc trực tiếp với công chúng; về nguyên tắc mọi hy vọng cũng như e sợ của các cá nhân đều hướng tới nó và nó đại diện cả việc làm tốt lẫn sự uy hiếp cùng uy tín của chính quyền trước con mắt công chúng. Cho nên nếu cơ quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát hành pháp mà không có các quan chức có uy tín, được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi tình cảm và công luận trong nước, thì cơ quan hành pháp sẽ luôn có cách đẩy họ qua một bên hoặc ép buộc họ phải phục vụ cho nó và nó tin chắc sẽ nhận được sự ủng hộ trong việc làm như thế. Các thiết chế đại diện nhất thiết phải phụ thuộc vào sự sẵn sàng của dân chúng tranh đấu cho các thiết chế ấy trong trường hợp chúng có nguy cơ bị đe dọa. Nếu chuyện này ít được coi trọng, các thiết chế đại diện sẽ hiếm khi nào có được đôi chút địa vị vững chắc, và nếu có thì chắc chẳng bao lâu rồi cũng sẽ bị đánh đổ, một khi người cầm đầu chính quyền, hay lãnh tụ của chính đảng, tập trung sức mạnh ra tay (coup de main) mạo hiểm để giành lấy quyền lực tuyệt đối.
Các xem xét này liên quan tới hai nguyên nhân đầu tiên cho sự thất bại của chính thể đại diện. Nguyên nhân thứ ba là khi dân chúng thiếu ý chí hay khả năng thực hiện phần trách nhiệm thuộc về họ ở trong một hiến pháp đại diện. Khi chẳng có ai, hay chỉ một phe nhóm nhỏ nào đó, cảm thấy có mức độ quan tâm đến việc chung của Nhà nước, sự quan tâm cần thiết để hình thành công luận, lúc đó các cử tri sẽ chẳng mấy khi sử dụng tới quyền bỏ phiếu, trừ phi để phục vụ cho quyền lợi riêng, cho quyền lợi địa phương, hay cho quyền lợi của những kẻ mà họ có quan hệ chặt chẽ và bị phụ thuộc. Trong tình trạng của công chúng như vậy thì giai cấp nhỏ bé giành được quyền chỉ huy các cơ quan đại diện phần nhiều sẽ sử dụng chúng đơn thuần như phương tiện tìm kiếm vận may cho riêng mình. Nếu hành pháp yếu ớt thì đất nước sẽ rối loạn trong các cuộc đấu đá giành địa vị; nếu hành pháp mạnh mẽ thì nó sẽ tự biến mình thành chuyên chế, với giá rẻ của sự thỏa hiệp vô nguyên tắc bằng cách chia nhau chiến lợi phẩm cùng người đại diện, nhất là những người có khả năng gây phiền nhiễu; kết quả duy nhất của sự đại diện quốc gia là ngoài những kẻ thực sự cai trị thì còn có thêm một quốc hội chia năm xẻ bảy trước công chúng và chẳng có phe nào trong quốc hội có vẻ quan tâm chút ít đến việc dẹp bỏ sự lộng quyền. Thế nhưng nếu sự xấu xa dừng lại ở đây thì có thể cái giá ấy cũng đáng trả cho sự công khai và sự tranh cãi, vì, tuy không ổn định, nhưng dù sao vẫn là hai đặc điểm luôn đi kèm theo bất cứ tính đại diện nào, ngay cả sự đại diện chỉ trên danh nghĩa. Thí dụ như ở Vương quốc Hy Lạp hiện đại(*), không còn nghi ngờ nào nữa rằng những kẻ săn tìm địa vị (place-hunters) chiếm hầu hết thành phần quốc hội đại diện, dù đóng góp rất ít hay chẳng chút nào cho sự cai trị tốt mà cũng chẳng làm giảm đi được bao nhiêu quyền lực tùy tiện của hành pháp, nhưng vẫn còn duy trì được ý tưởng về quyền của dân chúng và đóng góp nhiều cho quyền tự do báo chí được tồn tại ở đất nước này. Tuy nhiên, điều tốt lành ấy đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bên cạnh cơ quan đại diện nhân dân phải có một chế độ quân chủ thế tập. Nếu như thay vì tranh đấu để ủng hộ cho người cầm quyền đứng đầu ấy, các phe nhóm vị kỷ và hèn hạ lại đấu đá cho địa vị đứng đầu của bản thân mình, chúng có thể đưa đất nước, giống như châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, vào trong tình trạng cách mạng và nội chiến liên miên. Một chuỗi dài những cuộc phiêu lưu chính trị sẽ nối nhau thực hiện một chế độ chuyên chế không dựa trên pháp luật mà chỉ dựa vào bạo lực; và danh hiệu lẫn hình thức của chính thể đại diện chỉ được dùng để làm cho chế độ quân chủ không thể đạt được sự ổn định và vững chắc hầu giảm bớt đi những tệ nạn ấy.
Những điều trình bày ở trên là các trường hợp mà chính thể đại diện không thể tồn tại bền lâu. Còn có những trường hợp khác mà chính thể đại diện tuy cũng có thể tồn tại, nhưng một hình thức chính thể khác có khi là thích đáng hơn. Về nguyên tắc, đó là những trường hợp, khi mà để tiến lên nền văn minh, dân chúng cần phải học được một số bài học, tiếp thu được một số thói quen, nhưng chính thể đại diện có lẽ sẽ là trở ngại cho việc tiếp thu những cái đó.
Trường hợp hiển nhiên nhất trong số này là trường hợp đã được xét đến, khi mà dân chúng còn phải học bài học đầu tiên của nền văn minh là sự tuân phục. Một chủng tộc đã từng được tôi luyện sức mạnh và lòng can đảm trong các cuộc đấu tranh với thiên nhiên và các láng giềng của họ, nhưng hãy còn chưa vững vàng trong việc tuân phục thường trực với bất cứ cấp trên chung nào, sẽ ít có khả năng tiếp thu được thói quen này dưới chính quyền tập thể của chính chủng tộc đó. Một quốc hội đại diện rút ra từ chính số người này có thể sẽ chỉ giản đơn phản ánh sự bất phục tòng hỗn loạn của họ. Quyền uy của quốc hội có thể sẽ bị khước từ trong mọi thủ tục mà nó đặt ra nhằm cải thiện phần nào tính độc lập hoang dã của họ. Kiểu cách mà các bộ tộc này thường được dạy cho biết phục tùng theo các điều kiện sơ đẳng của xã hội văn minh là thông qua nhu cầu chiến tranh và dựa vào quyền uy chuyên chế không thay thế được của kẻ chỉ huy quân sự. Một lãnh tụ quân đội là cấp trên duy nhất mà họ phục tùng, ngoại trừ nhà tiên tri thỉnh thoảng được coi là thượng đế truyền cho linh cảm hay pháp sư được xem như có quyền năng phi thường. Những người này có thể có uy lực nhất thời, nhưng vì thuần túy mang tính cá nhân nên hiếm khi tạo ra thay đổi trong tập quán chung của dân chúng, trừ trường hợp nhà tiên tri như Mahomed, cũng đồng thời là nhà chỉ huy quân sự, tiến lên thành ông tổ truyền đạo có vũ trang của một tôn giáo mới; hoặc trừ phi các chỉ huy quân sự liên minh với ảnh hưởng của ông ta và biến nó thành chỗ dựa cho việc cai trị của họ.
Một dân tộc cũng không thích hợp với chính thể đại diện, khi có khuyết điểm ngược lại với khuyết điểm trên, đó là sự thụ động thái quá và sẵn sàng tuân phục bạo chúa. Nếu một dân chúng có tính cách phục tùng đến như thế và nhờ hoàn cảnh mà có thể nhận được các thiết chế đại diện, họ nhất định sẽ lựa chọn các bạo chúa của họ làm đại điện cho họ và cái ách có thể được tạo ra còn nặng nề hơn đối với họ bởi kỹ xảo mới thoạt nhìn (prima facie) tưởng chừng có vẻ như làm nhẹ đi. Ngược lại, nhiều trường hợp một dân chúng từ từ thoát khỏi các điều kiện ấy nhờ sự giúp đỡ của một quyền lực trung ương mà địa vị đó làm cho nó trở thành đối thủ của các lãnh chúa địa phương và kết thúc bằng việc trở thành ông chủ của các lãnh chúa ấy, điều đáng kể nhất đó là ông chủ một mình. Lịch sử nước Pháp từ Hugh Capet(*) tới Richelieu(*) và Louis XIV(*) là một thí dụ sự việc diễn biến liên tục theo hướng đó. Ngay cả khi nhà vua không hùng mạnh hơn các lãnh chúa của ông ta bao nhiêu, thì những lợi thế rất lớn mà ông ta khai thác được từ địa vị độc tôn của mình, đều được các sử gia Pháp thừa nhận. Tất cả những người bị áp bức ở các địa phương đều ngước mắt hướng về phía ông ta; ông ta là đối tượng của hy vọng và niềm tin ở khắp mọi nơi trong vương quốc; trong khi đó mỗi kẻ thống trị địa phương chỉ hùng mạnh ở một phạm vi không gian ít nhiều giới hạn. Từ khắp nơi trong nước người ta tìm kiếm nơi ẩn náu và sự che chở ở dưới cánh tay của ông ta để chống lại một kẻ này rồi một kẻ khác trong những kẻ đàn áp trực tiếp. Uy thế của ông ta tiến bộ chậm chạp, nhưng nó là kết quả của việc sử dụng thành công lợi thế mà cơ hội chỉ dành riêng cho ông ta. Chắc chắn là cùng song hành với tiến trình này, tập quán phục tùng sự đàn áp cũng giảm bớt theo. Quyền lợi của nhà vua là ở chỗ cổ vũ mọi mưu toan cục bộ của các nông nô nhằm giải phóng mình thoát khỏi các ông chủ của họ và đặt mình dưới sự thần phục trực tiếp bản thân ông ta. Dưới sự bảo trợ của ông ta đã hình thành rất nhiều cộng đồng không biết một ai khác trên đầu ngoài nhà vua. Tuân phục theo nhà vua ở một khoảng cách, tự bản thân nó đã là sự tự do, so với quyền thống trị của viên lãnh chúa ở trong lâu đài ngay sát cạnh; và nhà vua, suốt thời gian dài, buộc phải ở vị thế thi hành quyền uy của mình như một đồng minh hơn là một ông chủ của các giai tầng mà ông ta giúp đỡ giải phóng họ. Bằng cung cách như thế, một quyền lực trung ương, về nguyên tắc là chuyên chế, nhưng trên thực tế nói chung bị giới hạn nhiều, đã là công cụ đưa dân chúng trải qua giai đoạn cải tiến cần thiết, điều khó có thể đạt được bằng một chính thể đại diện. Ở châu Âu [thời của Mill], vẫn còn có những nơi phải trải qua con đường này vì không có con đường khác. Ở một nước như nước Nga, hầu như chỉ có một chính quyền chuyên chế hoặc một cuộc thảm sát toàn thể mới có thể đem lại sự giải phóng cho nông nô.
Cũng là các diễn biến lịch sử đã minh họa thật thuyết phục một kiểu cách khác nữa, ở đó một nền quân chủ không giới hạn đã vượt qua được các chướng ngại trên con đường tiến bộ; những chướng ngại mà một chính thể đại diện, do khuynh hướng tự nhiên của nó, có khi lại làm cho trầm trọng thêm. Một trong các trở ngại mạnh nhất đối với sự cải tiến, ngay cả tới giai đoạn tiến bộ rồi, chính là tinh thần địa phương thâm căn cố đế. Một số bộ phận nhân loại, về nhiều phương diện khác, tỏ ra có khả năng và sẵn sàng cho nền tự do, có thể lại không đủ trình độ để hợp nhất thành một dân tộc, dù là nhỏ nhất. Không phải chỉ có tính ganh ghét và ác cảm khiến họ không ưa nhau và ngăn cản mọi khả năng cho một sự hợp nhất tự nguyện, nhưng có thể họ còn chưa tiếp thu được bất cứ tình cảm và tập quán nào khả dĩ làm cho sự hợp nhất trở thành hiện thực, giả sử như sự hợp nhất được hoàn thành về danh nghĩa. Họ có thể giống như các công dân của một cộng đồng cổ đại hay cư dân của một làng xã châu Á, đã có được khá nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các khả năng của họ ở các tập thể làng xã hay đô thị, và thậm chí đã thực hiện được một chính quyền nhân dân tương đối hiệu quả ở tầm vóc giới hạn ấy, nhưng có thể mới chỉ có những thiện cảm mong manh đối với mọi thứ xa hơn nữa và chưa có được thói quen và khả năng xử sự đối với các quyền lợi chung trong một lãnh thổ quốc gia rộng lớn.
Tôi không được biết một thí dụ nào có sẵn trong lịch sử, trong đó một số các nguyên tử hay hạt chính trị như thế lại hợp nhất lại thành một tập thể và học được cách cảm nhận bản thân mình như một dân tộc, ngoại trừ trước đó họ đã trải qua một sự khuất phục trước một quyền uy trung ương chung cho tất cả(*). Chính là thông qua thói quen làm theo cái quyền uy ấy, tham dự vào các kế hoạch của nó và phục vụ cho các mục tiêu của nó mà một tập hợp dân chúng, như chúng ta đã giả định, sẽ thu nhận được vào đầu óc mình khái niệm về các quyền lợi rộng lớn chung cho một lãnh thổ địa lý được mở rộng. Ngược lại, những quyền lợi như thế nhất thiết phải là sự xem xét ưu tiên trong tâm trí của nhà cầm quyền trung ương; và thông qua các mối quan hệ ít nhiều thân thiết mà ông ta gia tăng quan hệ với các địa phương, các quan hệ ấy trở thành quen thuộc đối với tâm trí chung. Sự cạnh tranh thuận lợi nhất của các tình huống mà bước đi ấy được tiến hành, hẳn sẽ là tình huống tạo nên các thiết chế đại diện mà chưa có chính thể đại diện; một hay nhiều cơ quan đại diện rút ra từ các địa phương biến thành trợ thủ và công cụ của quyền lực trung ương, nhưng ít khi nào mưu toan ngáng trở hay kiểm soát nó. Bằng cách thức như thế mà dân chúng được đưa vào hội đồng, dù không chia sẻ quyền lực tối cao, nhưng sự giáo dục chính trị của quyền uy trung ương được thực hiện đúng cách, đạt nhiều hiệu quả hơn so với các cách thức khác đối với các người đứng đầu địa phương và đối với dân chúng nói chung. Trong khi đó một truyền thống duy trì chính quyền bằng sự đồng thuận chung, hay ít nhất cũng không thể có được sự phê chuẩn của truyền thống đối với chính quyền nếu thiếu điều này, thì khi sự đồng thuận được thần thánh hóa thành tục lệ, nó rất thường mang lại một kết thúc tồi tệ cho một khởi đầu tốt và là một trong những nguyên nhân thường gặp của sự bất hạnh đáng buồn đã làm chững lại sự cải tiến ở giai đoạn rất sớm tại rất nhiều nước, bởi vì cách làm của một thời kỳ nào đó lại ngăn trở cách làm của các thời kỳ kế tiếp theo sau. Trong khi ấy người ta lại có thể lại bỏ qua một điều gần như một chân lý chính trị, rằng chính nhờ vua chúa vô trách nhiệm hơn là nhờ chính thể đại diện mà vô số các đơn vị chính trị nhỏ bé có thể được kết nối lại thành một dân tộc với các tình cảm chung của sự cố kết, đủ mạnh để bảo vệ mình chống lại sự chinh phục của ngoại xâm, và có được các công việc đủ đa dạng cũng như đủ lớn lao để lo toan và qua đó, phát huy thích đáng trí tuệ xã hội cũng như chính trị của cư dân.
Vì một số lý do như thế mà một chính thể quân chủ không bị các thiết chế đại diện kìm hãm mà còn được ủng hộ nữa, sẽ là hình thức tổ chức xã hội thích hợp nhất trong các thời kỳ sơ khai của bất cứ cộng đồng nào, không ngoại trừ cả các cộng đồng-đô thị giống như Hy Lạp cổ đại; ở đó sự cai trị của nhà vua đặt dưới sự kiểm soát của công luận thực sự, nhưng không phô trương bề ngoài hay mang tính hiến pháp, đã tạo mọi thiết chế tự do đi trước trong lịch sử với một thời gian có lẽ rất dài, và cuối cùng thì nhường chỗ cho các chế độ tập đoàn trị của một số gia tộc trong một khoảng thời gian cũng rất dài.
Có thể chỉ ra hàng trăm thiếu sót hay kém cỏi khác trong dân chúng, khiến cho họ không đủ tư cách sử dụng được tối ưu chính thể đại diện; thế nhưng về các mặt này cũng không hiển nhiên là sự cai trị của Một Người hay của Một Ít Người lại có xu thế nào đó chữa trị hay làm giảm bớt được sự xấu xa. Các thành kiến rất mạnh đủ loại; tính bảo thủ cố chấp giữ lại các tập quán cũ; các khiếm khuyết rõ ràng trong tính cách dân tộc hay sự ngu dốt thuần túy, và sự thiếu hụt trong bồi dưỡng tính cách, nếu thịnh hành trong dân chúng thì những cái đó sẽ được phản ánh trung thực một cách tổng thể trong các cơ quan đại diện của họ; và nếu như xảy ra chuyện là chính quyền hành pháp, trong việc điều khiển trực tiếp các việc công cộng, lại nắm trong tay những người không có các khiếm khuyết ấy, khi đó thì những người này sẽ thường xuyên làm được nhiều điều tốt hơn, nếu họ không bị cản trở bởi sự cần thiết phải thi hành theo sự chuẩn y của các hội đồng như thế đối với họ. Thế nhưng chỉ riêng địa vị đơn thuần của nhà cầm quyền thì bản thân địa vị ấy không truyền cho họ mối quan tâm và xu hướng hành động theo hướng đem lại lợi ích chung ở trong các trường hợp này, giống như ở các trường hợp khác mà chúng ta đã khảo sát. Từ những yếu kém chung của một dân tộc hay của một tình trạng văn minh, thì Một Người cùng các cố vấn của ông ta, hay Một Ít Người, thường cũng chẳng là ngoại lệ; trừ trường hợp họ là người ngoại bang thuộc về một dân tộc ưu tú hơn hay một tình trạng xã hội tiến bộ hơn. Khi đó quả thực những người cầm quyền có thể là ưu tú hơn về văn minh ở bất cứ mức độ nào, so với những người chịu sự cai trị của họ; và sự khuất phục trước chính quyền ngoại bang như thế, bất chấp những xấu xa không tránh khỏi của nó, thường sẽ là có lợi lớn nhất cho dân chúng, đưa họ nhanh chóng đi qua được nhiều giai đoạn của sự tiến bộ và gạt bỏ đi các trở ngại cho sự cải tiến có thể đã kéo dài vô hạn định, nếu cư dân chịu thần phục bị để mặc cho các cơ hội và xu thế tự nhiên bản địa mà không được trợ giúp. Trong một đất nước không chịu quyền thống trị của ngoại bang, nguyên nhân đầy đủ duy nhất tạo ra được lợi ích tương tự là sự tình cờ hiếm hoi có một nhà vua thiên tài phi thường. Trong lịch sử cũng có được một số ít các nhà vua như thế, may mắn cho nhân loại là họ đã trị vì đủ lâu dài để đem lại một số cải tiến bền lâu bằng cách để lại cho dân chúng một sự bảo vệ của thế hệ đã lớn lên dưới ảnh hưởng của các ông vua ấy. Charlemagne(*) có thể được viện dẫn như một thí dụ; Peter Đại đế(*) là một thí dụ khác. Thế nhưng các thí dụ đó thật thưa thớt, đến mức chúng chỉ được xếp vào những tình cờ may mắn rất thường hay xảy ra vào các thời điểm nguy cấp, những tình cờ quyết định xem một bộ phận dẫn đầu nào đó của nhân loại sẽ chuyển mình bật dậy hay chìm đắm trở lại trong tình trạng dã man: những cơ hội giống như sự hiện hữu của Themistocles(*) vào thời gian cuộc xâm lược của Ba Tư hay của các vua William Orange I và III(*).
Sẽ là chuyện ngớ ngẩn nếu xây dựng các thiết chế thuần túy nhằm mục tiêu khai thác lợi thế của các khả năng như thế; đặc biệt là những người có tầm cỡ đó, dù ở vào bất cứ địa vị ưu tú nào, cũng không đòi hỏi một quyền lực chuyên chế để cho họ có thể sử dụng ảnh hưởng to lớn của mình, như ba trường hợp trên đã minh chứng. Trường hợp đòi hỏi phải xem xét nhiều đến các thiết chế là trường hợp không quá bất thường, trong đó một bộ phận nhỏ nhưng dẫn đầu trong dân chúng, có sự khác biệt về nguồn gốc xuất thân và văn minh hơn hay có các tính dị thường khác do hoàn cảnh, là bộ phận hơn hẳn về văn minh và tính cách chung so với các bộ phận còn lại. Trong các điều kiện như thế, sự cai trị bởi các đại diện của đám đông quần chúng có khả năng làm cho đám đông mất đi nhiều lợi ích mà họ có thể thu được từ tầng lớp có trình độ văn minh cao hơn; trong khi ấy sự cai trị bởi các đại diện của đẳng cấp cao hơn lại có thể làm trầm trọng thêm sự thoái hóa của đám đông, khiến họ không có hy vọng được đối xử tử tế, ngoại trừ việc tự làm mất đi một trong những yếu tố quý giá nhất cho sự tiến bộ trong tương lai. Triển vọng tiến bộ tốt nhất cho một dân tộc có sự kết hợp như thế là sự có mặt của một quyền uy không bị giới hạn về mặt hiến pháp hay ít nhất cũng có nhiều quyền hành thực tế hơn, đặt trong tay một người cầm quyền thuộc tầng lớp ưu tú hơn. Do địa vị của mình nên chỉ riêng một mình ông ta quan tâm tới việc nâng cao và cải tiến khối quần chúng, mà ông ta không hề ghen ghét như đối với một kẻ ngang bằng. Nếu hoàn cảnh may mắn cho phép ông ta có bên cạnh mình một hội đồng đại diện của tầng lớp đặc quyền, nhưng không phải như những người kiểm tra mà như những thuộc cấp, những người này, bằng cách can gián và tra vấn, thỉnh thoảng bộc phát tình cảm và suy nghĩ riêng tư, sẽ giữ cho các thói quen phản kháng tập thể còn tồn tại, và dần dần theo thời gian có thể được thừa nhận để mở rộng thành một sự đại diện quốc dân thật sự (thực chất đó là lịch sử quốc hội nước Anh), khi ấy quốc gia sẽ có các triển vọng thuận lợi nhất cho sự phát triển tiến bộ và là điều hoàn toàn có thể xảy ra cho một cộng đồng có hoàn cảnh và thành phần như vậy.
Trong các khuynh hướng không tuyệt đối làm cho một dân tộc trở thành không thích hợp với chính thể đại diện, nhưng có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cho phép họ hưởng thụ đầy đủ lợi ích của chính thể ấy, có một khuynh hướng đáng chú ý đặc biệt. Có hai tình trạng của khuynh hướng rất khác nhau về bản chất, nhưng lại có cái gì đó chung với nhau vì thường trùng khớp với nhau trong việc định hướng các nỗ lực của các cá nhân và các dân tộc: một là lòng ham muốn áp đặt quyền lực đối với người khác; hai là lòng căm ghét bị áp đặt quyền lực đối với bản thân mình.
Sự khác biệt giữa hai bộ phận khác nhau của nhân loại trong tương quan lực lượng giữa hai khuynh hướng ấy là một trong những yếu tố quan trọng của lịch sử. Có những dân tộc mà đam mê cai trị người khác mạnh hơn nhiều so với ham muốn độc lập cá nhân, đến nỗi chỉ vì cái bóng của cái này mà họ sẵn sàng hy sinh toàn bộ cái kia. Mỗi một người trong số họ đều tự nguyện, giống như anh binh nhì trong quân đội, từ bỏ quyền tự do cá nhân trong hành động để giao nó vào tay vị tướng của anh ta, miễn là quân đội chiến thắng và vinh quang, và anh ta có thể hãnh diện mình là
một người trong đạo quân chinh phục, dù cho sự hình dung rằng bản thân anh ta có được chia phần chút nào trong sự thống trị đặt lên kẻ bị chinh phục chỉ là một ảo tưởng. Một chính thể giới hạn nghiêm ngặt về việc thực thi quyền lực và ban phát quyền lực, đòi hỏi kiềm chế việc can thiệp quá mức vào việc của người khác và để cho phần lớn mọi việc diễn ra không có sự can thiệp của kẻ cầm quyền, chính thể ấy sẽ không hợp khẩu vị của một dân tộc như vậy. Trong con mắt của họ thì những người sở hữu quyền uy khó có thể tự tung tự tác quá nhiều, miễn là bản thân quyền uy mở ngỏ cho sự tranh đua chung. Một cá nhân trung bình trong số họ sẽ ưu tiên lựa chọn cơ hội, dù có xa vời và khó xảy ra đến đâu đi nữa, được chia phần đôi chút về quyền lực để áp đặt lên đồng bào của mình, hơn là lựa chọn sự chắc chắn, cho bản thân mình cũng như cho những người khác, rằng không phải chịu đựng một quyền lực không cần thiết áp đặt lên mình. Đó là các yếu tố của một dân tộc săn tìm địa vị; ở đó đường lối chính trị của họ chủ yếu được xác định bởi sự săn tìm địa vị; ở đó chỉ có sự bình đẳng là được quan tâm chứ không phải sự tự do; ở đó cuộc tranh đoạt của các đảng chính trị chỉ là những cuộc đấu đá để quyết định xem quyền can thiệp vào mọi chuyện sẽ thuộc về giai tầng này hay giai tầng kia, hay có lẽ đúng hơn, sẽ chỉ thuần túy thuộc về nhóm chính khách này hay nhóm chính khách nọ, ở đó ý tưởng ấp ủ của nền dân chủ chỉ thuần túy là mở cửa mọi công sở cho sự tranh đua của mọi người, thay vì của một ít người. Có thể sẽ là vừa không công bằng lại vừa hẹp hòi khi đưa ra chuyện này, hay một thứ gì gần gần như thế, như là bức chân dung thực của dân chúng Pháp; nhưng mức độ mà họ có tham gia vào kiểu mẫu tính cách này đã khiến cho ở Pháp, chính thể đại diện bởi một giai tầng giới hạn thường bị sụp đổ vì nạn tham nhũng lan tràn, và khiến cho mưu toan thiết lập chính thể đại diện của toàn thể cư dân nam giới kết thúc bằng việc trao cho một người quyền lực tống cổ đi Lambessa(*) hay Cayenne(*) biết bao nhiêu người trong số cư dân còn lại mà không cần xét xử, miễn là hắn cho phép tất cả bọn họ nghĩ rằng họ không bị loại ra khỏi khả năng được hắn ưu ái.
Hơn hẳn mọi đặc điểm khác, đặc điểm tính cách khiến cho dân chúng nước này [nước Anh] thích hợp với chính thể đại diện là ở chỗ nói chung, họ có đặc điểm hầu như trái ngược lại với tính cách trên. Họ rất cảnh giác với bất cứ mưu toan nào áp đặt lên họ một quyền lực không được họ thừa nhận vì không có được truyền thống lâu dài và không được họ xem là đúng; nhưng nói chung họ quan tâm rất ít đến việc sử dụng quyền lực áp đặt lên người khác. Họ không có chút thiện cảm nào với niềm đam mê cai trị, trong khi đó lại rất quen thuộc với các động cơ của lợi ích riêng trong việc mưu cầu chức vụ; họ thích chức vụ phải được thực hiện bởi những người không mưu cầu mà nhận được nó như một hệ quả của địa vị xã hội. Nếu những người nước ngoài hiểu được điều này thì có thể sẽ dễ giải thích một số mâu thuẫn bề ngoài trong cảm nhận chính trị của người Anh: sự sẵn sàng không do dự của họ để được cai trị bởi các giai tầng cao hơn kết hợp với rất ít sự quỵ lụy cá nhân đối với các giai tầng ấy, khiến cho không có dân tộc nào lại ưa thích đến thế việc kháng cự lại quyền uy nếu nó vượt quá giới hạn quy định nào đó, hay lại quả quyết đến thế trong việc luôn nhắc nhở những người cầm quyền của họ rằng, họ chỉ tự nguyện để cho cai trị họ trong cách thức mà bản thân họ ưa chuộng nhất. Vì thế, săn tìm địa vị là hình thức tham vọng mà người Anh, xét về mặt dân tộc, hầu như rất xa lạ với nó. Nếu ta không kể một số ít các gia tộc hay bà con họ hàng của người mà sự đảm nhận chức vụ nằm sẵn ngay trên đường, thì quan điểm của người Anh về sự thăng tiến trong đời sống có một phương hướng hoàn toàn khác – đó là thành đạt trong việc làm ăn hay trong một nghề nghiệp. Họ có sự ghê tởm mạnh mẽ nhất đối với bất cứ cuộc đấu đá đơn thuần
4
TRONG CÁC ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI NÀO CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN KHÔNG THỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC
Chúng ta đã nhận ra rằng chính thể mang tính đại diện là loại hình lý tưởng của tổ chức xã hội hoàn hảo nhất, mà một bộ phận nhất định của nhân loại càng có mức độ phát triển cao bao nhiêu thì nó càng thích hợp hơn bấy nhiêu. Trình độ phát triển văn hóa càng thấp kém thì hình thức chính thể ấy nói chung càng ít thích hợp hơn; tuy rằng điều này không phải đúng một cách phổ quát, vì sự thích ứng của một dân tộc đối với chính thể đại diện không phụ thuộc nhiều lắm vào vị trí của họ trong bảng thứ hạng chung của loài người mà phụ thuộc nhiều hơn vào mức độ họ sở hữu các điều kiện cần thiết riêng biệt; thế nhưng các điều kiện cần thiết này lại liên quan khá chặt chẽ với trình độ tiến bộ chung của họ đến nỗi sự sai biệt giữa hai mức độ này là ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Trước hết, chúng ta hãy khảo sát xem: đến điểm nào thì chính thể đại diện hoàn toàn không thể áp dụng được, hoặc vì nó không thích hợp, hoặc vì có một hình thức khác thích hợp hơn.
Trước hết, cũng như bất cứ hình thức chính thể nào khác, chính thể đại diện là không thích hợp vì không thể tồn tại bền vững được khi nó không đáp ứng ba điều kiện cơ bản liệt kê ở chương đầu. Các điều kiện đó là – 1. Dân chúng cần phải thuận nguyện chấp nhận nó. 2. Họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó. 3. Họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Sự thuận nguyện của dân chúng chấp nhận chính thể đại diện chỉ trở thành vấn đề thực tiễn, khi có một người cầm quyền khai minh, hoặc một hay nhiều ngoại bang có ảnh hưởng quyết định lên số phận của một dân tộc, có ý định đưa ra yêu cầu thiết lập nó. Đối với các nhà cải cách mang tính cá nhân thì đây không phải là vấn đề, vì nếu ngay từ đầu không có phương án nào khác chống lại ý đồ của họ, ngoài việc ý kiến của dân chúng hãy còn chưa ở phía họ, thì họ đã có sẵn câu trả lời thích đáng, đó là cố giành lấy sự ủng hộ của dân chúng về phía mình. Khi công luận quả thực là chống đối thì sự thù địch thường nhằm vào sự đổi thay hơn là nhằm vào bản thân chính thể đại diện. Trường hợp chống đối như thế cũng không phải là không có; đôi khi có một ác cảm mang tính tôn giáo chống lại bất kỳ sự giới hạn quyền lực nào đối với tập đoàn cầm quyền nào đó, nhưng nói chung bài học về sự tuân phục thụ động chỉ có nghĩa là sự quy phục trước các quyền lực hiện hành, dù là quân chủ hay nhân dân. Trong mọi trường hợp, khi toan tính lập nên chính thể đại diện có vẻ như được thực hiện đôi chút nào đó, thì trở ngại được dự báo là ở sự lãnh đạm đối với nó và sự không hiểu biết các quá trình cũng như các đòi hỏi của nó, hơn là ở sự chống đối trực diện. Tuy nhiên những yếu tố này cũng rất tai hại và khó hóa giải không kém sự căm ghét thực thụ; vì trong đa số các trường hợp, thay đổi phương hướng của một tình cảm tích cực còn dễ dàng hơn tạo ra nó ở một trạng thái trước đây thụ động. Khi một dân chúng không biết trân trọng hiến pháp mang tính đại diện cũng như không đủ gắn bó với nó, thì sau đó cũng chẳng có cơ may là họ sẽ duy trì được hiến pháp ấy. Ở đất nước nào thì nền hành pháp cũng là nhánh chính quyền nắm giữ quyền hành trước mắt và tiếp xúc trực tiếp với công chúng; về nguyên tắc mọi hy vọng cũng như e sợ của các cá nhân đều hướng tới nó và nó đại diện cả việc làm tốt lẫn sự uy hiếp cùng uy tín của chính quyền trước con mắt công chúng. Cho nên nếu cơ quan có trách nhiệm kiểm tra giám sát hành pháp mà không có các quan chức có uy tín, được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi tình cảm và công luận trong nước, thì cơ quan hành pháp sẽ luôn có cách đẩy họ qua một bên hoặc ép buộc họ phải phục vụ cho nó và nó tin chắc sẽ nhận được sự ủng hộ trong việc làm như thế. Các thiết chế đại diện nhất thiết phải phụ thuộc vào sự sẵn sàng của dân chúng tranh đấu cho các thiết chế ấy trong trường hợp chúng có nguy cơ bị đe dọa. Nếu chuyện này ít được coi trọng, các thiết chế đại diện sẽ hiếm khi nào có được đôi chút địa vị vững chắc, và nếu có thì chắc chẳng bao lâu rồi cũng sẽ bị đánh đổ, một khi người cầm đầu chính quyền, hay lãnh tụ của chính đảng, tập trung sức mạnh ra tay (coup de main) mạo hiểm để giành lấy quyền lực tuyệt đối.
Các xem xét này liên quan tới hai nguyên nhân đầu tiên cho sự thất bại của chính thể đại diện. Nguyên nhân thứ ba là khi dân chúng thiếu ý chí hay khả năng thực hiện phần trách nhiệm thuộc về họ ở trong một hiến pháp đại diện. Khi chẳng có ai, hay chỉ một phe nhóm nhỏ nào đó, cảm thấy có mức độ quan tâm đến việc chung của Nhà nước, sự quan tâm cần thiết để hình thành công luận, lúc đó các cử tri sẽ chẳng mấy khi sử dụng tới quyền bỏ phiếu, trừ phi để phục vụ cho quyền lợi riêng, cho quyền lợi địa phương, hay cho quyền lợi của những kẻ mà họ có quan hệ chặt chẽ và bị phụ thuộc. Trong tình trạng của công chúng như vậy thì giai cấp nhỏ bé giành được quyền chỉ huy các cơ quan đại diện phần nhiều sẽ sử dụng chúng đơn thuần như phương tiện tìm kiếm vận may cho riêng mình. Nếu hành pháp yếu ớt thì đất nước sẽ rối loạn trong các cuộc đấu đá giành địa vị; nếu hành pháp mạnh mẽ thì nó sẽ tự biến mình thành chuyên chế, với giá rẻ của sự thỏa hiệp vô nguyên tắc bằng cách chia nhau chiến lợi phẩm cùng người đại diện, nhất là những người có khả năng gây phiền nhiễu; kết quả duy nhất của sự đại diện quốc gia là ngoài những kẻ thực sự cai trị thì còn có thêm một quốc hội chia năm xẻ bảy trước công chúng và chẳng có phe nào trong quốc hội có vẻ quan tâm chút ít đến việc dẹp bỏ sự lộng quyền. Thế nhưng nếu sự xấu xa dừng lại ở đây thì có thể cái giá ấy cũng đáng trả cho sự công khai và sự tranh cãi, vì, tuy không ổn định, nhưng dù sao vẫn là hai đặc điểm luôn đi kèm theo bất cứ tính đại diện nào, ngay cả sự đại diện chỉ trên danh nghĩa. Thí dụ như ở Vương quốc Hy Lạp hiện đại(*), không còn nghi ngờ nào nữa rằng những kẻ săn tìm địa vị (place-hunters) chiếm hầu hết thành phần quốc hội đại diện, dù đóng góp rất ít hay chẳng chút nào cho sự cai trị tốt mà cũng chẳng làm giảm đi được bao nhiêu quyền lực tùy tiện của hành pháp, nhưng vẫn còn duy trì được ý tưởng về quyền của dân chúng và đóng góp nhiều cho quyền tự do báo chí được tồn tại ở đất nước này. Tuy nhiên, điều tốt lành ấy đòi hỏi điều kiện tiên quyết là bên cạnh cơ quan đại diện nhân dân phải có một chế độ quân chủ thế tập. Nếu như thay vì tranh đấu để ủng hộ cho người cầm quyền đứng đầu ấy, các phe nhóm vị kỷ và hèn hạ lại đấu đá cho địa vị đứng đầu của bản thân mình, chúng có thể đưa đất nước, giống như châu Mỹ thuộc Tây Ban Nha, vào trong tình trạng cách mạng và nội chiến liên miên. Một chuỗi dài những cuộc phiêu lưu chính trị sẽ nối nhau thực hiện một chế độ chuyên chế không dựa trên pháp luật mà chỉ dựa vào bạo lực; và danh hiệu lẫn hình thức của chính thể đại diện chỉ được dùng để làm cho chế độ quân chủ không thể đạt được sự ổn định và vững chắc hầu giảm bớt đi những tệ nạn ấy.
Những điều trình bày ở trên là các trường hợp mà chính thể đại diện không thể tồn tại bền lâu. Còn có những trường hợp khác mà chính thể đại diện tuy cũng có thể tồn tại, nhưng một hình thức chính thể khác có khi là thích đáng hơn. Về nguyên tắc, đó là những trường hợp, khi mà để tiến lên nền văn minh, dân chúng cần phải học được một số bài học, tiếp thu được một số thói quen, nhưng chính thể đại diện có lẽ sẽ là trở ngại cho việc tiếp thu những cái đó.
Trường hợp hiển nhiên nhất trong số này là trường hợp đã được xét đến, khi mà dân chúng còn phải học bài học đầu tiên của nền văn minh là sự tuân phục. Một chủng tộc đã từng được tôi luyện sức mạnh và lòng can đảm trong các cuộc đấu tranh với thiên nhiên và các láng giềng của họ, nhưng hãy còn chưa vững vàng trong việc tuân phục thường trực với bất cứ cấp trên chung nào, sẽ ít có khả năng tiếp thu được thói quen này dưới chính quyền tập thể của chính chủng tộc đó. Một quốc hội đại diện rút ra từ chính số người này có thể sẽ chỉ giản đơn phản ánh sự bất phục tòng hỗn loạn của họ. Quyền uy của quốc hội có thể sẽ bị khước từ trong mọi thủ tục mà nó đặt ra nhằm cải thiện phần nào tính độc lập hoang dã của họ. Kiểu cách mà các bộ tộc này thường được dạy cho biết phục tùng theo các điều kiện sơ đẳng của xã hội văn minh là thông qua nhu cầu chiến tranh và dựa vào quyền uy chuyên chế không thay thế được của kẻ chỉ huy quân sự. Một lãnh tụ quân đội là cấp trên duy nhất mà họ phục tùng, ngoại trừ nhà tiên tri thỉnh thoảng được coi là thượng đế truyền cho linh cảm hay pháp sư được xem như có quyền năng phi thường. Những người này có thể có uy lực nhất thời, nhưng vì thuần túy mang tính cá nhân nên hiếm khi tạo ra thay đổi trong tập quán chung của dân chúng, trừ trường hợp nhà tiên tri như Mahomed, cũng đồng thời là nhà chỉ huy quân sự, tiến lên thành ông tổ truyền đạo có vũ trang của một tôn giáo mới; hoặc trừ phi các chỉ huy quân sự liên minh với ảnh hưởng của ông ta và biến nó thành chỗ dựa cho việc cai trị của họ.
Một dân tộc cũng không thích hợp với chính thể đại diện, khi có khuyết điểm ngược lại với khuyết điểm trên, đó là sự thụ động thái quá và sẵn sàng tuân phục bạo chúa. Nếu một dân chúng có tính cách phục tùng đến như thế và nhờ hoàn cảnh mà có thể nhận được các thiết chế đại diện, họ nhất định sẽ lựa chọn các bạo chúa của họ làm đại điện cho họ và cái ách có thể được tạo ra còn nặng nề hơn đối với họ bởi kỹ xảo mới thoạt nhìn (prima facie) tưởng chừng có vẻ như làm nhẹ đi. Ngược lại, nhiều trường hợp một dân chúng từ từ thoát khỏi các điều kiện ấy nhờ sự giúp đỡ của một quyền lực trung ương mà địa vị đó làm cho nó trở thành đối thủ của các lãnh chúa địa phương và kết thúc bằng việc trở thành ông chủ của các lãnh chúa ấy, điều đáng kể nhất đó là ông chủ một mình. Lịch sử nước Pháp từ Hugh Capet(*) tới Richelieu(*) và Louis XIV(*) là một thí dụ sự việc diễn biến liên tục theo hướng đó. Ngay cả khi nhà vua không hùng mạnh hơn các lãnh chúa của ông ta bao nhiêu, thì những lợi thế rất lớn mà ông ta khai thác được từ địa vị độc tôn của mình, đều được các sử gia Pháp thừa nhận. Tất cả những người bị áp bức ở các địa phương đều ngước mắt hướng về phía ông ta; ông ta là đối tượng của hy vọng và niềm tin ở khắp mọi nơi trong vương quốc; trong khi đó mỗi kẻ thống trị địa phương chỉ hùng mạnh ở một phạm vi không gian ít nhiều giới hạn. Từ khắp nơi trong nước người ta tìm kiếm nơi ẩn náu và sự che chở ở dưới cánh tay của ông ta để chống lại một kẻ này rồi một kẻ khác trong những kẻ đàn áp trực tiếp. Uy thế của ông ta tiến bộ chậm chạp, nhưng nó là kết quả của việc sử dụng thành công lợi thế mà cơ hội chỉ dành riêng cho ông ta. Chắc chắn là cùng song hành với tiến trình này, tập quán phục tùng sự đàn áp cũng giảm bớt theo. Quyền lợi của nhà vua là ở chỗ cổ vũ mọi mưu toan cục bộ của các nông nô nhằm giải phóng mình thoát khỏi các ông chủ của họ và đặt mình dưới sự thần phục trực tiếp bản thân ông ta. Dưới sự bảo trợ của ông ta đã hình thành rất nhiều cộng đồng không biết một ai khác trên đầu ngoài nhà vua. Tuân phục theo nhà vua ở một khoảng cách, tự bản thân nó đã là sự tự do, so với quyền thống trị của viên lãnh chúa ở trong lâu đài ngay sát cạnh; và nhà vua, suốt thời gian dài, buộc phải ở vị thế thi hành quyền uy của mình như một đồng minh hơn là một ông chủ của các giai tầng mà ông ta giúp đỡ giải phóng họ. Bằng cung cách như thế, một quyền lực trung ương, về nguyên tắc là chuyên chế, nhưng trên thực tế nói chung bị giới hạn nhiều, đã là công cụ đưa dân chúng trải qua giai đoạn cải tiến cần thiết, điều khó có thể đạt được bằng một chính thể đại diện. Ở châu Âu [thời của Mill], vẫn còn có những nơi phải trải qua con đường này vì không có con đường khác. Ở một nước như nước Nga, hầu như chỉ có một chính quyền chuyên chế hoặc một cuộc thảm sát toàn thể mới có thể đem lại sự giải phóng cho nông nô.
Cũng là các diễn biến lịch sử đã minh họa thật thuyết phục một kiểu cách khác nữa, ở đó một nền quân chủ không giới hạn đã vượt qua được các chướng ngại trên con đường tiến bộ; những chướng ngại mà một chính thể đại diện, do khuynh hướng tự nhiên của nó, có khi lại làm cho trầm trọng thêm. Một trong các trở ngại mạnh nhất đối với sự cải tiến, ngay cả tới giai đoạn tiến bộ rồi, chính là tinh thần địa phương thâm căn cố đế. Một số bộ phận nhân loại, về nhiều phương diện khác, tỏ ra có khả năng và sẵn sàng cho nền tự do, có thể lại không đủ trình độ để hợp nhất thành một dân tộc, dù là nhỏ nhất. Không phải chỉ có tính ganh ghét và ác cảm khiến họ không ưa nhau và ngăn cản mọi khả năng cho một sự hợp nhất tự nguyện, nhưng có thể họ còn chưa tiếp thu được bất cứ tình cảm và tập quán nào khả dĩ làm cho sự hợp nhất trở thành hiện thực, giả sử như sự hợp nhất được hoàn thành về danh nghĩa. Họ có thể giống như các công dân của một cộng đồng cổ đại hay cư dân của một làng xã châu Á, đã có được khá nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các khả năng của họ ở các tập thể làng xã hay đô thị, và thậm chí đã thực hiện được một chính quyền nhân dân tương đối hiệu quả ở tầm vóc giới hạn ấy, nhưng có thể mới chỉ có những thiện cảm mong manh đối với mọi thứ xa hơn nữa và chưa có được thói quen và khả năng xử sự đối với các quyền lợi chung trong một lãnh thổ quốc gia rộng lớn.
Tôi không được biết một thí dụ nào có sẵn trong lịch sử, trong đó một số các nguyên tử hay hạt chính trị như thế lại hợp nhất lại thành một tập thể và học được cách cảm nhận bản thân mình như một dân tộc, ngoại trừ trước đó họ đã trải qua một sự khuất phục trước một quyền uy trung ương chung cho tất cả(*). Chính là thông qua thói quen làm theo cái quyền uy ấy, tham dự vào các kế hoạch của nó và phục vụ cho các mục tiêu của nó mà một tập hợp dân chúng, như chúng ta đã giả định, sẽ thu nhận được vào đầu óc mình khái niệm về các quyền lợi rộng lớn chung cho một lãnh thổ địa lý được mở rộng. Ngược lại, những quyền lợi như thế nhất thiết phải là sự xem xét ưu tiên trong tâm trí của nhà cầm quyền trung ương; và thông qua các mối quan hệ ít nhiều thân thiết mà ông ta gia tăng quan hệ với các địa phương, các quan hệ ấy trở thành quen thuộc đối với tâm trí chung. Sự cạnh tranh thuận lợi nhất của các tình huống mà bước đi ấy được tiến hành, hẳn sẽ là tình huống tạo nên các thiết chế đại diện mà chưa có chính thể đại diện; một hay nhiều cơ quan đại diện rút ra từ các địa phương biến thành trợ thủ và công cụ của quyền lực trung ương, nhưng ít khi nào mưu toan ngáng trở hay kiểm soát nó. Bằng cách thức như thế mà dân chúng được đưa vào hội đồng, dù không chia sẻ quyền lực tối cao, nhưng sự giáo dục chính trị của quyền uy trung ương được thực hiện đúng cách, đạt nhiều hiệu quả hơn so với các cách thức khác đối với các người đứng đầu địa phương và đối với dân chúng nói chung. Trong khi đó một truyền thống duy trì chính quyền bằng sự đồng thuận chung, hay ít nhất cũng không thể có được sự phê chuẩn của truyền thống đối với chính quyền nếu thiếu điều này, thì khi sự đồng thuận được thần thánh hóa thành tục lệ, nó rất thường mang lại một kết thúc tồi tệ cho một khởi đầu tốt và là một trong những nguyên nhân thường gặp của sự bất hạnh đáng buồn đã làm chững lại sự cải tiến ở giai đoạn rất sớm tại rất nhiều nước, bởi vì cách làm của một thời kỳ nào đó lại ngăn trở cách làm của các thời kỳ kế tiếp theo sau. Trong khi ấy người ta lại có thể lại bỏ qua một điều gần như một chân lý chính trị, rằng chính nhờ vua chúa vô trách nhiệm hơn là nhờ chính thể đại diện mà vô số các đơn vị chính trị nhỏ bé có thể được kết nối lại thành một dân tộc với các tình cảm chung của sự cố kết, đủ mạnh để bảo vệ mình chống lại sự chinh phục của ngoại xâm, và có được các công việc đủ đa dạng cũng như đủ lớn lao để lo toan và qua đó, phát huy thích đáng trí tuệ xã hội cũng như chính trị của cư dân.
Vì một số lý do như thế mà một chính thể quân chủ không bị các thiết chế đại diện kìm hãm mà còn được ủng hộ nữa, sẽ là hình thức tổ chức xã hội thích hợp nhất trong các thời kỳ sơ khai của bất cứ cộng đồng nào, không ngoại trừ cả các cộng đồng-đô thị giống như Hy Lạp cổ đại; ở đó sự cai trị của nhà vua đặt dưới sự kiểm soát của công luận thực sự, nhưng không phô trương bề ngoài hay mang tính hiến pháp, đã tạo mọi thiết chế tự do đi trước trong lịch sử với một thời gian có lẽ rất dài, và cuối cùng thì nhường chỗ cho các chế độ tập đoàn trị của một số gia tộc trong một khoảng thời gian cũng rất dài.
Có thể chỉ ra hàng trăm thiếu sót hay kém cỏi khác trong dân chúng, khiến cho họ không đủ tư cách sử dụng được tối ưu chính thể đại diện; thế nhưng về các mặt này cũng không hiển nhiên là sự cai trị của Một Người hay của Một Ít Người lại có xu thế nào đó chữa trị hay làm giảm bớt được sự xấu xa. Các thành kiến rất mạnh đủ loại; tính bảo thủ cố chấp giữ lại các tập quán cũ; các khiếm khuyết rõ ràng trong tính cách dân tộc hay sự ngu dốt thuần túy, và sự thiếu hụt trong bồi dưỡng tính cách, nếu thịnh hành trong dân chúng thì những cái đó sẽ được phản ánh trung thực một cách tổng thể trong các cơ quan đại diện của họ; và nếu như xảy ra chuyện là chính quyền hành pháp, trong việc điều khiển trực tiếp các việc công cộng, lại nắm trong tay những người không có các khiếm khuyết ấy, khi đó thì những người này sẽ thường xuyên làm được nhiều điều tốt hơn, nếu họ không bị cản trở bởi sự cần thiết phải thi hành theo sự chuẩn y của các hội đồng như thế đối với họ. Thế nhưng chỉ riêng địa vị đơn thuần của nhà cầm quyền thì bản thân địa vị ấy không truyền cho họ mối quan tâm và xu hướng hành động theo hướng đem lại lợi ích chung ở trong các trường hợp này, giống như ở các trường hợp khác mà chúng ta đã khảo sát. Từ những yếu kém chung của một dân tộc hay của một tình trạng văn minh, thì Một Người cùng các cố vấn của ông ta, hay Một Ít Người, thường cũng chẳng là ngoại lệ; trừ trường hợp họ là người ngoại bang thuộc về một dân tộc ưu tú hơn hay một tình trạng xã hội tiến bộ hơn. Khi đó quả thực những người cầm quyền có thể là ưu tú hơn về văn minh ở bất cứ mức độ nào, so với những người chịu sự cai trị của họ; và sự khuất phục trước chính quyền ngoại bang như thế, bất chấp những xấu xa không tránh khỏi của nó, thường sẽ là có lợi lớn nhất cho dân chúng, đưa họ nhanh chóng đi qua được nhiều giai đoạn của sự tiến bộ và gạt bỏ đi các trở ngại cho sự cải tiến có thể đã kéo dài vô hạn định, nếu cư dân chịu thần phục bị để mặc cho các cơ hội và xu thế tự nhiên bản địa mà không được trợ giúp. Trong một đất nước không chịu quyền thống trị của ngoại bang, nguyên nhân đầy đủ duy nhất tạo ra được lợi ích tương tự là sự tình cờ hiếm hoi có một nhà vua thiên tài phi thường. Trong lịch sử cũng có được một số ít các nhà vua như thế, may mắn cho nhân loại là họ đã trị vì đủ lâu dài để đem lại một số cải tiến bền lâu bằng cách để lại cho dân chúng một sự bảo vệ của thế hệ đã lớn lên dưới ảnh hưởng của các ông vua ấy. Charlemagne(*) có thể được viện dẫn như một thí dụ; Peter Đại đế(*) là một thí dụ khác. Thế nhưng các thí dụ đó thật thưa thớt, đến mức chúng chỉ được xếp vào những tình cờ may mắn rất thường hay xảy ra vào các thời điểm nguy cấp, những tình cờ quyết định xem một bộ phận dẫn đầu nào đó của nhân loại sẽ chuyển mình bật dậy hay chìm đắm trở lại trong tình trạng dã man: những cơ hội giống như sự hiện hữu của Themistocles(*) vào thời gian cuộc xâm lược của Ba Tư hay của các vua William Orange I và III(*).
Sẽ là chuyện ngớ ngẩn nếu xây dựng các thiết chế thuần túy nhằm mục tiêu khai thác lợi thế của các khả năng như thế; đặc biệt là những người có tầm cỡ đó, dù ở vào bất cứ địa vị ưu tú nào, cũng không đòi hỏi một quyền lực chuyên chế để cho họ có thể sử dụng ảnh hưởng to lớn của mình, như ba trường hợp trên đã minh chứng. Trường hợp đòi hỏi phải xem xét nhiều đến các thiết chế là trường hợp không quá bất thường, trong đó một bộ phận nhỏ nhưng dẫn đầu trong dân chúng, có sự khác biệt về nguồn gốc xuất thân và văn minh hơn hay có các tính dị thường khác do hoàn cảnh, là bộ phận hơn hẳn về văn minh và tính cách chung so với các bộ phận còn lại. Trong các điều kiện như thế, sự cai trị bởi các đại diện của đám đông quần chúng có khả năng làm cho đám đông mất đi nhiều lợi ích mà họ có thể thu được từ tầng lớp có trình độ văn minh cao hơn; trong khi ấy sự cai trị bởi các đại diện của đẳng cấp cao hơn lại có thể làm trầm trọng thêm sự thoái hóa của đám đông, khiến họ không có hy vọng được đối xử tử tế, ngoại trừ việc tự làm mất đi một trong những yếu tố quý giá nhất cho sự tiến bộ trong tương lai. Triển vọng tiến bộ tốt nhất cho một dân tộc có sự kết hợp như thế là sự có mặt của một quyền uy không bị giới hạn về mặt hiến pháp hay ít nhất cũng có nhiều quyền hành thực tế hơn, đặt trong tay một người cầm quyền thuộc tầng lớp ưu tú hơn. Do địa vị của mình nên chỉ riêng một mình ông ta quan tâm tới việc nâng cao và cải tiến khối quần chúng, mà ông ta không hề ghen ghét như đối với một kẻ ngang bằng. Nếu hoàn cảnh may mắn cho phép ông ta có bên cạnh mình một hội đồng đại diện của tầng lớp đặc quyền, nhưng không phải như những người kiểm tra mà như những thuộc cấp, những người này, bằng cách can gián và tra vấn, thỉnh thoảng bộc phát tình cảm và suy nghĩ riêng tư, sẽ giữ cho các thói quen phản kháng tập thể còn tồn tại, và dần dần theo thời gian có thể được thừa nhận để mở rộng thành một sự đại diện quốc dân thật sự (thực chất đó là lịch sử quốc hội nước Anh), khi ấy quốc gia sẽ có các triển vọng thuận lợi nhất cho sự phát triển tiến bộ và là điều hoàn toàn có thể xảy ra cho một cộng đồng có hoàn cảnh và thành phần như vậy.
Trong các khuynh hướng không tuyệt đối làm cho một dân tộc trở thành không thích hợp với chính thể đại diện, nhưng có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cho phép họ hưởng thụ đầy đủ lợi ích của chính thể ấy, có một khuynh hướng đáng chú ý đặc biệt. Có hai tình trạng của khuynh hướng rất khác nhau về bản chất, nhưng lại có cái gì đó chung với nhau vì thường trùng khớp với nhau trong việc định hướng các nỗ lực của các cá nhân và các dân tộc: một là lòng ham muốn áp đặt quyền lực đối với người khác; hai là lòng căm ghét bị áp đặt quyền lực đối với bản thân mình.
Sự khác biệt giữa hai bộ phận khác nhau của nhân loại trong tương quan lực lượng giữa hai khuynh hướng ấy là một trong những yếu tố quan trọng của lịch sử. Có những dân tộc mà đam mê cai trị người khác mạnh hơn nhiều so với ham muốn độc lập cá nhân, đến nỗi chỉ vì cái bóng của cái này mà họ sẵn sàng hy sinh toàn bộ cái kia. Mỗi một người trong số họ đều tự nguyện, giống như anh binh nhì trong quân đội, từ bỏ quyền tự do cá nhân trong hành động để giao nó vào tay vị tướng của anh ta, miễn là quân đội chiến thắng và vinh quang, và anh ta có thể hãnh diện mình là một người trong đạo quân chinh phục, dù cho sự hình dung rằng bản thân anh ta có được chia phần chút nào trong sự thống trị đặt lên kẻ bị chinh phục chỉ là một ảo tưởng. Một chính thể giới hạn nghiêm ngặt về việc thực thi quyền lực và ban phát quyền lực, đòi hỏi kiềm chế việc can thiệp quá mức vào việc của người khác và để cho phần lớn mọi việc diễn ra không có sự can thiệp của kẻ cầm quyền, chính thể ấy sẽ không hợp khẩu vị của một dân tộc như vậy. Trong con mắt của họ thì những người sở hữu quyền uy khó có thể tự tung tự tác quá nhiều, miễn là bản thân quyền uy mở ngỏ cho sự tranh đua chung. Một cá nhân trung bình trong số họ sẽ ưu tiên lựa chọn cơ hội, dù có xa vời và khó xảy ra đến đâu đi nữa, được chia phần đôi chút về quyền lực để áp đặt lên đồng bào của mình, hơn là lựa chọn sự chắc chắn, cho bản thân mình cũng như cho những người khác, rằng không phải chịu đựng một quyền lực không cần thiết áp đặt lên mình. Đó là các yếu tố của một dân tộc săn tìm địa vị; ở đó đường lối chính trị của họ chủ yếu được xác định bởi sự săn tìm địa vị; ở đó chỉ có sự bình đẳng là được quan tâm chứ không phải sự tự do; ở đó cuộc tranh đoạt của các đảng chính trị chỉ là những cuộc đấu đá để quyết định xem quyền can thiệp vào mọi chuyện sẽ thuộc về giai tầng này hay giai tầng kia, hay có lẽ đúng hơn, sẽ chỉ thuần túy thuộc về nhóm chính khách này hay nhóm chính khách nọ, ở đó ý tưởng ấp ủ của nền dân chủ chỉ thuần túy là mở cửa mọi công sở cho sự tranh đua của mọi người, thay vì của một ít người. Có thể sẽ là vừa không công bằng lại vừa hẹp hòi khi đưa ra chuyện này, hay một thứ gì gần gần như thế, như là bức chân dung thực của dân chúng Pháp; nhưng mức độ mà họ có tham gia vào kiểu mẫu tính cách này đã khiến cho ở Pháp, chính thể đại diện bởi một giai tầng giới hạn thường bị sụp đổ vì nạn tham nhũng lan tràn, và khiến cho mưu toan thiết lập chính thể đại diện của toàn thể cư dân nam giới kết thúc bằng việc trao cho một người quyền lực tống cổ đi Lambessa(*) hay Cayenne(*) biết bao nhiêu người trong số cư dân còn lại mà không cần xét xử, miễn là hắn cho phép tất cả bọn họ nghĩ rằng họ không bị loại ra khỏi khả năng được hắn ưu ái.
Hơn hẳn mọi đặc điểm khác, đặc điểm tính cách khiến cho dân chúng nước này [nước Anh] thích hợp với chính thể đại diện là ở chỗ nói chung, họ có đặc điểm hầu như trái ngược lại với tính cách trên. Họ rất cảnh giác với bất cứ mưu toan nào áp đặt lên họ một quyền lực không được họ thừa nhận vì không có được truyền thống lâu dài và không được họ xem là đúng; nhưng nói chung họ quan tâm rất ít đến việc sử dụng quyền lực áp đặt lên người khác. Họ không có chút thiện cảm nào với niềm đam mê cai trị, trong khi đó lại rất quen thuộc với các động cơ của lợi ích riêng trong việc mưu cầu chức vụ; họ thích chức vụ phải được thực hiện bởi những người không mưu cầu mà nhận được nó như một hệ quả của địa vị xã hội. Nếu những người nước ngoài hiểu được điều này thì có thể sẽ dễ giải thích một số mâu thuẫn bề ngoài trong cảm nhận chính trị của người Anh: sự sẵn sàng không do dự của họ để được cai trị bởi các giai tầng cao hơn kết hợp với rất ít sự quỵ lụy cá nhân đối với các giai tầng ấy, khiến cho không có dân tộc nào lại ưa thích đến thế việc kháng cự lại quyền uy nếu nó vượt quá giới hạn quy định nào đó, hay lại quả quyết đến thế trong việc luôn nhắc nhở những người cầm quyền của họ rằng, họ chỉ tự nguyện để cho cai trị họ trong cách thức mà bản thân họ ưa chuộng nhất. Vì thế, săn tìm địa vị là hình thức tham vọng mà người Anh, xét về mặt dân tộc, hầu như rất xa lạ với nó. Nếu ta không kể một số ít các gia tộc hay bà con họ hàng của người mà sự đảm nhận chức vụ nằm sẵn ngay trên đường, thì quan điểm của người Anh về sự thăng tiến trong đời sống có một phương hướng hoàn toàn khác – đó là thành đạt trong việc làm ăn hay trong một nghề nghiệp. Họ có sự ghê tởm mạnh mẽ nhất đối với bất cứ cuộc đấu đá đơn thuần nào vì chức vụ giữa các cá nhân hay đảng phái chính trị; họ không ghê tởm gì hơn là chuyện tống thêm nhiều biên chế: một chuyện, trái lại, luôn được ưa chuộng nơi các dân tộc quan liêu nặng nề ở Lục địa, các dân tộc này thà chịu trả thêm thuế còn hơn là chịu giảm bớt chút ít cơ hội cá nhân giành một địa vị cho bản thân hay cho họ hàng; một lời kêu gọi tiết giảm trong các dân tộc này không bao giờ có nghĩa là bãi bỏ bớt các chức vụ mà có nghĩa là giảm bớt tiền lương của các chức vụ quá cao đối với các công dân bình thường để họ có chút cơ may được bổ nhiệm vào đó.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
