Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 3: Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận (Phần 6)
25. TÍNH ĐA BIẾN CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC NGHIỆM
Nhà sử luận cho rằng không thể áp dụng phương pháp thực nghiệm cho các bộ môn khoa học xã hội, vì trong lĩnh vực xã hội chúng ta không thể tùy ý tái tạo một cách chính xác các điều kiện thực nghiệm giống nhau. Điều này đưa chúng ta đến gần hơn chút nữa với cái cốt lõi của thuyết sử luận. Tôi thừa nhận lời tuyên bố này có phần nào đúng: chắc chắn là có một số khác biệt giữa các phương pháp vật lí và các phương pháp xã hội học. Tuy nhiên, tôi khẳng định rằng thuyết sử luận được xây dựng trên cơ sở một sự ngộ nhận thô thiển về những phương pháp thực nghiệm của vật lí học.
Trước tiên, ta hãy xem xét các phương pháp này. Mọi nhà vật lí thực nghiệm đều biết rằng trong những điều kiện có vẻ như hoàn toàn giống nhau vẫn có thể xảy ra những hiện tượng không giống nhau chút nào. Thoạt nhìn hai đoạn dây điện trông có thể giống hệt nhau, nhưng nếu thay đổi vị trí của chúng cho nhau trong một cái máy điện, thì sự khác biệt nảy sinh có thể sẽ rất lớn. Xem xét kĩ lưỡng hơn chút nữa (ví dụ, qua một kính hiển vi), chúng ta có thể thấy chúng không giống nhau như thoạt đầu. Nhưng thông thường thì rất khó tìm được sự khác biệt về điều kiện của hai thí nghiệm dẫn đến các kết quả khác nhau. Phải có những công trình nghiên cứu thực nghiệm cũng như lí thuyết dài hơi để tìm ra được sự giống nhau nào là quan trọng, và giống nhau đến mức độ nào là đủ. Lẽ ra việc nghiên cứu này phải được tiến hành trước, rồi sau đó ta mới có khả năng đảm bảo các điều kiện giống nhau cho các thí nghiệm của mình, và thậm chí ta mới biết những “điều kiện giống nhau” trong trường hợp này nghĩa là gì. Thế nhưng, phương pháp thực nghiệm vẫn luôn được người ta áp dụng.
Như vậy, chúng ta có thể nói rằng, câu hỏi cái gì được coi như những “điều kiện giống nhau” là một câu hỏi phụ thuộc hoàn toàn vào việc ta đang tiến hành loại thí nghiệm nào, và chỉ có thể được trả lời thông qua thực nghiệm, về bất kể sự khác biệt hay sự giống nhau nào được quan sát thấy, dù hiển nhiên đến đâu, chúng ta cũng không thể khẳng định một cách tiên nghiệm xem liệu chúng có quan trọng hay không cho mục đích tái lập một thí nghiệm. Cho nên chúng ta đành phải để cho phương pháp thực nghiệm tự lo lấy việc này.
Vấn đề còn nhiều tranh cãi về việc phải cách li các thí nghiệm một cách nhân tạo khỏi các tác nhân gây nhiễu loạn cũng giống như vậy. Rõ ràng, chúng ta không thể cách li một thiết bị chống lại mọi tác động bên ngoài; chẳng hạn, chúng ta không thể biết một cách tiên nghiệm liệu ảnh hưởng của vị trí các hành tinh hay vị trí mặt trăng lên một thí nghiệm vật lí là đáng kể hay có thể bỏ qua. Chỉ từ kết quả thực nghiệm, hay từ những lí thuyết, mà đến lượt chúng, được kiểm đúng bằng thực nghiệm, chúng ta mới có thể rút được bài học xem liệu loại cách li nhân tạo nào, nếu có, là loại cách li cần thiết mà thôi.
Dưới ánh sáng của những nhận định trên thì luận cứ mang tính sử luận sẽ không còn hiệu lực. Đó là luận cứ cho rằng tính đa biến của các điều kiện xã hội và nhất là những biến đổi do quá trình phát triển của lịch sử sẽ cản trở hoàn toàn các cuộc thực nghiệm xã hội. Thế nhưng thật ra những khác biệt nổi bật mà nhà sử luận đã quá bận tâm với chúng, tức là, những khác biệt giữa các điều kiện thịnh hành trong các thời kì lịch sử khác nhau, không nhất thiết phải gây ra bất kể khó khăn khác thường nào cho khoa học xã hội.
Có thể thú nhận rằng, giả như chúng ta đột nhiên bước vào một thời kì lịch sử khác lạ thì có lẽ nhiều trông đợi của chúng ta về mặt xã hội, được hình thành trên cơ sở những cuộc thực nghiệm phân mảnh được thực hiện trong xã hội chúng ta, sẽ chỉ mang lại thất vọng. Nói cách khác, thực nghiệm có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường. Nhưng có thể nói cũng chính những thực nghiệm sẽ khiến chúng ta khám phá được sự biến đổi của điều kiện xã hội; thực nghiệm dạy chúng ta biết rằng những điều kiện xã hội nào sẽ là những điều kiện thay đổi theo từng thời kì lịch sử; hệt như các thí nghiệm đã dạy cho nhà vật lí biết rằng nhiệt độ sôi của nước có thể thay đổi tùy vào vị trí địa lí. (Nếu sử dụng những lý thuyết đã được kiểm đúng bằng thực nghiệm thì trong cả hai trường hợp - thời kỳ lịch sử và vị trí địa lý - chúng ta đều có thể thấy rằng mọi sự quy chiếu vào vị trí trong không gian hay thời gian đều có thể được thay thế bằng một phép mô tả chung nào đó về các điều kiện mang tính quyết định như tình trạng giáo dục, hay như độ cao so với mặt biển).
Nói một cách khác nữa, lí thuyết về sự khác biệt giữa các thời kì lịch sử không thể ngăn cản được thực nghiệm xã hội, mà nó đơn thuần chỉ là cách phát biểu khác của cái định đề cho rằng, nếu phải chuyển sang một thời kì khác, chúng ta vẫn phải tiếp tục tiến hành những cuộc thực nghiệm phân mảnh của mình, nhưng phải tính đến cả những hậu quả bất ngờ hay những hậu quả khiến ta thất vọng. Thực vậy, nếu như chúng ta biết được chút gì đó về thái độ của mọi người trong các thời kì lịch sử khác nhau, thì cũng là từ những cuộc thực nghiệm được tiến hành theo trí tưởng tượng của chúng ta. Các nhà sử học có thể gặp trở ngại trong việc diễn giải một số bằng chứng nào đó, hoặc họ phát hiện ra những thực kiện cho thấy một vài bậc tiền bối của họ đã diễn giải chúng không đúng. Những trở ngại như thế trong việc diễn giải lịch sử là bằng chứng duy nhất của chúng ta về kiểu biến đổi lịch sử mà nhà sử luận nghĩ đến; nhưng thật ra chúng chỉ là sự khác nhau giữa những kết quả trông đợi và những kết quả thực tế của các cuộc thực nghiệm theo trí tưởng tượng của chúng ta. Những ngạc nhiên và thất vọng này là những cái, bằng phương pháp thử sai, đã dẫn đến sự cải thiện khả năng của chúng ta trong việc diễn giải các điều kiện xã hội lạ thường, và cái mà chúng ta đạt được bằng thí nghiệm tưởng tượng trong trường hợp diễn giải lịch sử là cái các nhà nhân học đạt được trong công việc thực tế trên thực địa. Lí do mà những nhà nghiên cứu hiện đại đạt được thành công trong việc điều chỉnh những trông đợi của mình sao cho phù hợp với những điều kiện xem ra không kém xa lạ so với những điều kiện của Thời Đồ đá chính là việc họ đã biết dựa vào thực nghiệm phân mảnh.
Một số nhà sử luận không tin vào khả năng của những điều chỉnh thành công như vậy; và rồi thậm chí họ bảo vệ lí thuyết của mình về tính vô dụng của các cuộc thử nghiệm xã hội với luận cứ cho rằng, nếu được dịch chuyển về các thời kì lịch sử xa xôi, ta sẽ thấy có quá nhiều thử nghiệm xã hội của mình dẫn đến thất vọng. Họ khẳng định chúng ta không có khả năng điều chỉnh những tập quán tư duy của mình, và nhất là những tập quán phân tích các sự kiện xã hội, cho phù hợp với những điều kiện bất lợi này. Tôi ngờ rằng những nỗi lo sợ như vậy phần nào xuất phát từ tâm trạng quá bị kích động của các nhà sử luận - từ nỗi ám ảnh về tầm quan trọng của biến đổi lịch sử; nhưng tôi cũng phải thú nhận rằng chỉ dựa trên những nhận định tiên nghiệm thì khó có thể xua tan được những nỗi lo ấy.
Tóm lại, khả năng thích nghi với môi trường mới rất khác nhau đối với từng người, và vì vậy có lẽ chẳng có lí do gì khiến ta trông chờ một nhà sử luận (người có những quan điểm bi quan đến như vậy) có được khả năng điều chỉnh thành công tư duy của mình cho phù hợp những thay đổi của môi trường xã hội. Hơn nữa, vấn đề còn phụ thuộc vào đặc tính của môi trường mới. Không thể loại trừ khả năng một nhà nghiên cứu xã hội có thể thấy mình bị ăn thịt trước khi thành công trong việc điều chỉnh bản thân bằng phương pháp thử sai cho phù hợp với với tập quán ăn thịt người, cũng như không thể loại trừ khả năng trong một xã hội đã được “xây dựng theo kế hoạch” nào đó, những công trình nghiên cứu của anh ta sẽ có thể được hoàn thành trong một trại tập trung. Trong địa hạt vật lí học cũng vậy. Rất nhiều nơi trên thế giới có những điều kiện vật chất không dành nhiều cơ hội thích nghi cho nhà vật lí bằng phương pháp thử sai.
Tóm lại, nếu như lời khẳng định của thuyết sử luận được xem là hợp lí thì cũng chỉ dựa duy nhất vào hai nhận định, đó là: tính đa biến của những điều kiện lịch sử khiến ta không thể sử dụng phương pháp thử nghiệm để giải quyết các vấn đề của xã hội, và về cơ bản, nghiên cứu xã hội khác xa với nghiên cứu tự nhiên, câu chuyện sẽ hoàn toàn khác đi nếu chúng ta thừa nhận rằng, trong thực tiễn đối với nhà khoa học xã hội, thường rất khó tùy ý chọn và thay đổi những điều kiện thử nghiệm của mình. Nhà vật lí ở vào một vị trí khả quan hơn, mặc dù đôi khi anh ta cũng phải đối mặt với những trở ngại tương tự. Ví dụ như khả năng tiến hành thí nghiệm trong các trường hấp dẫn biến thiên, hay dưới những điều kiện nhiệt độ cận đỉnh, là rất hạn chế. Nhưng chúng ta cũng không được quên rằng nhiều khả năng mở ra cho nhà vật lí ngày nay đã từng là những khả năng không mang tính thực tiễn trước đây chưa lâu, không phải vì những khó khăn về mặt vật lí mà vì những trở ngại về mặt xã hội, tức là vì chúng ta đã không sẵn sàng chịu rủi ro khi cung cấp những khoản chi phí cần thiết cho nghiên cứu. Tuy nhiên, có một sự thực là, nhiều công trình nghiên cứu vật lí hiện nay có thể được tiến hành trong những điều kiện thực nghiệm rất ít người trông đợi, trong khi đó thì nhà khoa học xã hội lại ở một vị thế rất khác.
Nhiều thử nghiệm rất đáng được trông đợi hiện vẫn chỉ là những hoài bão, kể cả khi chúng không hề mang tính Không Tưởng mà rõ ràng mang tính phân mảnh. Trên thực tế, nhà nghiên cứu xã hội thường buộc phải dựa quá nhiều vào những thử nghiệm hoàn toàn tưởng tượng và quá nhiều vào việc phân tích các biện pháp chính trị được thực hiện trong những điều kiện và theo một phương thức được trông đợi rất nhiều nếu xét dưới góc độ khoa học.
26. NHỮNG PHÉP KHÁI QUÁT HÓA CÓ BỊ HẠN CHẾ BỞI THỜI KỲ HAY KHÔNG?
Việc tôi bàn đến vấn đề thử nghiệm xã hội trước khi bàn chi tiết đến vấn đề định luật, hay lí thuyết, hay giả thuyết, hay “khái quát hóa” xã hội học, không có nghĩa là tôi nghĩ rằng quan sát và thử nghiệm nói theo cách nào đó đáng ưu tiên về mặt logic hơn lí thuyết. Ngược lại, tôi tin rằng lí thuyết luôn đi trước quan sát và thử nghiệm, hiểu theo nghĩa những cái sau là quan trọng chỉ khi xét chúng trong mối quan hệ với các vấn đề lí thuyết. Hơn nữa, chúng ta luôn phải có câu hỏi trước đã rồi mới có quyền hi vọng quan sát hay thí nghiệm sẽ giúp chúng ta đưa ra câu trả lời bằng cách nào đó. Hoặc nếu diễn đạt theo phương pháp thử sai, thì thử phải đi trước sai; và như ta đã thấy (ở mục 24), lí thuyết hay giả thuyết luôn mang tính thăm dò và chỉ là một bộ phận của phép thử, trong khi quan sát và thử nghiệm hay thí nghiệm giúp chúng ta loại bỏ các lý thuyết bằng cách chứng tỏ rằng chúng sai. Vì vậy, tôi không tin vào “phương pháp khái quát hóa”, tức là không tin vào quan điểm cho rằng khoa học bắt đầu bằng những quan sát từ đó suy ra các lí thuyết thông qua một số quy trình khái quát hóa hay quy trình quy nạp nào đó. Trên thực tế thì tôi tin rằng quan sát và thử nghiệm có một chức năng khiêm tốn hơn, đó là giúp chúng ta kiểm tra các lí thuyết của mình và loại bỏ các lí thuyết không vượt qua được quá trình kiểm đúng; mặc dù cũng phải thừa nhận rằng quá trình gạn lọc này không chỉ nhằm gạt bỏ những suy đoán mang tính lí thuyết, mà nó còn khuyến khích ta phải thử đi thử lại thêm nữa - và thường vẫn sai và bị bác bỏ bởi những quan sát và thử nghiệm mới.
Tôi sẽ dành mục này để phê phán thuyết sử luận (xem mục 1), một chủ thuyết cho rằng, ở các bộ môn khoa học xã hội, tính có giá trị hiệu lực của mọi phép khái quát hóa, hay chí ít của những phép khái quát hóa quan trọng nhất, bị giới hạn vào giai đoạn lịch sử cụ thể trong đó những quan sát có liên quan được tiến hành. Tôi sẽ phê phán luận điểm này mà trước đó không cần phải thảo luận việc liệu có thể bảo vệ được cái gọi là “phương pháp khái quát hóa” hay không, mặc dù tôi tin chắc là không; vì tôi nghĩ rằng có thể phản bác được thuyết sử luận mà không cần phải chứng minh rằng phương pháp này không có giá trị hiệu lực. Vì vậy, việc thảo luận các quan điểm của tôi về phương pháp này và về những mối quan hệ giữa lí thuyết với thí nghiệm nói chung có thể được hoãn lại. Nó sẽ được tiếp tục đề cập ở mục 28.
Tôi bắt đầu phê phán thuyết sử luận bằng việc công nhận rằng hầu hết người dân sống trong một giai đoạn lịch sử nào đó đều có thiên hướng bám vào một niềm tin sai lầm cho rằng những sự lặp đi lặp lại đều đặn theo trình tự mà họ quan sát thấy quanh mình là những định luật phổ quát của đời sống xã hội và đúng với mọi xã hội. Thật vậy, đôi khi chúng ta nhận ra rằng bản thân chúng ta đang nuôi dưỡng đúng những niềm tin như vậy, trong khi, ở một quốc gia khác, chúng ta lại thấy những tập tục về ăn uống, xưng hô,.v..v. của chúng ta chẳng được chấp nhận như chúng ta đã giả định một cách ấu trĩ. Từ đó suy ra một điều khá hiển nhiên là nhiều trong số những khái quát hóa khác của chúng ta có thể cũng cùng loại như vậy, bất luận chúng được khái quát hóa một cách có ý thức hay không. Mặc dù thế chúng vẫn không bị thách thức vì chúng ta không có cách gì du hành vào một thời kì lịch sử khác (Chẳng hạn, Hesiodos cũng từng rút ra kết luận này).
(Kết luận này cũng làm cơ sở cho cái gọi là “xã hội học tri thức” được phê phán trong sách này, và trong chương 23 của cuốn Open Society (Xã hội mở) của tôi). Nói cách khác, phải thú nhận rằng có thể có nhiều sự lặp đi lặp lại đều đặn trong đời sống xã hội của chúng ta chỉ đặc trưng cho thời kì lịch sử riêng của chúng ta, và rằng chúng ta có thiên hướng coi nhẹ hay bỏ qua mặt hạn chế này. Đến mức (đặc biệt trong thời kì xã hội biến động nhanh) chúng ta có thể bỗng nhận thấy một cách buồn bã rằng chúng ta đã dựa vào những định luật không còn giá trị hiệu lực. (Trong cuốn Con người và xã hội (Man and Society), ở trang 178, K. Mannheim, viết về vấn đề “người dân thường quan sát thế giới xã hội một cách thông minh” như sau: “Trong những thời kì không có biến động, trong mọi trưòng hợp, anh ta không có khả năng phân biệt giữa một định luật xã hội chung trừu tượng với những nguyên lí riêng chỉ có trong một thời đại nào đó, vì trong các thời kỳ có những biến động không đáng kể thì sự khác biệt giữa hai loại này không được rõ ràng cho lắm đối với người quan sát”. Mannheim gọi những nguyên lí riêng này, những cái chỉ thịnh hành trong một thời đại nào đấy, là những “nguyên lí đại chúng”. Đối với tình hình “trong một thời kì nơi cấu trúc xã hội liên tục thay đổi”, xin xem Mannheim, sđd, từ trang 179).
Nếu những lí lẽ của nhà sử luận không đi xa hơn nữa, thì chúng ta chỉ có thể lên án anh ta là đã dốc sức quá nhiều cho một công việc khá tầm thường. Nhưng tiếc rằng anh ta còn đưa ra nhiều khẳng định khác. Anh ta cố nhấn mạnh rằng tình thế đã tạo ra những trở ngại mà trong khoa học tự nhiên không có; đặc biệt hơn nữa là, ngược lại với khoa học tự nhiên, trong khoa học xã hội chúng ta chẳng bao giờ có quyền khẳng định rằng chúng ta đã khám phá được một định luật phổ quát thật sự, vì ta không bao giờ biết liệu nó luôn đúng trong quá khứ hay không (chúng ta có thể không đủ nguồn sử liệu) hoặc có đúng trong tương lai hay không.
Để phản đối những khẳng định như vậy, tôi không chấp nhận việc coi tình thế vừa được mô tả có cái gì đó là riêng cho các ngành khoa học xã hội, hoặc có thể gây ra bất cứ trở ngại đặc biệt nào. Ngược lại, rõ ràng là một sự biến đổi môi trường vật lí cũng có thể khiến nảy sinh những kinh nghiệm khá giống những kinh nghiệm nảy sinh từ một sự biến đổi của môi trường xã hội hay lịch sử. Liệu có sự tái lặp đều đặn hiển nhiên và ai cũng biết nào hơn là sự luân phiên kế tiếp nhau của ngày và đêm? Ấy vậy mà khi ta bước chân qua vòng địa cực thì việc đó không còn đúng nữa. Có lẽ cũng có chút khó khăn trong việc so sánh những kinh nghiệm vật lí với những kinh nghiệm xã hội, nhưng tôi thiết nghĩ một sự gãy vỡ của tính lặp đi lặp lại đều đặn như vậy cũng đáng chú ý và gây sửng sốt không kém bất kể sự gãy vỡ nào tương tự của tính lặp đi lặp lại xảy ra trong địa hạt xã hội. Lấy một ví dụ khác, khó có thể nói sự khác biệt giữa môi trường lịch sử hay xã hội của xứ Creta năm 1990 với môi trường lịch sử hay xã hội của nó ba nghìn năm về trước lớn hơn so với sự khác biệt về môi trường địa chất hay vật lí của Creta và của Greenland. Sự chuyển đổi đột ngột của môi trường vật lí, tôi nghĩ, có lẽ nhiều khả năng mang lại tai họa hơn là một sự chuyển đổi môi trường xã hội tương tự.
Tôi có một cảm giác rất rõ là, nhà sử luận đã đánh giá quá cao tầm quan trọng của những khác biệt ít nhiều ngoạn mục giữa các thời kì lịch sử khác nhau, nhưng lại đánh giá quá thấp những khả năng tinh tế mà khoa học có được. Đúng là những định luật được Kepler khám phá chỉ có hiệu lực đối với các hệ hành tinh, nhưng hiệu lực của nó không giới hạn ở Hệ Mặt Trời nơi ông sống và quan sát được. (Những định luật của Kepler được Mill lấy làm ví dụ cho cái ông gọi theo Bacon là những “tiên đề đại chúng”, do chúng không phải là những định luật chung về chuyển động mà chỉ là những định luật (gần đúng) về chuyển động của hành tinh: xem Logic, cuốn IV, chương V, mục 5. Có khả năng là: những tiên đề đại chúng tương tự của một khoa học xã hội chính là những định luật đúng cho mọi “hệ thống xã hội” thuộc một loại nào đó, chứ không phải là những sự tái lặp đều đặn mang tính ngẫu nhiên hơn của một thời kỳ lịch sử nhất định. Chẳng hạn, có thể so sánh cái sau với những sự lặp đi lặp lại đều đặn trong trật tự các hành tinh trong Hệ Mặt Trời chứ không phải với những định luật của Kepler) Newton đã không phải tìm đến một xó xỉnh nào đó trong vũ trụ, nơi có thể quan sát các vật thể chuyển động không bị ảnh hưởng của lực hấp dẫn và các lực khác, để thấy được tầm quan trọng của định luật quán tính. Mặt khác, cho dù chẳng vật nào trong hệ này chuyển động thật phù hợp với định luật quán tính, thì nó cũng không mất đi ý nghĩa của mình đối với Hệ Mặt Trời. Tương tự, không lí gì nói rằng chúng ta không đủ khả năng tạo dựng những lí thuyết xã hội học có ý nghĩa đối với mọi giai đoạn xã hội. Những khác biệt ngoạn mục giữa các giai đoạn này hoàn toàn không phải là dấu hiệu cho ta biết không thể tìm thấy những định luật như vậy, nếu thế thì chẳng khác gì nói sự khác biệt ngoạn mục giữa Creta và Greenland có thể chứng minh cho việc không có định luật vật lí nào đúng với cả hai khu vực. Trái lại, chí ít trong một số trường hợp, những khác biệt này (chẳng hạn như những khác biệt về tập quán, về cách xưng hô, về các nghi lễ,.v..v.) dường như chỉ mang tính bề nổi xét trong mối tương quan với những khác biệt khác, và ít nhiều điều này cũng đúng với những sự lặp đi lặp lại đều đặn theo trình tự được cho là đặc trưng cho một thời kì lịch sử nào đó hay của một xã hội nào đó (và hiện được một số nhà xã hội học gọi là “những nguyên lí đại chúng”). (K. Mannheim, sđd, tr. 177, đưa ra từ “principia media” khi nói về Mill (người nói về axiomata media) để biểu thị cái tôi gọi là “những phép khái quát hóa giới hạn trong thời kì lịch sử cụ thể mà trong đó những quan sát có liên quan được tiến hành”. Chẳng hạn xem đoạn văn sau của ông (sđd, tr. 178): “Người dân bình thường quan sát xã hội một cách thông minh, hiểu các sự kiện trước hết bằng cách sử dụng principia media một cách vô thức”, đó là “... những nguyên lí cụ thể thông dụng chỉ trong một thời đại nào đó” (Mannheim, sđd, ở chỗ đã dẫn, Mannheim định nghĩa từ principia media của mình bằng cách nói rằng: suy cho cùng chúng là “những lực phổ quát trong một khung cảnh cụ thể khi chúng được tích hợp từ các nhân tố hoạt động khác nhau đang gây tác động ở một địa điểm và tại một thời điểm nhất định - một sự kết hợp cá biệt của những hoàn cảnh có thể chẳng bao giờ lặp lại”). Mannheim tuyên bố rằng ông ta “không theo thuyết sử luận, không theo Hegel, và cũng không theo chủ nghĩa Marx” với sự thất bại của những chủ thuyết ấy trong việc “tính đến những nhân tố phổ quát” (op. cit.; tr.177 f.). Do đó, lập trường của ông là nhấn mạnh tầm quan trọng của những phép khái quát hóa được giới hạn vào từng thời kì lịch sử cụ thể hay riêng biệt, và chấp nhận rằng ta có thể xuất phát từ những thời kì lịch sử như thế, thông qua một thứ “phương pháp trừu tượng hóa”, để suy ra những “nguyên lí bao hàm trong các thời kì đó”. Chống lại quan điểm này, tôi không tin rằng các lí thuyết tổng quát hơn có thể được suy ra bằng việc trừu tượng hóa những sự lặp đi lặp lại đều đặn của những tập quán, những thủ tục pháp lí,.v..v., những cái tạo thành principia media của Mannheim theo như các ví dụ mà ông dẫn ra ở các trang từ 179 trở đi, sđd).
Đáp lại ý kiến này, nhà sử luận hẳn sẽ nói rằng những khác biệt trong môi trường xã hội cơ bản hơn nhiều so với những khác biệt trong môi trường vật lí; vì nếu xã hội biến đổi thì con người cũng biến đổi theo; và điều đó buộc mọi sự lặp đi lặp lại đều đặn cũng phải thay đổi hết, vì những sự lặp đi lặp lại đều đặn mang tính xã hội phụ thuộc vào bản tính tự nhiên của con người, mà con người chính là nguyên tử của xã hội. Câu trả lời của ta trong trường hợp này là: những nguyên tử vật lí cũng thay đổi theo môi trường của chúng (chẳng hạn, dưới tác động của các trường điện từ,.v..v.), không đi ngược lại với những định luật vật lí, mà luôn tuân thủ những định luật này. Ngoài ra, ý nghĩa của những thứ được cho là thay đổi trong bản tính tự nhiên của con người lại khá đáng ngờ và khó có thể xác định được.
Giờ hãy quay lại với luận điểm của thuyết sử luận mà theo đó, trong các bộ môn khoa học xã hội, ta không bao giờ được phép mặc định rằng ta đã khám phá được một định luật phổ quát đích thực, bởi ta đâu thể biết chắc được liệu giá trị hiệu lực của nó có vượt ra khỏi tầm những giai đoạn mà ta đã quan sát thấy là nó đúng hay không, có thể chấp nhận một lời khẳng định như vậy chỉ với điều kiện là nó cũng đúng đối với các bộ môn khoa học tự nhiên mà thôi. Nhưng rõ ràng là, trong các bộ môn khoa học tự nhiên ta cũng chẳng thể nói chắc được liệu những định luật của ta thực sự có giá trị hiệu lực một cách phổ quát hay không, hay thực ra chúng chỉ đúng trong một giai đoạn nào đó thôi (có khi chỉ trong giai đoạn vũ trụ đang dãn nở), hay chỉ đúng với một vùng miền nhất định mà thôi (có khi chỉ trong vùng không gian của những trường hấp dẫn tương đối yếu). Bất chấp tính bất khả trong việc khẳng định một cách chắc chắn tính có giá trị hiệu lực phổ quát của chúng, ta cũng chẳng chịu bổ sung cho các định luật tự nhiên một điều kiện rằng chúng chỉ được khẳng định đối với giai đoạn trong đó chúng đã được quan sát thấy là đúng mà thôi, hoặc có lẽ chỉ đúng “trong thời kì vũ trụ học hiện nay”. Hẳn việc đưa thêm điều kiện này vào chẳng phải là một dấu hiệu cho thấy một sự cẩn trọng đáng tán dương về mặt khoa học, mà đó là một dấu hiệu cho thấy ta không hiểu gì về thủ pháp khoa học. (Có khá nhiều gợi ý cho rằng xã hội học thay vì cố gắng noi theo tấm gương của vật lí học một cách vô vọng trong việc tìm kiếm những định luật xã hội học phổ quát, thì nên chăng chính vật lí học cần noi gương xã hội học sử luận, tức là, chỉ làm việc với những định luật được giới hạn vào từng thời kì lịch sử. Những nhà sử luận nóng lòng muốn nhấn mạnh đến tính thống nhất của vật lí học và xã hội học đều nhất loạt suy nghĩ theo chiều hướng này. Xem bài viết của Neurath trong tạp chí Erkenntnis, tập VI, trang 399).
Bởi người ta đã đề ra một định đề quan trọng cho phương pháp khoa học, đó là, phải tìm cho bằng được những định luật với một phạm vi giá trị hiệu lực vô hạn.
(Cũng chính định đề như thế, trong vật lí học chẳng hạn, đã dẫn đến nhu cầu phải giải thích bằng được những dịch chuyển về phía đỏ được quan sát thấy ở các đám tinh vân xa; vì nếu không có định đề ấy thì người ta sẽ thừa sức giả định rằng những định luật về tần số nguyên tử có thể thay đổi tùy từng vùng không gian của vũ trụ, hay tùy thời gian. Và rồi cũng định đề này đã khiến thuyết tương đối phải phát biểu các định luật chuyển động, chẳng hạn như định luật cộng tốc độ,.v..v. một cách như nhau đối với các loại tốc độ (hoặc đối với các trường yếu cũng như mạnh), và không được thỏa mãn những giả thuyết tình thế đối với những phạm vi tốc độ (hay hấp dẫn) khác nhau. Xin xem mục thứ 79 trong cuốn “Logic phát kiến khoa học” của tôi để biết thêm những bàn luận về định đề “Tính Bất biến của các Định luật Tự nhiên” và sự trái ngược của nó so với định đề “Tính chất Không thay đổi của Tự nhiên.”)
Nếu ta chấp nhận những định luật mà bản thân chúng lại dễ bị thay đổi, thì sẽ không bao giờ giải thích được sự thay đổi bằng các định luật nữa. Ta hẳn sẽ phải chấp nhận rằng thay đổi đơn thuần là những phép mầu. Và rồi tiến bộ khoa học sẽ phải đi đến hồi kết; vì đâu cần xét lại các lí thuyết của ta nữa làm gì nếu cứ liên tục có những quan sát không được trông chờ: ta sẽ phải chấp nhận thứ giả thuyết ad hoc [tình thế] cho rằng vạn vật đều được “giải thích” bằng việc các định luật luôn thay đổi.
Những luận cứ trên áp dụng được cho các bộ môn khoa học xã hội cũng không kém gì áp dụng cho các bộ môn khoa học tự nhiên.
Với những gì vừa trình bày, tôi xin khép lại ý kiến phê phán của mình đối với học thuyết cơ bản nhất trong các luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận. Trước khi chuyển sang những luận thuyết ít cơ bản hơn, ngay sau đây tôi sẽ bàn về một trong những luận thuyết duy tự nhiên luận, cụ thể là luận thuyết cho rằng ta cần phải phát hiện được những định luật của sự phát triển lịch sử.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
