Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 2: Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 2)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 2: Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 2)

13. ĐỘNG LỰC CỦA XÃ HỘI

Sự giống nhau giữa khoa học xã hội và thiên văn học còn có thể được nhận thấy ở nhiều khía cạnh khác nữa. Lĩnh vực thiên văn học mà các nhà sử luận thường bàn đến là môn cơ học thiên thể. Đó là bộ môn nghiên cứu dựa trên cơ sở của động lực học, tức là dựa trên cơ sở lí thuyết về những chuyển động do các lực gây ra. Những ngòi bút sử luận thường nhấn mạnh rằng xã hội học cũng phải lấy động lực học xã hội làm cơ sở theo lối ấy, tức là dựa trên cơ sở của lí thuyết về phong trào xã hội dưới sự tác động của những lực [lượng] xã hội (hay lịch sử).

Các nhà vật lí đều biết rằng tĩnh học chỉ là động lực học được trừu tượng hóa; nói nôm na đó là lí thuyết nhằm cắt nghĩa vì sao lại không có gì xảy ra, tức là vì sao không có gì biến đổi, trong một số hoàn cảnh nhất định nào đó; và điều đó được giải thích bởi sự cân bằng của các lực đối trọng. Ngược lại, động lực học đề cập đến trường hợp chung, tức là đến cả các lực bằng nhau lẫn không bằng nhau, và có thể được mô tả như một thứ lí thuyết nhằm cắt nghĩa vì sao sự việc nào đó lại xảy ra và xảy ra như thế nào. Như vậy, chỉ có động lực học mới cung cấp cho ta những định luật cơ học đích thực và đúng một cách phổ quát; vì tạo hóa chính là một quá trình, nó vận động, biến đổi và phát triển - dù đôi khi rất chậm chạp, đến mức không dễ để ta quan sát thấy.

Sự giống nhau giữa quan niệm như trên về động lực học với quan niệm của nhà sử luận về xã hội học đã quá rõ nên không cần bàn thêm. Nhưng xem ra nhà sử luận có ý muốn tuyên bố rằng sự giống nhau còn nằm ở một chiều cạnh sâu hơn. Chẳng hạn anh ta có thể nói xã hội học theo cách quan niệm của thuyết sử luận cũng na ná như động lực học, vì về căn bản nó là một luận thuyết mang tính nhân quả; bởi lẽ phép kiến giải nhân quả nói chung là một phép kiến giải nhằm cắt nghĩa vì sao một số sự việc nào đó lại xảy ra và chúng xảy ra như thế nào. về căn bản, một lời kiến giải như vậy luôn phải đi kèm với một yếu tố lịch sử. Khi hỏi ai đó bị gãy chân: “sao lại ra nông nỗi này”, hẳn ta có ý đợi người đó kể lại xem vụ tai nạn đã xảy ra như thế nào. Nhưng ngay cả ở cấp độ tư duy lí thuyết, và nhất là ở cấp độ những lí thuyết cho phép đưa ra lời tiên đoán, việc phân tích lịch sử về những nguyên nhân của sự kiện cũng hết sức cần thiết. Nhà sử luận sẽ khẳng định rằng một ví dụ điển hình cho nhu cầu về việc phân tích lịch sử ở góc độ nhân quả là vấn đề về nguồn gốc hay về những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chiến tranh.

Trong vật lí học, một phép phân tích như vậy được thực hiện thành công nhờ vào việc xác định các lực tương hỗ, tức là nhờ vào động lực học; nhà sử luận do đó tuyên bố rằng xã hội học ắt cũng phải cố làm được như vậy. Phải phân tích những lực lượng đã thúc đẩy sự biến đổi xã hội và tạo ra lịch sử nhân loại. Môn động lực học cho phép chúng ta rút ra được bài học về việc các lực tương hỗ đã tạo ra các lực mới như thế nào; và ngược lại, bằng việc phân tích các lực ra thành các thành phần, ta có khả năng đi sâu hơn vào những nguyên nhân cơ bản của sự kiện đang được xem xét. Tương tự, thuyết sử luận đòi hỏi ta phải nhận thức được tầm quan trọng cơ bản của các lực [lượng] lịch sử, dù đó là những lực lượng tinh thần hay những lực lượng vật chất; ví dụ như những tư tưởng luân lí hay tôn giáo, hoặc những quyền lợi kinh tế. Phân tích, tháo gỡ mớ bòng bong những khuynh hướng và lực lượng đối kháng, cũng như tìm hiểu cội rễ của chúng, đi vào cốt lõi của những xung lực và những quy luật phổ quát của sự biến động xã hội - đó chính là nhiệm vụ của khoa học xã hội dưới con mắt của thuyết sử luận, chỉ bằng con đường ấy chúng ta mới phát triển được một bộ môn khoa học lí thuyết làm cơ sở cho những dự báo trên quy mô lớn mà sự khẳng định của chúng hẳn phải được coi là một thành công của lí thuyết xã hội.

14. NHỮNG ĐỊNH LUẬT LỊCH SỬ

Như ta đã thấy, đối với nhà sử luận, xã hội học là sử học lí thuyết. Những dự báo khoa học của nó phải dựa trên những định luật, và vì chúng là những dự báo lịch sử, những dự báo về sự biến đổi xã hội, nên chúng phải dựa trên những định luật lịch sử.

Nhưng cùng lúc, nhà sử luận lại cho rằng phương pháp khái quát hóa không áp dụng được cho khoa học xã hội, và rằng ta không được coi những tính chất bất biến của đời sống xã hội là bất biến trong không gian và thời gian, vì chúng thường chỉ được áp dụng cho một giai đoạn văn hóa hay lịch sử nhất định nào đó mà thôi. Như vậy là những định luật xã hội - nếu thực sự có những định luật như vậy - phải có một cấu trúc khác so với những sự khái quát hóa thông thường dựa trên cơ sở những đặc tính không thay đổi. Những định luật xã hội đích thực sẽ phải là những định luật đúng “một cách phổ quát”, vậy là chỉ có thể hiểu rằng chúng phải được áp dụng cho toàn bộ lịch sử nhân loại, bao gồm tất cả mọi giai đoạn chứ không phải chỉ một vài giai đoạn nào đó trong quá trình lịch sử ấy. Nhưng vượt ra ngoài những giai đoạn đơn lẻ cá biệt thì những đặc tính không thay đổi về mặt xã hội lại không được bảo đảm. Do đó, muốn có được giá trị hiệu lực, những định luật xã hội phổ quát chỉ có thể là những định luật nói về sự kết nối giữa các giai đoạn kế tiếp nhau. Chúng phải là những định luật về sự phát triển lịch sử nhằm xác định bước quá độ từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Đó chính là quan niệm của các nhà sử luận khi họ nói rằng những định luật lịch sử mới đích thị là những định luật của xã hội học.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.