Chính thể đại diện - Chương 9: Nên có bầu cử hai giai đoạn hay không?
Trong một số hiến pháp mang tính đại diện, người ta chấp nhận kế hoạch lựa chọn đại biểu quốc hội theo một quá trình hai lần, các cử tri vòng đầu tiên chỉ chọn ra các cử tri khác và những cử tri này sẽ bầu ra thành viên của nghị viện. Kỹ xảo này có lẽ nhằm mục đích ngăn trở nhẹ nhàng sự lấn lướt hoàn toàn của cảm xúc đại chúng; nó trao cho Số đông lá phiếu bầu và cùng với phiếu bầu là quyền lực triệt để tối đa, nhưng buộc họ phải thi hành quyền lực ấy thông qua trung gian của một số ít, những người được cho là ít bị kích động bởi sự cuồng nhiệt mạnh mẽ mang tính đại chúng hơn là những người Bình dân; là một tập đoàn được tuyển chọn trong vai trò cử tri, họ được kỳ vọng sẽ có trí tuệ và tính cách vượt trên mức phổ thông của những người bầu ra họ, người ta nghĩ rằng sự lựa chọn của họ có lẽ sẽ cẩn trọng và sáng suốt hơn, và ít ra thì cũng được thực hiện với cảm nhận trách nhiệm lớn lao hơn so với bầu chọn của bản thân đám đông quần chúng. Kế hoạch này, thanh lọc cuộc bầu cử đại chúng thông qua một hội đoàn trung gian, thừa nhận sự phòng thủ có vẻ rất hợp lý; vì có vẻ rất hữu lý nếu bảo rằng, xét đoán xem ai trong những người hàng xóm là đáng tin cậy nhất để được giao phó việc chọn ra thành viên nghị viện, sẽ là việc đòi hỏi sự sáng suốt và kiến thức ít hơn việc tự mình chọn ra thành viên nghị viện.
Tuy nhiên, trước hết, nếu nghĩ rằng những hiểm nguy vốn có đối với quyền lực nhân dân có thể sẽ giảm đi một mức độ nào đó bằng sự sắp xếp gián tiếp ấy, thì những lợi ích của quyền lực nhân dân cũng sẽ bị giảm đi như thế; và cái hiệu quả sau là chắc chắn hơn nhiều so với hiệu quả trước. Để cho hệ thống có thể hoạt động như mong muốn thì phải thực hiện được hiệu quả theo tinh thần đã được hoạch định; các cử tri phải sử dụng quyền bầu cử theo cung cách mà lý thuyết đòi hỏi, tức là, mỗi cử tri phải không tự hỏi xem ai nên là thành viên của nghị viện, nhưng chỉ tự hỏi xem anh ta thích chọn ai nhất để quyết định hộ cho mình mà thôi. Hiển nhiên là những lợi điểm mà bầu cử gián tiếp được cho là sẽ có nhiều hơn bầu cử trực tiếp, đòi hỏi tâm tính ấy trong đầu óc của người bỏ phiếu và chỉ thực hiện được nếu anh ta tiếp thu học thuyết một cách nghiêm chỉnh (au serieux) rằng công việc duy nhất của anh ta là chọn ra người chọn lựa, chứ không phải chọn ra chính thành viên của nghị viện. Nguyên tắc của định chế ấy chỉ có thể là: cử tri vòng đầu tiên sẽ không bận tâm suy nghĩ đến những ý kiến chính trị và các giải pháp, hay đến các chính khách, mà chỉ dựa theo lòng kính trọng cá nhân của anh ta đối với một vài cá nhân nào đó mà anh ta muốn trao toàn quyền ủy nhiệm hành động thay cho mình. Giờ đây, nếu những cử tri vòng đầu tiên thừa nhận quan điểm ấy trong lập trường của mình, thì một trong những ích lợi chủ yếu của việc trao quyền cho họ được có một lá phiếu bầu sẽ bị thất bại hoàn toàn: chức năng chính trị, mà người ta kêu gọi họ hướng tới, không làm tròn được nhiệm vụ phát triển tinh thần công cộng và trí tuệ chính trị; không làm cho các hoạt động công cộng trở thành đối tượng quan tâm của những cảm xúc ở họ, không tác động được tới những khả năng của họ. Hơn nữa, sự giả định bao hàm những điều kiện trái ngược nhau; vì nếu người bỏ phiếu bầu không quan tâm đến kết quả chung cuộc, thì làm sao và tại sao lại chờ đợi anh ta có quan tâm gì đến quá trình dẫn tới kết quả ấy? Mong muốn có một cá nhân đặc thù nào làm đại điện cho mình tại nghị viện là có thể có đối với một người có mức độ phẩm hạnh và trí tuệ rất vừa phải; và mong muốn chọn ra một đại cử tri sẽ nói lên tiếng nói của cá nhân đó là một kết quả tự nhiên: thế nhưng đối với một người không quan tâm xem ai sẽ đắc cử, hay cảm thấy bị buộc phải đình hoãn việc xem xét ấy lại, thì việc phải quan tâm tới chuyện đơn thuần chỉ định người xứng đáng nhất – để người này được tự do bầu một người khác theo ý mình – tiền giả định một sự nhiệt tình đối với một điều thiện trừu tượng, một thói quen thực hiện bổn phận chỉ vì bổn phận, là điều chỉ có thể có ở những người có sự tu dưỡng khá cao, mà những người như thế lại chứng tỏ họ có thể và xứng đáng được tín nhiệm có quyền lực chính trị ở dạng trực tiếp hơn. Trong tất cả các chức năng công cộng có thể giao phó cho những thành viên nghèo khó hơn của cộng đồng, thì bổn phận ấy là ít thích hợp nhất để khơi dậy được nơi họ nhiệt tình vì cái tối hảo phổ biến, để cho phép họ có một động cơ nào khác vì lợi ích công cộng cho bằng họ chỉ sẵn sàng tận tâm hoàn thành bất kỳ bổn phận nào. Nhưng một khi đông đảo cử tri quan tâm đầy đủ đến công việc chính trị để biết đánh giá về sự tham gia bị hạn chế đến thế của họ thì ít có khả năng họ chịu thỏa mãn mà không đòi mở rộng sự tham gia của họ hơn nữa.
Điểm thứ hai, nếu thú nhận rằng một người, do tầm hiểu biết hạn hẹp, không thể xét đoán chính xác phẩm chất của một ứng cử viên nghị viện, người ấy rất có thể đủ sức xét đoán thích đáng về tính trung thực và khả năng chung của một người nào đó mà anh ta có thể ủy quyền lựa chọn một thành viên Nghị viện thay cho anh ta; tôi xin đáp lại rằng, nếu cử tri ấy nhận rõ như thế về các khả năng hạn chế của mình và quả thực mong muốn có sự chọn lựa thay cho mình bởi một người mà mình tin cậy, thì điều khoản hiến pháp [bầu gián tiếp] ấy thật là thừa thãi, bởi anh ta chỉ cần hỏi người được tin cậy ấy một cách riêng tư, xem anh ta nên bỏ phiếu [trực tiếp] cho ứng viên nào thì tốt hơn. Trong trường hợp ấy hai kiểu bầu cử sẽ có kết quả trùng hợp nhau, và mọi lợi thế của bầu cử gián tiếp cũng thu được từ bầu cử trực tiếp. Các hệ thống chỉ khác nhau trong tác dụng của chúng, nếu chúng ta giả định rằng, cử tri ưa thích được sử dụng xét đoán của chính mình trong việc chọn lựa một đại biểu, và chỉ để cho người khác chọn thay cho mình bởi vì luật pháp không cho phép anh ta được hành động theo một kiểu cách trực tiếp hơn. Thế nhưng nếu tình trạng đầu óc của anh ta là như thế; nếu anh ta không chịu đi cùng với giới hạn mà luật pháp áp đặt, và anh ta thích được chọn lựa trực tiếp, anh ta có thể làm thế bất chấp luật pháp. Anh ta chỉ cần chọn một người thuộc phe đảng của ứng cử viên mà anh ta ưa thích hơn làm đại cử tri cho mình, hay một ai đó thề thốt sẽ bỏ phiếu cho ứng cử viên ấy. Và nhiều phần chắc chắn đó sẽ là hoạt động tự nhiên của việc bầu cử theo hai giai đoạn, nên thật khó có thể chờ đợi hành vi nào khác được, ngoại trừ trong điều kiện có sự thờ ơ chính trị hoàn toàn. Chính đó là phương cách diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống tại Hợp chúng Quốc. Trên danh nghĩa, cuộc bầu cử là gián tiếp: đa phần dân chúng không bỏ phiếu bầu Tổng thống; họ bầu ra các đại cử tri, những người này sẽ chọn ra Tổng thống. Thế nhưng các cử tri bao giờ cũng lựa chọn bỏ phiếu cho một ứng viên cá biệt nhất định với lời hứa hẹn rõ ràng; một công dân cũng chẳng bao giờ bầu một đại cử tri vì bất cứ phẩm chất được ưa thích nào của con người ấy, trái lại, anh ta bỏ phiếu cho danh sách của Lincoln, hay cho danh sách của Breckenridge. Cần phải nhớ rằng các đại cử tri không phải được bầu ra để họ đi lùng khắp đất nước và tìm ra được cái người thích hợp nhất làm Tổng thống, hay làm thành viên Nghị viện. Nếu giả sử là như thế thì ắt họ đã phải nói gì đó về việc thực hành: nhưng không hề có chuyện đó; và cũng sẽ chẳng bao giờ có chuyện đó, cho tới khi loài người nói chung tiếp thu ý kiến của Plato nói rằng, người thích hợp nhất để giao phó quyền lực là cái người ít mong muốn nhận quyền lực nhất. Các đại cử tri chỉ chọn lựa một trong những người tự xung phong làm ứng viên, và những người bầu chọn đại cử tri đã biết những ứng viên ấy là ai rồi. Nếu đất nước có được tính tích cực chính trị nào đấy, thì mọi cử tri còn có chút quan tâm tới việc bỏ phiếu phải quyết định xem mình muốn có ai trong những ứng viên ấy; và sẽ làm cái việc xem xét duy nhất ấy bằng cách bỏ lá phiếu của mình. Những người theo phe đảng của mỗi ứng viên sẽ có sẵn danh sách cử tri của họ rồi, tất cả đều thề thốt bỏ phiếu cho cá nhân ấy; và câu hỏi duy nhất trong thực tế dành cho cử tri vòng đầu là anh ta sẽ ủng hộ cho danh sách nào.
Trường hợp việc bầu cử hai giai đoạn đáp ứng được tốt, ấy là khi các đại cử tri được bầu ra không phải chỉ như các cử tri bình thường, mà còn có những chức năng quan trọng khác phải làm, khiến điều này loại trừ việc bầu chọn họ chỉ để giao phó bỏ một lá phiếu nhất định. Sự kết hợp các tình huống được minh họa trong một thiết chế khác của nước Mỹ, ấy là Thượng nghị viện của Hợp Chúng Quốc. Cái hội đồng lập pháp ấy, Thượng viện của Quốc hội, được xem là đại diện không phải trực tiếp cho nhân dân, mà cho các Tiểu bang với cương vị như thế, và phải là người giám hộ cái phần chủ quyền mà họ đã không chuyển nhượng. Vì rằng chủ quyền nội bộ của mỗi Tiểu bang, do bản chất của một liên bang bình đẳng, đều là thiêng liêng bằng nhau bất kể độ lớn hay tầm quan trọng của Tiểu bang, nên mỗi Tiểu bang bầu vào Thượng viện cùng một số thành viên (hai), dù đó là Tiểu bang nhỏ bé Delaware hay là “Bang Đế chế” của New York. Những Thượng nghị sĩ ấy không phải do dân chúng, mà do các cơ quan Lập pháp Tiểu bang chọn ra, mà bản thân các cơ quan lập pháp này được dân chúng của mỗi Tiểu bang bầu ra; thế nhưng do toàn bộ công việc thông thường của một quốc hội lập pháp, sự lập pháp nội bộ và việc kiểm soát quyền hành pháp đều trút lên các hội đồng lập pháp này, cho nên họ được bầu ra với dự kiến cho những mục đích ấy nhiều hơn là cho mục đích khác; và trong việc bổ nhiệm hai người đại diện cho Tiểu bang tại Thượng viện Liên bang họ phần nhiều dựa theo sự xét đoán của riêng mình, chỉ tham khảo đại thể công luận chung vốn là cần thiết trong mọi hành vi của chính quyền của một nền dân chủ. Các cuộc bầu cử được làm như vậy đã chứng tỏ thành công thật xuất sắc, và rõ ràng là tốt đẹp nhất trong những cuộc bầu cử tại Hợp Chúng Quốc, Thượng viện luôn luôn bao gồm những nhân vật lỗi lạc trong số những người tự làm nên đủ danh tiếng trong đời sống công cộng.
Sau một thí dụ như vậy thì không thể nói rằng bầu cử đại chúng gián tiếp chẳng bao giờ là có lợi cả. Trong một số điều kiện nhất định thì đó là hệ thống tuyệt hảo được chấp nhận. Thế nhưng những điều kiện ấy khó mà có được trong thực tế, ngoại trừ một chính thể liên bang giống như của Hợp Chúng Quốc, nơi mà cuộc bầu cử có thể giao phó cho các hội đồng địa phương, là những hội đồng còn có những chức năng khác mở rộng ra đến những việc quan trọng nhất của quốc gia. Những hội đồng duy nhất trong địa vị tương tự nào đó tồn tại, hoặc có vẻ sẽ tồn tại, ở đất nước này là các hội đồng thành phố, hoặc những ban bệ khác nào đó đã được dựng nên, hay có thể được dựng nên, nhằm những mục đích địa phương tương tự. Tuy nhiên, có lẽ ít người nghĩ rằng chuyện như thế này là cải tiến nào đó cho tổ chức nghị viện của chúng ta, nếu những thành viên [nghị viện] đại diện cho Thành phố London lại được bầu chọn bởi các Ủy viên Hội đồng Thành phố và Hội đồng Nhân dân, còn những người đại diện cho thị trấn Marylebone lại được bầu chọn bởi những tập-thể-người-đóng-góp-cho-nhà-xứ của các giáo khu thành phần, như họ thực sự hiện đã công khai là như vậy. Ngay cả nếu như những hội đoàn này được xem thuần túy là những ủy ban địa phương thì cũng vẫn đáng phản đối không kém, những phẩm chất khiến họ thích hợp cho những trách nhiệm hữu hạn và riêng biệt mang tính đô thị hay thôn xã không đảm bảo tính thích đáng đặc thù trong việc xét đoán so sánh các phẩm chất của những ứng viên cho chiếc ghế tại Nghị viện. Chắc là họ sẽ không làm tròn được trách nhiệm này tốt hơn chút nào so với những cư dân bỏ phiếu bầu trực tiếp; mặt khác, nếu tính thích đáng trong việc bầu ra các thành viên Nghị viện cần phải xem xét trong việc chọn lọc người vào chức vụ tập-thể-người-đóng-góp-cho-nhà-xứ hay chức hội viên hội đồng thị trấn, thì nhiều người thích đáng cho trách nhiệm hạn hẹp hơn ấy hẳn nhất định sẽ bị loại ra, với điều kiện nhất thiết trong việc bầu chọn là những người có cảm nhận chính trị bao quát đồng thuận với những cử tri bầu chọn họ. Ảnh hưởng chính trị gián tiếp đơn thuần của các hội đồng thị trấn hiện đã dẫn tới sự hiểu sai đáng kể về các cuộc bầu cử thành phố, lệch ra khỏi mục đích dự kiến của các cuộc bầu cử bằng việc biến chúng thành chuyện của phe đảng chính trị. Giả sử như một phần trách nhiệm của người thủ thư hay người quản lý nhà ăn là phải bầu chọn một thầy thuốc, thì chắc anh ta cũng không có được một người phục vụ y tế tốt hơn người anh ta sẽ lựa chọn cho bản thân mình, trong khi lẽ ra anh ta phải giới hạn sự bầu chọn của mình cho một người quản lý nhà ăn hay một thủ thư để khỏi nguy hiểm cho sức khỏe của anh ta khi phải nhận lãnh một chức vụ khác.
Vậy là, hình như mỗi điều lợi của bầu cử gián tiếp phần nào khả dĩ đạt được thì đều cũng khả dĩ đạt được trong bầu cử trực tiếp; hình như những điều lợi được kỳ vọng ở nó như điều không thể đạt được trong bầu cử trực tiếp, thì phần nhiều đều không đạt được trong bầu cử gián tiếp; trong khi ấy bầu cử gián tiếp bản thân nó lại chứa đựng những bất tiện đặc thù đáng kể. Đơn thuần sự kiện rằng đó là một bánh xe bổ sung không cần thiết trong cỗ máy, đã là sự phản đối không thể coi thường được. Là phương tiện giáo hóa tinh thần công cộng và trí tuệ chính trị, sự yếu kém của nó đã bao gồm cả hai phương diện: và giả sử nó có được chút tác động hiệu quả nào – tức là, nếu những cử tri vòng đầu trong chừng mực nào đó quả thực phó mặc cho những người được ủy nhiệm việc bầu chọn đại biểu Nghị viện – thì cử tri hẳn sẽ gặp trở ngại trong việc đồng nhất bản thân mình với thành viên Nghị viện của anh ta, và vị nghị sĩ sẽ ít cảm thấy ý nghĩa tích cực của trách nhiệm mình phải có đối với các cử tri của mình. Thêm vào tất cả những điều này, số lượng tương đối ít những người nắm trong tay quyền bầu chọn sau cùng cho thành viên Nghị viện chỉ tổ tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi hơn nữa cho sự vận động ngầm và cho mọi hình thức tham nhũng tương hợp với hoàn cảnh sống của các đại cử tri. Các khu vực bầu cử hẳn sẽ bị giảm thiểu toàn thể, ấy là điểm tiện lợi cho việc hối lộ trong điều kiện còn nhỏ bé của các khu phố hiện tại. Chỉ cần giành được một số ít người cũng đủ tin chắc sẽ đắc cử. Nếu bảo rằng các đại cử tri hẳn sẽ có trách nhiệm đối với những người bỏ phiếu cho họ, câu trả lời hiển nhiên sẽ là: không có nhiệm sở cố định hay địa vị gì trong con mắt của công chúng, họ sẽ chẳng phải mạo hiểm gì khi mua bán lá phiếu bầu, ngoại trừ e ngại đôi chút là sẽ không được cử tri bổ nhiệm một lần nữa; và sự trông cậy chủ yếu vẫn là dựa vào sự trừng phạt tội hối lộ, sự thiếu tin cậy của nó tại các khu vực bầu cử nhỏ trong thực tiễn là điều cả thế giới ai cũng biết. Điều xấu xa hẳn sẽ tỷ lệ thuận với sự tùy tiện dành cho các đại cử tri được bầu chọn ra. Chỉ có một trường hợp mà có lẽ họ sẽ e ngại sử dụng lá phiếu của mình để xúc tiến lợi ích riêng của họ, ấy là khi họ được bầu ra với lời cam kết biểu lộ rõ chỉ đơn thuần được ủy thác chuyển lá phiếu bầu của cử tri tới đại hội bầu nghị sĩ mà thôi. Thời điểm, khi mà việc bầu cử hai giai đoạn bắt đầu có hiệu lực nào đó, cũng sẽ là thời điểm bắt đầu một hiệu quả xấu. Và rồi chúng ta sẽ thấy nguyên tắc bầu cử gián tiếp đúng thực là như vậy, dù có áp dụng cách nào đi nữa, ngoại trừ trong các hoàn cảnh tương tự như các cuộc bầu cử thượng nghị sĩ ở Hợp Chúng Quốc.
Điều tốt đẹp nhất có thể nói về cái kỹ xảo chính trị này, ấy là trong những tình trạng nào đó của công luận thì nó có thể là một phương cách dễ thực hiện được, hơn là phương pháp bầu nhiều lá phiếu [xem chương trước] nhằm trao một phiếu bầu loại gì đó cho mỗi thành viên của cộng đồng, mà không làm cho đa số thuần túy số học giữ địa vị thống trị trong Nghị viện: như là, ví dụ nếu khu vực bầu cử hiện tại của đất nước này phải tăng lên do bổ sung thêm một bộ phận đông đảo và có chọn lọc của các giai cấp lao động được bộ phận còn lại của các giai cấp này bầu chọn ra. Nhiều tình thế có thể sẽ dẫn đến một sơ đồ loại như thế, như một kiểu cách tiện lợi của sự thỏa hiệp nhất thời, thế nhưng nó không thỏa ứng một nguyên tắc nào dù hoàn hảo để có thể được giới tư tưởng gia nghe theo như một xếp đặt cố định lâu dài.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
