Chính thể đại diện - Chương 8: Mở rộng quyền bầu cử
Nếu một nền dân chủ đại diện, giống như đã được phác họa, là đại diện cho tất cả chứ không đơn thuần cho đa số – trong nền dân chủ ấy các lợi ích, các ý kiến, các trình độ trí tuệ rất đa dạng nhưng đều sẽ được lắng nghe và ắt sẽ có cơ hội thu được ảnh hưởng bằng sự cân nhắc theo tính chất và sức mạnh của luận cứ, những thứ không thuộc về sức mạnh số học của chúng – thì nền dân chủ ấy là nền dân chủ duy nhất có tính bình đẳng, vô tư, là chính quyền của mọi người và do mọi người, là kiểu dân chủ chân chính và ắt hẳn sẽ không có những điều xấu xa nhất của những nền dân chủ không chính danh đang đầy rẫy hiện nay, và ý tưởng đương đại về dân chủ tìm thấy cội nguồn độc nhất của nó chính từ nền dân chủ này. Nhưng ngay cả trong nền dân chủ này thì quyền lực tuyệt đối, nếu họ muốn sử dụng nó, hẳn cũng dựa vào đa số số học; và đa số ấy hẳn sẽ bao gồm độc nhất một giai cấp, tức, một giai cấp hoàn toàn đồng dạng trong sở thích, xu hướng và trong kiểu cách suy nghĩ chung, và, để khỏi phải nói nhiều hơn nữa, một giai cấp không phải có học thức cao nhất. Sự thiết lập như vậy hẳn sẽ vẫn có nguy cơ bị nhiễm những đặc tính xấu xa của chính quyền giai cấp: tất nhiên là ở mức độ ít hơn nhiều so với chính quyền do độc nhất một giai cấp vừa mới chiếm đoạt lấy danh hiệu dân chủ; thế nhưng vẫn còn chưa có sự kiềm chế hiệu quả, ngoại trừ một sự sáng suốt (good sense), một sự chừng mực, một sự nhẫn nhịn có được ở bản thân giai cấp [chiếm đa số]. Nếu những sự kiềm chế như mô tả trên đây là đầy đủ thì triết lý của chính thể lập hiến chỉ là chuyện đùa cợt nghiêm trang mà thôi. Tất cả sự tin cậy vào các thiết chế dựa trên sự đảm bảo rằng những người nắm quyền lực không phải chỉ không muốn, mà là không thể lạm dụng quyền lực. Nền dân chủ sẽ không là hình thức chính thể tốt đẹp lý tưởng nhất, trừ phi cái mặt yếu kém đó được củng cố vững chắc lên; trừ phi nó có thể được tổ chức sao đó để cho không một giai cấp nào, dù là giai cấp đông đảo nhất, sẽ có thể quy giản tất cả mọi thứ, ngoại trừ bản thân nó, thành ra thứ vô nghĩa về chính trị, và chỉ đạo đường lối lập pháp và hành pháp theo lợi ích giai cấp độc nhất của nó. Vấn đề là tìm ra được phương tiện ngăn chặn sự lạm dụng ấy mà không phải hy sinh những ưu thế đặc trưng của chính thể nhân dân.
Đòi hỏi hai mặt ấy không thể thực hiện được bằng thủ đoạn hạn chế bầu cử nhằm loại trừ một cách cưỡng bức bất cứ bộ phận công dân nào để không cho họ có quyền bầu cử đại biểu. Trong những điều ích lợi hàng đầu của chính thể tự do có việc giáo dục trí tuệ và tình cảm cho tới tận các tầng lớp thấp kém nhất trong dân chúng, kêu gọi họ tham gia vào các hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến những lợi ích to lớn của đất nước họ. Tôi đã từng nhấn mạnh điểm này, nên tôi chỉ trở lại với nó vì hình như ít có người xem xét hiệu quả này của các thiết chế nhân dân với tất cả tầm quan trọng xứng đáng của nó. Người ta nghĩ là chuyện hoang đường khi chờ đợi nhiều đến thế từ một nguyên cớ có vẻ quá mỏng manh – thừa nhận việc thực thi quyền bầu cử chính trị bởi những người lao động chân tay là công cụ hùng mạnh của sự cải tiến trí tuệ. Tuy nhiên, nếu sự giáo hóa tinh thần một cách thực chất cho đông đảo quần chúng loài người không phải chỉ là một ảo tưởng, thì đó chính là con đường họ phải đi qua. Nếu có ai đó cho rằng con đường ấy sẽ không dẫn tới đích, tôi xin dẫn chứng bằng toàn bộ nội dung công trình vĩ đại của ông de Tocqueville; và đặc biệt là sự đánh giá của ông về những người Mỹ.(*) Hầu hết các du khách đều kinh ngạc vì sự kiện là mỗi người Mỹ, theo một nghĩa nào đó, vừa là một nhà ái quốc vừa là một con người có học thức; và ông de Tocqueville đã chứng tỏ mối liên quan thật chặt chẽ đến chừng nào giữa những phẩm chất ấy và những thiết chế dân chủ của họ. Chưa từng thấy ở đâu có được sự phổ biến rộng rãi đến thế những ý tưởng, những cách thưởng thức và những cảm xúc của những tâm hồn được giáo dục, thậm chí thấy cứ như là chuyện không thể đạt tới được.(*)
Nhưng, tất cả những điều đó không là gì so với điều mà ta chờ đợi ở một chính thể dân chủ hoàn toàn không có mọi sự loại trừ, và còn được tổ chức tốt hơn về những điểm khác nữa. Vì đời sống chính trị ở nước Mỹ quả thực là một trường học giá trị nhất [cho nước Anh], nhưng đó là trường học mà các thầy giáo tài năng nhất đã bị loại đi rồi; những trí tuệ hàng đầu của đất nước đang bị cấm cửa một cách thật hiệu quả để không được vào quốc hội, và không được tham gia các chức năng công cộng nói chung, cứ như là họ bị một hình thức kỷ luật truất quyền. Ngay cả những người bình dân (Demos) cũng thế, tại nước Mỹ họ là một ngọn nguồn của quyền lực, mọi tham vọng vị kỷ của đất nước bị hút vào nó, giống như tại các nước chuyên chế chúng bị hút vào nhà vua: dân chúng, cũng giống như nhà vua, bị bao vây bởi thói nịnh hót và bợ đỡ và những hiệu quả suy đồi của quyền lực cùng song hành với những ảnh hưởng cải tiến và làm cho thanh cao lên. Nếu như, ngay cả với sự pha trộn thế này, các thiết chế dân chủ vẫn sản sinh ra được tính ưu việt rõ rệt đến thế của sự phát triển tinh thần trong giai cấp thấp kém nhất của dân Mỹ so với các giai cấp tương ứng ở nước Anh hay ở bất cứ nơi nào khác, vậy thì sự tình sẽ thế nào nếu phần ảnh hưởng tốt đẹp có thể giữ lại mà không kèm theo phần xấu xa? Và việc này, ở một mức độ nào đó, là có thể làm được; nhưng không phải bằng cách loại bỏ cái bộ phận dân chúng có sự kích thích trí tuệ ít ỏi nhất trong số những kích thích loại khác, tách họ khỏi sự khai tâm vô giá đối với những lợi ích rộng lớn, có tầm xa và phức tạp, sự khai tâm giống như cái họ đã có được khiến họ dành sự chú ý tới những công việc chính trị. Người lao động chân tay, vốn bị tuyển dụng làm công việc nhàm chán thường ngày và có cung cách sống khiến anh ta không tiếp xúc được với sự đa dạng của các ấn tượng, của các tình huống hay của các ý tưởng, chính bằng sự thảo luận chính trị mà họ đã được dạy dỗ rằng, có những nguyên nhân và sự kiện xa xôi xảy ra tận phương trời nào đó mà lại có tác động nhạy cảm nhất tới ngay cả những lợi ích của cá nhân anh ta; và cũng chính từ sự thảo luận chính trị và hoạt động chính trị tập thể mà một người có việc làm hàng ngày vốn tập trung những lợi ích nơi vòng tròn nhỏ bé xung quanh mình, học được sự cảm thông với và cho những đồng bào của mình, và trở thành một thành viên tự giác của một cộng đồng rộng lớn. Thế nhưng những cuộc thảo luận chính trị sẽ chỉ “thoảng qua tai” những người không có quyền bỏ phiếu và họ sẽ không ráng sức đòi phải có những cuộc thảo luận ấy. Tư thế của họ so sánh với những cử tri cũng giống như tư thế của những người dự khán một phiên tòa so sánh với mười hai người ngồi ghế hội thẩm. Những cuộc bầu cử được yêu cầu không phải là những cuộc bầu cử của họ, ý kiến được nhằm vào để gây ảnh hưởng không phải là ý kiến của họ; những lời kêu gọi được nêu lên, những lý lẽ được đưa ra, là cho những người khác chứ không phải cho họ; chẳng có gì phụ thuộc vào quyết định của chính họ, và chẳng có sự cần thiết nào và rất ít lý do để họ đi tới bất cứ quyết định nào. Bất cứ ai, ở trong một chính thể tuy gọi là “nhân dân” mà không có quyền bầu cử và chẳng có triển vọng nào sẽ nhận được nó, đều hoặc sẽ là người bất mãn thường xuyên, hoặc sẽ cảm thấy mình là người dửng dưng với các công việc chung của xã hội vì những công việc đó do những người khác điều hành; mình “chẳng dính dáng gì đến luật pháp, ngoại trừ việc tuân theo”, cũng chẳng dính dáng gì đến các lợi ích và lo toan công cộng, ngoại trừ như một kẻ bàng quan. Từ tư thế ấy anh ta sẽ hiểu biết và chăm lo cho những thứ đó như thế nào, ta có thể phần nào đo lường được qua việc một người phụ nữ trung bình của tầng lớp trung lưu hiểu biết và chăm lo về chính trị ra sao, so với chồng hay anh em của chị ta.
Không phụ thuộc vào tất cả những xem xét ấy, đây là một sự bất công với con người, khi từ chối bất cứ ai, trừ phi để ngăn chặn những điều xấu lớn hơn, một ân huệ bình thường, ấy là được có tiếng nói của mình trong việc sắp xếp những công việc mà anh ta có cùng lợi ích như những người khác. Nếu anh ta bị bắt buộc phải trả tiền, nếu anh ta có thể bị bắt buộc phải chiến đấu, nếu anh ta bị yêu cầu phải tuyệt đối tuân phục, anh ta phải có quyền hợp pháp được nói cho biết những việc ấy là vì cái gì, được hỏi sự đồng ý của anh ta và ý kiến của anh ta được tính đến theo giá trị của nó. Không được có loại người hạ đẳng trong một dân tộc văn minh đã trưởng thành; không người nào bị truất quyền trừ phi do tự ý bỏ cuộc. Bất cứ ai cũng bị làm mất danh giá, dù người ấy có ý thức được điều đó hay không, khi những người khác không hỏi ý kiến anh ta mà lại tự ý áp đặt quyền lực vô giới hạn để sắp đặt số phận của anh ta. Ngay cả trong tình trạng được cải tiến hơn rất nhiều so với tình trạng mà trí tuệ con người đã từng đạt tới, thì cũng không phải theo lẽ tự nhiên mà những người bị sắp đặt như thế sẽ được đối xử công bằng giống như những người có quyền bầu cử. Những người cầm quyền và các giai cấp cầm quyền bị bắt buộc phải xét đến lợi ích và nguyện vọng của những người có quyền bầu cử; còn đối với những người bị loại trừ thì họ được tùy ý lựa chọn có xem xét đến hay không, và dù họ có thiện ý thành thật đến mấy thì nói chung họ cũng quá bận rộn với những việc mà họ phải lo toan, nên trong những suy nghĩ của họ sẽ chẳng còn chỗ cho bất cứ cái gì họ có thể bỏ qua mà không bị trừng phạt. Vậy nên sự sắp xếp bầu cử không thể tốt đẹp lâu bền, nếu bất cứ con người hay giai cấp nào bị loại trừ một cách cưỡng bách; nếu quyền bầu cử không mở ra cho tất cả mọi người đủ tuổi và mong muốn có quyền đó.
Tuy nhiên, có những loại trừ nhất định là cần thiết vì những lý do chính đáng, không mâu thuẫn với nguyên lý này, và dẫu những loại trừ ấy bản thân chúng là điều xấu xa, nhưng chúng chỉ được xóa bỏ khi tình trạng đòi hỏi phải có những loại trừ ấy chấm dứt. Tôi xem là chuyện không thể chấp nhận được việc bất cứ người nào tham gia bầu cử mà không biết đọc biết viết, và tôi sẽ bổ sung thêm, không biết làm các phép tính số học thông thường. Sự công bằng đòi hỏi, ngay cả khi các cuộc bầu cử không phụ thuộc vào điều này, rằng phương tiện để đạt được những yêu cầu sơ đẳng ấy phải ở trong tầm tay của mọi người, hoặc là miễn phí, hoặc là phí tổn không vượt quá mức mà một người nghèo nhất tự kiếm sống có thể trả được. Nếu quả thực tình hình đúng là như vậy, người ta sẽ cho rằng trao quyền bầu cử cho một người không biết đọc thì cũng không hơn gì như trao quyền ấy cho một đứa trẻ không biết nói; đó không phải là xã hội mà chính sự lười biếng của anh ta đã loại trừ anh ta. Khi xã hội không hoàn thành trách nhiệm của mình là làm cho mọi người tiếp cận được với sự truyền đạt lượng kiến thức ấy, thì đây là sự thử thách có phần gay go, nhưng là sự thử thách buộc phải chịu đựng. Nếu xã hội đã không coi trọng hoàn thành hai nghĩa vụ trang trọng của mình, thì nghĩa vụ quan trọng hơn và cơ bản hơn trong hai nghĩa ấy sẽ phải được lo hoàn thành trước tiên; phổ cập giáo dục phải đi trước phổ thông đầu phiếu. Chẳng một ai, trừ cái người tiên thiên (à priori) đã bị một lý thuyết làm cho mất cả lương tri, lại giữ ý kiến rằng quyền lực thực thi đối với những người khác, đối với toàn thể cộng đồng, phải được chia cho những người không có được những điều kiện thiết yếu phổ quát nhất và tự nhiên nhất, ấy là biết chăm sóc bản thân mình, biết theo đuổi quyền lợi cho bản thân mình và cho những đồng minh thân cận nhất của mình một cách có hiểu biết. Chắc chắn luận cứ này có thể được nhấn mạnh hơn nữa và làm sáng tỏ nhiều hơn nữa. Rất đáng mong ước, rằng ngoài việc biết đọc, biết viết và biết các phép tính số học ra, thì những tri thức khác có thể được đòi hòi để được có quyền bầu cử; rằng những hiểu biết nào đó về hình thể trái đất, những phân chia tự nhiên và chính trị của nó, những kiến thức sơ đẳng về lịch sử nói chung, về lịch sử và các thiết chế của chính đất nước mình, có thể là những thứ mà mọi cử tri sẽ được yêu cầu phải biết. Tuy nhiên, những loại tri thức như thế, dù là cần thiết đến mức nào đi nữa cho việc sử dụng quyền bầu cử một cách có hiểu biết, thì ở đất nước này hay có lẽ ở cả mọi nơi khác nữa, ngoại trừ Hợp Chúng Quốc Bắc Mỹ, những kiến thức ấy vẫn còn chưa tới được với toàn thể dân chúng; và cũng còn chưa có được một cơ chế nào đáng tin cậy để xác định xem có đạt được những kiến thức ấy hay không. Sự cố gắng vào lúc này có thể dẫn tới thiên vị bất công, kiện cáo nhau và đủ mọi trò gian lận. Tốt hơn là quyền bầu cử phải được trao không phân biệt đối xử, hay thậm chí thà từ chối trao quyền không phân biệt đối xử còn hơn là trao cho người này mà từ chối người kia theo sự tùy tiện của viên chức công quyền. Tuy nhiên, về chuyện biết đọc, biết viết và biết làm tính thì hẳn là không có khó khăn gì. Dễ dàng đòi hỏi mỗi người đến đăng ký cử tri phải viết lại một câu lấy ra từ một cuốn sách Anh ngữ và làm một phép tính theo quy tắc tam xuất trước mặt hộ tịch viên; và đảm bảo việc áp dụng việc khảo thí rất đơn giản này thật trung thực bằng quy chế cố định và hoàn toàn công khai. Như vậy, điều kiện này trong mọi trường hợp phải đi cùng với việc phổ thông đầu phiếu; và sau một vài năm sẽ không còn loại trừ một ai, ngoài cái người ít chịu chăm lo cho đặc quyền đi bầu cử của mình, nếu được có, đến mức không biểu lộ một quan điểm chính trị thực sự nào.
Cũng thật quan trọng là quốc hội biểu quyết cho việc đánh thuế, dù toàn quốc hay địa phương, phải được bầu lên hoàn toàn từ những người nộp khoản gì đó cho các loại thuế được áp đặt. Những người không nộp khoản thuế nào cả mà biểu quyết cho tiền bạc của người khác, thường hay kiếm cớ để hoang phí và không muốn tiết kiệm. Vì khi liên quan tới chuyện tiền bạc thì bất cứ quyền lực biểu quyết nào của những người như thế là sự vi phạm nguyên tắc cơ bản của chính thể tự do; ấy là một sự phục vụ của quyền lực kiểm soát xuất phát từ lợi ích trong việc thực hành quyền lực ấy một cách có ích. Rốt cuộc như thế là cho phép những người không nộp khoản thuế nào được thọc tay vào túi tiền của những người khác nhằm bất cứ mục đích gì mà họ nghĩ là thích hợp để gọi nó là mục đích công; tại một số thành phố lớn ở Hợp Chúng Quốc những người này đã sản sinh ra một biểu thuế địa phương thật nặng nề chưa từng có, mà hoàn toàn do các tầng lớp giàu có gánh chịu. Theo lý thuyết về các thiết chế Anh quốc thì tính đại diện phải cùng tồn tại với sự đánh thuế, không cắt giảm thuế để bị thiếu nhưng cũng không đánh thuế quá mức. Thế nhưng điều hòa chuyện này với tính phổ thông như một điều kiện bổ sung vào tính đại diện là điều cần thiết, do nhiều lý do khác nữa mà điều đáng mong muốn là sự đánh thuế thể hiện trong hình thái thấy được, phải đi xuống tới tận giai tầng nghèo khó nhất, ở đất nước này cũng như nhiều nước khác, có lẽ chẳng có gia đình lao động nào lại không đóng góp cho thuế gián thu bằng việc mua trà, cà phê, đường, chưa kể đến thuốc ngủ hay chất kích thích. Nhưng kiểu cách thanh toán phần đóng góp cho chi phí công cộng như thế này khó cảm nhận thấy được: người chi trả, nếu không phải là người có giáo dục hay ưa suy tư, thì với một mức phí tổn thấp, anh ta sẽ không đồng nhất được lợi ích của mình với mức phí tổn ấy thật chặt chẽ, như là khi tiền bạc góp cho công ích được yêu cầu trực tiếp với anh ta; và giả sử anh ta làm thế thì chắc chắn anh ta phải quan tâm dùng lá phiếu của mình để bắt buộc chính phủ phải làm sao để anh ta không phải thanh toán những thuế má bổ sung nào tính vào những vật phẩm chi dùng cho bản thân anh ta, dù cho anh ta có khả năng chi tiêu hoang phí đến đâu đi nữa. Hẳn sẽ là tốt hơn, nếu một thứ thuế trực thu dưới dạng đơn giản tính trên đầu người phải được thu từ mỗi người lớn trong cộng đồng; hoặc là mỗi người lớn phải được cho làm cử tri bằng việc chịu đóng thuế phụ thu (extra ordinem) thêm vào định mức thuế; hoặc mỗi người đăng ký làm cử tri phải được yêu cầu nộp một số tiền nhỏ, chi trả hàng năm lên xuống tùy theo tổng số chi thu của đất nước; làm sao cho mỗi người đều có thể cảm thấy rằng tiền đóng góp cho việc bầu cử có phần đóng góp của anh ta, và anh ta quan tâm giữ cho mức đóng góp ấy không bị tăng lên.
Dẫu chuyện này có thể như thế nào đi nữa, tôi xem nó như là yêu cầu của những nguyên tắc cơ bản, rằng biên lai nhận tiền cứu trợ của xã phải là thứ dứt khoát làm cho không đủ tư cách đi bầu cử. Người nào không thể tự nuôi mình bằng sức lao động của mình, thì chẳng có quyền đòi giúp ích cho tiền bạc của những người khác. Bằng việc trở thành phụ thuộc vào những thành viên khác của cộng đồng để đủ sống được, anh ta từ bỏ yêu sách đòi bình quyền với họ trong những phương diện khác. Những người mà anh ta mắc nợ họ ngay cho sự tiếp tục sinh sống của mình, có thể có quyền chính đáng đòi được độc quyền điều hành những mối quan tâm chung mà anh ta chẳng có đóng góp gì, hay đóng góp ít hơn cái anh ta lấy đi? Một thời hạn phải được cố định như một điều kiện được tham gia bầu cử, thí dụ như năm năm trước ngày đăng ký [cử tri], trong thời hạn ấy tên của người xin được làm cử tri không có trong sổ của xã như người nhận tiền cứu trợ. Người bị phá sản không chính thức hay người hưởng lợi từ Đạo luật về những người không trả được nợ, phải bị truất quyền bầu cử cho tới khi trả xong nợ của mình, hoặc ít nhất cũng chứng minh được là vào lúc này hay một thời gian dài nào đó anh ta không phải sống nhờ vào sự bố thí. Người không chịu nộp thuế, nếu sự việc kéo dài tới mức không thể là do sơ xuất không cố ý, phải bị truất quyền bầu cử trong thời kỳ ấy. Những loại trừ này về bản chất không phải vĩnh viễn. Chúng chỉ đòi hỏi những điều kiện mà mọi người đều có khả năng hoàn tất được hoặc nên có khả năng hoàn tất, nếu lựa chọn. Chúng vẫn để cho quyền bầu cử có thể tới được với mọi người sống trong địa vị bình thường của con người: và nếu ai đó bỏ mất địa vị ấy, thì lỗi là do anh ta hoặc không thật chăm lo làm mọi việc để giữ gìn nó, điều mà anh ta buộc phải làm, hoặc anh ta đang ở trong một tình trạng chung của việc bị hạ nhục và xem thường khiến không cảm thấy khó chịu trước việc quyền của mình bị hạn chế một cách cần thiết vì lợi ích của người khác, và, chỉ cần phấn đấu vươn lên thì có thể làm cho dấu hiệu của sự thua kém này cũng như các dấu hiệu khác sẽ biến mất.
Vậy nên về lâu về dài (giả thiết là không có hạn chế nào khác, ngoài những cái chúng ta đã xem xét), chúng ta có thể mong đợi rằng tất cả mọi người, trừ cái lớp người sẽ nhanh chóng biến mất (hy vọng sẽ như vậy) là những người nhận tiền cứu trợ, đều sẽ được quyền đi bầu, khiến cho cuộc bầu cử sẽ là phổ thông đầu phiếu với chút ít giảm bớt kể trên. Việc bầu cử phải được mở rộng như thế, như ta đã thấy, là tuyệt đối cần thiết cho một quan niệm rộng mở và cao cả về chính thể tốt. Trong tình trạng hiện nay thì đại đa số cử tri tại nhiều đất nước, cần nhấn mạnh điều này, hẳn là những người lao động chân tay; và cái nguy cơ cặp đôi của chuẩn mực thấp kém về trí tuệ chính trị và của việc lập pháp giai cấp hãy còn tồn tại ở mức độ rất nguy hiểm. Ta còn phải xem liệu có phương tiện nào ngăn ngừa được những điều xấu ấy hay không.
Những điều xấu ấy có khả năng ngăn ngừa được, nếu người ta chân thành mong muốn điều đó; không phải bằng thủ đoạn giả tạo nào cả, mà bằng cách thực hiện trật tự tự nhiên của cuộc sống con người, vốn tự nó dạy bảo cho mọi người trong những việc mà anh ta không quan tâm hay không có ý kiến truyền thống chống đối lại. Trong mọi hoạt động của con người, mỗi người tự lo toan trực tiếp mà không bị giám hộ hoàn toàn, đều được thừa nhận có quyền có tiếng nói, và khi anh ta thực thi cái quyền ấy không trái với sự an toàn của toàn thể, thì một cách công bằng anh ta không thể bị truất quyền ấy. Tuy nhiên, dẫu mỗi người đều nên có tiếng nói, nhưng bảo rằng tiếng nói của mỗi người đều phải bằng nhau lại là chuyện hoàn toàn khác. Khi hai người có lợi ích chung trong bất cứ công việc nào mà có ý kiến khác nhau, liệu công lý có đòi hỏi rằng cả hai ý kiến phải được coi là có giá trị tuyệt đối bằng nhau hay không? Nếu phẩm hạnh bằng nhau, nhưng một người cao hơn người kia về kiến thức và trí tuệ – hoặc nếu trí tuệ bằng nhau, nhưng người này trội hơn người kia về phẩm hạnh – thì ý kiến, sự phán xét của người có đạo đức hay trí tuệ cao hơn là có giá trị nhiều hơn của người thấp kém hơn: và nếu những thiết chế của đất nước lại khẳng định trên thực tế rằng hai ý kiến ấy đều có cùng giá trị, thì những thiết chế ấy khẳng định một điều không có thực. Một trong hai người, như là người hiểu biết hơn hay người tốt hơn, có quyền có trọng lượng cao hơn: khó khăn nằm ở chỗ xác định xem ý kiến nào trong hai ý kiến là như vậy; đó là chuyện bất khả thi giữa các cá nhân, thế nhưng đối với những người thuộc các hội đoàn và số người nhiều thì chuyện này có thể làm được với độ chính xác nhất định. Ở đây không phải có yêu sách gì đòi áp dụng học thuyết này cho bất cứ trường hợp nào được xem xét hợp lẽ như một trường hợp của quyền cá nhân và riêng tư. Trong một công chuyện chỉ liên quan tới một trong hai người, thì người ấy có quyền làm theo ý kiến riêng của mình, dù cho ý kiến khác có thể khôn ngoan hơn nhiều đến đâu đi nữa so với ý kiến riêng của anh ta. Nhưng chúng ta đang nói về những chuyện liên quan bằng nhau với cả hai người; ở đây nếu kẻ ngu dốt không chịu nhường phần mình cho sự hướng dẫn của người hiểu biết hơn, thì người hiểu biết hơn sẽ phải trao sự hướng dẫn lại cho kẻ ngu dốt. Kiểu nào trong hai kiểu cách trên sẽ giải quyết khó khăn tốt nhất cho lợi ích của cả hai người và phù hợp nhất với sự đúng đắn chung của sự vật? Nếu cho rằng một người phải nhượng bộ là chuyện bất công, thì cái bất công nào sẽ là lớn hơn? là cái phán xét tốt hơn phải nhượng bộ cho cái dở hơn hay cái dở hơn phải nhượng bộ cái tốt hơn?
Hiện nay các công việc quốc gia chính là mối quan tâm chung, với sự khác biệt là không đòi hỏi một ai phải hy sinh toàn bộ ý kiến riêng của mình. Bao giờ cũng có thể tính toán lượng định thành một con số giá trị nào đó, một ý kiến giá trị cao hơn được đưa ra bỏ phiếu sẽ là ý kiến được quyền có trọng lượng lớn hơn. Trong sự sắp xếp này chẳng có gì phải gây tự ái cho những người có ý kiến được xếp vào mức độ ảnh hưởng thấp hơn. Loại bỏ hoàn toàn tiếng nói trong các mối quan tâm chung là một chuyện; nhượng bộ cho những người khác có tiếng nói nhiều tiềm năng hơn, dựa trên lý do họ có khả năng điều hành tốt hơn những lợi ích chung, lại là chuyện khác. Hai chuyện này không chỉ là khác nhau mà còn không thể so với nhau được. Ai cũng có quyền cảm thấy bị tổn thương do bị coi như không là gì hết, bị đóng dấu như một kẻ hoàn toàn không được tính đến. Nhưng chỉ có là người điên, và là điên rồ loại kì quặc, thì mới cảm thấy bị xúc phạm bởi việc thừa nhận rằng, còn có những người khác mà ý kiến của họ, và thậm chí nguyện vọng của họ, có quyền được xem xét đến nhiều hơn là [ý kiến và nguyện vọng] của mình. Không được có tiếng nói trong những việc phần nào liên quan đến bản thân mình là chuyện mà chẳng ai muốn cam chịu; thế nhưng khi cái có liên quan cục bộ đến anh ta cũng là cái liên quan cục bộ đến người khác nữa, và anh ta cảm thấy người khác hiểu vấn đề tốt hơn mình, thì ý kiến của người khác phải được chú ý đến nhiều hơn những ý muốn cùng những kỳ vọng của anh ta, và cùng với chiều hướng sự vật mà anh ta vốn thường mặc nhận trong tất cả mọi công việc khác của đời sống. Chỉ cần là: ảnh hưởng cao hơn ấy phải được đưa ra dựa trên những lý do mà anh ta có thể thấu hiểu và cảm nhận được sự công bằng của những lý do ấy.
Tôi xin nói ngay rằng tôi xem việc dựa theo tài sản để ban phát cho ảnh hưởng cao hơn là chuyện hoàn toàn không thể chấp nhận được, trừ phi như là một biện pháp tạm thời. Tôi không phủ nhận rằng tài sản là một loại thuốc thử; việc giáo dục tại rất nhiều nước, dẫu có là gì cũng không cân đối với của cải, tính trung bình thì việc giáo dục tại nửa phần giàu có hơn là tốt hơn tại nữa phần nghèo khó hơn. Nhưng tiêu chuẩn này thật không hoàn hảo; sự ngẫu nhiên có tác động nhiều hơn là lẽ phải trái trong việc xuất hiện những người tài năng ở thế gian này; đối với bất cứ ai cũng không thể nào lại dựa vào trình độ giáo dục đạt được để chắc chắn có một địa vị cao tương ứng, cho nên thiết lập đặc quyền bầu cử như thế luôn luôn là rất đáng ghê tởm và mãi mãi cũng sẽ vẫn là như vậy. Liên kết đa số phiếu bầu với bất cứ điều kiện tiền bạc nào hẳn không những bản thân điều đó là đáng phản đối, mà điều đó còn là kiểu cách chắc chắn làm mất uy tín nguyên tắc và khiến cho việc duy trì nguyên tắc trở nên bất khả thi. Nền Dân chủ, ít nhất cũng của đất nước này, hiện tại cũng chẳng thiết tha gì với tính ưu việt cá nhân, nhưng nó tha thiết một cách tự nhiên và chắc hẳn cũng là chính đáng với cái ưu thế thuần túy dựa trên điều kiện tiền bạc. Điều duy nhất có thể biện minh cho việc lượng định ý kiến của một người có giá trị hơn ý kiến khác, đó là tính ưu việt của trí tuệ cá nhân; và cái còn thiếu, ấy là những phương pháp gần đúng nào đấy để xác định được tính ưu việt đó. Nếu như quả thực có tồn tại một nền giáo dục quốc gia thực sự hay một hệ thống khảo thí chung đáng tin cậy, thì sự giáo dục có thể được kiểm tra trực tiếp. Nếu không có những thứ đó thì thực chất nghề nghiệp của một người cũng là cái gì đó để đánh giá. Người chủ thuê lao động tính trung bình là có trí tuệ hơn người làm công, vì lẽ anh ta phải lao động với cả cái đầu, chứ không chỉ với hai bàn tay. Một đốc công nói chung là nhiều trí tuệ hơn một lao công bình thường, và một lao công có tay nghề cao thì hơn một lao công không lành nghề. Một chủ ngân hàng, một thương gia, một nhà công nghiệp có vẻ như nhiều trí tuệ hơn một tiểu thương, bởi vì họ phải điều hành những lợi ích rộng lớn hơn và phức tạp hơn.
Trong tất cả những trường hợp trên, không phải chức năng cao làm nên phẩm chất mà hiệu quả việc làm thử thách việc xác nhận khả năng; vì lý do này và cũng để ngăn chặn việc khuyến khích người ta nhận công việc trên danh nghĩa nhằm mục đích bầu cử, hẳn là sẽ thích đáng đòi hỏi nghề nghiệp phải đã được duy trì trong một khoảng thời gian (thí dụ ba năm chẳng hạn). Đối tượng có một số điều kiện như thế có thể được phép nhận hai lá phiếu hay hơn nữa đối với bất cứ một người nào thi hành bất cứ chức năng cao nào trong những loại kể trên. Những nghề nghiệp tự do, một khi được tác nghiệp thực sự chứ không phải trên danh nghĩa, tất nhiên bao hàm một mức độ kiến thức cao; và tại bất cứ nơi nào đòi hỏi một kỳ thi có thẩm quyền, hay một loạt các điều kiện giáo dục nào đó, để được bước vào nghề, thì những thành viên hành nghề đồng thời cũng được thừa nhận quyền có nhiều lá phiếu. Quy tắc này có thể áp dụng cho những người tốt nghiệp đại học; và thậm chí cả cho những người có giấy chứng nhận đầy đủ là đã trải qua một lớp học được giảng dạy một ngành tri thức cao cấp tại một trường học, với sự đảm bảo thích đáng rằng việc giảng dạy là thực chất chứ không phải là giả bộ. Kỳ thi mang tính “địa phương” hay “giai cấp trung lưu” để có bằng cấp Cộng tác viên, vốn được ca ngợi là đầy tinh thần công khai, do các Đại học Oxford và Cambridge thiết lập, hay những kỳ thi tương tự có thể được định chế bởi những hội đoàn khác có thẩm quyền (với điều kiện những cơ sở ấy được mở ra công bằng cho mọi người muốn tham gia), sẽ là cơ sở để trao quyền có nhiều lá phiếu cho những người vượt qua việc sát hạch, tất cả những kiến nghị trên đều mở ngỏ cho thảo luận chi tiết nhiều hơn nữa và cho sự phản đối mà việc lường trước chuyện này cũng chẳng ích lợi gì. Hiện còn chưa tới lúc để phác thảo một hình dạng thực tiễn cho những kế hoạch như thế, hơn nữa tôi cũng không muốn tự bó hẹp trong những kiến nghị mà tôi đã đưa ra. Nhưng tôi thấy hiển nhiên, rằng phương hướng này sẽ dẫn tới lý tưởng chân chính của chính thể đại diện; và rằng hoạt động hướng tới lý tưởng ấy bằng những sáng kiến thực tiễn tốt đẹp nhất có thể tìm ra được chính là con đường cải tiến chính trị thực sự.
Nếu hỏi rằng nguyên lý được thừa nhận đem thi hành sẽ đi xa đến đâu, hoặc bao nhiêu lá phiếu thì có thể sẽ phù hợp với một cá nhân dựa trên lý do phẩm chất cao. Tôi xin trả lời rằng, miễn là việc đánh giá phân loại không thực hiện một cách tùy tiện, còn vấn đề không phải nằm ở những điểm đó, mà là chuyện sao cho lương tri và sự hiểu biết chung có thể thấu hiểu được và chấp nhận nguyên lý này. Thế nhưng điều kiện tuyệt đối là phải đảm bảo sao cho không vượt quá giới hạn quy định bởi nguyên lý cơ bản được thừa nhận ở chương trước như là điều kiện cho tính ưu tú của hệ thống đại biểu. Quyền có nhiều lá phiếu phải được tính toán thực hiện sao cho những người hưởng đặc quyền này, hoặc giai cấp (nếu có) mà những người này là thành viên chủ chốt, sẽ không lợi dụng điều này để lấn át được bộ phận còn lại của cộng đồng. Sự biệt đãi thiên vị cho giáo dục bản thân nó là đúng đắn, được đề nghị mạnh mẽ xúc tiến xa hơn bằng việc giữ gìn nền lập pháp có giáo dục tránh khỏi nền lập pháp giai cấp vô học; tuy nhiên phải chặn đứng khả năng những người này lại thực hành nền lập pháp giai cấp cho bản thân họ. Tôi xin bổ sung thêm rằng, tôi xem phần tuyệt đối thiết yếu của kế hoạch về quyền có nhiều lá phiếu là nó phải mở ra cho cá nhân nghèo khó nhất trong cộng đồng được quyền biệt đãi này, nếu anh ta chứng tỏ được rằng, bất chấp mọi khó khăn và trở ngại, anh ta xứng đáng về mặt trí tuệ để được quyền biệt đãi này. Các kỳ thi phải mang tính tự do tham dự theo nguyện vọng mà bất cứ người nào, dù có trình diện là ai đi nữa, đều có cơ hội chứng minh rằng, mình đạt được chuẩn mực tri thức và khả năng theo như đòi hỏi, dù để được thừa nhận có quyền có nhiều lá phiếu. Một đặc quyền không từ chối bất cứ người nào có thể chứng minh được rằng anh ta hội đủ các điều kiện theo như đòi hỏi về lý thuyết và nguyên tắc, thì nó không nhất thiết phải xung khắc với tình yêu công lý của bất kỳ ai, nhưng nó chắc chắn sẽ gây phản cảm như thế, nếu nó chỉ dựa vào những căn cứ phỏng đoán không phải bao giờ cũng đúng, mà lại phủ nhận bằng chứng trực tiếp.
Quyền có nhiều lá phiếu, dù đã được thực hành tại những cuộc bầu chọn của những người đóng góp cho nhà xứ hay của những người bảo vệ luật pháp cho người nghèo, vẫn hãy còn là xa lạ đối với những cuộc bầu cử Nghị viện, cho nên quyền này không có vẻ như sắp sửa được thừa nhận hay được thừa nhận một cách tự nguyện: nhưng rồi ắt sẽ đến lúc mà sẽ chỉ còn có lựa chọn giữa quyền có nhiều lá phiếu này và quyền phổ thông đầu phiếu bình đẳng mà thôi, bất cứ ai không mong muốn cái sau cũng sẽ không sớm cam chịu cái trước. Trong khi ấy, dẫu kiến nghị này hiện vẫn chưa thể có tính thực tiễn, nhưng nó sẽ gây ra sự chú ý tới điều gì sẽ là tốt nhất về nguyên tắc, và sẽ giúp ta có thể xét đoán tính thích hợp của mọi phương tiện gián tiếp, hoặc đang tồn tại, hoặc có khả năng được chấp nhận, cái gì là thứ có thể đẩy mạnh việc đạt tới cùng một mục tiêu theo một cung cách kém hoàn hảo hơn. Một người có thể có hai lá phiếu bằng những cách khác hơn so với việc yêu cầu hai lá phiếu tại cùng một nơi làm thủ tục bầu cử; anh ta có thể có phiếu bầu mỗi cái ở một trong hai khu vực bầu cử khác nhau: và dẫu đặc quyền ngoại lệ này hiện nay thuộc về người có ưu thế của cải hơn là người có ưu thế trí tuệ, tôi cũng không muốn bãi bỏ nó ở nơi hiện có, vì cho tới khi một cuộc sát hạch giáo dục thực chất hơn được chấp nhận, thì sẽ là thiếu khôn ngoan nếu bỏ đi ngay cả cái thứ không hoàn hảo đến vậy vì nó ban phát dựa trên hoàn cảnh tiền bạc. Có thể sẽ tìm được phương cách mở rộng hơn nữa cho người nhận đặc quyền, liên kết việc mở rộng ấy một cách trực tiếp hơn nữa với trình độ giáo dục cao. Trong bất cứ Dự luật Cải cách tương lai nào mà hạ thấp nhiều điều kiện tiền bạc cho quyền bầu cử, thì một điều khoản khôn ngoan có thể sẽ là cho phép tất cả những người tốt nghiệp đại học, tất cả những ai thi tốt nghiệp điểm cao ở các trường cao đẳng, mọi thành viên của các nghề nghiệp tự do, hay cũng có thể một số nghề nghiệp khác nữa, được quyền đăng ký đặc cách có phiếu bầu tại bất cứ khu vực bầu cử nào họ chọn; ngoài ra họ vẫn được duy trì thêm lá phiếu của họ với tư cách công dân bình thường tại địa phương mà họ cư trú.
Cho đến khi mọi chuyện sẽ được hoạch định và cho đến khi ý kiến sẽ được sẵn sàng chấp nhận, một kiểu quyền có nhiều lá phiếu nào đó ấn định cho [trình độ] giáo dục phải được đặt ra, như là, mức độ ảnh hưởng cao nhờ trình độ giáo dục và đủ để đối trọng với số lượng nhiều của giai tầng ít được giáo dục nhất, vì rằng những lợi ích của phổ thông đầu phiếu một cách triệt để sẽ không thể có được, nếu không đưa quyền có nhiều lá phiếu vào cùng với nó, theo tôi nghĩ nếu thế thì sẽ tạo cơ hội cho những cái xấu còn lớn hơn nữa. Rất có thể (và có lẽ đây sẽ là một trong những bước quá độ mà chúng ta có thể phải trải qua trong quá trình tiến bộ để đi đến một hệ thống đại diện thực sự tốt đẹp), là những rào cản giới hạn bầu cử có thể phải được san bằng hoàn toàn tại một số khu vực bầu cử đặc thù, nơi những người đắc cử sẽ chủ yếu do những người lao động chân tay [bầu ra]; những điều kiện bầu cử hiện hữu được duy trì tại những nơi khác, hoặc giả có sửa đổi nào đó thì phải đi kèm với việc phân loại khu vực bầu cử sao cho ngăn chặn được giai cấp lao động trở nên có quyền thế lớn tại Nghị viện. Bằng một sự thỏa hiệp như vậy, những dị thường trong việc đại diện không những sẽ vẫn được duy trì mà còn gia tăng hơn nữa; thế nhưng đó không phải là sự phản đối đáng thuyết phục; vì rằng nếu đất nước không lựa chọn theo đuổi những mục tiêu đúng đắn bằng một hệ thống chính quy dẫn dắt tới những mục tiêu ấy, nó sẽ phải bằng lòng với những biện pháp tạm bợ không chính quy, vì chúng sẽ được ưa chuộng hơn nhiều so với một hệ thống nghiêm chỉnh, thế nhưng những thứ tạm bợ ấy sẽ thường xuyên bị chỉnh sửa cho những mục tiêu sai trái, hoặc những thứ ấy sẽ bỏ qua một số mục tiêu nào đó cũng cần thiết ngang bằng với những mục tiêu khác. Một sự phản đối nghiêm trọng hơn nữa là sự hiệu chỉnh ấy sẽ không tương thích với tính cộng đồng cùng tham gia của các khu vực bầu cử địa phương mà bản kế hoạch của ông Hare đòi hỏi; là nó làm cho mỗi cử tri sẽ vẫn còn bị cầm tù trong phạm vi một hay nhiều khu vực bầu cử, nơi mà tên anh ta được đăng ký, và trừ phi anh ta muốn được đại diện bởi một trong các ứng viên tại những địa phương ấy, còn nếu không thì anh ta sẽ hoàn toàn không được đại diện.
Tôi đã gắn tầm quan trọng thật nhiều cho việc giải phóng các cử tri đã có quyền bỏ phiếu, nhưng lá phiếu của họ lại vô dụng vì luôn là quá ít [thiểu số]; tôi cũng đặt thật nhiều hy vọng vào ảnh hưởng tự nhiên của chân lý và lẽ phải, chỉ cần bảo đảm sẽ được lắng nghe và có sự biện hộ đủ thẩm quyền – rằng tôi sẽ không mất hết hy vọng vào sự tác động ngay cả của chế độ phổ thông đầu phiếu bình đẳng, nếu tính đại diện theo tỷ lệ được biến thành hiện thực cho tất cả các nhóm thiểu số dựa trên nguyên tắc của ông Hare. Thế nhưng, nếu giả sử những hy vọng tốt đẹp nhất được hình thành trên chủ đề này là điều chắc chắn, tôi vẫn sẽ còn tranh đấu cho nguyên tắc quyền có nhiều lá phiếu. Tôi không trù định quyền có nhiều lá phiếu như là cái gì đó tự thân nó không được ưa thích, giống như việc loại trừ một bộ phận cộng đồng không cho tham gia bầu cử, là việc nhất thời có thể phải chịu đựng để ngăn chặn những điều xấu xa lớn hơn. Tôi không xem quyền bầu cử bình đẳng như những thứ tự thân nó là tốt đẹp với điều kiện nó được giữ gìn tránh khỏi những điều bất tiện. Tôi xem nó chỉ là một thứ tương đối tốt; ít đáng bị phản đối hơn là sự bất bình đẳng trong đặc quyền [được đi bầu] dựa trên những hoàn cảnh không thích đáng và có tính chất ngoại lai, nhưng về nguyên tắc là không đúng đắn bởi vì nó thừa nhận một chuẩn tắc không đúng đắn và tạo ảnh hưởng xấu lên ý thức của cử tri. Đó không phải là hữu ích mà là gây hại, khi hiến pháp của đất nước lại tuyên ngôn sự dốt nát được cho quyền có sức mạnh chính trị nhiều ngang với tri thức. Các thiết chế quốc gia phải đặt mọi chuyện liên quan trước sự chú ý của công dân trong ánh sáng soi tỏ rằng, chính vì điều tốt cho công dân mà anh ta phải xem xét kỹ chúng, và bởi lẽ chính vì điều tốt cho công dân mà anh ta phải suy nghĩ rằng, mỗi người đều được quyền có một số ảnh hưởng nào đó, nhưng người tốt hơn và minh trí hơn phải có nhiều ảnh hưởng hơn những người khác, cho nên điều quan trọng là niềm tin này phải được Nhà nước rao giảng và được thể hiện trong các thiết chế quốc gia. Những thứ như thế cấu thành tinh thần các thiết chế của một đất nước: cái bộ phận này trong ảnh hưởng của các thiết chế ít được các nhà tư tưởng thông thường, đặc biệt là các nhà tư tưởng Anh, chú ý tới; dẫu rằng các thiết chế của mọi đất nước, không phải bằng sự đàn áp tích cực thật mạnh mẽ, mà chính bằng tinh thần của chúng mới tạo ra hiệu quả nhiều hơn bất cứ những điều khoản trực tiếp nào, rằng tính cách dân tộc hình thành nên bởi chính tinh thần ấy. Các thiết chế của nước Mỹ in sâu vào tâm trí người Mỹ rằng, bất cứ một người nào (với màu da trắng) cũng tốt hệt như bất cứ một người nào khác; và người ta cảm nhận thấy rằng, cái tín điều lừa dối ấy hầu như kết liên với một số điểm không có lợi lắm trong tính cách người Mỹ. Đây không phải là một trò láu cá nhỏ để hiến pháp của bất cứ nước nào cũng nên thừa nhận; vì lẽ niềm tin vào nó, dù lộ ra hay ngầm ẩn, cũng gây hại cho tính ưu việt đạo đức và trí tuệ, giống như bất cứ hiệu quả nào mà phần lớn các hình thức chính thể thường vẫn có thể gây ra.
Có thể người ta sẽ bảo rằng, một hiến pháp đem lại ảnh hưởng bình đẳng, người nào cũng như nhau, từ người có trình độ cao nhất tới người có trình độ thấp nhất, dẫu sao thì cũng vẫn có ích cho tiến bộ, bởi vì sự kêu gọi luôn thường xuyên hướng tới những giai tầng có trình độ thấp, sự rèn luyện trí óc nhằm vào khả năng trí tuệ của họ, sự nỗ lực mà những người có trình độ cao hơn có nghĩa vụ phải làm, nhằm khai minh cho óc suy xét của họ và hướng dẫn họ tránh khỏi những lầm lạc và định kiến, chính đó là những nhân tố kích thích mạnh mẽ cho sự tiến bộ về trí tuệ của họ. Tôi thừa nhận rằng, cái hiệu quả đáng mong ước nhiều nhất này quả thực có đi kèm với sự thừa nhận việc chia sẻ quyền lực một phần nào đó, thậm chí là phần to lớn, cho những giai tầng ít được giáo dục, và cái hiệu quả ấy hiện vẫn đang được tích cực duy trì. Nhưng lý thuyết và trải nghiệm dường như lại chứng tỏ rằng, có một dòng chảy ngược chiều đang trở thành thị hiếu, khi những giai tầng ít được giáo dục ấy biến thành những kẻ sở hữu mọi quyền lực. Những kẻ có quyền tối thượng với mọi thứ, dù đó là Một người, hay Số ít, hay Số đông, sẽ không còn cần đến sự trợ giúp của lý lẽ nữa; họ sẽ làm cho chỉ có ý muốn của họ là chiếm ưu thế; và những kẻ mà không thể bị ai kháng cự lại, thường quá tự đắc với các ý kiến của bản thân mình, nên chẳng thèm mong muốn thay đổi chúng, hoặc chịu kiên nhẫn lắng nghe bất cứ người nào nói với họ rằng họ sai trái. Quan điểm đem lại sự kích thích mạnh nhất cho việc bồi dưỡng nâng cao trí tuệ, chính là lòng mong muốn vươn lên nắm quyền, chứ không phải mong muốn đạt được trí tuệ; và trong mọi quan điểm khác, nhất thời hay bền bỉ, về phương cách đạt được uy thế, thì quan điểm phát triển những phẩm chất tốt đẹp nhất và cao cả nhất chính là lập trường của những người đủ mạnh mẽ làm cho lý lẽ chiếm được uy thế, nhưng chưa đủ mạnh mẽ để chiếm được uy thế trước lý lẽ. Đó chính là lập trường phù hợp với những nguyên tắc mà chúng tôi đã đề ra, theo đó thì người giàu và người nghèo, người được học nhiều và người được học ít, và mọi giai tầng cũng như giáo phái mà xã hội phân chia ra, phải được đặt vào đúng chỗ của mình trong chừng mực có thể thực hiện được. Kết hợp nguyên tắc này với một nguyên tắc khác – chính là nguyên tắc cho phép ưu thế phẩm chất trí tuệ được có ưu thế về sức nặng, một thiết chế chính trị phải làm cho cái kiểu hoàn hảo tương đối ấy thành hiện thực, cái kiểu hoàn hảo như thế là cái duy nhất tương thích được với bản chất phức tạp trong hoạt động của con người.
Trong luận cứ nêu trên về bầu cử phổ thông nhưng có chia hạng, tôi không tính đến sự khác biệt giới tính. Tôi cho rằng đối với quyền chính trị thì sự khác biệt này cũng không thích đáng giống như sự khác biệt với chiều cao hay màu tóc. Mọi con người đều cùng có sự quan tâm đến chính thể tốt; sự an sinh của mọi người hình như đều bị tác động bởi điều này, và họ cùng có nhu cầu được có tiếng nói trong vấn đề ấy để đảm bảo có phần chia lợi ích từ đó. Nếu có sự khác biệt nào, thì đó là phụ nữ đòi hỏi có tiếng nói nhiều hơn nam giới, rằng họ có cơ thể yếu ớt hơn nên phụ thuộc vào luật pháp và xã hội nhiều hơn trong việc được bảo hộ. Loài người từ lâu rồi đã từ bỏ những tiền đề duy nhất ủng hộ cho kết luận, rằng phụ nữ không được có quyền đi bầu. Không một ai bây giờ còn giữ ý kiến cho rằng phụ nữ phải bị phụ thuộc như nô lệ, rằng họ không được có tư tưởng, hay nghề nghiệp, mà chỉ lo việc nội trợ cực nhọc hầu hạ cho chồng, cha hoặc anh em. Người ta cho phép những phụ nữ chưa lập gia đình, nhưng ít chịu thừa nhận quyền của các phụ nữ có chồng, được nắm giữ tài sản, có những quan tâm tiền bạc và công việc làm ăn theo cung cách giống như đàn ông. Việc phụ nữ phải suy nghĩ, viết sách báo và làm giáo viên được coi là chuyện phù hợp và thích đáng. Một khi những chuyện này được công nhận thì chẳng còn cơ sở nào cho nguyên tắc truất quyền chính trị nữa. Toàn bộ kiểu cách tư duy của thế giới hiện đại là gia tăng nhấn mạnh tuyên ngôn chống lại quyền của xã hội quyết định thay cho các cá nhân xem họ phải như thế nào hay họ không thích hợp cho việc nào, và chuyện gì thì họ được phép hay không được phép toan tính. Nếu những nguyên tắc chính trị và kinh tế-chính trị hiện đại là đúng đắn cho mọi chuyện, thì đó là vì những nguyên tắc ấy đã chứng minh rằng những điểm ấy chỉ có bản thân các cá nhân có thể tự xét đoán mới là công bằng, và rằng trong điều kiện hoàn toàn tự do lựa chọn, ở bất cứ đâu quả thực có sự đa dạng của năng khiếu, thì những người chiếm số đông sẽ áp đặt ý kiến của họ cho những việc mà họ thích hợp nhất tính theo trung bình, một cách cư xử khác biệt chỉ xảy ra như những ngoại lệ. Hoặc giả toàn thể xu hướng của những cải tiến xã hội hiện đại là sai lệch, hoặc nó phải được tiến hành đi tới bãi bỏ tận gốc tất cả những việc cấm cửa và ngăn cản bóp chết mọi việc làm lương thiện của con người.
Tuy nhiên, chẳng cần phải nói nhiều đến thế để chứng minh rằng phụ nữ phải có quyền bầu cử. Đâu là đúng hay sai cái chuyện phụ nữ phải là tầng lớp phụ thuộc, bị hạn chế trong công việc nội trợ và lệ thuộc vào quyền uy gia trưởng, thì cũng không vì thế mà họ ít đòi hỏi được bảo hộ để có quyền bầu cử, bảo đảm cho họ không bị xâm hại bởi cái quyền uy ấy. Đàn ông, cũng như phụ nữ, không cần thiết có quyền chính trị để mà thống trị, nhưng là để họ không bị cai trị tệ hại. Đa số những người thuộc nam giới sẽ suốt cả đời chỉ là những người lao động trên những cánh đồng hay trong các nhà máy; nhưng điều này không làm cho quyền bầu cử trở thành ít được mong muốn đối với họ, cũng không làm cho việc đòi quyền của họ trở thành ít cấp bách, khi mà không có vẻ gì là họ sẽ sử dụng sai quyền bầu cử. Chẳng ai dám nghĩ rằng phụ nữ sẽ sử dụng sai quyền bầu cử. Phát biểu tệ nhất là e ngại họ sẽ bỏ phiếu tùy thuộc đơn thuần theo mệnh lệnh của mối quan hệ với những người đàn ông thân thích của họ. Nếu có vậy thì cũng cứ để như vậy. Nếu họ tự mình suy nghĩ thì thật là rất tốt, nếu họ không làm thế thì cũng chẳng hại gì. Tháo xiềng xích cho con người là điều ích lợi cho họ, ngay cả khi họ không muốn bước chân đi nữa, Hẳn sẽ là một cải tiến lớn lao cho địa vị tinh thần của phụ nữ, khi họ không còn bị luật pháp tuyên cáo như không có khả năng có được ý kiến và không được quyền ưu tiên đối với những mối quan tâm trọng yếu nhất của nhân loại. Hẳn cũng có ích lợi nào đó đối với cá nhân họ, khi họ có được cái gì đó để ban tặng, cái mà những người đàn ông thân thích với họ không thể bắt họ cống nộp và vẫn ước ao có được nó. Cũng hẳn là một ích lợi không nhỏ, khi mà những người chồng thấy có vấn đề cần phải thảo luận với vợ mình, khi mà việc bầu cử không phải là công việc dành độc nhất cho họ, nhưng là công việc liên quan chung. Người ta thường không thấy hết được thật khác biệt biết bao cái sự kiện, là chị ta có thể có hoạt động nào đó ở thế giới bên ngoài không phụ thuộc vào anh ta, sự kiện ấy nâng cao phẩm cách và giá trị của chị ta trước con mắt dung tục của đàn ông, khiến cho chị ta trở thành đối tượng của một sự kính trọng mà xưa nay không một phẩm chất cá nhân nào lại đạt được đối với một người mà anh ta có thể chiếm hữu hết thảy sự tồn tại xã hội.
Bản thân cuộc bầu cử cũng sẽ được cải tiến về chất lượng. Người đàn ông thường bị bó buộc phải tìm những lý lẽ xứng đáng cho lá phiếu của mình, như quy về một tính chất chính trực và vô tư hơn để giúp anh ta đứng dưới cùng một ngọn cờ. Ảnh hưởng của người vợ thường khi có thể giữ cho anh ta được trung thực với ý kiến chân thành của riêng mình. Thực ra thường khi điều này được sử dụng không đứng về phía nguyên tắc công cộng mà đứng về phía lợi ích cá nhân hay hư danh trần thế của gia đình. Thế nhưng ở bất cứ đâu có xu thế chịu ảnh hưởng của người vợ thì nó cũng đã được sử dụng hết cỡ theo hướng xấu ấy rồi; và có phần chắc chắn là thế vì rằng theo luật pháp và tập quán hiện hành thì nói chung người vợ hoàn toàn xa lạ với chính trị theo mọi ý nghĩa dính dáng đến nguyên tắc có khả năng làm cho chị ta nhận thức được rằng có một quan điểm danh dự ở trong đó, và phần đông người ta cũng chẳng mấy thiện cảm về quan điểm danh dự của người khác, khi mà danh dự của bản thân họ không đặt vào cùng chỗ đó, giống như cảm nhận tôn giáo của những người có tôn giáo khác với họ. Hãy cho phụ nữ được có quyền bầu cử, và rồi họ sẽ chịu tác động của quan điểm danh dự về mặt chính trị. Họ sẽ học được cách nhìn nhận chính trị như một thứ mà họ được phép có ý kiến, và nếu họ đã có một ý kiến thì phải hành động theo ý kiến đó; họ sẽ tiếp thu được ý nghĩa của trách nhiệm cá nhân trong vấn đề chính trị và sẽ không còn cảm thấy giống như hiện nay, rằng họ có thể làm mọi chuyện bất kể có ảnh hưởng xấu thế nào, còn nếu người đàn ông có thể làm thì chỉ là khi được thuyết phục rằng mọi thứ đều ổn cả và anh ta chịu trách nhiệm về mọi chuyện. Chỉ khi nào họ được khích lệ hình thành một ý kiến, và đạt được một sự thấu hiểu trí tuệ về các lý lẽ phải chiếm ưu thế cùng với lương tâm để chống lại sự cám dỗ của lợi ích cá nhân và gia đình, thì họ mới thôi hành động như một thế lực gây bối rối lương tâm chính trị của con người. Tác dụng gián tiếp của họ chỉ có thể bị ngăn chặn khỏi trở nên nguy hại về chính trị bằng cách đổi lại thành tác dụng trực tiếp.
Tôi cho rằng trong tình trạng tốt đẹp khả dĩ thì quyền bầu cử phụ thuộc vào những điều kiện cá nhân. Ở đây, tại đất nước này cũng như nhiều nước khác, nó phụ thuộc vào những điều kiện của quyền sở hữu, sự mâu thuẫn thậm chí còn bộc lộ rõ ràng hơn nữa. Có điều gì đó còn hơn cả sự bất hợp lý thông thường ở trong sự kiện là khi người phụ nữ có thể đưa ra mọi đảm bảo theo đòi hỏi của một cử tri nam giới, hoàn cảnh độc lập, địa vị chủ nhà và chủ gia đình, đóng thuế đầy đủ cũng như mọi điều kiện khác được đặt ra, thì chính cái nguyên tắc và hệ thống của một quyền đại diện dựa trên tài sản lại bị đặt sang một bên và sự truất quyền cá nhân được đặc biệt đặt ra chỉ để nhằm mục đích loại trừ người phụ nữ. Khi bổ sung thêm rằng điều này được thi hành tại một đất nước mà người phụ nữ đang trị vì, rằng người cầm quyền vẻ vang nhất mà đất nước xưa nay đã từng có là người phụ nữ, thì cái bức tranh phi lý và bất công không che đậy ấy thật toàn diện. Chúng ta hy vọng rằng trong tiến trình lần lượt phá đổ những tàn tích của cái cơ cấu độc quyền và chuyên chế đang tan vỡ, thì đây không phải là cái cuối cùng sẽ phải biến mất: rằng ý kiến của Bentham, của ông Samuel Bailey, của ông Hare và nhiều người khác nữa trong số những nhà tư tưởng chính trị đầy mạnh mẽ của thời đại và đất nước (chưa nói tới những cái khác). Rồi sẽ đi đến được tới mọi tâm trí không để cho thói vị kỷ cố kết và định kiến ăn sâu vào; và rằng, trước sự lầm lạc của một thế hệ khác, sự ngẫu nhiên giới tính, không hơn gì sự ngẫu nhiên của màu da, rồi sẽ được điều chỉnh thích đáng nhằm lấy lại sự bảo hộ bình đẳng và những đặc quyền chính đáng của một công dân.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
