Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 9: Một bức thư gửi George Kennan

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 9: Một bức thư gửi George Kennan

New College, Oxford

13 February 1951

Ngài George thân mến,

Tôi đã được hưởng một bức thư tuyệt vời của ngài, nhưng tôi thật tệ đã để nó không được phúc đáp lâu đến thế. Tôi nhận được thư vào cuối học kì ở đây, khi thực sự mệt lử vì dạy học và chấm thi, và khó có thể bắt tay vào bất cứ chuyện gì, nhưng ngay cả lúc đó bức thư đã làm tôi cảm động sâu sắc. Tôi mang theo bức thư đến Italia, đọc đi đọc lại, và định hoãn đến một ngày có thể viết một thư phúc đáp xứng đáng với nó, nhưng cái ngày ấy đã chẳng bao giờ đến. Tôi đã bắt tay viết nhiều bức thư, nhưng đều thấy chúng thật tầm thường, và giống như người Nga gọi là “suetlivo”416 - toàn những câu vội vã, tản mạn, không thích hợp cả cho đề tài lẫn những lời của ngài về nó; thế nhưng tôi không chịu nổi (giá như mà bởi những cảm xúc bức thư của ngài khơi lên nơi tôi) việc chẳng nói điều gì chỉ vì không chắc lắm phải nói đến đâu. Nên ngài phải thứ lỗi cho tôi nếu những gì tôi viết là lộn xộn, không phải chỉ trong hình thức mà cả trong bản chất, và không đánh giá đúng luận đề của ngài. Đơn giản tôi xin bắt đầu và hi vọng làm được điều tốt đẹp nhất, và xin ngài tha thứ nếu tôi làm phí thời gian của ngài.

Tôi phải bắt đầu bằng việc nói rằng ngài đã viết ra một thứ gì đó mà tôi tin không phải chỉ là tâm điểm của chủ đề, mà còn là một điều gì đó tôi không sao nói ra được, có lẽ vì một sự miễn cưỡng nào đó phải đối mặt với vấn đề đạo đức cơ bản mà mọi thứ đều xoay quanh nó; nhưng rồi vẫn cứ bị ép buộc phải đối diện với nó, tôi ý thức được cả chuyện thật là hèn nhát cứ nói vòng vo như tôi, cũng như chuyện thực ra, hơn thế nữa, đó chính là những gì bản thân tôi tin tưởng, và tin tưởng thật sâu sắc rằng nó là chân lí; và trên cả điều này: toàn bộ quan điểm đạo đức của một người phụ thuộc vào thái độ của người đó đối với vấn đề ấy mà ngài đã đặt ra rất rõ ràng, và tôi có thể nói là rất thống thiết nữa.

Hãy để tôi cố thử nói ra tôi nghĩ đó là điều gì; ngài bảo là (tôi không trích nguyên văn) mỗi người đều có một nhược điểm, một gót chân Achille, và bằng cách khai thác điều này thì một người có thể được tạo thành một vị anh hùng, một người tuẫn đạo hay một giẻ rách. Nếu tôi hiểu đúng, thì ngài cho rằng văn minh phương Tây đã dựa trên nguyên lí khẳng định rằng dù cho bất cứ điều gì được cho phép hay bị cấm đoán, thì một hành động cực kì tàn độc có thể hủy hoại cả thế giới, ấy chính xác là làm chuyện sau đây - hành động cố ý can thiệp vào những con người sao cho khiến họ phải cư xử theo một cung cách khả dĩ khiến họ giật mình trong nỗi kinh hoàng và lành tởm, nếu giả sử họ đã biết được họ đang làm điều gì, hay những hậu quả của nó ra sao. Toàn bộ nền đạo đức của Kant (và tôi không biết về Thiên Chúa giáo, nhưng những người Tin Lành, Do Thái, Hồi giáo và những người vô thần có tâm trí cao thượng đều tin vào nó) dựa trên điều này; câu nói huyền bí về những con người là “những cứu cánh tự thân” mà nhiều lời nói suông đãi bôi đã được dành cho nó nhưng chẳng có được bao nhiêu cố gắng giải thích nó, [câu nói ấy] dường như cũng dựa trên điều này: đó là mỗi con người đều được giả định sở hữu khả năng lựa chọn làm gì và là gì, dù cho khu vực giới hạn sự lựa chọn của anh ta có nhỏ hẹp đến đâu, dù cho anh ta bị bao quanh bởi những hoàn cảnh vượt ngoài tầm kiểm soát của anh ta thế nào chăng nữa; ấy là tình yêu và sự kính trọng của tất cả mọi người đều dựa trên việc quy cho những động cơ có ý thức theo nghĩa đó; ấy là tất cả những phạm trù, những khái niệm, mà dưới dạng thức của chúng chúng ta suy nghĩ về nhau và hành xử với nhau - thiện và ác, hội nhập và không hội nhập, quy kết phẩm giá và vinh dự cho những người khác, những người mà chúng ta không được lăng nhục hay bóc lột, toàn bộ chùm ý tưởng như là về tính chân thật, trong sáng về động cơ, lòng can đảm, khả năng nhận biết chân lí, mẫn cảm, lòng trắc ẩn, công bằng; và ở phía bên kia, tính hung bạo, giả dối, độc ác, tàn nhẫn, thiếu đắn đo, đồi bại, vô cảm, trống rỗng - tat cả những ý niệm ay mà dưới dạng thức của chúng, chúng ta suy nghĩ về những người khác và về bản thân mình, dưới dạng thức của chúng hành xử được định mức, các mục tiêu được chấp nhận - tất cả những thứ đó đều trở thành vô nghĩa, nếu chúng ta không xem con người như có khả năng theo đuổi những cứu cánh vì tự thân chúng, bằng những hành động có chủ tâm của lựa chọn - chỉ riêng những hành động ấy mới khiến cho sự cao quý là cao quý và những hi sinh là hi sinh.

Toàn bộ nền đạo đức ấy, vốn đã nổi lên rõ nhất vào thế kỉ 19, đặc biệt là thời kì lãng mạn, nhưng đều ngầm ẩn trong các trước tác của cả Kitô giáo lẫn Do Thái giáo, và xuất hiện ít hơn nhiều trong thế giới không tôn giáo, [toàn bộ nền đạo đức ấy] dựa trên quan điểm cho rằng thật là tuyệt vời trong tự thân nó, khi một người dám tự chống lại thế giới và hi sinh thân mình cho một lí tưởng không hề tính toán đến những hậu quả, ngay cả khi chúng ta thấy lí tưởng của anh ta là trá ngụy và những hậu quả của nó là tai hại. Chúng ta ngưỡng mộ tính trong sáng của động cơ như nó vốn là thế và cho nó là một điều tuyệt vời - hay ít nhất cũng là điều gây ấn tượng sâu sắc, có lẽ cần phải bị đấu tranh chống lại nhưng không bao giờ bị coi khinh - khi một ai đó quẳng đi những lợi thế vật chất, uy danh v.v. nhằm xác nhận bằng chứng cho điều gì đó mà anh ta tin là chân lí, cho dù chúng ta có thể cho anh ta là sai lầm hay cuồng tín thế nào đi nữa. Tôi không có ý nói rằng chúng ta sùng bái sự ruồng bỏ bản thân theo cảm xúc hay tự động coi trọng thói cuồng tín liều lĩnh hơn là sự chừng mực và tư lợi đầy khai sáng. Tất nhiên là không rồi; mặc dù vậy, chúng ta vẫn cho rằng hành xử như thế gây cảm động sâu sắc ngay cả khi được định hướng sai. Chúng ta luôn luôn ngưỡng mộ nó hơn là sự tính toán; ít nhất chúng ta cũng hiểu được cái kiểu lộng lẫy huy hoàng mang tính mĩ học vốn bất chấp mọi thứ, có ở một số người - Carlyle, Nietzsche, Leontiev và bọn Phát xít nói chung. Chúng ta cho rằng chỉ những người ấy là được tín nhiệm cho loại người của họ, là những người không chịu để cho bản thân họ bị những sức mạnh tự nhiên hay lịch sử đẩy đi quá xa, hoặc cam chịu trong nỗi bất lực của chính mình một cách thụ động hay hãnh diện về nó; chúng ta lí tưởng hóa chỉ riêng những người có những mục đích mà họ chấp nhận trách nhiệm vì chúng, và họ đặt cược một thứ gì đó vào những mục đích ấy, và đôi khi còn đặt cược tất cả mọi thứ nữa; sống một cách có ý thức và đầy dũng cảm vì bất cứ điều gì họ cho là tốt đẹp, tức là thứ đáng để sống và cùng lắm thì chết vì nó như phương thức cuối cùng.

Tất cả những điều này có vẻ như quá sáo rỗng, thế nhưng nếu nó là sự thật, thì tất nhiên đó là điều bác bỏ một cách căn bản chủ nghĩa công lợi và cũng là điều khiến cho Hegel và Marx là những kẻ phản bội gớm guốc đối với nền văn minh của chúng ta. Khi, trong một trích đoạn nổi tiếng417, Ivan Karamazov bác bỏ cái thế giới mà theo đó các thế giới hạnh phúc có thể được mua bằng cái giá của việc hành hạ cho đến chết một trẻ em vô tội, thì các nhà công lợi chủ nghĩa, ngay cả những vị văn minh và nhân bản nhất, có gì nữa để nói với anh ta? Nói cho cùng, theo một nghĩa nào đó, thật là không hợp lí, khi vứt bỏ một niềm hạnh phúc lớn đến thế mua được bằng cái giá nhỏ đến thế như là một - chỉ một thôi - nạn nhân vô tội, dù có bị làm cho chết đi kinh khủng thế nào đi nữa - nói cho cùng thì một linh hồn có là gì đâu đối với niềm hạnh phúc của thật nhiều người đến như vậy? Mặc dù vậy, khi Ivan Karamazov nói anh ta thà trả lại tấm vé, thì không một độc giả nào của Dostoevsky cho đó là lạnh lùng hay điên rồ hay vô trách nhiệm cả; dù cho một quá trình thật dài của Bentham hay Hegel có thể biến một người thành kẻ ủng hộ cho viên Đại pháp quan, thì mối băn khoăn nghi ngại vẫn còn đó.

Ivan Karamazov không thể bị quỷ ám hoàn toàn; anh ta nói thay cho tất cả chúng ta, và tôi chấp nhận điều này là ý kiến của ngài và là cơ sở cho niềm lạc quan của ngài. Những gì tôi chấp nhận ngài nói và những gì tôi tự mình phải nói, nếu giả sử tôi có được sự thông minh hay chiều sâu, ấy là có một thứ mà không có thiên đường công lợi nào, không lời hứa hẹn nào về sự hài hòa vĩnh cửu trong tương lai ở trong một toàn thể hữu cơ rộng lớn nào đó, lại có thể khiến chúng ta chấp nhận được, thứ ấy là việc sử dụng những con người như những phương tiện đơn thuần - sửa đổi họ cho đến khi họ phải làm những gì họ làm, không phải vì những mục đích vốn là mục đích của họ, không phải vì để hoàn tất những niềm hi vọng dù có ngớ ngẩn hay liều lĩnh đến đâu, thì ít nhất cũng vẫn là niềm hi vọng của chính họ, nhưng lại vì những lí do mà chỉ có chúng ta, những kẻ vận động lôi kéo, tự do thuyết phục họ vì những mục đích của chúng ta, là có thể hiểu thấu. Điều gây kinh hoàng cho người ta về sự thực hành Xô viết hay Quốc xã không chỉ đơn thuần là nỗi khổ đau hay sự tàn ác, cho dù những thứ đó cũng khá tồi tệ, đó là một thứ gì đó mà lịch sử sản sinh ra khá thường xuyên và bỏ qua tính tất yếu bề ngoài của nó thì có lẽ lại là Không tưởng thực sự - không được đâu; điều gì lộn trái người ta từ trong ra ngoài và không thể mô tả, ấy là cảnh tượng của một tập hợp những người can thiệp và “tác động” đến những người khác, sao cho những người khác làm theo ý chí của họ mà không tự biết là đang làm gì; và trong tình trạng ấy những người này mất đi thân phận của bản thân như những con người tự do, thực ra là mất đi cả chút ít tối thiểu để còn là con người.

Khi những đạo quân bị tàn sát bởi những đạo quân khác trong tiến trình lịch sử, chúng ta có thể bị hoảng sợ trước cảnh tàn sát hàng loạt và trở thành người theo chủ nghĩa hòa bình; nhưng nỗi kinh hoàng của chúng ta có một chiều kích mới mẻ khi chúng ta đọc được về những trẻ em, hay trong chuyện này thì cả những người đàn ông và đàn bà đã trưởng thành nữa, những người bị bọn Quốc xã tống lên xe lửa đi vào những buồng hơi ngạt, nhưng lại bảo họ rằng họ được di dân đến một nơi nào đó hạnh phúc hơn. Vì sao làm thủ đoạn lừa dối này, vốn thực ra có thể giảm bớt nỗi đau khổ tột cùng của những nạn nhân, lại khơi dậy lên trong chúng ta một nỗi kinh hoàng thực sự không sao tả xiết? Tôi có ý nói phải chăng là cảnh tượng những nạn nhân nhịp bước đi trong sự không hiểu biết đầy hạnh phúc để tiến tới cái chết của mình giữa những bộ mặt đang mỉm cười của những kẻ gây đau khổ cho họ? Chắc chắn là vì chúng ta không chịu đựng nổi ý nghĩ về những con người bị khước từ cả những quyền năng cuối cùng - được biết sự thật, được hành động ít nhất cũng với sự tự do của người bị kết án, được có khả năng đối diện với sự hủy diệt của mình, với nỗi sợ hãi hay thái độ can đảm tùy theo tính khí của họ, nhưng ít nhất cũng như những con người được vũ trang bởi quyền lực lựa chọn. Chính là sự chối bỏ khả năng được lựa chọn cho những con người, việc bắt họ quy phục quyền lực của một người, buộc họ phải theo cách này hay cách khác tùy theo ý thích bất chợt của một người, sự hủy hoại nhân cách của họ bằng cách tạo ra những dạng thức đạo đức bất bình đẳng giữa kẻ cai ngục và nạn nhân, trong khi kẻ cai ngục biết hắn đang làm gì và tại sao, và chơi đùa với nạn nhân, tức là đối xử với nạn nhân như một đối tượng đơn thuần chứ không phải như một chủ thể mà những động cơ, quan điểm, dự định của anh ta có một trọng lượng bất kì nào đó - bằng cách hủy hoại chính khả năng của anh ta được có những quan điểm, những ý niệm về một loại có liên quan - chính điều này phải tuyệt nhiên không thể được tạo ra.

Điều gì gây kinh hoàng cho chúng ta về tính vô lương tâm, nếu chẳng phải điều này? Vì sao lại có ý nghĩ của một ai đó lừa dối người nào đó khác giống như xoay vần người đó quanh ngón tay nhỏ bé của mình, ngay cả trong những ngữ cảnh vô hại, theo cách thức thú vật đến thế (ví dụ như trong vở kịch Dyadyushkin son418 của Dostoevsky mà Nhà hát nghệ thuật Moscow thường trình diễn thật hay và thật độc địa đến thế)? Nói cho cùng, nạn nhân có thể ưa thích tình trạng không có trách nhiệm nhiều hơn; kẻ nô lệ được hạnh phúc hơn trong tình trạng nô lệ. Chắc chắn chúng ta không căm ghét cái kiểu phá hủy tự do ấy đơn thuần vì nó phủ nhận tự do hành động; ở đây có nỗi kinh hoàng lớn hơn nhiều trong việc tước đoạt của con người chính cái khả năng có tự do - đó chính là tội lỗi thực sự chống lại Chúa thánh thần (Holy Ghost). Mọi chuyện vẫn còn là chịu đựng được, dù họ có phải trải qua khổ đau nhiều đến đâu, chừng nào mà vẫn còn để ngỏ khả năng của cái thiện - là tình trạng trong đó người ta được tự do chọn lựa, được tìm kiếm những cứu cánh một cách bất vụ lợi chỉ vì tự thân chúng. Tâm hồn của họ bị phá hủy chỉ khi nào điều này không còn là khả dĩ nữa. Ấy là khi lòng mong muốn được lựa chọn bị bẻ gãy khiến cho vì thế mà người ta mất đi mọi giá trị đạo đức, và các hành vi mất đi mọi ý nghĩa (dưới dạng thiện và ác) trong chính con mắt của họ; đó chính là điều hàm nghĩa trong việc phá hủy lòng tự trọng của người ta, bằng cách biến họ thành giẻ rách như lời nói của ngài. Đây là nỗi kinh hoàng tột bậc vì trong tình huống ấy không còn có những động cơ đáng làm nào được chừa lại cả: chẳng có gì đáng để làm hay để tránh đi, những lí do để tồn tại đã mất hết. Chúng ta ngưỡng mộ Don Quixote, nếu quả thực như thế, bởi vì ông ta có một khao khát thật trong sáng làm những gì là điều thiện, và ông ta thật thống thiết vì ông ta điên rồ và những cố gắng của ông ta thật nực cười.

Đối với Hegel và đối với Marx (và có thể là đối với cả Bentham nữa, mặc dù ông ta hẳn cũng bị kinh hoàng khi thấy hai ý tưởng được đặt cạnh nhau) Don Quixote không đơn thuần là vô lí mà còn là vô đạo đức. Đạo đức bao gồm trong việc làm những gì là thiện. Điều thiện là thứ thỏa mãn bản chất của một người. Thứ duy nhất thỏa mãn bản chất của một người, ấy là làm bộ phận của dòng chảy lịch sử mà người đó dù muốn dù không cũng bị cuốn theo, tức là cái dòng chảy mà trong bất cứ tình huống nào cũng trữ sẵn “tương lai”. Trong một ý nghĩa tối hậu nào đó, thất bại là bằng chứng của việc hiểu sai lịch sử, của việc đã lựa chọn những thứ nhất định phải bị hủy diệt, ưu tiên chúng hơn những thứ đã được định trước là thành công. Thế nhưng lựa chọn những thứ nhất định bị hủy diệt là “phi lí tính”, và vì đạo đức là lựa chọn hợp lí tính, nên tìm kiếm cái thứ sẽ không diễn ra chính là vô đạo đức. Cái học thuyết ấy vốn cho rằng đạo đức và thiện chính là thành công, và rằng thất bại không những là bất hạnh mà còn là xau xa độc ác nữa, [học thuyết đó] là tâm điểm của tất cả những gì gây kinh hoàng nhiều nhất trong chủ nghĩa công lợi và trong “lịch sử luận” theo kiểu của Hegel, Marx. Vì nếu thứ tốt đẹp nhất chỉ là thứ sau cùng sẽ làm cho người ta hạnh phúc nhất, hay là thứ phù hợp với một kế hoạch huyền bí nào đó của lịch sử, thì quả thực ắt chẳng có lí do gì để “trả lại tấm vé” cả. Giả sử như có một xác suất hợp lí để cho con người mới Xô viết hoặc là được hạnh phúc hơn những tổ tiên của anh ta, ngay cả trong một [tương lai] sau cùng nào đó, hoặc là lịch sử sớm muộn gì cũng sẽ buộc phải sản sinh ra một người như anh ta, dù chúng ta có thích hay không, nếu vậy thì việc phản đối chống lại anh ta sẽ chỉ đơn thuần là chủ nghĩa lãng mạn ngờ nghệch, “chủ quan”, “duy tâm”, vô trách nhiệm tột cùng. Nhiều nhất chúng ta chỉ có thể cãi lại rằng những người Nga quả thực sai trái và phương pháp Xô viết không phải là thứ tốt nhất sản sinh ra loại người đáng mong muốn và tất yếu ấy. Thế nhưng tất nhiên cái điều chúng ta bác bỏ dữ dội không phải là những vấn đề đó về sự kiện, mà chính là cái ý tưởng cho rằng có những hoàn cảnh nào đó mà một người có quyền tác động, nhào nặn những tính cách và linh hồn của những người khác nhằm những mục đích, mà nếu những người đó hiểu ra được thì họ ắt sẽ bác bỏ.

Trong mức độ ấy chúng ta phân biệt phán xét sự kiện và phán xét giá trị - chúng ta phủ nhận cái quyền can thiệp vào những người khác một cách vô giới hạn, bất kể chân lí về những định luật của lịch sử có là gì đi nữa; chúng ta có thể đi xa hơn nữa và phủ nhận ý niệm cho rằng “lịch sử” theo một cách thức huyền bí nào đó “ban cho” chúng ta cái “quyền” làm điều này hay điều nọ, rằng một số người hay khối người nào đó có thể tự cho mình cái quyền về mặt đạo đức bắt chúng ta phải tuân phục theo bởi vì, theo một nghĩa nào đó, họ thi hành những mệnh lệnh của “lịch sử”, bởi vì họ được lựa chọn làm công cụ, làm thuốc chữa hay làm cái roi của nó, hay theo một nghĩa quan trọng nào đó, là “Thế giới mang tính lịch sử” (Welthistorisch) - những con sóng giải thoát vĩ đại, không thể kháng cự của tương lai, vượt ra ngoài những ý tưởng nhỏ nhen, chủ quan, không có khả năng củng cố bằng lí tính, của chúng ta về đúng và sai. Nhiều người Đức và tôi bạo gan nói là nhiều người Nga hay Mông cổ hay Trung Hoa ngày nay cảm thấy rằng sẽ là người trưởng thành hơn nếu thừa nhận sự bao la hoàn toàn của những sự kiện làm rung chuyển thế giới, và tham gia vào lịch sử xứng đáng với những con người bằng cách từ bỏ bản thân vì chúng, còn hơn là ca ngợi hay lên án chiều theo những răn dạy đạo đức tư sản: ý niệm cho rằng lịch sử phải được hoan nghênh như nó vốn thế chính là cách thức kinh khủng của người Đức trút bỏ gánh nặng của lựa chọn đạo đức.

Nếu bị đẩy tới cực đoan thì học thuyết ấy tất nhiên sẽ dẹp bỏ đi tất cả mọi giáo dục, vì khi chúng ta gửi trẻ em đến trường học hay ảnh hưởng tới chúng theo những cách thức khác mà không nhận được sự tán đồng của chúng cho những gì chúng ta đang làm, chẳng phải là chúng ta cũng đang “can thiệp” vào chúng, “nhào nặn” chúng như nhào nặn những cục đất sét chẳng theo mục đích nào của chính chúng hay sao? Câu trả lời của chúng ta phải là: mọi sự “nhào nặn” đều là xấu xa, và nếu giả sử như con người từ lúc sinh ra đã có năng lực lựa chọn và có những phương tiện để thấu hiểu thế giới, thì điều đó ắt phải là tội ác; do trẻ em đã không có những thứ đó, chúng ta tạm thời nô dịch chúng vì e rằng nếu không làm thế chúng sẽ phải chịu những rủi do tệ hại nhất từ phía tự nhiên và những con người, và “sự nô dịch tạm thời” ấy là điều xấu xa cần thiết cho đến thời kì mà chúng có khả năng lựa chọn cho chính mình - “sự nô dịch” có mục đích của nó không phải là sự khắc sâu vào trí não thói tuân phục mà là điều ngược lại, sự phát triển năng lực phán xét và lựa chọn; nhưng nó vẫn là điều xấu xa ngay cả khi nó là cần thiết.

Những người cộng sản và bọn Phát xít chủ trương rằng cái loại “giáo dục” ấy là cần thiết không chỉ cho các trẻ em mà còn cho toàn thể các dân tộc trong những thời kì dài lâu, thời kì héo tàn chậm chạp của Nhà nước tương ứng với tình trạng chưa trưởng thành trong đời sống của các cá nhân. Sự giống nhau là vẻ bề ngoài bởi vì dân chúng, dân tộc không phải là những cá nhân và lại càng không phải là trẻ em; hơn thế nữa, trong khi hứa hẹn thời kì trưởng thành thì sự thực hành của họ lại không chứng thực cho những rao giảng của họ; nói trắng ra là họ đang nói dối và phần đông họ biết rõ họ đang nói dối. Từ điều xấu xa cần thiết trong trường hợp giáo dục cho trẻ em cần tới trợ giúp, thì cái loại thực hành này lại trở thành một điều xấu xa ở quy mô rộng lớn hơn nhiều và hoàn toàn vô cớ, dựa trên hoặc là chủ nghĩa công lợi vốn trình bày sai lệch các giá trị đạo đức của chúng ta, hoặc là dựa trên những ẩn dụ miêu tả sai lệch cả những gì chúng ta gọi là tốt và xấu, lẫn bản chất của thế giới cũng như bản thân các sự kiện. Bởi vì chúng ta, tức là những người liên kết với chúng ta, quan tâm đến việc làm cho người ta được tự do, hơn là làm cho người ta được hạnh phúc, chúng ta thà để cho họ lựa chọn tệ hại còn hơn họ chẳng được lựa chọn gì; bởi chúng ta tin rằng nếu họ không lựa chọn thì họ chẳng thể nào được hạnh phúc hay bất hạnh trong bất cứ ý nghĩa nào mà các hoàn cảnh ấy đáng có; chính ý niệm về “đáng có” tiền giả định sự lựa chọn những cứu cánh, một hệ thống của những ưu tiên tự do, và việc làm xói mòn chúng chính là những gì làm chúng ta đau đớn với tình trạng khủng bố lạnh lùng như thế, tệ hại hơn cả những đau khổ bất công nhất mà dù sao cũng vẫn còn bỏ ngỏ khả năng nhận biết được những đau khổ ấy là gì - một phán xét tự do khiến cho còn có khả năng lên án chúng.

Ngài nói rằng những người dùng cách thức đó làm xói mòn cuộc sống của những người khác sẽ kết thúc bằng việc làm xói mòn chính bản thân họ, và do đó toàn bộ hệ thống xấu xa nhất định sẽ sụp đổ. Về lâu về dài tôi tin chắc ngài nói đúng bởi thói vô liêm sỉ công khai, tình trạng con người bị bóc lột bởi những người tránh được cho bản thân mình khỏi bị bóc lột, thái độ như thế khó mà duy trì được lâu đối với những con người. Nó đòi hỏi quá nhiều kỉ luật và tình trạng căng thẳng kinh khủng trong một bầu không khí thù hận và không tin cậy lẫn nhau, nó cũng không thể kéo dài bởi cường độ đạo đức hay tình trạng cuồng tín chung không đủ để giữ cho nó tiếp tục. Tuy vậy xu thế vẫn có thể sẽ kéo rất dài cho đến khi nó kết thúc, và tôi không tin rằng sức mạnh nội tại gặm mòn sẽ tác động với tốc độ nhanh mà có lẽ ngài dự tính với hi vọng nhiều hơn. Tôi cảm thấy rằng chúng ta phải tránh trở thành những người Marxists lộn ngược. Marx và Hegel đã quan sát sự gặm mòn kinh tế trong thời kì họ sống, cho nên thấy có vẻ như cách mạng luôn ở đâu đó cận kề. Họ đã chết mà không nhìn thấy điều đó, và có lẽ hẳn đã phải cần tới nhiều thế kỉ, nếu giả sử như Lenin đã không cho lịch sử một cú sốc gây bừng tỉnh thật mãnh liệt. Không có một cú sốc, thì liệu chỉ riêng những sức mạnh đạo đức đơn độc có đủ để chôn vùi những kẻ tự đào mồ Xô viết hay không? Tôi hoài nghi điều này. Tuy nhiên tôi cũng chẳng nghi ngờ nhiều hơn ngài về chuyện cuối cùng thì sâu bọ cũng sẽ ăn thịt họ; nhưng khi ngài bảo rằng đó là một điều xấu xa bị cô lập, một tai họa kinh dị giáng xuống để thử thách chúng ta, không gắn liền với những gì đang xảy ra ở các nơi khác, thì tôi không sao có thể xem nó như một hình thức cực đoan và bị xuyên tạc, mà chỉ xem nó như một hình thức quá điển hình của một tâm thế chung mà những đất nước của chúng ta cũng chẳng được miễn trừ.

Vì nói ra điều này mà E.H. Carr đã đả kích tôi với sự hung bạo nào đó trong một bài báo quan trọng trên tờ The Times Literary Supplement số ra tháng 6 mới đây419. Điều này khiến tôi tin rằng thậm chí tôi còn phải rất đúng hơn là tôi đã tưởng, vì các trước tác của ông ta là những triệu chứng hiển nhiên hơn về những gì tôi cố phân tích, và ông ta diễn giải thật đúng những bài báo của tôi như một sự đả kích vào tất cả những gì ông ta ủng hộ. Tất cả những điều này bộc lộ ra đặc biệt trong tác phẩm mới đây của ông ta về cuộc cách mạng Nga - mà trong đó phe đối lập và những nạn nhân không được cho phép làm chứng nhân - đám dân lang thang yếu ớt được chăm sóc chu đáo bởi lịch sử mà ông ta quét họ đi như những kẻ lội ngược dòng, họ, như tự bản thân mình (eo ipso), xứng đáng bị như vậy. Chỉ có những kẻ thắng cuộc là xứng đáng được người ta nghe; bọn còn lại - Pascal, Pierre Bezukhov, tất cả những nhân vật của Chekhov, tất cả những người phê phán và các nạn nhân bị thương vong của chủ nghĩa Đại Đức hay của Những gánh nặng của người da trắng, hay của Thế kỉ của nước Mĩ, hay của Con người phổ biến trong cuộc hành tiến - những kẻ đó là tro bụi của lịch sử, lisnye lyudi420, những kẻ đã lỡ chuyến xe lịch sử, những con chuột nhỏ bé hạ đẳng đối với những người nổi loạn của Ibsen, vốn là những Catilina421 và những kẻ độc tài tiềm năng. Chắc hẳn chưa bao giờ có thời nào mà bọn ưa bắt nạt người khác, như vốn là thế, lại được trọng vọng nhiều như bây giờ: và nạn nhân càng yếu ớt hơn thì bài hát ca tụng chiến thắng càng ầm vang hơn (và chân thành hơn) - xem những đoạn văn ở đâu đó của E.H. Carr, Koestler, Laski chăng? Nhưng tôi không được làm mất thời gian của ngài nhiều hơn nữa.

Một lần nữa tôi muốn nói rằng tôi đã cảm động biết bao bởi cách diễn đạt của ngài về những gì khơi lên trong chúng ta nỗi kinh hoàng chưa từng thấy mà chúng ta cảm nhận được khi chúng ta đọc được những gì đang xảy ra trên lãnh thổ Xô viết, và xin ngài nhận ở đây sự ngưỡng mộ của tôi và niềm kính trọng đạo đức vô bờ bến vì ngài đã trình bày nó với sự thấu hiểu và sự đắn đo ngần ngại. Những phẩm tính ấy tôi thấy là độc nhất vô nhị vào thời nay; tôi chẳng thể nói được nhiều hơn những lời này.

Mãi mãi thuộc về ngài,

[Isaiah]422

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng