Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 1: Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận
Mặc dù thuyết sử luận về cơ bản là phản tự nhiên luận, nhưng không có nghĩa là nó đối lập với ý niệm cho rằng có những điểm chung về mặt phương pháp giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Điều đó xuất phát từ việc các nhà sử luận về nguyên tắc luôn quan niệm (mà tôi hoàn toàn chia sẻ) rằng xã hội học, cũng giống như vật lí học, là một ngạch tri thức với những mục đích vừa mang tính lí thuyết vừa mang tính thường nghiệm.
Nói xã hội học là một bộ môn lí thuyết, ý nói là nó có nhiệm vụ cắt nghĩa và tiên đoán các sự kiện với sự trợ giúp của những lí thuyết hoặc những định luật phổ quát (mà nó cố gắng phát hiện). Mô tả xã hội học như một khoa học thường nghiệm là ý nói rằng nó bị kinh nghiệm ràng buộc, rằng những sự kiện được nó cắt nghĩa và tiên đoán là những thực kiện quan sát được, và rằng quan sát là cơ sở để chấp nhận hay bác bỏ mọi lí thuyết được đề xuất. Khi nói tới thành công trong vật lí học là ta nghĩ tới sự thành công của những lời tiên đoán của nó: và sự thành công của những lời tiên đoán ấy được coi tương đương như sự chứng thực mang tính thường nghiệm của những định luật vật lí. Khi đem đối chiếu sự thành công tương đối của xã hội học với sự thành công của vật lí học là ta đã thừa nhận thành công trong xã hội học về cơ bản cũng nằm ở việc các tiên đoán của nó được chứng nghiệm. Từ đó suy ra có một số phương pháp chung - tiên đoán trên cơ sở các định luật, và dùng quan sát để trắc nghiệm các định luật - mà cả vật lí học lẫn xã hội học đều áp dụng.
Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm này, dù vẫn coi đó là một trong những giả định cơ bản của thuyết sử luận. Nhưng tôi lại không đồng tình với những chi tiết được triển khai thêm của nó. Việc đi sâu hơn vào chi tiết này đã khiến nảy sinh một loạt ý tưởng được mô tả sau đây. Thoạt nhìn, những ý tưởng ấy xem ra có vẻ là hệ quả hiển nhiên và đúng đắn của quan điểm chung vừa được nêu trên, nhưng thực ra chúng lại kéo theo những giả định khác, cụ thể đó là những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận; và nhất là luận thuyết về các định luật hoặc các xu thế lịch sử.
11. SO SÁNH VỚI THIÊN VĂN HỌC. NHỮNG DỰ BÁO DÀI HẠN VÀ NHỮNG DỰ BÁO TRÊN QUY MÔ LỚN
Thành công của thuyết Newton, và nhất là năng lực dự báo vị trí các hành tinh trong tương lai xa của nó đã gây một ấn tượng mạnh đối với các nhà sử luận. Họ tuyên bố rằng khả năng dự báo dài hạn đã được xác định rõ ràng như vậy cho thấy những giấc mơ xa xưa về tiên tri không hề vượt quá giới hạn mà trí tuệ con người có thể vươn tới. Các bộ môn khoa học xã hội cần phải hướng tới một mục tiêu xứng đáng. Nếu thiên văn học tiên đoán được chu kì nhật thực thì cớ gì xã hội học không tiên đoán được các cuộc cách mạng?
Tuy nhiên các nhà sử luận vẫn nhấn mạnh một điều, dù có hướng đến một mục tiêu cao cả như vậy, ta cũng chớ quên rằng các bộ môn khoa học xã hội không thể hi vọng, cũng không nên cố sức, đạt tới độ chuẩn xác của các dự báo thiên văn học. Nếu chẳng hạn đem so với cuốn Niên Giám Hàng Hải, thì về mặt logic ta không thể xây dựng được một cuốn lịch Khoa học về các sự kiện xã hội (như đã được chỉ ra ở mục 5 và mục 6). Dù những cuộc cách mạng có được các bộ môn khoa học xã hội tiên đoán đi chăng nữa thì cũng không thể tiên đoán một cách chính xác; sẽ có hàng loạt những thiếu sót về chi tiết cũng như về thời điểm.
Mặc dù thừa nhận, thậm chí còn nhấn mạnh, những thiếu sót của tiên đoán xã hội học về mặt chi tiết và độ chuẩn xác, các nhà sử luận vẫn cho rằng tầm vóc và ý nghĩa của những dự đoán như vậy có thể bù đắp cho những thiếu sót đó. Thiếu sót xuất hiện chủ yếu là do tính phức hợp của các sự kiện xã hội, do những quan hệ chằng chịt giữa những sự kiện, và do đặc điểm định tính của ngôn từ xã hội học. Mặc dù khoa học xã hội vì thế mà thiếu chuẩn xác, nhưng những ngôn từ định tính lại mang đến cho nó một sự phong phú và sự minh xác về mặt ý nghĩa. “Mâu thuẫn văn hóa”, “thịnh vượng”, “tình đoàn kết”, “đô thị hóa”, “tính hữu dụng” là những ví dụ về loại ngôn từ như vậy. Với những loại tiên đoán vừa được mô tả, tức là những tiên đoán dài hạn những tính thiếu chuẩn xác được bù đắp bởi phạm vi và ý nghĩa của chúng, tôi thiết nghĩ nên gọi chúng là “những tiên đoán trên quy mô lớn” hay “những dự báo trên quy mô lớn”. Theo thuyết sử luận, xã hội học cần nỗ lực tìm tòi nhằm vào những tiên đoán loại này.
Trong một số bộ môn khoa học, những dự báo trên quy mô lớn như vậy - những dự báo dài hạn trên diện rộng và có thể thiếu chuẩn xác - chắc chắn có khả năng được thực hiện thành công. Trong lĩnh vực thiên văn học ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ về những tiên đoán trên quy mô lớn có tầm quan trọng và đã thực sự thành công. Chẳng hạn như việc tiên đoán hoạt động của vết đen trên Mặt Trời dựa vào các định luật tuần hoàn (có ý nghĩa đối với sự biến đổi khí hậu), hoặc việc tiên đoán sự thay đổi mức độ ion hóa theo ngày và theo mùa của lớp vỏ khí quyển (có ý nghĩa đối với vô tuyến viễn thông). Những tiên đoán như vậy xem ra không khác mấy với những tiên đoán về nhật thực khi bàn đến một tương lai khá xa, nhưng chúng khác với những tiên đoán loại này ở chỗ thường chúng chỉ mang tính thống kê và đều thiếu chính xác về chi tiết, thời điểm và những nét đặc trưng khác. Bản thân những tiên đoán trên quy mô lớn không phải là không khả thi; và nếu như các bộ môn khoa học xã hội không có khả năng đưa ra những tiên đoán dài hạn thực sự thì rõ ràng những tiên đoán đó chính là những tiên đoán vừa được ta mô tả như những dự báo trên quy mô lớn. Mặt khác, theo như cách trình bày của chúng ta về những luận thuyết phản tự nhiên luận của chủ thuyết sử luận, những tiên đoán ngắn hạn trong khoa học xã hội luôn vướng phải những bất cập đáng kể. Sự thiếu chính xác có ảnh hưởng lớn đến chúng, vì theo đúng với tính chất tự nhiên, do bị khuôn vào những giai đoạn ngắn ngủi, chúng chỉ có thể dự báo những chi tiết, những nét đặc trưng vụn vặt của xã hội. Một tiên đoán mang tính chi tiết mà lại thiếu chính xác về mặt chi tiết thì chẳng mang lại lợi ích gì. Do đó, theo thuyết sử luận, nếu những tiên đoán xã hội vẫn còn quan trọng đối với chúng ta thì những dự báo trên quy mô lớn (đồng thời cũng chính là những dự báo dài hạn) không những hấp dẫn hơn cả mà còn là những dự báo duy nhất đáng theo đuổi.
12. CƠ SỞ QUAN SÁT
Ở khía cạnh nào đó mà nói, một cơ sở quan sát phi thực nghiệm luôn mang tính “lịch sử”. Thậm chí đối với cơ sở quan sát của ngành thiên văn học cũng vậy. Những thực kiện được thiên văn học dùng làm cơ sở chính là những ghi chép thu được từ đài thiên văn. Chẳng hạn đó là những ghi chép cho ta biết vào ngày ấy, tháng ấy, giờ ấy, ông nọ hay ngài kia quan sát thấy Sao Thuỷ đang nằm ở vị trí nào đó. Tóm lại, những ghi chép ấy cung cấp cho ta một “danh mục các sự kiện sắp xếp theo thứ tự thời gian”, hoặc một niên biểu các phép quan sát.
Tương tự, cơ sở quan sát của xã hội học chỉ có thể hiểu dưới dạng niên biểu các sự kiện, cụ thể là niên biểu những biến cố chính trị và xã hội. Niên biểu những biến cố chính trị và những biến cố quan trọng khác của đời sống xã hội này thông thường được người ta gán cho một cái tên là “lịch sử”. Theo cách hiểu hạn hẹp ấy, lịch sử chính là cơ sở của xã hội học.
Phủ nhận tầm quan trọng của lịch sử hiểu theo nghĩa hẹp như vậy với tư cách là cơ sở thường nghiệm của khoa học xã hội hẳn là một điều nực cười. Thế nhưng một trong những lời tuyên bố đặc trưng của thuyết sử luận có liên quan mật thiết đến việc nó phù nhận tính khả dụng của phương pháp thực nghiệm lại là: lịch sử chính trị và lịch sử xã hội là nguồn kinh nghiệm duy nhất của xã hội học. Do đó, nhà sử luận mường tượng xã hội học như một bộ môn lí thuyết và thường nghiệm mà cơ sở thường nghiệm duy nhất của nó là một niên biểu các thực kiện của lịch sử, với mục đích đưa ra những dự báo, mà tốt nhất là những dự báo trên quy mô lớn. Rõ ràng, những dự báo này đồng thời phải mang tính lịch sử, bởi việc trắc nghiệm, kiểm chứng hay phủ bác chúng phải là công việc của lịch sử trong tương lai. Như vậy, việc đưa ra và trắc nghiệm các dự báo lịch sử trên quy mô lớn là nhiệm vụ của môn xã hội học dưới cái nhìn của thuyết sử luận. Tóm lại, tuyên ngôn của nhà sử luận là: xã hội học là một môn sử học lí thuyết.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
