Chủ nghĩa tả khuynh - Chương 7: Cách mạng Pháp
Giờ đây, khi nhìn vào bối cảnh của cuộc Cách mạng Pháp – về mặt lịch sử, đây chính là cội nguồn của hầu hết những hiểm họa ý thức hệ đang bủa vây không chỉ nền văn minh phương Tây mà còn cả phần còn lại của thế giới – chúng ta phải làm một cuộc kiểm kê về những gốc rễ của sự tai hại này. Chúng ta tìm thấy sự diễn dịch sai lệch và sự bóp méo các sự kiện ở Mỹ, nhưng cũng có những yếu tố khác dẫn đến Cách mạng Pháp, và chúng ta sẽ xem xét chúng sau. Khi giải quyết giai đoạn đầu tiên của cuộc Đại ngộ nhận Âu-Mỹ (Great Euramerican Misunderstanding), chúng ta phải thừa nhận rằng có lẽ số lượng người Pháp diễn dịch sai những gì họ chứng kiến và trải nghiệm ở Mỹ còn nhiều hơn số lượng người Mỹ (và người Anh!) truyền bá các tư tưởng ở Pháp. Tất cả những điều này chắc chắn dẫn đến những hậu quả đáng buồn. Trong mối liên hệ này, chúng ta đã nhắc đến người Anh bởi vì về mặt ý thức hệ, tác động của họ đối với lục địa (châu Âu) rất giống với tác động của Hoa Kỳ. Về mặt địa lý, Anh Quốc không phải là một phần của châu Âu (mặc dù nó đương nhiên thuộc về nền văn minh phương Tây) và có một bộ phận thiểu số tương đối lớn người Anh (trong đó có Winston Churchill và Evelyn Waugh) gọi lục địa này là “châu Âu”, cứ như thể hòn đảo của họ không thực sự thuộc về bán đảo phía tây này của đại lục Á-Âu. Điều này không có nghĩa là những người Anh và người Mỹ xuất chúng đã không nhiều lần tận hưởng cuộc sống trên lục địa. Thực tế là, lục địa rải rác những ngôi mộ của các nhà bất tuân (non-conformists) lỗi lạc người Anh – những người thà lựa chọn trốn thoát khỏi sự kiểm soát của xã hội Anh. Họ trải dài từ Keats, Shelley và Kemble cho đến Oscar Wilde và D. H. Lawrence. (Thi hài của Byron đã được đưa trở lại Anh.) Những phản ứng của người Mỹ đối với châu Âu đương nhiên cũng cho thấy sự đa dạng to lớn,và thường thì chúng mang theo những ẩn ý chính trị. Cuốn Discovery of Europe (Khám phá châu Âu) của Philip Rahv cung cấp một dải quang phổ rộng lớn về những đánh giá tích cực, về sự hân hoan và lòng nhiệt thành, mặc dù dành cho lục địa nhiều hơn nhiều so với dành cho nước Anh. Chắc chắn quan niệm do Adet – một đặc tình người Pháp phục vụ cho Chế độ Đốc chính (Directoire) tại Hoa Kỳ – đưa ra rằng tất cả người Mỹ đều là “những kẻ thù bẩm sinh của mọi dân tộc châu Âu” đã và vẫn luôn là một điều sai sự thật. Tuy nhiên, trong cuốn sách của Rahv vẫn có những giọng điệu bất đồng: John Adams, người quá đỗi cứng nhắc, cùng với Jefferson và Mark Twain, những người mang quá đậm chất tỉnh lẻ và quá thiên về bất khả tri (mặc dù mỗi người theo một cách riêng của mình).
Hamilton tin chắc rằng Jefferson, trong thời gian làm công sứ Mỹ tại Paris, đã đóng một vai trò khá tiêu cực. Hamilton nói rằng “Ở Pháp, ông ấy [Jefferson] chỉ nhìn thấy chính quyền từ lăng kính của sự lạm quyền. Ông ấy đã uống no say về triết học Pháp, về tôn giáo, về khoa học, về chính trị. Ông ấy trở về từ Pháp ngay trong khoảnh khắc của sự sục sôi – một tình trạng mà ông ấy có phần kích động, và ông ấy đã chia sẻ những đam mê cũng như cảm xúc của nó dựa trên cả khí chất lẫn hoàn cảnh của mình.”
Người kế nhiệm của Jefferson sau này, Gouverneur Morris, chắc chắn là một mẫu người hoàn toàn khác. Ông đã dành nhiều năm ở Paris và Tây Âu trước khi được bổ nhiệm làm Công sứ Hoa Kỳ tại Pháp. Ông viết trong nhật ký của mình: “Trong bữa tối, tôi ngồi cạnh ngài de Lafayette, người nói với tôi rằng tôi đang làm tổn hại đến đại cục, bởi vì những quan điểm của tôi liên tục được trích dẫn để chống lại phe chính nghĩa (the good party). Tôi chớp lấy cơ hội này để nói với ông ấy rằng tôi phản đối nền dân chủ chính vì sự tôn trọng đối với quyền tự do.”
Thế nhưng, Morris chỉ là một tiếng kêu lạc lõng giữa chốn hoang vu. Với tư cách là một nhà quý tộc Mỹ, ông giao thiệp trong những giới tinh hoa cao nhất của Pháp và cảm thấy ghê tởm trước những quan điểm cánh tả mà ông bắt gặp ở khắp mọi nơi, không chỉ trong giới quý tộc mà còn trong cả giới tu sĩ. Giám mục xứ Arras – người từng nghĩ rằng Morris sẽ rất vui khi nghe Hiến pháp Mỹ được ca ngợi là bản hiến pháp tuyệt vời nhất thế giới – lại nhận ra rằng ông chẳng hề làm Morris hài lòng chút nào, mặc dù Morris đã góp phần chắp bút cho văn kiện này. Thực tế là Morris luôn bị ám ảnh bởi bóng ma của chế độ độc tài ở Mỹ. Những lời ca tụng giới quý tộc của ông không hề làm vừa lòng các vị nữ bá tước và công chúa mang tư tưởng cộng hòa.
Có lẽ Lafayette là người khiến ông bực bội hơn bất kỳ ai khác. Khi nói chuyện với Lafayette, ông “đã chỉ ra đến lần thứ một trăm rằng mỗi quốc gia cần có một hình thức chính quyền của riêng mình, rằng một bản Hiến pháp Mỹ không thể áp dụng cho Pháp và rằng, trên hết, nước Pháp cần sự ổn định. Ông đã đưa ra những lý do cho lời khuyên của mình một cách rõ ràng và đanh thép, nhưng Lafayette tội nghiệp lại chùn bước trước điều đó,và không thể bị thuyết phục để thực hiện bất kỳ bước đi hiệu quả nào.”
Đây cũng chính là Gouverneur Morris, người mà tại một bữa tiệc do ông tổ chức ở New England vào năm 1815 đã thốt lên: “Nỗi thống khổ dai dẳng đã qua. Nhà Bourbon đã được phục hoàng. Nước Pháp đang ngơi nghỉ trong vòng tay của vị quân vương hợp pháp. Giờ đây chúng ta có thể bày tỏ sự gắn bó của mình với nước Pháp một cách tương xứng với lòng tự tôn của chính chúng ta. . . . Tạ ơn Chúa, cuối cùng chúng ta cũng có thể công khai thừa nhận những tình cảm biết ơn đối với gia tộc cao quý đó, mà dưới sự cai quản của họ, các hạm đội và quân đội của Pháp và Tây Ban Nha đã được dàn trận để bảo vệ nền tự do của nước Mỹ…. Nhà Bourbon đã được phục hoàng. Hãy hân hoan, hỡi nước Pháp! Tây Ban Nha! Các bạn đang được cai trị bởi những vị vua hợp pháp của mình! Hỡi châu Âu! Hãy hân hoan!” Người ta có thể tưởng tượng được sự phẫn nộ của phe cánh tả Mỹ thuở sơ khai khi toàn văn bài diễn văn này được công bố.
Thế nhưng, khó có thể phủ nhận rằng có tồn tại một mối liên hệ phái sinh (filiation) mang tính “kỹ thuật” giữa năm 1776 và năm 1789, và chính mối liên hệ “trên thực tế” này đã che đậy một cách hiệu quả sự ngộ nhận đó. Trước hết, người ta phải ghi nhớ rằng năm 1789 không nhất thiết và không tất yếu dẫn đến năm 1792, cũng như không tất yếu dẫn đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa toàn trị ở châu Âu và sau này là ở mọi khu vực khác trên toàn cầu.
Georges Bernanos luôn nhấn mạnh sự khác biệt giữa giai đoạn đầu của Cách mạng Pháp – vốn nhận được sự ủng hộ gần như đồng lòng của giới quý tộc Pháp (và một bộ phận rất lớn của giới tu sĩ) – với chế độ khủng bố của tầng lớp trung lưu bậc dưới, mà nối tiếp sau đó là một phong trào vô sản – nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của Gracchus Babeuf. Nói cách khác, đặc tính quý tộc của Cách mạng Mỹ và của giai đoạn đầu Cách mạng Pháp là rất giống nhau. Nhưng ở cuộc cách mạng sau, ngay từ đầu, chúng ta đã chứng kiến sự cộng tác và can thiệp tích cực của những đám đông khát máu – những kẻ ngày càng gia tăng sức mạnh và sự hung hãn cho đến tận khi chế độ Robespierre sụp đổ.
Giới quý tộc, như de Tocqueville đã chỉ ra, luôn nuôi dưỡng những bất bình cũ của họ đối với mọi hình thức chuyên chế của vương quyền, và chính giới quý tộc mới thực sự là những người thúc đẩy vấn đề này bằng cách khăng khăng đòi Nhà vua phải triệu tập Hội nghị Đẳng cấp (Estates General). Tầng lớp quý tộc áo chùng (noblesse de la robe / quý tộc pháp quan) đã đi tiên phong trong phong trào đó. Nhà sử học A. Mathiez đã tạo ra cụm từ révolte nobiliaire (cuộc nổi loạn của giới quý tộc), và diễn tiến này đơn thuần chỉ cho thấy sự nguy hiểm đến nhường nào khi can thiệp một cách triệt để vào một cấu trúc chính trị trong một thời kỳ chuyển tiếp, khi mà sự thịnh vượng đang gia tăng đáng kể, và khi một kỷ nguyên của các cuộc cải cách đã được khởi xướng.
Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng quý tộc cũ là chống lại quân vương theo đúng phong cách điển hình nhất của phái Whig, đương nhiên còn có những yếu tố nội tại khác đang hoạt động. Một trong số đó là mối hận thù xa xưa của phái Jansenist đối với Vương quyền, điều mà giờ đây lại một lần nữa cho thấy sự hiện diện của nó qua nhiều hình thức khác nhau. Giám mục Henri Grégoire thuộc về phe phái đó:ông đứng đầu nhóm tu sĩ phái Lập hiến (Constitutionalist priests – những người đang trong một cuộc ly giáo thực sự với Rome) và, trước khi qua đời vào năm 1831, đã nhận được lễ xá tội từ một linh mục phái Jansenist. Ông đã đóng một vai trò nổi bật trong suốt cuộc Cách mạng, đã bỏ phiếu chống lại chế độ quân chủ (“trong trật tự chính trị, các nhà vua cũng giống như những con quái vật trong trật tự tự nhiên”) và là một trong những người đầu tiên trong Quốc dân Đại hội (National Convention) đòi đưa Nhà vua ra xét xử.
Lực lượng đối lập tôn giáo khác đến từ phái Huguenot, những người cũng không khoan nhượng khơn Edmund Burke, một tín đồ Anh giáo thuộc về một đức tin không khác biệt mấy so với họ, đã phải thừa nhận rằng: “Tôi rất tiếc phải nói rằng họ đã hành xử một cách đáng kinh tởm kể từ ngay lúc khởi đầu của cuộc nổi loạn, và đã liên lụy một cách đồng loạt vào những hành vi tồi tệ và tàn bạo nhất của nó. Giới tu sĩ của họ cũng đều là những kẻ vô thần giống như những người Công giáo phái Lập hiến kia, nhưng thậm chí còn thâm độc và táo tợn hơn. Ba người trong số họ đã nhận được từ những cộng sự theo chủ nghĩa cộng hòa của mình phần thưởng [sự trừng phạt] đích đáng cho tội ác mà họ gây ra.”
Thái độ này của những người nổi dậy có thể hiểu được nếu xét đến sự bất dung tôn giáo của các vị vua Pháp trong quá khứ. Tuy nhiên, Brienne, giám mục xứ Toulouse, đã đề xuất việc giải phóng cho những người theo phái Calvin vào năm 1787, và đến năm 1788, sự giải phóng đó đã trở thành hiện thực. Bản thân André Siegfried, một người Tin Lành, đã phải thú nhận rằng người Tin Lành Pháp ngay cả ngày nay “về bản chất, gần như tất yếu phải là một người ủng hộ Cách mạng Pháp, hay nói cách khác, người đó bẩm sinh đã là kẻ thù của Chế độ Cũ (Ancien Régime) và của bất cứ thứ gì có thể bị gán mác là ‘phản động’.” Chủ tịch Quốc hội Lập hiến (Constitutional Assembly), Jean Paul Rabaut St. Étienne, là con trai của một mục sư Giáo hội Cải cách lỗi lạc và, do thuộc về phái Girondins ôn hòa hơn, đã phải chịu một số phận bi đát. Tuy nhiên, trong tâm thức đại chúng, những người phái Huguenot đã trở nên đồng nhất với việc ủng hộ Cách mạng Pháp (và không phải là không có nguyên cớ, như chúng ta đã thấy) đến mức sau thời kỳ Phục hoàng, các cuộc bạo động chống phái Huguenot đã nổ ra, đáng chú ý nhất là cái gọi là “những cuộc thảm sát ở Nîmes” (massacres de Nîmes – một sự đáp trả đối với “những cuộc ẩu đả ở Nîmes” [bagarres de Nîmes]).
Trong số những “ảnh hưởng” từ bên ngoài (chủ yếu là sự “diễn dịch sai lệch” về các quốc gia ngoại quốc và thể chế của họ), chúng ta một lần nữa nên nhắc đến “hình tượng” của Thụy Sĩ và nước Anh. Voltaire thực sự đã bị nước Anh mê hoặc, và chúng ta phải nhìn nhận ông như là người đi tiên phong cho hội chứng cuồng nước Anh (Anglomania) tại Pháp. Metternich luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ rằng việc sao chép nước Anh chính là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của nước Pháp, nếu không muốn nói là của toàn bộ lục địa; đồng thời ông cũng tin chắc rằng nước Anh cuối cùng sẽ bị hủy hoại do bắt chước các khuôn mẫu của Pháp, do khuất phục trước “trường phái Pháp” (école française).
Trong một bản giác thư bí mật gửi Sa hoàng Alexander I, được viết vào khoảng tháng 12 năm 1820, Metternich viết: “Khó có thể bỏ qua được ảnh hưởng mà nước Anh từ lâu đã áp đặt lên nước Pháp. Tuy nhiên, nước Anh ở trong một hoàn cảnh độc nhất vô nhị đến mức chúng ta có thể khẳng định không ngoa rằng không một hình thái nào phù hợp với Quốc gia đó, không một thói quen hay thể chế nào của nó có thể được áp dụng bởi bất kỳ quốc gia nào trên Lục địa, và khi những thứ này thực sự được lấy làm hình mẫu, kết quả mang lại không gì khác ngoài những rắc rối và hiểm nguy mà chẳng kèm theo bất cứ lợi ích nào.”
Alfred Müller-Armack cũng nhận thấy ảnh hưởng mang tính quyết định sâu sắc này của nước Anh đối với hệ tư tưởng của Cách mạng Pháp. Charles Seignobos thì quả quyết rằng một phiên bản tiền thân phác thảo của Tuyên ngôn Nhân quyền (Déclaration des Droits de l’Homme) đã được đại tá người Anh Sexby trình bày cho những công dân nổi dậy ở Bordeaux. Bản phác thảo này vốn là lời tựa của một dự thảo hiến pháp do Quân đội Anh đệ trình lên Nghị viện vào năm 1648.
Những hình mẫu của Anh và Thụy Sĩ, không cần phải nói thêm, đã phát huy hiệu quả nhờ vào sự nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân ở hai quốc gia này và nhờ vào sự sung túc về kinh tế của các tầng lớp thượng lưu tương ứng. (Sự thịnh vượng chung của Thụy Sĩ là sản phẩm của một thời kỳ muộn hơn nhiều.) Việc di cư và phục vụ trong quân đội ở các quốc gia ngoại quốc là những đặc điểm tiêu biểu của nền kinh tế Thụy Sĩ cho đến tận đầu thế kỷ mười chín. Tuy nhiên, các “Danh gia vọng tộc” [Patricians] thì luôn luôn sống trong sự vô cùng sung túc)
Hình mẫu của Mỹ, do khoảng cách xa xôi so với các hình mẫu của Anh và Thụy Sĩ, ít mang tính cụ thể hơn nhưng lại được bao phủ bởi một vầng hào quang đậm chất lãng mạn. Ban đầu là những tình nguyện viên người Pháp, những người đã đến Mỹ trước khi xảy ra sự đoạn tuyệt giữa Paris và London. Sau đó, những quân nhân chính quy đã chiến đấu kề vai sát cánh cùng người Mỹ. Cuối cùng, có một bầu không khí mang đậm chất Rousseau (Roussellian aura) xoay quanh nước Mỹ: những khu rừng nguyên sinh, những kẻ man dã cao quý (noble savages), những con người tự do, những cuộc đời giản dị, những căn nhà gỗ, những trang viên, và những tòa thị chính theo phong cách Hy Lạp. Những người Mỹ ở Paris – Jefferson, Benjamin Franklin, Silas Deane – đã kích thích trí tưởng tượng của người Pháp đến mức khó tin.
Tuy nhiên, trong việc ngây thơ và vô tình làm cha đỡ đầu cho Cách mạng Pháp, những người Mỹ này có lẽ lại đóng vai trò ít hơn so với những người Pháp – các tình nguyện viên và sĩ quan chính quy – những người đã từng chiến đấu ở Tân Thế giới và trở về nhà với tư tưởng thấm nhuần những khái niệm mà họ đã nhặt nhạnh ngẫu nhiên và chưa kịp tiêu hóa kỹ lưỡng. Bản thân tôi đã phải mất nhiều năm ở Hoa Kỳ mới có thể hiểu được điều gì làm cho quốc gia đó “vận hành” (tick), ý nghĩa sâu xa của một số từ ngữ nhất định là gì, tâm trí và tư tưởng của cả những người Mỹ bình thường lẫn những người xuất chúng ra sao. Sự nhầm lẫn giữa những người Pháp (và các tình nguyện viên khác) hẳn phải rất đáng kể trên nhiều phương diện.
Bằng chứng về sự ngộ nhận này – thứ mà rất nhiều người Pháp đã sa vào và đã góp phần châm ngòi cho cuộc Cách mạng Pháp – được dẫn chứng bằng tài liệu trong một số tác phẩm. Trong số này, tôi chỉ muốn đề cập đến các bài viết của Lafayette, của Bá tước Louis Philippe de Ségur, của phu nhân de Staël, của phu nhân Campan, của Lamartine, của Taine, của Chateaubriand và nhiều người khác.
Về sau, Lãnh chúa Acton, Alexis de Tocqueville, Philippe Sagnac, Georg Jellinek, và Felix Somary đã nhấn mạnh đến những gốc rễ từ nước Mỹ của cuộc Cách mạng Pháp, nhưng đồng thời cũng quả quyết rằng những tư tưởng thịnh hành ở Mỹ vào thời điểm diễn ra cuộc Chiến tranh Giành Độc lập đã bị người Pháp diễn dịch sai lầm một cách thô bạo: Chúng đã khoác lên mình một ý nghĩa mới và, khi được cấy ghép vào mảnh đất Pháp, đã nhanh chóng suy đồi.
Hamilton tin chắc rằng Jefferson không hề vô tội liên quan đến diễn tiến ở Pháp sau năm 1789 (tr. 73), và John Adams thì bị dằn dằn bởi suy nghĩ rằng Hoa Kỳ và chính bản thân ông phải gánh chịu một phần trách nhiệm lớn đối với những nỗi kinh hoàng theo sau sự kiện đánh chiếm đồn Bastille. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ đã viết cho Tiến sĩ Benjamin Rush trong một bức thư ngày 28 tháng 8 năm 1811: “Có phải cả đời tôi đã chỉ làm những chuyện gây hại? Chẳng phải cuộc Cách mạng Mỹ đã mang lại tất cả những tai ương và sự hoang tàn cho nhân loại và cho toàn bộ quả địa cầu kể từ thời điểm đó sao? Dẫu vậy, tôi đã có ý định tốt. Lương tâm tôi trong sạch như pha lê, không chút đắn đo hay nghi ngại. Tôi được thúc đẩy bởi một ý thức trách nhiệm không thể cưỡng lại. Chúa đã làm cho công sức của chúng ta đơm hoa kết trái, và dẫu cho những hậu quả có đáng sợ, kinh hãi và thảm thương đến đâu, tôi vẫn không thể không hy vọng rằng lợi ích tối cao của thế giới, của nhân loại và của đất nước yêu dấu của chúng ta là điều được định sẵn và sẽ đạt được nhờ vào cuộc cách mạng đó.”
Thế nhưng, cho đến nay, lợi ích tối cao đó vẫn chưa đạt được, và chính Adams cũng biết rằng vị độc tài được trao vương quyền nối tiếp cuộc Cách mạng Pháp chính là sản phẩm của cuộc cách mạng ấy. “Napoleon và tất cả các tướng lĩnh của ông ta chẳng qua chỉ là những sinh thể của nền dân chủ,” ông đã viết cho John Taylor xứ Caroline, Virginia. Tuy nhiên, những người khác phải chịu trách nhiệm lớn hơn rất nhiều so với John Adams trong việc thúc đẩy các tư tưởng của Cách mạng Pháp, chẳng hạn như Thomas Paine – một người mang hai quốc tịch Anh-Mỹ, người mà rất lâu sau đó đã trở thành người hùng của nhà soạn kịch Đức Quốc xã Johst. Những kẻ Đức Quốc xã khác, chẳng hạn như một Tiến sĩ Friedrich Schönemann nào đó, đã ca ngợi Jefferson và nguyền rủa Hamilton, khi nhìn thấy ở Jefferson một người tiền nhiệm của sự tiến hóa lịch sử dẫn đến chiến thắng của “Con người Bình thường” (Common Man) – và của Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia Đức. Các tác giả châu Âu trước đó khi viết về Hoa Kỳ đã tán dương George Washington và Alexander Hamilton, đồng thời chỉ trích Jefferson cũng như, về sau này, Đảng Dân chủ Mỹ – lực lượng mà họ coi là kẻ tiếp tay cho “đảng cách mạng” ở châu Âu. Chắc chắn rằng dù là khi đó hay hiện tại, chỉ có một số ít người nhận ra Hoa Kỳ đúng với bản chất thực sự của nó, và về mặt khí chất, vẫn đang là một quốc gia quý tộc (aristocratic state).
Charles-Armand Tuffin, Hầu tước de la Rouërie, là một người Pháp đã tham gia vào cuộc Chiến tranh Giành Độc lập và là người đã nhận thức rõ ràng sự khác biệt giữa cuộc đấu tranh cao quý đó với cuộc Cách mạng Pháp; ông là một người đáng lẽ phải được người Mỹ biết đến nhiều hơn so với một Lafayette vô cùng phù phiếm và mang tham vọng đến mức bệnh lý; một người lẽ ra phải truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ Mỹ, trẻ Pháp, và những người yêu tự do ở khắp mọi nơi, cũng như những người bảo vệ mọi giá trị nhân bản. Ông đến Mỹ trước Lafayette, rời đi sau Lafayette, và đã chiến đấu dũng cảm cho tự do và chống lại nền dân chủ. Không một đài tưởng niệm, không một tên đường, không một con tem, hay bất kỳ công trình tưởng niệm nào ghi nhớ tên tuổi hay chiến công của ông có thể được tìm thấy tại Hoa Kỳ. Cuộc đời của ông được mô tả tóm tắt trong phần Phụ lục (xem các trang 435-443).
Vị quý tộc này khác biệt hoàn toàn so với những nhà quý tộc khác – những người, theo cách riêng của mình, đã đóng góp vào cuộc Cách mạng Pháp. Chúng ta đã nhắc đến Lafayette, nhân vật vẫn còn rất nổi tiếng ở Mỹ, và chúng ta cũng đã đề cập đến Maximilien de Robespierre. Nhưng trên hết, chúng ta nên thảo luận về “người ông của nền dân chủ hiện đại”, Bá tước de Sade, đôi khi được gọi là “Vị Hầu tước Thần thánh” (the Divine Marquis). Ông được biết đến nhiều hơn bởi những lệch lạc tình dục so với triết học của mình – chứng bạo dâm (sadism) được đặt theo tên ông – nhưng tầm quan trọng thực sự của ông lại nằm trong lĩnh vực chính trị, qua một sự can thiệp mang tính lịch sử và, sau đó, qua sự lan truyền các tư tưởng chính trị của ông.
Việc nghiên cứu về de Sade chỉ bắt đầu một cách chậm chạp vào nửa thế kỷ trước: Những nỗ lực nghiêm túc đầu tiên được thực hiện bởi Tiến sĩ Eugen Dühren (bút danh của Iwan Bloch), tuy nhiên, người này chỉ quan tâm đến Sade dưới góc độ bệnh lý học tình dục (sexual pathology). Sau Thế chiến I, Maurice Heine, vốn dĩ là một đảng viên của Đảng Xã hội Pháp – đảng mà, giống như ở Nga, đã trải qua một sự phân liệt sâu sắc và tách ra thành những người Xã hội chủ nghĩa kiểu cũ và những người Cộng sản. Heine đã gia nhập nhóm cấp tiến và sớm trở thành biên tập viên của tờ L’Humanité, nhật báo của Đảng Cộng sản. Ông đã mắc phải một sai lầm không hiếm gặp ở các quốc gia Latinh: ông nhầm lẫn chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa phóng túng vô chính phủ (anarchical libertinism). Theo chỉ thị từ Moscow, ông bị tờ báo của mình sa thải vào năm 1922 và năm sau đó bị trục xuất khỏi Đảng, tức Đảng Cộng sản Pháp (P.C.F.). Sau đó, ông tập trung phần lớn vào de Sade và chứng bạo dâm và dần trở nên ngưỡng mộ de Sade như một tinh thần hoàn toàn tự do, không bị trói buộc và mang đậm tính ác quỷ (diabolical).
Những sự kiện của Thế chiến II đã làm gia tăng sự quan tâm của công chúng đối với de Sade, người nổi lên từ một số bài tiểu luận như một “kẻ giống như bạn và tôi”. Có thể tham khảo cuốn sách của M. Pierre Klossowski, với nhan đề đầy ẩn ý Sade, notre prochain (Sade, đồng loại của chúng ta). Một ấn bản lưu hành nội bộ về các tuyển tập tác phẩm của de Sade đã được xuất bản, cũng như một cuốn tiểu sử nghiêm túc nhưng, theo ý kiến của tôi, vẫn chưa mang tính đúc kết cuối cùng (definitive), do Gilbert Lely chắp bút.
Nhìn chung, những tội ác của Vị Hầu tước Thần thánh đã bị phóng đại: Các hành vi của ông không quá nhiều cũng không quá tàn bạo như lời đồn, bởi lẽ ông đã dành phần lớn thời gian của mình trong các nhà tù và bệnh viện dành cho những tội phạm tâm thần. Tuy nhiên, ông không hề mắc bệnh tâm thần. Là một kẻ vô thần cuồng tín và kiên định, ông hành động ít nhiều phù hợp với những quan điểm của mình, và bên cạnh sự trợ giúp của các nhà thần học và triết gia lão luyện, ông có lẽ cần đến sự quan tâm của một bác sĩ tâm thần có năng lực. Dẫu vậy, ông không phải là một người tâm thần phân liệt, cũng không phải là một kẻ hoang tưởng, và ông hoàn toàn chịu trách nhiệm về những hành động của mình.
Điều chưa được thực hiện cho đến nay là việc hệ thống hóa tư tưởng triết học và chính trị của ông, vốn chỉ có thể được tìm thấy trong một vài cuốn sách mỏng và các bài tiểu luận nhỏ, trong khi phần lớn lại nằm rải rác trong các tác phẩm khiêu dâm của ông. Người ta sẽ phải lội qua cả một đại dương tục tĩu (có lẽ sẽ gây sốc lúc ban đầu, nhưng về lâu dài chỉ mang lại sự mệt mỏi) để có được một tổng thể mạch lạc. Theo như những gì người ta có thể thấy mà không cần phải thực hiện nhiệm vụ vô cùng khó khăn này, chúng ta có ở đây một hệ thống tư tưởng thực sự đang chờ được diễn giải. Có cả phương pháp và logic ở con người này. Sách của ông được đọc rộng rãi nhưng, đương nhiên, hiếm khi được trích dẫn vì ngay cả vào cuối thế kỷ mười tám, chúng còn lâu mới được coi là đàng hoàng. Và chính vì đây là những cuốn sách mà người ta không muốn khoe khoang là mình biết, nên sẽ luôn rất khó để chứng minh một cách rõ ràng sự ảnh hưởng của chúng vào thời điểm xuất bản – và sau đó – lớn đến mức nào. Người ta sẽ phải tìm kiếm sự phản chiếu gián tiếp của chúng trong lời nói, bài viết và hành động của những người khác.
Rất có thể hệ tư tưởng – triết học của de Sade là hệ quả của những khuynh hướng và sự lệch lạc của ông – chứ không phải ngược lại. Hoàn toàn có khả năng là tất cả chúng ta đều có những ham muốn bạo dâm, nhưng ở những người bình thường, mức độ trung bình, chúng chỉ tồn tại trong những giới hạn nhất định. Có thể lập luận rằng de Sade trong khía cạnh này không phải là một ngoại lệ, nhưng vì có thể biện minh cho việc nhượng bộ những bản năng này, ông cuối cùng đã trở thành nô lệ của chúng. Chúng chắc chắn thống trị trí tưởng tượng, những giấc mộng giữa ban ngày, các bài viết và toàn bộ trí tuệ của ông.
Donatien Alphonse François, Bá tước de Sade, sinh ngày 2 tháng 6 năm 1740 tại Paris, là hậu duệ của một gia tộc cổ xưa ở vùng Provence, miền nam nước Pháp. Ông phục vụ trong quân đội và vào năm 1763 kết hôn với tiểu thư de Montreuil, người có gia đình giàu có thuộc tầng lớp quý tộc pháp lý (noblesse de la robe). Vài tháng sau đám cưới, ông đã tham gia vào việc tra tấn bạo dâm một cô gái điếm và hậu quả là bị phạt tù mười lăm ngày. Một vụ việc tương tự nhưng nghiêm trọng hơn đã xảy ra vào năm 1768 khi ông đánh đập tàn nhẫn một cô gái và một lần nữa bị tống vào tù. Sau khi được thả, ông đã tham gia vào một bữa tiệc thác loạn trong một nhà chứa ở Marseille, dẫn đến một bản án nghiêm khắc hơn vào năm 1772. Bị giam cầm ở Miolans, ông đã trốn thoát thành công nhưng lại bị bắt ở Paris vào năm 1777 và bị đưa trở lại miền Nam nước Pháp, nơi, nhờ một cuộc vượt ngục khác, ông đã tận hưởng ba mươi chín ngày tự do. Bị bắt một lần nữa, ông trải qua 5 năm rưỡi ở Vincennes, tiếp theo là 5 năm rưỡi ở ngục Bastille, và sau đó là một năm tại bệnh viện dành cho tội phạm tâm thần ở Charenton. Khoảng thời gian bị giam cầm dài đằng đẵng này không phải do một bản án tù, mà là do một lệnh bắt giữ vô cớ của Nhà vua (lettre de cachet), được ban hành theo yêu cầu của mẹ vợ de Sade, Bà Chủ tịch de Montreuil (Présidente de Montreuil).
Khi chính phủ quyết định giải thể khu giam giữ của pháo đài Vincennes, de Sade được chuyển đến Bastille, nơi cũng chịu chung số phận “bị xóa bỏ” trong năm cải cách 1788. Chính phủ muốn san bằng nhà tù nhà nước này và bán khu đất đó để phát triển bất động sản. Lịch sử chỉ đẩy nhanh các sự kiện. Trong thời gian bị giam giữ, de Sade đã miệt mài viết lách, thể hiện các quan điểm phóng túng, vô thần, duy vật và cánh tả của mình. Biết được sự bất ổn ở Paris, ông bắt đầu diễn thuyết khích động người dân từ cửa sổ của mình, nói rằng các tù nhân đang bị tra tấn và ám sát trong các hầm ngục tăm tối của Bastille. Ông đã dùng một cái phễu để làm cho giọng nói của mình to hơn. Chúng ta có một bức thư của M. de Launay, Thống đốc nhà tù, gửi cho M. de Villedeuil, Bộ trưởng Bộ Nhà nước, ngày 2 tháng 7 năm 1789, trong đó vị thống đốc nhấn mạnh rằng trong hoàn cảnh đó, tù nhân của ông nên được chuyển đến bệnh viện dành cho tội phạm tâm thần ở Charenton. Trên thực tế, sau khi tù nhân này lặp lại hành vi của mình vào ngày 3 tháng 7, cuộc chuyển giao đối với ông đã được thực hiện vào sáng ngày 4 tháng 7. Tư liệu liên quan đến những lời kêu gọi ồn ào của de Sade khá đầy đủ, và khi ông bị bắt muộn hơn nhiều vào thời kỳ đỉnh điểm của Thời kỳ Khủng bố, ông đã khoe khoang về đóng góp của mình vào sự sụp đổ của ngục Bastille. Ông nói về “sự nhiệt thành mà tôi đã kêu gọi nhân dân vào ngày ba tháng Bảy phá hủy ngục Bastille nơi những kẻ bạo chúa giam giữ tôi: do đó tôi sở hữu một hồ sơ công dân rực rỡ nhất mà một người theo chủ nghĩa cộng hòa có thể tự hào.”
Vậy de Sade có thực sự là thủ phạm chính trong vụ việc dơ bẩn này? Rất có thể ông chính là thủ phạm, bởi vì việc phá hủy nhà ngục Bastille sắp tới vốn đã được nhiều người biết đến và các tù nhân chính trị hiếm khi, hoặc chưa bao giờ, bị giam giữ đằng sau những bức tường của nó.
Thống đốc nhà ngục Bastille, M. de Launay, một người theo chủ nghĩa tự do khai sáng, chỉ có trong tay một lực lượng đồn trú nhỏ gồm những binh sĩ Thụy Sĩ và một số thương bệnh binh khi đám đông cuối cùng tụ tập quanh tòa nhà vào ngày 14 tháng 7: ông chỉ đưa ra sự kháng cự mang tính chiếu lệ. Các đại biểu của Tòa Thị chính và hai đại diện do đám đông chỉ định đã được đón tiếp và được mời ăn cùng bữa với vị thống đốc. Trong khi đó, cầu cất của sân ngoài đã được hạ xuống và súng được chĩa vào sân trong. Các binh sĩ, nhận thấy rằng họ không có một người chỉ huy nào sẵn sàng chịu trách nhiệm, đã ra hàng. Vị thống đốc đã bị giết sau khi bị tra tấn tàn bạo. Ông đã cầu xin những kẻ quái vật đó kết liễu đời mình, và cuối cùng, khi ông nhận được nhát dao kết liễu, một đầu bếp trẻ “người biết cách xử lý thịt” đã cắt đầu ông bằng một con dao bếp nhỏ. Đầu của ông được diễu hành quanh vùng trong sự ăn mừng chiến thắng cho đến tận những giờ muộn của buổi tối. Ba trong số các sĩ quan cũng bị sát hại một cách dã man và hai thương binh từng chiến đấu anh hùng cho nước Pháp đã bị đám đông gầm hú treo cổ. Họ còn chặt tay của một lính gác Thụy Sĩ. Sự bất ngờ xảy ra khi những “kẻ chiến thắng” chỉ tìm thấy duy nhất bảy tù nhân. Bốn người là những kẻ làm giả giấy tờ đã nhanh chóng tẩu thoát, hai người bị tâm thần (họ ở đó chỉ để theo dõi), và một người là thanh niên ăn chơi đàng điếm thuộc dòng dõi quý tộc, kẻ tự coi mình là anh hùng thực sự của ngày hôm đó: hắn diễn thuyết trước nhân dân bằng những cụm từ mang tính cách mạng. Tóm lại, đây là một màn trình diễn kinh tởm và nhục nhã, chắc chắn không hề thích hợp để làm nền tảng cho một ngày lễ quốc gia – và được truyền cảm hứng theo mọi cách bởi “Vị Hầu tước Thần thánh”.
Donatien de Sade chỉ ở lại Charenton cho đến ngày 2 tháng 4 năm 1790, thời điểm ông được trả tự do nhờ vào một sắc lệnh của Quốc hội Lập hiến (National Assembly), vốn tuyên bố tất cả các mật lệnh (lettres de cachet) của Nhà vua đều vô hiệu. Hôm đó là Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday). Vợ ông đã đệ đơn xin ly thân với kẻ quái dị này và đã được chấp thuận. De Sade cảm thấy bị “phản bội”. Thế nhưng, ông sớm dấn thân vào đời sống chính trị địa phương và trở thành một người lãnh đạo thuộc phân khu Place Vendôme ở Paris. Sau những cuộc thảm sát tháng Chín năm 1792, ông thậm chí còn được bổ nhiệm làm thư ký của phân khu này.
Rõ ràng là ông đã có phần giằng xé giữa một thái độ hợm hĩnh nhất định (snobbery) – rốt cuộc thì gia tộc de Sade thuộc về tầng lớp quý tộc cao cấp nhất – với những niềm tin vô thần và vật chất luận vốn kéo ông về phía cánh tả. Việc ông có nguồn gốc quý tộc thực chất không phải là rào cản trong trường hợp của ông, cũng như của những người khác, đối với một “sự nghiệp” trong giới Cộng hòa. Tuy nhiên, vào đỉnh điểm của Chế độ Khủng bố (the Terror), bất chấp thực tế rằng phân khu của ông từng được chỉ đạo bởi Robespierre, de Sade vẫn gặp nguy cơ bị đưa lên máy chém. Ngày 9 tháng Thermidor – ngày Robespierre sụp đổ – đã cứu sống ông.
Dẫu vậy, các tác phẩm của de Sade mới là điều mang lại sự quan tâm lớn hơn nhiều. Vào năm 1791, ông xuất bản tiểu thuyết dâm dục lớn đầu tiên của mình có nhan đề Justine, ou les malheurs de la vertu (Justine, hay những bất hạnh của đức hạnh). Ở đây, những nhận định và tranh luận mang tính triết học được chèn vào giữa các phân cảnh đồi trụy tình dục. Tác phẩm Adresse d’un citoyen de Paris au roi des Français (Thông điệp của một công dân Paris gửi nhà vua của người Pháp) của ông, được phát hành cùng năm, lại hoàn toàn mang tính chính trị và chưa bộc lộ các quan điểm vật chất luận cánh tả cực đoan như những gì chúng ta bắt gặp trong các tác phẩm sau này, chẳng hạn như trong Aline et Valcour, ou le Roman Philosophique (Aline và Valcour, hay Tiểu thuyết Triết học) – một “tiểu thuyết” gồm bốn tập đã được in ba lần trong khoảng thời gian từ năm 1793 đến 1795. Với tổng số hơn 1.700 trang, nó đã có tác động to lớn đến cuộc Cách mạng Pháp – cuộc cách mạng mà xét trên nhiều phương diện, là một cuộc dâm loạn tình dục đẫm máu (sanguinary sex orgy)
Thậm chí còn tồi tệ hơn, xét từ góc độ đạo đức – thẩm mỹ thuần túy cũng như từ góc độ ý thức hệ, là hai tác phẩm La philosophie dans le boudoir (Triết học trong phòng khuê, 1795) và La Nouvelle Justine, suivie de l’histoire de Juliette, ou les prospérités du vice (Justine mới, nối tiếp bởi câu chuyện về Juliette, hay những sự hưng thịnh của đồi trụy, 1797). De Sade, đặc biệt là trong thời gian ngồi tù và quãng thời gian lưu trú tại Charenton, hẳn phải có một sức làm việc phi thường và một trí tưởng tượng thực sự không giới hạn, bởi lẽ các tác phẩm kể trên hoàn toàn chưa thể liệt kê hết toàn bộ gia tài tác phẩm (opera omnia) của ông. Một số bản thảo của ông đã bị con trai ông hoặc cảnh sát tiêu hủy. Những bản thảo khác được xuất bản sau khi ông qua đời – chẳng hạn như tác phẩm rất quan trọng Dialogue entre un prêtre et un moribond (Đối thoại giữa một linh mục và một người hấp hối), trong đó chứa đựng tinh hoa của quan điểm vô thần và vật chất luận của de Sade, trong khi tác phẩm gây tai tiếng hơn Les 120 Journées de Sodome, ou l’École du libertinage (120 ngày ở Sodom, hay Trường học của sự phóng túng) thì mang tính chất dâm dục một cách phiến diện.
Bản thảo tác phẩm Projet de création de lieux de prostitution, organisés, entretenus et dirigés par l’État (Dự án thành lập các cơ sở mại dâm do Nhà nước tổ chức, duy trì và điều hành) đã bị thất lạc; nó chứa đựng một kế hoạch thú vị về việc kiểm soát tình dục toàn trị. Tổng cộng có ba mươi mốt cuốn sách và tiểu luận đã xuất bản được liệt kê trong cuốn tiểu sử về de Sade của Lely, cùng với hai mươi ba tác phẩm chưa xuất bản và ba mươi lăm bản thảo bị thất lạc. Trong số tất cả những tác phẩm này, chỉ có bảy tiểu luận chính trị nhỏ (đã xuất bản, dài từ bốn đến tám trang); cả bảy tác phẩm này đều được phát hành bởi Phân khu des Piques (Vendôme) trong thời gian “Công dân Sade” hoạt động chính trị.
Trong số các bản thảo chưa xuất bản có một lượng lớn các vở kịch. Một trong số đó, vở Le Comte Oxtiern ou les Effets du Libertinage (Bá tước Oxtiern hay Những Hậu quả của thói Phóng túng), đã được công diễn cho công chúng tại Nhà hát Molière (tháng 10 năm 1791).
Nhân sinh quan của de Sade mang tính vật chất luận – vô thần – toàn trị, với một thiên hướng vô chính phủ đầy mâu thuẫn đến kỳ lạ. Ông tin rằng con người không hề thượng đẳng hơn động vật: Toàn bộ “vương quốc động vật” cũng như thực vật (ông vạch ra ranh giới ở khoáng vật) không thừa nhận bất kỳ sự ưu việt hay thấp kém nào về mặt tôn ti trật tự, tất cả đều “bình đẳng”. Thuyết quyết định (determinism) của ông là tuyệt đối. “Hỡi những gã thông thái rởm, những tên đao phủ, những kẻ bôi bác, những nhà lập pháp, những cặn bã cạo đầu [tu sĩ], các người sẽ làm gì một khi chúng ta chiếm ưu thế? Điều gì sẽ xảy ra với luật pháp, đạo đức, tôn giáo, quyền lực, thiên đường, các vị thần, và địa ngục của các người, khi người ta chứng minh được rằng một dòng thể dịch (humor) này nọ, một loại sợi cơ nào đó, một mức độ axit cụ thể trong máu hay trong tinh khí động vật (animal spirits) sẽ biến một con người thành đối tượng cho những hình phạt hay những phần thưởng của các người?” Theo ông, ý niệm cho rằng giết chóc, hủy diệt, tiêu diệt có thể là “xấu” hoàn toàn mâu thuẫn với cách thức vận hành của tự nhiên: Thực tế là, không thể có sự kiến tạo nào mà không có sự hủy diệt làm tiền đề, một tư tưởng mà chúng ta cũng thấy được thể hiện trong các bài viết của Oliver Wendell Holmes (tr. 180).
Chủ nghĩa hư vô (nihilism) của de Sade đã đi xa đến mức ông suy ngẫm với một sự thỏa mãn nhất định về khả năng nhân loại có thể tự tiêu diệt chính mình. “Sự tự hủy diệt hoàn toàn này sẽ chỉ đơn thuần trả lại cho tự nhiên cơ hội kiến tạo mà chúng ta đã tước đoạt từ bà bằng cách tự nhân giống chính mình.”
Không cần phải nói, trẻ em nên thuộc về nhà nước, một yêu sách sẽ luôn được đưa ra bởi những người cánh tả – những kẻ mang sẵn lòng căm thù bẩm sinh đối với gia đình khi coi đó là một nhóm “mang tính cá nhân chủ nghĩa” luôn cố gắng tách mình ra như một tế bào độc lập bên trong nhà nước và xã hội. Thế nhưng, sự căm ghét gia đình của de Sade cũng mang những hình thức khác. Ông khăng khăng rằng bất kỳ xã hội nào dựa trên tình huynh đệ đều phải bắt buộc thực hành loạn luân giữa anh chị em ruột. (Khá thú vị là chủ đề này lại xuất hiện lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của Thomas Mann, một người cánh tả có tài năng văn chương kiệt xuất.) Sự lăng nhăng (promiscuity) đương nhiên sẽ chấm dứt khái niệm về tình phụ tử – vốn dựa trên khả năng của người đàn ông trong việc nhận diện những đứa trẻ là con của mình bằng một hành vi của niềm tin và sự xác tín, nhưng điều đó chẳng hề hấn gì. Tình mẫu tử sẽ tồn tại, và con người có một tổ quốc, một patria (quê cha đất tổ), và như thế là đủ. Giống như việc kiến tạo – sinh sôi nảy nở – mất đi giá trị của nó, hành vi giết chóc cũng mất đi sự kinh hãi của nó.
Cách mạng Pháp thực sự đã đáp ứng đúng những viễn kiến của de Sade, và khó có thể nghi ngờ rằng theo một cách nào đó, “Vị Hầu tước Thần thánh” chính là vị thánh bảo trợ của mọi phong trào cánh tả. Tuy nhiên, khi đưa ra nhận định này, người ta phải ghi nhớ rằng chỉ có những người cánh tả mới tạo ra các phong trào, trong khi ở mức tốt nhất, phe cánh hữu chỉ có thể “tổ chức” theo một phương thức tương đối mang tính tôn ti trật tự. Spengler đã nói rất đúng rằng bản thân khái niệm “đảng phái” vốn dĩ đã mang tính cánh tả.
Thế nhưng, nếu các phong trào và đảng phái không có sự tương đồng nào đối với một nhân sinh quan cánh hữu đích thực, chúng ta phải đi đến kết luận rằng các nguyên tắc của phe cánh hữu bên trong khuôn khổ dân chủ – nghị viện chỉ có thể chiếm ưu thế sau một sự phá sản hoặc sụp đổ thảm khốc của chủ nghĩa cánh tả. Phe cánh hữu thông thường không thể chiến thắng bằng chính đức hạnh, chân lý hay những giá trị của riêng nó bởi vì nó sẽ không bao giờ mê hoặc được quần chúng. Nó sẽ thu hút những con người xuất chúng và vượt trội, nhưng hầu như chẳng bao giờ thu hút được những con người bình thường (the average man).
Rõ ràng là de Sade không hề phải chịu trách nhiệm duy nhất cho Cách mạng Pháp – và những cựu binh bối rối của cuộc chiến tranh Mỹ cũng vậy. Ngay cả Voltaire cũng không, dù ông là người đã đóng vai trò quan trọng trong việc phá hoại, xói mòn và ăn mòn các nguyên tắc về tôn giáo và trật tự, những thứ mà Chế độ Cũ (ancien régime) tựa vào. Vai trò của ông rất giống với vai trò của giới trí thức và nghệ sĩ cánh tả mang tư tưởng tự do giả hiệu (pseudoliberal) người Đức, những người có thể được gọi chung là những Kerensky về mặt tinh thần của nền Cộng hòa Weimar đang tàn tạ.
Voltaire chắc chắn không phải là một người cộng hòa nhiệt thành, và ông cũng không phải là một người dân chủ. Lý tưởng của ông là một chế độ quân chủ lập hiến đứng đầu bởi một roi sage (vị quân vương anh minh), tức vị triết gia-quân vương của Plato. Lý tưởng của Diderot cũng vậy. Voltaire đã viết về nền cộng hòa rằng nó đại diện cho một trật tự xã hội dẫn đến sự chuyên chế. “Bất kể tình yêu của tôi dành cho tự do,” ông viết, “tôi vẫn thà sống dưới móng vuốt của một con sư tử còn hơn là dưới hàm răng của một ngàn con chuột vốn là những đồng bào của tôi.”
Trong một bức thư gửi d’Alembert, ông nói rằng đám hạ lưu (canaille) không được sinh ra để dành cho lý trí. Trong một bức thư khác, ông khẳng định rằng “chúng ta chưa bao giờ có ý định khai sáng cho những thợ đóng giày và giới hầu cận, việc đó là của các tông đồ.” Một nền dân chủ, ông nói trong cuốn Dictionnaire de Philosophie (Từ điển Triết học), “sẽ chỉ khả thi ở một quốc gia rất nhỏ gọn, và quốc gia đó cũng phải có một vị trí địa lý vô cùng may mắn. Và bất chấp sự nhỏ bé đó, nó sẽ phạm phải nhiều sai lầm bởi vì nó bao gồm những con người, điều đó có nghĩa là sự bất hòa sẽ cai trị trong nó y như trong một tu viện.”
Tuy nhiên, ông đã quên mất những dè dặt về mặt địa lý của mình khi cất lên những lời ca ngợi thường lệ đối với Hiến pháp Anh. Có lần, khi ông lại bắt đầu bài tụng ca của mình, Hoàng tử de Ligne đã ngắt lời ông và nói, “Hãy cộng thêm vào đó sự bảo vệ của Đại dương dành cho nước Anh, thiếu nó thì quốc gia đó sẽ chẳng thể tồn tại nổi một năm.”
Rousseau cũng tin chắc rằng nền cộng hòa dân chủ chỉ phù hợp với các quốc gia nhỏ gọn, trong khi các quốc gia rộng lớn nên có các chính quyền quân chủ. Tuy nhiên, không phải lý thuyết cụ thể này đã mang lại cho Rousseau tầm quan trọng với tư cách là một nhà lý luận chính trị, mà đúng hơn là những quan niệm của ông về khế ước xã hội (social contract) – thứ đã mở ra một kỷ nguyên của chủ nghĩa toàn trị mà chúng ta hiện vẫn đang sống trong đó. Như người ta có thể dễ dàng tưởng tượng, Cách mạng Pháp chịu ơn sâu sắc đối với Rousseau, người đã qua đời vào năm 1778. Ký ức về ông được tôn vinh ở mọi cơ hội khả thi (hoặc bất khả thi) nhất có thể. Tại Lễ hội Lý trí (Feast of Reason) ở nhà thờ Notre Dame, các bức tượng bán thân của Voltaire, Rousseau và Franklin đã trở thành những đối tượng được sùng bái. Vào năm 1794, hài cốt của Rousseau được chôn cất trang trọng trong Điện Panthéon nhưng lại bị di dời ra ngoài vào năm 1814.
Là một kẻ phù phiếm, một kẻ vô luân tồi tàn phải gánh chịu một tâm trí mất cân bằng (đặc biệt là trong những năm cuối đời khi chứng loạn thần kinh đẩy ông đến bờ vực của sự điên loạn), Rousseau đã góp phần làm cha đỡ đầu cho Cách mạng Pháp và những diễn biến theo sau nó. Ông cũng có tác động đến bối cảnh nước Mỹ – từ góc độ văn hóa dân gian (folkloric) cũng như từ góc độ trí thức. Chúng ta có thể thấy điều này được phản ánh qua sự say mê của George D. Herron đối với Rousseau và Calvin. Jacques Maritain tin chắc rằng Rousseau đã ảnh hưởng đến sự trỗi dậy của nền dân chủ và chủ nghĩa dân chủ (democratism) tại Hoa Kỳ, mặc dù ông thừa nhận rằng điều này diễn ra ở mức độ thấp hơn so với ở Pháp. Mặt khác, Walter Lippmann lại tuyên bố dứt khoát rằng “chủ nghĩa Jacobin đã trở thành tín điều của nền dân chủ Mỹ” và rằng các tư tưởng của Rousseau (cũng như của hai người Thụy Sĩ khác là Fröbel và Pestalozzi) đã cho thấy tầm ảnh hưởng của chúng trong nền giáo dục Mỹ. Trái lại, Alfred MüllerArmack khăng khăng rằng không phải Montesquieu hay Rousseau, mà chính là nước Anh thế kỷ mười bảy mới là cội nguồn ban đầu cung cấp cho Cách mạng Pháp những nền tảng ý thức hệ của nó.
Tuy nhiên, chúng ta không nên quên rằng Rousseau xuất thân từ Geneva, rằng đức tin nguyên thủy của ông là chủ nghĩa Calvin, và rằng có nhiều sự tương đồng cũng như những mâu thuẫn biện chứng (dialectic contradictions) giữa tư tưởng của ông và của Calvin. Một đặc điểm cảm xúc nhất định đã lan tỏa trong tư duy của cả hai người, một thực tế đã được một tác giả người Hà Lan làm nổi bật. Đối lập với “tình cảm nội tâm” (sentiment intérieur) của Rousseau, với lời thú nhận của ông rằng ông “chưa bao giờ suy nghĩ thấu đáo bất cứ điều gì”, rằng ông chỉ cảm nhận mọi thứ, là nhận xét của Calvin về “những ân tứ nội tại của thánh linh, autópiston [niềm tin tự chứng], thứ mà người ta không bao giờ nên bắt nó phục tùng trước sự chứng minh hay lý trí”, chắc chắn đây là một ngôn ngữ rất khác biệt so với ngôn ngữ của giới triết gia kinh viện (scholastics). Tuy nhiên, người ta nên phân biệt rõ ràng giữa sự tương đồng và những mâu thuẫn biện chứng, và phản ứng chống lại luật lệ giáo lý (antinomian reaction) của Rousseau đối với Calvin và chủ nghĩa Calvin chắc chắn mạnh mẽ hơn sự sẵn sàng của ông trong việc sao chép từ các Nhà Cải cách (Reformers). Về mặt khí chất cũng vậy, hai người này ở hai thái cực hoàn toàn trái ngược: Maître Jean, người đàn ông đến từ Noyon [Calvin], rốt cuộc lại là một tâm hồn lạnh lùng và một nhà tư tưởng có phương pháp; còn JeanJacques, người gốc Geneva, lại là một kẻ duy cảm (emotionalist) đầy bối rối.
Dẫu vậy, cả hai người con của Geneva đều đại diện cho những giá trị tuyệt đối, và Jellinek hoàn toàn có lý khi ông cũng coi Hobbes là một người đi trước của Rousseau. “Rõ ràng chính khái niệm về vị vua có chủ quyền trong vinh quang của riêng ngài đã sản sinh ra nhu cầu về một dân tộc tự do, có chủ quyền. Vị vua toàn năng đã trở thành tổ tiên của một dân tộc toàn năng, và Thomas Hobbes đã tìm thấy một bậc thầy ở chính người học trò vượt trội hơn mình – ở J. J. Rousseau.”
Tuy nhiên, Jellinek cũng nhận ra bản chất của một kẻ duy cảm (emotionalist) ở Rousseau, một người phải trải nghiệm mọi thứ trước khi đúc kết thành một lý thuyết. Và có lẽ ở Rousseau còn tồn tại cả một người theo thần giáo tự nhiên (deist) với những thiên hướng phiếm thần (pantheistic), một kiểu nhà thần bí (mystic) – thuật ngữ được hiểu theo nghĩa chung nhất – nhiều hơn so với một Calvin theo thuyết thần tâm (theocentric).
Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng cả Calvin và Rousseau không chỉ mang tính “tuyệt đối” (absolutistic) trong tư duy của họ mà còn mang tính toàn trị (totalitarian), hai điều này hoàn toàn không phải là một. Benjamin Constant, một người tự do đích thực, đã gọi lý thuyết về khế ước xã hội của Rousseau một cách chính xác là “sự tiếp tay tồi tệ nhất cho mọi kiểu chế độ chuyên chế.” Theo một cách nào đó, quan niệm của Rousseau về nhân dân gợi nhắc cho người ta về tính toàn thể (totality) của thành bang Hy Lạp, nhưng nó cũng là tiền thân của chủ nghĩa dân tộc hiện đại. Irving Babbitt biết rất rõ rằng chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế (trái ngược với lòng yêu nước đích thực hoặc cảm thức về tính phổ quát) chỉ khác nhau về mức độ chứ không phải về bản chất, và ông đã cáo buộc Rousseau một cách đúng đắn vì đã tạo ra một động lực mới cho cả hai khuynh hướng tập thể chủ nghĩa này. Đồng thời, ông thừa nhận rằng Rousseau “trong giai đoạn cuối đời là một người theo chủ nghĩa dân tộc duy cảm, và đó là bởi vì ông ấy thấy rằng đức hạnh yêu nước là một thứ chất gây say mạnh mẽ hơn so với tình yêu nhân loại.”
Nếu thứ chủ nghĩa dân tộc duy cảm này bị khai thác bởi một nhà lãnh đạo đế quốc tài năng, kẻ coi thường mọi kỷ luật đạo đức, không chỉ bị chi phối bởi dục vọng khao khát tri thức và cảm xúc, mà hơn thế nữa là dục vọng quyền lực, thì chúng ta phải đối mặt với “loại người nham hiểm nhất trong tất cả, kẻ vĩ cuồng đắc lực. Công dụng cuối cùng của khoa học, thứ qua đó đã trở thành một công cụ cho dục vọng quyền lực, mượn theo cụm từ của Burke, chính là để ‘cải thiện sự huyền bí của việc giết chóc.” Thực vậy, đây là những lời tiên tri được Babbitt, một trong những bộ óc lỗi lạc nhất trong số các nhà tư tưởng bảo thủ của Mỹ, xuất bản vào năm 1919.
Sẽ là sai lầm nếu trong mối liên hệ này chỉ nghĩ đến những kẻ thảm sát hàng loạt hiển nhiên, đến Hitler và Stalin. Người ta phải kể thêm cả những đồ tể của Hamburg, Dresden, Hiroshima và Nagasaki. “Giới lãnh đạo của phương Tây không còn ở đây nữa,” Babbitt viết một cách gay gắt. “Các nhà lãnh đạo, dù ở mức độ lớn hay nhỏ, đã khuất phục trước chủ nghĩa tự nhiên (naturalism), (Giáo hội, cho đến nay, khi đã trở nên mang tính nhân đạo, chính nó cũng đã khuất phục trước chủ nghĩa tự nhiên) và vì thế đã can thiệp vào luật luân lý. Việc kẻ đế quốc tàn bạo, kẻ không chịu đựng bất kỳ trở ngại nào cản bước dục vọng thống trị của mình, đã can thiệp vào đạo luật này là điều không cần bàn cãi, nhưng những kẻ nhân đạo chủ nghĩa, rỏ giọt những lời lẽ về tình huynh đệ và tin tưởng sâu sắc vào vẻ đẹp tâm hồn của chính mình, cũng đã can thiệp vào nó, và theo một cách nguy hiểm hơn, chính vì lý do là nó ít lộ liễu hơn.” (Phần in nghiêng của tôi.)
Về việc Rousseau không chỉ đặt nền móng cho Cách mạng Pháp mà còn cho cả nhà nước toàn trị hiện đại đến mức độ nào, có thể được thu thập một cách rõ ràng hơn nữa từ bài luận hấp dẫn của Werner Kägi, “Nhà nước Lập hiến và Nền Dân chủ.”
“Rousseau,” ông nói, “có thể là một đại diện cho tư tưởng về các quyền địa phương, nhưng bên trong nhà nước, ông đã phủ nhận mọi biểu hiện của chủ nghĩa đa nguyên (pluralism) như một mối đe dọa đối với nền dân chủ. Tư duy nhất nguyên – thống nhất – tập trung này đã định hình chính bản chất của hệ tư tưởng của Cách mạng Pháp. République une et indivisible (nền cộng hòa thống nhất và bất khả phân) đã trở thành định đề lớn của tiến trình tiến hóa hiến pháp, và ‘sự đơn giản hóa’ bị đánh đồng với ‘sự tiến bộ’. Do đó, nhà nước tập trung thống nhất đã trở thành hình thức chiếm ưu thế của cấu trúc nhà nước, và cuối cùng chúng ta phải đối mặt với một “Leviathan dân chủ”.
Không có gì ngạc nhiên, vì “chủ nghĩa dân chủ mang tính chuyên chế quy mô lớn của thế kỷ XX không bị chi phối bởi khái niệm đại diện, mà bởi tính đồng nhất (identity), bởi vì các đại biểu không có một vị thế vững chắc về quyền lực hiến pháp, mà chỉ mang trạng thái bấp bênh của các ‘đại lý’ theo định nghĩa của Rousseau,” người có những tư tưởng khai phá chỉ thực sự chín muồi trong thời đại chúng ta.
Rousseau đã lựa chọn giữa tính đồng nhất, sự bình đẳng và tự do – mặc dù ông đã sử dụng thuật ngữ sau một cách ranh ma. “Bất kỳ ai từ chối tuân theo ý chí chung,” ông viết, “sẽ phải chịu trách nhiệm bị ép buộc phải tuân theo bởi sức mạnh của toàn bộ cộng đồng. Và điều này thực chất không có gì hơn là việc anh ta có thể bị ép buộc để được tự do.”
Mặt khác, công thức này không có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta nhớ rằng Rousseau, hoàn toàn phù hợp với phần lớn tư tưởng dân chủ, đã khăng khăng đòi hỏi sự đồng thuận a priori [tiên nghiệm] của mọi công dân đối với tất cả các điều luật, bao gồm cả những điều luật mà họ đã bỏ phiếu chống và phản đối. Đương nhiên “ý chí được thể hiện chung nhất, ý chí của đa số (la volonté la plus générale) là công bằng nhất bởi vì tiếng nói của nhân dân là tiếng nói của Chúa (vox populi, vox Dei).” (Sự nhấn mạnh vào quyền cai trị của đa số này cũng không xa lạ gì đối với Jefferson.)
Bắt đầu từ chủ nghĩa cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ XVIII, với chủ nghĩa chống vương quyền và khái niệm về kẻ man dã cao quý (“con người sinh ra tự do nhưng nay lại mang xiềng xích”), sự chuyển đổi mang tính chương trình của Rousseau từ quyền cai trị của một người sang quyền cai trị của tất cả mọi người đã dọn đường cho chủ nghĩa toàn trị. Cá nhân được tôn vinh trong hệ tư tưởng của ông lại xuất hiện trở lại như một con số không (cipher). Nền móng của chủ nghĩa xã hội được đặt ra từ đó. Đương nhiên, con người cá nhân chủ nghĩa cũ lớn lên trong ancien régime [chế độ cũ] khó có thể là chất liệu lý tưởng cho xã hội mới gồm những kẻ vô danh dễ bảo, sẵn sàng bị nhấn chìm trong quần chúng: con người phải được tạo dựng lại từ đầu. “Ai dám lập pháp cho một dân tộc,” Rousseau viết, “thì phải có khả năng, có thể nói như vậy, thay đổi bản chất con người… ông ta phải biến đổi bản chất con người để củng cố nó.”
Trong một phát biểu như thế này, chúng ta có thể cảm nhận được sự khinh miệt tuyệt đối đối với nhân cách, đối với tính cách của các cá nhân cũng như của toàn bộ các quốc gia, một sự pha trộn giữa sự vô minh và sự kiêu ngạo vốn là điển hình của toàn bộ phe cánh tả hiện đại – những kẻ quyết tâm trói buộc nhân loại vào một chiếc áo bó (straitjacket). Một người theo phái Girondin như Condorcet đã bộc lộ cùng một nhân sinh quan khi ông viết: “Một đạo luật là tốt cho tất cả các dân tộc cũng giống như một định lý trong hình học là tốt cho tất cả các tâm trí.” Tất nhiên, ở Rousseau không chỉ có một nhà tư tưởng cẩu thả, mâu thuẫn, mà còn có một kẻ duy cảm (sentimentalist) với những khuynh hướng phô trương (exhibitionist) và trên hết, là một nhà tiên kiến, một nhà tiên tri.
Tư tưởng mang lại hậu quả. Jean-Jacques qua đời mười một năm trước khi Cách mạng Pháp bùng nổ, nhưng các nhà lãnh đạo cách mạng vĩ đại đã suy nghĩ và hành động theo tinh thần của ông. Thái độ toàn trị của ông được minh họa rõ nét qua bài phát biểu của Saint-Just vào ngày 10 tháng 10 năm 1793. “Các vị không chỉ phải trừng phạt những kẻ phản bội,” ông hét lớn, “mà ngay cả những kẻ bàng quan: Các vị phải trừng phạt bất cứ ai cư xử trong Nền Cộng hòa với một tinh thần thụ động và không làm gì cho nó, bởi vì kể từ khi nhân dân Pháp bày tỏ ý chí của mình, mọi thứ nằm ngoài chủ thể có chủ quyền đều là kẻ thù.”
Đây cũng chính là con người đã tuyên bố vào ngày 26 tháng 2 năm 1794: “Các vị muốn có một nước cộng hòa… điều cấu thành nên một nước cộng hòa chính là sự phá hủy hoàn toàn mọi thứ cản đường nó.” Và Maximilien de Robespierre, với một khái niệm mang đậm tinh thần Rousseau đầy mâu thuẫn về “tự do tập thể”, đã tuyên bố vào ngày 7 tháng 2 năm 1794: “Chính phủ của cuộc Cách mạng chính là sự chuyên chế của tự do chống lại bạo tàn.” Từ vựng tương tự lại xuất hiện dưới thời Đức Quốc xã – những kẻ đã được nuôi dưỡng về mặt ý thức hệ bởi Fichte, người bảo vệ vĩ đại của Cách mạng Pháp.
Cách mạng Pháp vẫn đang hiện diện cùng chúng ta trên mọi phương diện. Không chỉ các tư tưởng của nó luôn hiện hữu, mà còn có rất nhiều điều trong quá trình tiến hóa lịch sử của nó có thể dạy cho chúng ta – ở Bắc Mỹ cũng không kém gì ở châu Âu. Giai đoạn sơ khởi của nó bắt đầu bằng sự xói mòn các giá trị và tư tưởng truyền thống, đi kèm với đòi hỏi về những cuộc cải cách ôn hòa. Với Voltaire, một loạt những kẻ nhạo báng, những nhà phê bình hời hợt và những người theo thuyết bất khả tri (agnostics) theo đúng nghĩa đen của từ này đã xuất hiện. Họ đã lật đổ tôn giáo, những niềm tin sắt đá, những truyền thống và lòng trung thành – vốn là bệ đỡ mà nhà nước và xã hội dựa vào. Quá trình phân rã và mục nát luôn bắt đầu từ thượng tầng – trong cung điện hoàng gia, dinh tổng thống, trong giới trí thức, tầng lớp quý tộc, những kẻ giàu có, giới giáo sĩ – và sau đó dần dần bủa vây các tầng lớp xã hội thấp hơn. Trong quá trình này, thật thú vị khi nhận thấy những kẻ cao sang và quyền thế đã phát triển một cảm giác tội lỗi như thế nào, và đi cùng với nó là sự sẵn sàng thoái vị, nhượng bộ trước sự tước đoạt, chấp nhận đánh mất các đặc quyền, hay nói cách khác, là tự sát về mặt chính trị và kinh tế. Tuy nhiên, đối với hành động mang tính tự đày đọa này, họ đã được chuẩn bị kỹ lưỡng bởi bộ máy tuyên truyền ý thức hệ xuất phát từ chính hàng ngũ của mình. Trong trường hợp của Cách mạng Pháp, với Louis XVI, chúng ta không có một đại diện của “phe phản động” hay “chủ nghĩa bảo thủ” mà là một độc giả say mê của cuốn Encyclopédie [Bách khoa toàn thư] và (rất có thể) là một thành viên của Hội Tam Điểm (Freemason).
Các thành viên của tầng lớp quý tộc, những người đã tham gia tích cực vào việc phá hoại chế độ cũ (ancien régime) về mặt tri thức hoặc chính trị và sau đó tham gia vào cuộc Cách mạng, là rất đông đảo; nếu không có sự ủng hộ của họ, Cách mạng Pháp gần như là điều không thể tưởng tượng nổi. Trong số những người đi tiên phong của nó, chúng ta bắt gặp Holbach, Grimm, và phu nhân d’Epernay, và sau đó là Mirabeau, Noailles, Malesherbes, Victor Claude de Broglie, Clootz, Condorcet, Robespierre, Custine, St. Just, Clermont-Tonnerre, de Séchelles, Boissy d’Anglas, Barras, Collot d’Herbois, Corday d’Armont, Rouget de Lisle, Sade, Lafayette, Lanjuinais, anh em nhà Lameth, Barère de Vieuzac, và Công tước xứ Orléans. Khi lập ra một danh sách như vậy, người ta không khỏi nhớ đến một thực tế rằng về mặt thống kê mà nói, cái chết tự nhiên của các quốc gia và dân tộc cũng như của các giai cấp và đẳng cấp không phải là một vụ mưu sát mà là một vụ tự sát. Tuy nhiên, hành động tự sát này thường được đi trước bởi một thời kỳ của những ảo tưởng và sự điên rồ. Quem deus vult perdidi prius dementat [Kẻ nào thần linh muốn hủy diệt, người đó sẽ làm cho kẻ đó hóa điên trước].
Chủ tịch đầu tiên của Hội Jacobin vào năm 1790 là Công tước d’Aiguillon, và ngay cả người đàn ông, một cách chừng mực, đã lan truyền cuộc Cách mạng ra khắp bản đồ châu Âu là Napoleon, cũng xuất thân từ một gia đình quý tộc. Những người tiên phong của cuộc Cách mạng cũng thường xuyên thuộc giới giáo sĩ. Các “linh mục triết gia” (philosophizing abbés) có thể được tìm thấy ở khắp mọi nơi, những người như Sieyès, Raynal, (Giám mục) Grégoire, Mably, de St. Pierre và Barthélemy. Voltaire hàm ơn vị linh mục de Châteauneuf về tư tưởng Thần giáo tự nhiên (deism) của mình, và không phải vô cớ mà Rousseau lại đặt bản tóm tắt triết học Thần giáo tự nhiên duy cảm (sentimental-deistic) của mình vào miệng nhân vật Vicaire Savoyard (Cha xứ vùng Savoy). Phong trào Khai sáng và cuộc Cách mạng có rất ít điều phải e sợ từ tầng lớp giáo sĩ trí thức cao cấp. Cả Voltaire và Diderot đều được giáo dục bởi Dòng Tên (những người hoàn toàn không phải là những kẻ uốn nắn tâm trí như cách mà một kiểu tuyên truyền nhất định đã tô vẽ về họ).
Và vì các phong trào toàn trị trong hàng trăm năm qua, một phần hoặc thậm chí phần lớn, là những tà giáo (heresies) của Cơ Đốc giáo, nếu không muốn nói là những bức biếm họa về đời sống tu viện, nên không có gì quá ngạc nhiên khi những người đàn ông và phụ nữ có nền tảng Cơ Đốc giáo rõ rệt lại rơi vào cạm bẫy của chúng. Cả cương vị giáo sĩ lẫn quá trình đào tạo tại chủng viện đều không thể nào là những liều thuốc phòng ngừa chống lại những sự lệch lạc như vậy. Ai có thể tưởng tượng ra Cách mạng Pháp mà không có sự tham gia của các giáo sĩ và cựu giáo sĩ, hay chủ nghĩa Bolshevik ở Nga mà không có Stalin và Mikoyan, cả hai đều từng là những chủng sinh? Người ta cũng không thể hình dung ra các trào lưu cánh tả thời kỳ đầu mà thiếu đi Arnaldo di Brescia, Joachim de Floris, John Ball, John Wyclif, hay Campanella. Corruptio optimi pessima [Sự tha hóa của cái tốt nhất chính là cái tồi tệ nhất]. Chúng ta sẽ quay lại chủ đề này vào một lúc nào đó sau này.
Bài học thứ hai có thể rút ra từ Cách mạng Pháp liên quan đến mối nguy hiểm nội tại của những cuộc cải cách không được thực hiện bởi một bàn tay thực sự cứng rắn. Phần lớn con người không đáp lại sự hào phóng bằng lòng biết ơn, và thông thường việc buông lỏng dây cương lại trở thành tín hiệu cho tình trạng bất ổn và binh biến nói chung.
Phong trào Cải cách Tôn giáo (Reformation) đã gieo vào tâm trí những nhóm cực đoan mù chữ một cảm giác rằng không có đạo luật cố định nào, không có quy tắc vĩnh cửu nào, không có tiêu chuẩn được thiết lập nào, không có cơ quan thẩm quyền thường trực nào – tất cả những điều này diễn ra bất chấp một thực tế là Phong trào Cải cách Tôn giáo hoàn toàn không phải là một cuộc cách mạng tự do chủ nghĩa mà là một phong trào khắt khe (rigoristic), một cuộc nổi dậy về mặt tinh thần chống lại chủ nghĩa duy lý (rationalism) của Rome, hay nói cách khác, nó hoàn toàn trái ngược với Thời kỳ Khai sáng (thời kỳ mà bản thân nó lại là cháu chắt của phong trào Phục hưng).
Tuy nhiên, thực tế là những thay đổi căn bản diễn ra đã làm đảo lộn hoàn toàn sự cân bằng nội tại của quần chúng. Những cuộc nổi dậy vô chính phủ của nông dân đã nổ ra và những giáo phái điên rồ, kỳ dị xuất hiện ở khắp mọi nơi. Luther đã viện đến sức mạnh của thế tục một cách mạnh mẽ, và do uy quyền thế tục chưa bị lung lay bởi cuộc tiến hóa thuần túy tôn giáo này, trật tự đã được gìn giữ và khôi phục
Tuy nhiên, trong Cách mạng Pháp, uy quyền thế tục đã bị suy yếu và bị tấn công sau khi lòng trung thành với tôn giáo đã bị sứt mẻ nghiêm trọng. Chỉ có sự can thiệp quân sự từ bên ngoài mới có thể giúp đỡ Trật tự Cũ, nhưng những nguồn năng lượng được giải phóng bởi ngọn núi lửa cách mạng lại quá mạnh mẽ. Trong suốt hai mươi năm, lục địa châu Âu đã phải chịu sự định đoạt của Cách mạng Pháp và hệ quả của chủ nghĩa Bonaparte, với việc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thực chất là một đồng minh của Napoleon trong Cuộc chiến năm 1812.
Những nhân vật như Kerensky thường xuất hiện trên vũ đài trong những thời kỳ cải cách. Họ tiếp quản và tự nhận mình là người khởi xướng mọi sự cải tiến. Trên thực tế, họ không chỉ tiếp nối chính sách cải cách – tự do hóa của những người tiền nhiệm “phản động”, mà chẳng bao lâu sau họ mất quyền kiểm soát và bị đánh bại bởi sự kết hợp của những kẻ mị dân hoang dại và những đám đông cuồng loạn. Những người như Lafayette, Lameth, Mirabeau, theo đúng cách thức này, đã thất bại trong việc ngăn chặn làn sóng cấp tiến đang dâng cao.
Giống như trong một vở bi kịch Hy Lạp, các sự kiện phải diễn ra theo đúng tiến trình của nó. Chế độ chuyên chế vô chính phủ của số đông tất yếu tiến hóa thành nền chuyên quyền của một cá nhân duy nhất. Sự hỗn loạn dân sự biến thành trật tự quân sự. Skytalismos (sự cai trị bằng gậy gộc) nhường chỗ cho sự cai trị bằng thanh gươm. Chế độ chuyên chế “lắng xuống” để trở thành một nền quân chủ, đúng như những gì Plato, Aristotle và Polybius đã tiên đoán. Tuy nhiên, điều không may là sự “hoàng gia hóa” (royalization) của chế độ chuyên chế không còn khả thi nữa. Các chế độ chuyên chế toàn trị không còn tiến hóa nữa vì Anh Cả (Big Brother) không thể trở thành một người cha. Do đó, chúng ta đối mặt với những âm mưu bất tận, những cuộc nổi loạn chốn cung đình và những vụ ám sát. Chỉ có sự thất bại quân sự hoàn toàn mới có thể phá vỡ được chuỗi xích tà ác này.
Chúng ta đã thấy rằng trong những năm 1789-1815, nước Pháp là một ví dụ kinh điển về tiến trình cách mạng – tiến hóa chính trị, nhưng sự kinh điển không phải lúc nào cũng chiếm ưu thế, giống như bệnh tật không phải lúc nào cũng diễn tiến theo phác đồ được vạch ra trong các sách giáo khoa y học. Trong lịch sử, chúng ta không bao giờ có thể nói một cách tiên tri về những điều chắc chắn, mà chỉ về những khả năng, về những xác suất lớn hơn hay nhỏ hơn.
Không có gì là tất yếu, nhưng chỉ có kẻ ngốc mới bỏ qua những bài học lịch sử – những bài học mà đôi khi các cá nhân có thể học được, nhưng các quốc gia (như Hegel đã nhận xét) thì không bao giờ. Có trí nhớ cá nhân và có sự học hỏi cá nhân: Trí nhớ tập thể là một vấn đề đầy rắc rối và quần chúng thì không bao giờ nghiên cứu. Tuy nhiên, một nhà sử học thực thụ, vượt lên trên nhiệm vụ tìm kiếm sự thật, không phải là một người theo thuyết quyết định (determinist) cũng không phải là một người theo chủ nghĩa thực dụng (pragmatist) thuần túy. Dẫu vậy, Friedrich Schlegel đã đúng khi gọi nhà sử học là một nhà tiên tri nhìn về quá khứ.
Những nỗi kinh hoàng của Cách mạng Pháp là hệ quả trực tiếp và logic của triết học hoặc các triết lý nền tảng của nó. Những hành động tàn bạo này chỉ làm ngạc nhiên các nhà quan sát Anh và Mỹ (giống như những tội ác kinh hoàng của những kẻ Cộng sản và Đức Quốc xã một thế kỷ rưỡi sau đó) bởi vì, do tư duy tương đối luận hậu Kháng Cách của thế giới nói tiếng Anh, chủ nghĩa cực đoan và chủ nghĩa tuyệt đối trong tư tưởng và hành động đã trở thành điều “không thể tưởng tượng nổi.” Vào cuối thế kỷ mười tám, giới trí thức Mỹ và Anh bắt đầu chuyển hướng từ thần giáo tự nhiên (deism) sang thuyết bất khả tri (agnosticism). Tuy nhiên, sự suy thoái của tính mộ đạo Công giáo (và phương Đông) trên lục địa lại không nhường chỗ cho thuyết bất khả tri, mà đúng hơn là cho chủ nghĩa vô thần và chủ nghĩa phản thần. Chủ nghĩa tuyệt đối trong tư duy không bị thay thế bởi sự hoài nghi lịch thiệp, mà bởi những thái độ cấp tiến và cực đoan khác, bằng những đức tin thế tục mang tính duy cảm hoặc giả duy lý. Anatole France, người chắc chắn không phải là một tín đồ Cơ Đốc giáo kiên định cũng không phải là một kẻ giáo điều thế tục bảo thủ, đã từng nhận xét rằng “chỉ có những điều cực đoan mới có thể chịu đựng nổi.”
Đây cũng chính là Anatole France, người mà trong cuốn tiểu thuyết của mình, Les Dieux ont soif (Các vị thần khát máu), đã mô tả những bữa tiệc máu của Cách mạng Pháp, một cuộc cách mạng đã làm hài lòng và truyền cảm hứng cho cánh tả Mỹ mới chớm nở hơn 170 năm trước. Mặc dù những nỗi kinh hoàng điên cuồng do những người theo Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia và những người Cộng sản quốc tế gây ra trong thế kỷ của chúng ta còn tồi tệ hơn, nhưng Cách mạng Pháp – đánh dấu sự tái sinh của nền dân chủ sau sự sụp đổ của nó ở thời cổ đại – đã thiết lập một khuôn mẫu về sự vô nhân đạo, trở thành một tấm gương lưu truyền mãi. Mặt khác, có thể lập luận rằng, Cách mạng Pháp, thậm chí còn hơn nhiều so với bản sao ở Nga và hoàn toàn khác với những kẻ bắt chước Đức Quốc xã, đã tham gia vào những vụ tra tấn và thảm sát “không được ủy quyền”, rằng nó mang một khí thế (élan) thực sự từ quần chúng, trong khi Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia, chẳng hạn, đã thực hiện các tội ác của mình theo một cách thức hoàn toàn quan liêu và gần như luôn lén lút. Những vụ tra tấn mà các sĩ quan nhà tù Bastille phải hứng chịu đã được thực hiện bởi “những người dân thân yêu” giữa thanh thiên bạch nhật. Việc cắt xẻo tàn bạo Công chúa de Lamballe và những hành động điên cuồng của những kẻ bạo dâm cùng cuồng dâm có thể được quy cho “những kẻ man dã đê hèn”, cho người bạn đã được phong thần của chúng ta: Thường Dân (the Common Man). Độc giả có thể tha thứ – hoặc cảm ơn – tôi vì đã không trình bày chi tiết cho họ. Dẫu vậy, tôi nghĩ rằng cuộc diễu hành rùng rợn, trong đó các bộ phận nhạy cảm của người phụ nữ bất hạnh này bị cắm trên một ngọn giáo đưa đi khắp các con phố, là một khúc dạo đầu mang tính biểu tượng phù hợp cho thảm kịch dân chủ, điều mà cho đến ngày nay đã trở thành cơn ác mộng của châu Âu.
Phản ứng của Metternich đối với Cách mạng Pháp đã khiến ông đưa ra nhận xét: “Khi tôi thấy những gì người ta làm nhân danh tình huynh đệ, tôi đã tự nhủ nếu mình có một người anh em ruột, tôi sẽ gọi anh ta là anh họ.” Và, quả thực, lịch sử của cuộc Cách mạng là một hỗn hợp kinh tởm của những lời nói suông mang tính lý tưởng, của sự phản bội và âm mưu, của những câu thần chú duy cảm và những cuộc tàn sát vô nghĩa, của sự đố kỵ và những bộc phát bạo dâm. Những “đội quân địa ngục” (colonnes infernales) của đạo quân cách mạng dưới quyền Tướng Turreau đã tàn sát dân chúng của toàn bộ các ngôi làng ở Vendée và miền đông Brittany. Giống như trong thời kỳ chiếm đóng của Liên Xô tại Đông Đức và Áo, phụ nữ và trẻ em gái ở mọi lứa tuổi đều bị hãm hiếp, từ những bé gái ba, bốn tuổi cho đến những bà lão già yếu lẩy bẩy. Vị thống đốc vùng của phe cộng hòa, Chủ tịch Cholet, đã viết thư cho Turreau rằng binh lính của ông ta đã phạm phải những tội ác kinh hoàng mà ngay cả những kẻ ăn thịt người cũng không thể làm được. Một số sự tàn bạo tồi tệ nhất đã được thực hiện sau khi Le Mans rơi vào tay phe Cộng hòa, những kẻ đã sát hại tất cả những người phản cách mạng bị thương trong các bệnh viện quân y. Hầu như tất cả những ai không chạy trốn đều bị tàn sát. Phụ nữ và trẻ em gái bị lột quần áo, hãm hiếp, sát hại, và cuối cùng bị đặt cùng với những xác chết nam giới trần truồng trong những tư thế tục tĩu – những cảnh tượng mà Tướng Turreau có lẽ đã “không nhận ra” trong các cuộc “đi dạo” chính thức của ông ta (như cách ông ta gọi chúng). Những cuộc tàn sát này cũng được thiết kế để giảm bớt grande armée de bouches inutiles (đạo quân khổng lồ của những cái miệng ăn vô ích). Những vụ chết đuối hàng loạt (Noyades) trên sông Loire thật đáng kinh tởm vượt quá sức miêu tả và mang tính chất đồng tính luyến ái.
Những nỗi kinh hoàng như ác mộng này đã lặp lại ở Arras, nơi máy chém được đặt trước nhà hát để từ ban công của nó, nhà lãnh đạo cách mạng Lebon cùng người vợ quý hóa của ông ta có thể theo dõi cảnh tượng này. Sau một ngày làm việc cật lực với "vụ thu hoạch" lớn, những đao phủ đã tự giải trí bằng cách bắt chước batteries nationales [sự trừng phạt quốc gia] ở Le Mans; chúng lột quần áo của những xác chết đã bị chặt đầu của cả hai giới, trộn lẫn sự rùng rợn với sự dâm đãng. Một lần khác, tên đao phủ đã trói một ci-devant marquis (cựu hầu tước) lên tấm ván và sau đó tiếp tục đọc to số báo mới nhất của tờ báo địa phương trong vòng mười phút. Cuối cùng, hắn ta hối thúc vị hầu tước khốn khổ hãy thông báo cho bạn bè và người thân của ông ở thế giới bên kia về những chiến thắng của quân đội Pháp. Trong các cuộc Thảm sát tháng Chín, diễn ra tại các nhà tù ở Paris (1792), những tên đồ tể tình nguyện được trả sáu franc mỗi người và được nhận bao nhiêu rượu vang tùy thích để uống. Nhưng không chỉ giới quý tộc (aristos) mới phải chịu đựng, ngay cả những đứa trẻ trong các trại giáo dưỡng và những cô gái mại dâm bị bắt giữ tạm thời trong các nhà tù Bicêtre và La Salpêtrière cũng không được tha mạng. Tại đó, những cảnh tượng thú tính không thể diễn tả nổi đã diễn ra. Những cuộc tàn sát lớn nhắm vào gái mại dâm cũng được tổ chức bởi cánh tả trong Nội chiến Tây Ban Nha ở Barcelona và bởi các đơn vị SS ở Đông Ba Lan – có lẽ không phải vì sự phẫn nộ về mặt đạo đức mà vì những lý do "vệ sinh". Đối với một người theo chủ nghĩa duy vật chân chính, không có sự khác biệt cơ bản nào, mà chỉ có sự khác biệt mang tính tiệm tiến, "tiến hóa", giữa con người và một loài gây hại, một loài côn trùng độc hại.
Sự cuồng nhiệt cách mạng không chừa một ai. Khi Lavoisier, nhà toán học, nhà vật lý và nhà hóa học vĩ đại, bị buộc tội có các hoạt động phản cách mạng và tòa án kết án tử hình ông, luật sư của ông đã hét lên rằng ông là một nhà khoa học vĩ đại. Nhưng đối với một người theo chủ nghĩa dân chủ kiên định, một người cũng tốt như bất kỳ người nào khác, và Coffinhal, chánh án Tòa án, đã trả lời một cách khá chân thực: "La République n'a pas besoin de savants" [Nền Cộng hòa không cần các nhà bác học]. Bất chấp sự sùng bái lý trí, giới trí thức thực thụ chẳng bao lâu sau đã bị tình nghi. Sự đố kỵ đối với các tước hiệu và danh dự đã nhanh chóng tiến hóa thành sự đố kỵ đối với tri thức, và lẽ tự nhiên chỉ là vấn đề thời gian để hình thái mạnh mẽ nhất của thói hư tật xấu này xuất hiện: sự đố kỵ đối với của cải vật chất, điều đã đóng một vai trò vô cùng mạnh mẽ trong các phong trào dân chủ cấp tiến ở nước Anh thế kỷ mười bảy.
Phái Cuồng nộ (Enragés), cánh tả của phái Núi (Montagne), với những người như Roux, Varlet và Leclerc, đã gia tăng sự phản đối của họ đối với tình trạng bất bình đẳng về của cải. Họ khăng khăng rằng sự bình đẳng về quyền dân sự là vô nghĩa nếu không có sự bình đẳng về tài chính. Hébert cũng lên tiếng theo cách tương tự và Saint-Just đã tuyên chiến với người giàu. Chính Joseph Lebon, tên đồ tể ở Arras, là người đã bắt đầu cuộc chiến tranh có phương pháp chống lại "những kẻ giàu có" ở miền Bắc: 392 người đã bị lên máy chém ở Arras, 149 người ở Cambrai. Trong một bài phát biểu nổi tiếng trước Quốc dân Đại hội (National Convention), Jacques Roux đã yêu cầu mức thu nhập bình đẳng cho tất cả mọi người. Chủ nghĩa đồng nhất (Identitarianism) muốn đi đến cùng, và chỉ có sự sụp đổ của Robespierre và sau đó là thất bại của Gracchus Babeuf, nhà lãnh đạo cộng sản hiện đại đầu tiên (vào năm 1797), mới ngăn cản sự phát triển xa hơn theo hướng này. Tuy nhiên, trong tiến trình của Cách mạng Pháp, mối liên hệ nội tại giữa chủ nghĩa dân chủ (democratism) và chủ nghĩa xã hội (socialism) một lần nữa lại trở nên hiển hiện rõ ràng.
Thật sai lầm khi tin rằng, giống như cách mà những người "hợp lý" nhưng thiếu thông tin thường làm, Cách mạng Pháp (cũng như bất kỳ cuộc cách mạng nào khác) đại diện cho "sự đong đưa của con lắc theo hướng ngược lại" hoặc "phản ứng chính đáng đối với sự lạm quyền trước đó". Tại các trường trung học và đại học ở Mỹ, những cách diễn giải lịch sử như vậy khá phổ biến và thường được đưa ra với những ý định tốt đẹp nhất, nhằm cung cấp cho học sinh một câu chuyện "có lý" và đồng thời gợi ý rằng lý trí và công lý, dù không phải lúc nào cũng hiệu quả, là những thế lực cần được tính đến trong quá trình tiến hóa dần dần của nhân loại. Lựa chọn thay thế dường như chỉ là một sự liệt kê vô tận các cái tên, địa điểm và ngày tháng, tất cả gom lại như bản kiểm kê của một nhà thương điên hay một thung lũng nước mắt, mà ở đó Thế giới bên kia (the Beyond) lại là niềm an ủi duy nhất. Một giáo viên trung bình thường e ngại khi phải nói với những người trẻ tuổi – những người muốn "an cư" một cách ấm cúng trên quả địa cầu này – rằng Luther đã quá đúng khi gọi thế giới là des Teufels Wirtshaus, "Quán trọ của Ác quỷ". Ý nghĩa sâu xa hơn của lịch sử mang tính thần học, và kẻ chạy trốn thần học chỉ có thể cố gắng giải quyết những bí ẩn của lịch sử bằng cách đưa ra những lời sáo rỗng mang tính rao giảng đạo đức, giống như cách mà Chủ nghĩa Tự do Cũ (Old Liberalism) đầy lạc quan và Chủ nghĩa Mác (có liên hệ với nhau theo những khía cạnh nhất định) đã cố gắng cung cấp. Tuy nhiên, thế giới này là một thung lũng nước mắt và con người, từ một góc nhìn thuần túy trần thế, là một sinh vật bi kịch. Vấn đề là châu Mỹ và châu Âu, sau một quá trình dài phi Cơ Đốc giáo hóa (de-Christianization), không còn khả năng dung nạp một triết học về bi kịch hay một thần học về thập tự giá. Bên cạnh cách giải thích lịch sử mang tính tâm linh - đạo đức hời hợt, chúng ta còn có những sự hợp lý hóa, lý thuyết con lắc đã đề cập ở trên, niềm tin rằng "không có lửa làm sao có khói". Tuy nhiên, lý thuyết này quên mất rằng có thể có một ngọn lửa khổng lồ với rất ít khói và một ngọn lửa nhỏ, có khi chỉ là một đốm sáng, lại bao phủ toàn bộ khu vực trong những đám khói đen đặc. Chúng ta sẽ bắt gặp những hiện tượng này lặp đi lặp lại trong nghiên cứu của mình.
Trong trường hợp của Cách mạng Pháp, không hề có một hệ quả logic (sequitur) hợp lý nào giữa "sự khiêu khích" và "phản ứng" hơn so với trường hợp của người Do Thái và Đức Quốc xã, người Armenia và phong trào Thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ (Young Turks), chế độ Nga cũ, thời kỳ chuyển tiếp Kerensky và chủ nghĩa Bolshevik, sự cai trị thuộc địa của Bồ Đào Nha ở Angola và những nỗi kinh hoàng do những con quái vật man rợ của "Mặt trận Giải phóng" thuộc Holden Roberto gây ra, chính quyền Bỉ ở Congo và những hành động tàn bạo điên cuồng của Gbenye và Mulele, hay chủ nghĩa thực dân Anh ở Kenya và phong trào Mau-Mau. Chúng ta phải đối mặt với thực tế rằng con người không "tốt đẹp" – chỉ có những con người phi thường mới tốt đẹp, chỉ có vị thánh anh hùng hoặc vị anh hùng thánh thiện, trong khi kẻ man dã cao quý (noble savage) chỉ thuộc về thế giới của những câu chuyện cổ tích.
Nếu chúng ta nhìn Cách mạng Pháp từ góc độ xã hội, chúng ta sẽ khám phá ra rằng nó diễn ra trong một thời kỳ mà phúc lợi chung và sự thịnh vượng đang gia tăng. Ngoại thương đã tăng gấp bốn lần kể từ khi Louis XIV qua đời: Giá trị hàng hóa trao đổi đã vượt quá một tỷ franc vào năm 1788, một con số mà mãi đến năm 1848 mới đạt được lại. Không phải những vùng nghèo nhất mà chính những vùng giàu có nhất nước Pháp lại là những nơi mang tính cách mạng cao nhất, những nơi mà ảo ảnh về sự giàu có vô hạn đã đẩy lòng tham lam lên những tầm cao mới. Hiện tượng tương tự cũng có thể được quan sát thấy ở Tây Ban Nha trong thời kỳ Nội chiến (1936-1939) hoặc ở Ý sau cuộc chiến tranh vừa qua, khi chủ nghĩa cộng sản đã (và đang) mạnh mẽ nhất ở những khu vực tồn tại các điều kiện xã hội công bằng và không có các đại điền trang (latifundia): vùng huerta của Valencia và vùng Emilia với những mảnh đất màu mỡ. Một ví dụ khác là phong trào cộng sản hoặc xã hội chủ nghĩa nông nghiệp mạnh mẽ ở Bulgaria thời kỳ tiền cộng sản, một đất nước không có tầng lớp thượng lưu tinh hoa và chỉ có một tầng lớp trung lưu nhỏ bé, một quốc gia mà đáng lẽ ra yếu tố đố kỵ khó có thể chen chân vào.
Ở Pháp, mối quan hệ giữa giới quý tộc cũ và tầng lớp nông dân ở mức từ khá đến tốt. (Tuy nhiên, phần lớn tầng lớp quý tộc rởm của những kẻ mới phất không có những phẩm chất gia trưởng - ái dân của giới quý tộc kiếm ấn cổ xưa [noblesse de l'épée]). Chế độ nông nô chỉ còn sót lại ở một vài góc hẻo lánh ở vùng cực Đông và ở Bourbonnais. Đích thân Louis XVI đã xóa bỏ những tàn tích cuối cùng của chế độ nông nô trên lãnh địa của mình. Khoảng một nửa đất đai ở Pháp thuộc sở hữu của tầng lớp nông dân và theo thông lệ, ngay cả khi là những chủ sở hữu, nông dân cũng thuê thêm đất từ những người có các điền trang lớn. Ngoài ra, còn có vô số ngành sản xuất quy mô gia đình. Dẫu vậy, vẫn có vô số những xích mích và rắc rối nhỏ nhặt về tiền thuê đất, về ranh giới và giấy tờ sở hữu: Điều này sẽ không làm ngạc nhiên những ai biết đôi chút về tâm lý nông thôn của người Pháp. Tất nhiên, không hề có chế độ nô lệ.
Edmund Burke, người đã đi du lịch khá rộng rãi ở Pháp trước cuộc Cách mạng, đưa ra một bức tranh sinh động về đặc điểm của các giai cấp và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Ông lưu ý rằng giới quý tộc đã thể hiện "một điều gì đó gần giống với sự thân mật hơn những gì thường được thực hành ở chỗ chúng ta" đối với các tầng lớp thấp. Và ông nói thêm rằng tầng lớp quý tộc không có "bất cứ phương thức quyền lực nào ở các thành phố" và có rất ít quyền lực ở nông thôn. Dẫu vậy, ông vẫn quở trách họ vì chứng cuồng nước Anh (Anglomania) ngu ngốc của họ, điều mà (ít nhất là về mặt chính trị) đã góp phần vào sự sụp đổ của chính họ. Họ lỏng lẻo về mặt đạo đức và do dự trong việc tiếp nhận tầng lớp tư bản mới. "Tất cả những tiếng la ó bạo lực chống lại giới quý tộc này, tôi coi chỉ đơn thuần là một tác phẩm nghệ thuật [sự dàn dựng]," ông viết. Đối với hệ thống cấp bậc Công giáo của Pháp, Burke nhận xét rằng họ "tự do và cởi mở, với trái tim của những quý ông và những người có khiếu hài hước, không xấc xược cũng không khúm núm. Đối với tôi, họ dường như là một tầng lớp khá thượng đẳng."
Tuy nhiên, hoàn toàn chính đáng khi đặt câu hỏi liệu Cách mạng Pháp có diễn ra hay không nếu không có một sự chuẩn bị về mặt ý thức hệ mà trong đó, như chúng ta đã nói ở trên, các bộ phận lớn của giới quý tộc và một số lượng không nhỏ giáo sĩ đã đóng một phần đáng kể. Ngay cả khi chiếc mặt nạ đã bị gỡ bỏ và khuôn mặt của con quái vật đã có thể nhận diện rõ ràng, một số linh mục ngớ ngẩn và những tu sĩ ngu ngốc thuộc kiểu "hợp hiến", cũng như các giáo sĩ đã chính thức bị tước áo chầu, vẫn nhiệt thành ủng hộ cuộc Cách mạng.
Trên thực tế, chính Claude Royer, một mục sư từ Chalon-sur-Saône và là thành viên của Câu lạc bộ Jacobin ở Paris trên phố Saint-Honoré, là người đã đưa ra lời kêu gọi lớn đầu tiên cho một chế độ khủng bố hoàn toàn. "Chúng ta hãy ngừng nói," ông ta hét lên, "nhưng hãy để sự im lặng của chúng ta trở nên đáng sợ. Nó nên là tín hiệu cho cuộc chiến, gieo rắc nỗi sợ hãi vào trái tim của những kẻ âm mưu và đóng vai trò như một tiếng gọi đối với những người đang do dự ủng hộ tự do.... Vâng, các bạn của tôi, chúng ta hãy trở nên đáng sợ nhưng hãy cứu lấy tự do!"
Royer đã lặp lại bài phát biểu này trước Quốc dân Đại hội và yêu cầu rằng lệnh tổng động viên (Levée en Masse) và việc bỏ tù tất cả các nghi phạm phải được ban hành. Danton và Robespierre đã ủng hộ đề xuất này. Các vụ bắt giữ hàng loạt đã được thông qua ngay lập tức và Royer đã cho in một cuốn sách nhỏ mang dòng tiêu đề: "Hãy biến khủng bố thành mệnh lệnh của ngày hôm nay!" Một trong những kẻ tuyên truyền gay gắt nhất cho việc hành quyết cặp vợ chồng hoàng gia là cựu tu sĩ dòng Capuchin tên Chabot, người đã ủng hộ Moras trong các cuộc tấn công rợn người của ông ta. Sự xuyên tạc các tình cảm Cơ Đốc giáo cơ bản rất dễ xảy đến với những linh mục ngớ ngẩn đã bỏ bê đời sống tâm linh của mình, và bằng việc thế tục hóa thần học, họ trở thành những kẻ kích động quần chúng (mobmasters) thực thụ, giống như điều đang diễn ra rất thường xuyên ở Mỹ Latinh hiện nay.
Các tác giả bảo hoàng sau này đã ám chỉ rằng "Các Cha dòng Jacobin" trên phố SaintHonoré (những người thuộc dòng Đa Minh) đã thấm nhuần tinh thần phản hoàng gia từ thời của Liên minh Công giáo (La Ligue), nhưng đây là một sự phóng đại. Dẫu vậy, họ đã tích cực mời phái Jacobin đến thiết lập trụ sở trong tu viện của mình và chắc chắn họ có thiên hướng cánh tả – không giống như các tu sĩ cùng dòng cư trú ở phố SaintJacques.
Bi kịch của nhà quý tộc trí thức cánh tả được nhân cách hóa rõ nét nhất qua Chrétien de Lamoignon de Malesherbes, một người theo chủ nghĩa tự do mang chút thiên hướng bè phái và là một trụ cột của phong trào Khai sáng. Năm 1750, ở tuổi 29, ông trở thành Chủ tịch của Cour des Aides [Tòa án Thuế khóa] thuộc Parlement [tòa án cấp cao] Paris, trong khi cha ông được phong làm Đại Pháp quan (nhưng đã giao lại toàn bộ công việc cho con trai mình).
Ông đã sử dụng vị trí của mình để thúc đẩy phong trào Khai sáng và, trong nỗ lực tuyệt vọng để tỏ ra "khoan dung", "tiến bộ", "rộng lượng", ông không chỉ cung cấp mọi sự hỗ trợ có thể tưởng tượng được cho những kẻ phá hoại trật tự cũ mà thậm chí còn bức hại cả những người phản đối phong trào Khai sáng. Điều này thật dễ dàng đối với ông bởi vì chức vụ của ông đòi hỏi việc kiểm duyệt mọi ấn phẩm được xuất bản ở Pháp. Như người ta có thể thấy, Tòa án Dị giáo Phi tự do Thần thánh (Holy Illiberal Inquisition) trong lĩnh vực văn học đã hoạt động hiệu quả ngay từ những ngày đó. Trong tất cả các "thiết chế" này của cánh tả, xưa cũng như nay, những trí thức "màu hồng" (tả khuynh), vì sợ bị lạc điệu với thời cuộc, không chỉ là những sinh vật đáng khinh nhất, mà còn nực cười nhất.
Nam tước Grimm đã không hề nói quá khi cho rằng "nếu không có sự hỗ trợ của Malesherbes, cuốn Encyclopédie [Bách khoa toàn thư] có lẽ sẽ không bao giờ được xuất bản." Pierre Gaxotte gọi ông là "le type achevé du libéral qui a toujours peur de passer pour un réactionnaire" [mẫu người tự do hoàn hảo, kẻ luôn e sợ bị coi là một kẻ phản động]. Élie Fréron, kẻ thù của Voltaire, d'Alembert và Marmontel, đã xuất bản một tạp chí có tính chất tương đối bảo thủ, tờ L'Année Littéraire (Năm Văn học). Tờ báo này đã bị tịch thu nhiều lần, và vào năm 1758, ông suýt bị bỏ tù vì đã thảo luận trên tờ báo của mình về một cuốn sách phản đối tờ Encyclopédie. Mặc dù liên tục bị tấn công bởi những người của phong trào Khai sáng, ông lại bị Malesherbes tích cực ngăn cản việc tự vệ. Năm 1752, Malesherbes đã cấm xuất bản một tác phẩm của linh mục Julien Louis Geoffroy vì nó chỉ trích Diderot. Linh mục Thomolas từ vùng Lyons, người đã dám phản hồi bài viết của Collège trên tờ Encyclopédie, đã bị cảnh cáo là không được xấc xược. Cha Charles Palissot de Montenoy, một tu sĩ dòng Oratory, đã bị Malesherbes bức hại và Nicholas Laurent Gilbert, một người tài năng nhưng đoản mệnh, cũng chịu chung số phận. "Các triết gia lớn tiếng hô hoán rằng họ đang bị bạo chúa áp bức," Gaxotte nhận xét, "nhưng chính họ mới là những kẻ thi hành một sự cai trị độc tài lên thế giới văn học."
Chúng ta có thể chắc chắn rằng Malesherbes cuối cùng cũng đã nhìn thấy ánh sáng [nhận ra sự thật], nhưng khi đó đã quá muộn. Ông đã trở về từ Thụy Sĩ, nơi ông được tị nạn, để biện hộ cho Nhà vua trước các thẩm phán, và nhiệm vụ cay đắng của ông là thông báo cho vị quốc vương rằng ngài đã bị kết án tử hình. Sau đó, ông lui về vùng nông thôn nhưng đã bị bắt vào tháng 12 năm 1793 cùng với con gái, con rể và các cháu của mình. Tất cả họ đều bị kết án tử hình và, với "sự tinh tế vĩ đại" luôn là điểm phân biệt của những người cánh tả kiên định, tên đao phủ đã chặt đầu cả gia đình ngay trước mặt ông cụ (vốn là ông ngoại của Alexis de Tocqueville) trước khi đến lượt ông (ngày 23 tháng 4 năm 1794). Chắc chắn ông đã phải đền tội cho tất cả những tội lỗi của mình. Con đường dẫn đến địa ngục của chủ nghĩa cấp tiến cánh tả không chỉ rộng mở mà còn lao dốc nhanh chóng và hiểm trở. Trong những hoàn cảnh như vậy, phanh xe hiếm khi hoạt động.
Tầm quan trọng của Cách mạng Pháp không chỉ nằm ở sự phục hưng của nền dân chủ, mà còn đại diện cho việc áp dụng các mô hình chính trị thịnh hành thời cổ đại và ở các dân tộc nguyên thủy, và còn tạo ra một động lực mới cho sự sùng bái nhà nước và chủ nghĩa dân tộc sắc tộc (ethnic nationalism). Mô hình nhà nước thành bang (polis-state) toàn năng một lần nữa lại xuất hiện. Nói cách khác, những động lực mang tính đồng nhất (identitarian drives) đã lên đến đỉnh điểm không chỉ ở một đòi hỏi điên cuồng về sự bình đẳng (điều đã đi xa đến mức chỉ có sự sụp đổ của Robespierre mới ngăn chặn được việc phá hủy tất cả các tháp chuông và tháp canh), mà còn ở sự giống nhau về mặt sắc tộc. Trong chương đề cập đến Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia, chúng ta sẽ thấy Đức Quốc xã nợ Cách mạng Pháp nhiều đến mức nào, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, và cả việc những người cánh tả "có thiện ý", "ôn hòa", "được khai sáng", và "tiến bộ" đã góp phần ở mức độ nào vào sự trỗi dậy của hiểm họa áo nâu (the brown scourge). Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi muốn thu hút sự chú ý của độc giả vào cuốn The Jacobins [Những người Jacobin], một cuốn sách xuất sắc của Giáo sư Crane Brinton viết về các câu lạc bộ cấp tiến trong thời kỳ Cách mạng Pháp. Cuốn sách này được xuất bản ở New York vào năm 1930, ba năm trước khi Hitler lên nắm quyền. Nó được đọc hoàn toàn giống như một tác phẩm của một tác giả đang cố gắng một cách có phương pháp để chứng minh rằng Đức Quốc xã đã cố tình áp dụng và bắt chước các quan niệm, kế hoạch và hành động của những người Jacobin – những kẻ hoàn toàn không phải là những người theo chủ nghĩa quốc tế.
"Khi cuộc chiến diễn biến tồi tệ," Brinton viết về những thất bại đầu tiên do liên minh Phổ - Áo gây ra, "và các dân tộc [khác] từ chối nổi dậy, người Pháp gần như buộc phải coi mình là dân tộc đức hạnh duy nhất. Hội Guéret đã cao ngạo chờ đợi cho đến tháng 1 năm 1794 và sau đó gỡ bỏ cờ của Mỹ và Anh khỏi cây tự do. Lá cờ tam tài giờ đây tung bay một mình."
Tuy nhiên, Giáo sư Brinton đã lập luận đúng đắn rằng ngay cả khi không có một cuộc chiến tranh ngoại quốc, những người yêu nước cũng sẽ tiến hóa từ một người yêu thương nhân loại thành một người theo chủ nghĩa dân tộc bởi vì sự bình đẳng không thể chỉ dừng lại ở một khái niệm trừu tượng: nó phải tìm được biểu hiện cụ thể. Tất cả các phẩm chất khác đều là ngẫu nhiên, nhưng "tính chất Pháp" (Frenchness) giờ đây đã trở thành hòn đá thử vàng của sự bình đẳng. Tất cả người Pháp nên có một ngôn ngữ chung và chẳng bao lâu sau, các câu lạc bộ Jacobin đã bắt đầu một cuộc thập tự chinh nhỏ chống lại tất cả các ngôn ngữ khác – tiếng Provençal, Breton, Đức, Flemish và Basque. Câu lạc bộ Jacobin ở Strasbourg thậm chí còn đề xuất rằng tất cả những người Alsace từ chối học tiếng Pháp phải bị trục xuất và thay vào đó là sự nhập cư của những sans-culottes [những người vô sản/dân nghèo thành thị]. Tiếng Pháp là la langue républicaine [ngôn ngữ của nền cộng hòa] và người dân Pháp là những người mang chân lý đã được lịch sử định đoạt sẵn của một thông điệp cứu thế (messianic). Do đó, chúng ta có được một gợi ý về mức độ mà Cách mạng Pháp không chỉ là bước báo trước mà còn là bàn đạp tư tưởng cho sự phát triển chậm rãi của các ý tưởng Đức Quốc xã, những ý tưởng cuối cùng chỉ tìm thấy biểu hiện cụ thể của chúng trong thời đại của chúng ta.
Độc giả có thể phản đối rằng xét về sự cuồng tín, chủ nghĩa cực đoan và sự man rợ, những người Xã hội Quốc gia (Đức Quốc xã) đã vượt xa những bậc tiền bối của họ. Xét về mặt thuần túy định lượng, điều này chắc chắn đúng. Tuy nhiên, la terreur [sự khủng bố] mang tính cương lĩnh trong Cách mạng Pháp (điều mà cánh tả không cam kết, phi Mác-xít trên toàn thế giới luôn tán thành) nhiều hơn so với hệ thống do Hitler khởi xướng. Thật khó để những người ngoài cuộc tin được sự thật về việc giết người có hệ thống đã được giấu giếm hiệu quả như thế nào khỏi người dân Đức, những người chắc chắn biết về các trại tập trung và thậm chí cả việc giết hại những người điên, nhưng lại không biết về các trại hủy diệt. Schrecklichkeit – sự kinh hoàng – được sử dụng như một phương tiện để làm tê liệt sức kháng cự và tạo ra sự sợ hãi – nhưng nó lại được sử dụng khá dè dặt. Bất kỳ ai dám công khai nói ra sự thật về Auschwitz, Treblinka, Majdanek và các phòng giam kinh hoàng khác đều sẽ phải đánh cược mạng sống của mình. Những người Do Thái vẫn còn được tự do, không biết điều gì đang chờ đợi họ. Đó đây có những tin đồn lọt ra ngoài, nhưng vì chúng quá mơ hồ, nên hoàn toàn có thể hiểu được tại sao tâm trí con người lại né tránh việc chấp nhận những câu chuyện kinh dị đó. Tất cả chúng ta vẫn còn bị định hình quá nhiều bởi nhiều thế kỷ của Cơ Đốc giáo.
Trong Cách mạng Pháp, điều này lại hoàn toàn khác. Bất chấp những ảo tưởng mang màu sắc Rousseau (Roussellian fancies), chẳng bao lâu sau, bản chất đồi bại mà một con người bình thường có thể trở thành đã bộc lộ rõ ràng. Người ta thực sự đã nhảy múa quanh những chiếc máy chém. Nhiều chỉ huy quân sự và dân sự đã công khai và chính thức khoe khoang về những hành động thú tính của họ, vốn dĩ, với tất cả sự kinh hoàng đáng buồn nôn của chúng, chủ yếu được thực hiện nhằm vào "kẻ thù nội bộ". Do đó, Tướng Westermann, trong thông điệp gửi Ủy ban Cứu quốc (Committee of Public Welfare), sau khi đánh bại quân Chouan gần Savenay, đã có thể tuyên bố:Vùng Vendée, hỡi những đồng bào cộng hòa, không còn tồn tại nữa. Nó đã chết dưới những lưỡi kiếm của chúng ta, cùng với phụ nữ và trẻ em của nó. Tôi vừa chôn vùi nó trong những khu đầm lầy và những cánh rừng ở Savenay. Tuân theo những mệnh lệnh mà các ngài đã giao cho tôi, tôi đã cho ngựa giẫm chết những đứa trẻ; tôi đã tàn sát phụ nữ và họ sẽ không bao giờ còn có thể sinh ra thêm bất kỳ tên thổ phỉ nào nữa. Tôi không có tội trong việc nhận một tù binh nào. Tôi đã tiêu diệt tất cả bọn chúng....
Các con đường phủ kín xác chết. Có quá nhiều xác chết đến mức ở một vài nơi, chúng xếp thành hình kim tự tháp. Các đội hành quyết bằng súng phải làm việc không ngừng nghỉ tại Savenay vì lúc nào cũng có những tên thổ phỉ đến và giả vờ rằng chúng sẽ đầu hàng làm tù binh… nhưng chúng ta không nhận một ai. Người ta sẽ bị buộc phải nuôi chúng bằng thứ bánh mì của tự do, nhưng lòng trắc ẩn không phải là một đức hạnh của cách mạng.
Westermann tàn ác không tả xiết, một người Alsace, thuộc phe phái của Danton. Hắn sau đó bị bắt và đưa lên máy chém vào ngày 5 tháng 4 năm 1794. Nhưng tinh thần của hắn vẫn tiếp tục sống. Một báo cáo chính thức gửi đến Paris từ Avranches viết: "Bệnh viện cũng chật cứng thương binh và họ cũng phải hứng chịu sự báo thù của quốc gia. Họ đã bị kết liễu." Trong số đó có một người phụ nữ "giả vờ mắc bệnh." Bác sĩ Gainou, một người bạn của Robespierre, đã viết thư cho ông từ Fougères rằng "những người lính đã giết tất cả những người bị thương và ốm yếu trong bệnh viện. Vài người vợ của những tên thổ phỉ ở đó trong tình trạng ốm yếu. Họ đã bị hãm hiếp và cắt cổ." Marceau-Desgraviers, một người lính thực thụ đã tham gia vào cuộc chiến chống lại vùng Vendée, đã bị giày vò trong suốt phần đời còn lại của mình – ông tử trận năm 1796 – bởi những cơn ác mộng về những nỗi kinh hoàng do nền dân chủ đang hồi sinh này gây ra. Tại Le Mans, ông đã giải cứu một cô gái bảo hoàng và do đó suýt chút nữa không thoát khỏi máy chém. Trong khi đó, ủy viên của Angers đã viết một cách đắc thắng cho thị trưởng Paris: "Thánh mẫu máy chém của chúng ta đang làm việc hết công suất…" Và cũng chính tại Angers, những người Cộng hòa đã ban hành lệnh lột da đầu và mổ xẻ những cái đầu của "những tên thổ phỉ" (những người Chouan) rồi bêu chúng trên những chiếc cọc nhỏ trên các thành lũy của thành phố. Tuy nhiên, những bác sĩ phải làm công việc "ngon lành" này lại quá chậm chạp. Vì những người Cộng hòa cần những minh chứng nhanh chóng cho sự cuồng nhiệt dân chủ, họ đã đưa lên máy chém bất kỳ tù nhân dân sự nào mà họ có, trong đó có vị nữ tu viện trưởng 82 tuổi của vùng Fontevault. Bà bị mù nhưng, như nhà viết sử kể lại cho chúng ta, "pleine de vertus et de charité" [tràn đầy đức hạnh và lòng bác ái].
Người ta không chỉ nên đọc những báo cáo của đám tay sai của cuộc Cách mạng chiến thắng về cuộc chiến này, mà còn cả lời kể của những nhân chứng mắt thấy tai nghe khác. Có những mô tả về vụ thảm sát Le Mans, nơi Bourbotte và Prieux không chỉ chứng kiến cảnh hãm hiếp những phụ nữ và trẻ em gái trần truồng – những người sau đó bị cắt cổ – mà còn cả cảnh hãm hiếp những xác chết – những cuộc hoan lạc thực sự của hội ái tử thi (necrophilia). Beauvais, viết về sự kiện này sau cuộc rút lui khỏi Fougères, kể lại rằng "tất cả những người bị thương trong bệnh viện đã bị thảm sát theo cách ác quỷ nhất. Những vết cắt được rạch trên lòng bàn chân của họ và tất cả các chi của họ, không có ngoại lệ, đều bị cắt rời từng mảnh. Những người phụ nữ bị đối xử theo cách y hệt như vậy cho đến khi, cuối cùng, những hộp thuốc nổ được nhét vào vùng kín của họ để kết thúc sinh mạng và những đau đớn của họ bằng một vụ nổ." Những kiểu tra tấn loại này cũng được thực hiện bởi những người Trung thành (Loyalists) "đáng ngưỡng mộ" trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, nhưng thay vì bệnh viện, họ đã chọn các nhà thờ làm nơi biểu đạt nền dân chủ tính dục của mình.
Giết người hàng loạt đã trở thành chuyện thường ngày. Nếu như Đức Quốc xã đã thành công trong việc tàn sát hàng triệu người nhờ vào sự phát triển của công nghệ, thì những nhà cách mạng Pháp bị ngăn cản làm điều tương tự chỉ bởi vì họ không có phương tiện. Nhưng họ chắc chắn đã cố gắng rất nhiều. Kỹ sư hóa học Fourcroy đã phát minh ra một loại khí độc; tuy nhiên, nó đã không chứng minh được hiệu quả thực sự. Ông ta đã hành động theo lệnh của Robespierre, Collot d'Herbois, Barère và Fouché. Carrier sau đó đã đề xuất đầu độc các con sông và hồ nước bằng thạch tín (arsenic). Điều mà Renan sau này gọi là những "cuộc chiến tranh động vật học" (zoological wars) đã thực sự bắt đầu.
Tinh thần của bài ca Marseillaise [Quốc ca Pháp] vốn đã mang đậm tính Quốc xã và phân biệt chủng tộc: "Hỡi các công dân, hãy cầm vũ khí lên, hãy lập thành các tiểu đoàn, chúng ta hãy tiến bước, tiến bước, để dòng máu không thuần khiết tưới đẫm những luống cày của chúng ta." Một sự đảo ngược khéo léo của phức cảm máu và đất, Blut und Boden, dường như được chứa đựng trong những dòng này.
Nguyên tác: Leftism: from de Sade and Marx to Hitler and Marcuse, 1974, Arlington House
Bản dịch: Lê Lam Kiều
