[VIDEO] Tư duy khách quan
Vâng, chủ đề của tôi hôm nay rất đơn giản: Tri thức là sự nỗ lực. Ở đây, ta nhìn thấy một người đang làm việc tại công trình trên cao. Vậy, ‘tri thức là sự nỗ lực’ thể hiện ở phương diện nào? Có một số phương diện rất rõ ràng: đó là sự nỗ lực khám phá tri thức mới. Bạn hãy nghĩ đến một nhà khoa học đang nghiên cứu thực nghiệm ở đâu đó trong rừng, thu thập các mẫu vật cần phân tích, hay như Einstein1 làm việc với bảng viết, nỗ lực tìm ra phương trình mới để giải thích những sự việc. Khám phá tri thức mới là sự nỗ lực, nhưng đó không những là nỗ lực chỉ để khám phá tri thức mới mà còn là nỗ lực nhằm học hỏi tri thức từ người khác. Einstein đã làm xong những điều trên bảng viết và trong đầu ông ta; và đã phát minh ra những điều ông ấy khám phá, nhưng việc đó không có nghĩa là tất cả chúng ta có thể hiểu mà không cần nỗ lực: Hầu hết chúng ta, kể cả tôi, không thực sự biết chút gì về tri thức đó cả vì chúng ta không hiểu nó. Đối với những bạn thực sự hiểu tri thức của Einstein, hoặc hiểu Chủ nghĩa Khách quan, hoặc hiểu bất cứ điều gì do người khác đã khám phá, thì việc hiểu biết đó luôn cần có sự nỗ lực từ phía bản thân. Từ việc một đứa trẻ học hỏi những khái niệm đầu tiên đến việc hoàn thành chương trình thạc sĩ hoặc tiến sĩ đều đòi hỏi sự nỗ lực.
Tuy nhiên, quan trọng không kém hai ý trên – cần sự nỗ lực để khám phá tri thức mới và học hỏi tri thức từ người khác, tôi muốn nhấn mạnh rằng còn cần sự nỗ lực để duy trì tri thức đã có. Tri thức không phải là thứ mà một khi đã lĩnh hội thì có thể duy trì suốt đời. Giống như một tòa nhà, ở đây, anh chàng này chỉ quan tâm đến việc ghép những thứ này nhằm xây nên tòa nhà mới, nhưng nếu không ai bảo trì nó trong một trăm năm tới, thì tòa nhà sẽ không còn nữa. Cần rất nhiều công sức để bảo dưỡng một tòa nhà, cả cấu trúc vật lý lẫn toàn bộ hoạt động kinh tế thương mại cần thiết để có nguồn tài chính duy trì nó. Dagny Taggart2 suy ngẫm về những chuyến tàu chạy qua nhà ga Taggart; và ngẫm nghĩ rằng tòa nhà giống như một cái cây, Eddie3 cũng nghĩ như vậy, phải, và (tòa nhà...) những đường hầm này là rễ của cái cây đó, nó [cái cây] cần các đoàn tàu phải chạy liên tục, cần thương mại, hoạt động, công việc tiến hành liên tục, để giữ cho tòa nhà bền vững, để duy trì ngân sách, hệ thống, sự lành mạnh, sinh thể, đó là việc vận hành ở tòa nhà, và tòa nhà là cái vỏ bên ngoài của việc vận hành đó. Nếu không có việc vận hành đó (thậm chí nếu thân/khối tòa nhà vẫn tồn tại một thời gian), thì đó không là một tòa nhà đích thực nữa mà sẽ trở thành cái xác; giống như cái cây mà Eddie Willers liên tưởng khi nhìn tòa nhà Taggart: bề ngoài không thay đổi nhưng bên trong đã mục nát và có thể bị phá hủy bất cứ lúc nào. Tri thức của bạn cũng thế. Nếu bạn ghi nhớ, học hỏi, thực sự học hỏi và cố gắng nghiên cứu một học thuyết nào đó đến mức có thể tự diễn giải lại bằng lời, nhưng rồi bạn ngừng thực hiện những nỗ lực cần thiết để duy trì học thuyết đó (tôi sẽ nói rất nhiều về sự nỗ lực này), những lời tự diễn giải đó sẽ giống như thân cây kia, chết từ bên trong, không thực sự là một sinh vật sống nữa, không còn là tri thức đích thực nữa. Bạn sẽ không chắc chắn, không thực sự hiểu, và không thể áp dụng tri thức đó vào cuộc sống. Vì vậy, cần có sự nỗ lực không chỉ để tiếp thu tri thức (dù là tri thức được khám phá lần đầu tiên) mà còn để duy trì nó. Nói cách khác, ta có thể nói tri thức không phải là thứ ta sở hữu mà là thứ ta hành động để duy trì. Hiểu biết về thế giới là một hoạt động, là nhận biết về sự việc/vật, là ý thức, hay nói khác đi, tri thức không phải được học thuộc lòng. Dù ghi nhớ đúng là một phần của việc hiểu biết tri thức, nhưng nếu bạn chỉ thuộc những câu như “cuộc sống là tiêu chuẩn của giá trị” thì chưa đủ, và có lẽ ngay khi bạn thực sự hiểu câu đó nghĩa là gì thì câu đó không phải là điều để hiểu về việc cuộc sống là tiêu chuẩn của giá trị. Tri thức chung quy là một loại nỗ lực, một loại hoạt động, một loại quá trình mà bạn thực hiện suốt đời. Tri thức là ý thức, tri thức là nhận thức, là sự nhận biết về thực tại, như Ayn Rand đã nói ở phần mở đầu quyển The Introduction to Objectivist Epistemology (Đại cương về Nhận thức luận khách quan): “Ý thức với tư cách là một trạng thái nhận thức, không phải là trạng thái thụ động mà là một quá trình chủ động, đó là điều gì đó mà bạn phải thực hiện”.
Ta hãy xem xét ý thức, hoặc một thực thể có ý thức, đây là Tartalia (còn gọi là mèo rùa), ít nhất tôi nghĩ thế, chút nữa chúng ta sẽ nói về những nhận định (judgment4 ) có-khả-năng-xảy-ra so với chắc-chắn-xảy-ra, nhưng bằng chứng cho thấy con mèo này là Tartalia, hay là mèo rùa, và ta hãy xem xét ý thức của Tartalia. Tartalia nhận biết được mọi thứ, có thể là một con chuột đang bỏ chạy, hoặc một nhiếp ảnh gia chụp ảnh cho tờ báo mà Tartalia dường như đang nhìn chằm chằm. Sự nỗ lực mà con mèo thực hiện để có được nhận biết đó là gì? Chà, có đủ tất cả các loại tiến trình đang diễn ra trong hệ thống thần kinh của nó, đúng không? Hệ thống thần kinh của động vật hoạt động, nó làm đủ mọi việc, tiêu tốn năng lượng, tất bật, nỗ lực phân biệt các thực thể về mặt tri giác và liên tục theo dõi chúng, giống như tất cả mọi người ở đây phải dùng mắt quan sát bức ảnh này. Ý thức của con người cũng tương tự, nhưng chúng ta có một điểm vượt trội. Con người phải nỗ lực để xác định sự nhận biết (Chúng ta, giống như con mèo, cũng nhìn thấy nhiếp ảnh gia, ánh sáng và mọi thứ xung quanh, nhưng đối với chúng ta, chúng ta có thể và buộc phải nỗ lực xác định những sự tri giác này để biết chúng nói lên điều gì), và nỗ lực để tích hợp câu trả lời đó vào nhận thức liên tục phát triển về thực tại, về thế giới. Vậy, tri thức là sự nỗ lực.
Tôi đã nói chủ đề của tôi là “Tri thức là sự nỗ lực”, nhưng tiêu đề ở đây lại là “Tư duy khách quan”, vậy hai thứ này liên quan đến nhau như thế nào?
Đầu tiên, tri thức là mục tiêu của tư duy, tư duy là để có tri thức. Tri thức là điều chúng ta hướng đến bằng việc tư duy. Tôi xin nói thêm, tri thức là mục tiêu của việc tư duy thực sự chứ không phải những thứ bạn nghe được từ ai đó. Nhiều người dành rất nhiều thời gian cho cái mà có lẽ bạn đang gọi là tư duy như cân nhắc tỷ lệ giao dịch, để những suy nghĩ và lời nói lướt qua trong đầu, nhưng họ không hướng đến tri thức mà có thể chỉ muốn xoa dịu nỗi sợ hãi, đạt được địa vị nào đó hoặc một cái gì đó khác, bất kể là gì nhưng chắc chắn không phải là hiểu biết về cách thức tồn tại của thế giới. Vậy, mục tiêu này, tri thức là mục tiêu của tư duy, là thứ mà ta phải duy trì bằng sự lựa chọn, và duy trì tri thức bằng sự lựa chọn là điều kiện tiên quyết của khóa học này. Tôi không thể hướng dẫn bạn cách thực hiện điều đó, hoặc giảng bài giảng này, nếu như bạn không xem tri thức là mục tiêu tư duy của mình, nếu bạn không quan tâm đến việc hiểu đúng về thế giới, hay quan tâm tìm hiểu điều gì có thực thì bài giảng này không dành cho bạn, và cuộc sống này cũng vậy. Đây là một cam kết cơ bản. Bạn có muốn biết điều gì là sự thật không? Vậy thì việc bạn phải làm ngay bây giờ là lắng nghe tôi và phải thật tập trung, bạn phải cố gắng tập trung từng giây từng phút vì sẽ luôn có điều gì đó cám dỗ bạn nhiều lần.
Vậy, tri thức là mục tiêu của tư duy. Tư duy là hoạt động bắt buộc để có được hiểu biết cao hơn cấp độ tri giác. Loài mèo cũng có một loại tri thức, nhưng nếu bạn muốn biết nhiều hơn mèo, bạn cần nhiều hơn mèo thì bạn bắt buộc phải tư duy. Ta có thể mô tả tính khách quan là sự chuyên tâm vào tư duy. Hãy nghĩ đến một người lao động chuyên tâm, điều gì tạo nên một người lao động như vậy? Một người lao động khách quan hay đúng hơn là người lao động chuyên tâm giữ vững mục tiêu của mình, trong trường hợp này mục tiêu chính là tri thức. Còn nếu họ là người quét đường với mục tiêu dọn sạch đường phố, họ sẽ nhận ra rằng cần có một phương pháp để đạt được mục tiêu ấy. Họ sẽ không cho rằng mình có thể hoàn thành công việc theo bất kỳ cách làm cũ nào. Họ biết có một phương pháp nên thực hiện, họ kiên định tuân thủ phương pháp đó, đồng thời tìm nhiều cách cải thiện nó. Tôi nghĩ đây là bốn yếu tố... những bạn đang làm quản lý có thể đưa ra ý kiến hay hơn, nhưng theo tôi đây là bốn yếu tố để trở thành một người lao động tận tâm, và cũng là trở thành người suy nghĩ khách quan. Hãy kiên định với mục tiêu, hãy nhớ rằng bạn ở đây để hiểu về thực tại chứ không phải để thắng một cuộc tranh luận, để tỏ ra thông minh, để khoe mẽ với ai đó, để gây ấn tượng với một cô gái, hay bất cứ gì đi nữa, mục tiêu của bạn là hiểu biết và hãy luôn tập trung vào nó. Thứ hai, nhận thức rằng chỉ duy trì mục tiêu thôi thì chưa đủ, bạn cần có phương pháp đạt được nó, nhất quán tuân thủ những hiểu biết về phương pháp để đạt được mục tiêu, và suy nghĩ nhiều cách cải thiện phương pháp. Giờ chúng ta sẽ nói đến... À, đây là định nghĩa của Tiến sĩ Peikoff về tính khách quan – đó là “sự tuân thủ theo ý chí đối với thực tại theo phương pháp logic”. Nói một cách ngắn gọn, logic là phương pháp tư duy và ‘sự tuân thủ theo ý chí’ nghĩa là lựa chọn giữ vững mục tiêu và theo đuổi mục tiêu đó bằng phương pháp đó, tức “sự tuân thủ theo ý chí đối với thực tại theo phương pháp logic”. Về chủ đề logic, các quy tắc logic, những yếu tố tạo nên một lập luận đúng, những điều tạo nên một khái niệm hợp lệ, KHÔNG phải là chủ đề của tôi hôm nay. Nó sẽ được nói ở khóa học về nhận thức luận hoặc logic, trong đó tôi trình bày một số nội dung trên, cùng với những nội dung khác. Tôi sẽ tóm tắt vài điểm mấu chốt về logic, nhưng tôi sẽ nói nhiều hơn về cách mỗi người thực hành logic bằng tư duy riêng của họ, đâu là một số câu hỏi bạn có thể tự hỏi mình, đâu là vài thói quen tốt cho logic mà bạn có thể hình thành? Còn đây chỉ là phần mô tả cơ bản về tiến trình, về phương pháp, mô tả về quá trình hình thành tri thức của con người, giống như bản mô tả công việc. Nó diễn ra như sau: đầu tiên, bạn bắt đầu bằng tri giác. Tri giác là cơ sở của mọi tri thức, xin nhắc lại là bạn không nên... à, không phải nhắc lại mà là bạn không nên tin điều này5 nếu lần đầu tiên bạn nghe nói vậy, chỉ bởi vì tôi là người nói ra điều đó (đó sẽ là một ý ở phần sau bài nói này) nhưng tôi nghĩ hầu hết quý vị đều đã quen với những ý này. Tri giác là cơ sở của mọi tri thức. Nếu tri thức là một tòa nhà giống như tòa nhà người này đang xây, móng của tòa nhà là mặt đất, thì tri giác đối với tri thức tương đương mặt đất đối với tòa nhà. Những gì chúng ta thực hiện là hình thành các khái niệm, ý niệm tổng quát, những thứ như “mèo”, “thực thể người”, “tòa nhà”, “tri thức”, “khoa học”, “hạt”, bất cứ khái niệm gì có thể dựa trên cơ sở tri giác, chủ yếu dựa trên những điểm tương đồng được xem là quan trọng; rồi ta nhận biết mọi thứ bằng cách đưa ra các nhận định bằng cách cho rằng..., bằng cách áp các khái niệm vào chúng: đây là thực thể người, đây là tivi, đây là điều khiển từ xa, điều khiển từ xa có thể điều khiển máy tính, máy tính có thể trình chiếu PowerPoint, v.v. Vì vậy, ta có nền tảng - [chính là] tri giác, và ta có một số nhận định được xây dựng trên cơ sở tri giác đó. Nhưng ngoài những nhận định có được bằng cách áp các khái niệm trực tiếp dựa trên cơ sở tri giác, còn có những đánh giá dựa trên đánh giá trước đó. Như vậy, ta có được một thứ giống như tòa nhà, công trình kiến trúc, với các tầng trên cao dựa vào các tầng dưới thấp. Nhắc lại là tôi đi hơi nhanh đối với những ai chưa từng nghe về điều này, nhưng tôi chỉ đang ôn lại thôi.
Lúc này, mỗi nhận định ta đưa ra, mỗi tầng lầu ta xây lên và mỗi tòa nhà ta có, có thể là tri thức nhưng cũng có thể chưa phải tri thức và chúng vẫn có ích, chúng có thể mới chỉ là giả thuyết. Mỗi nhận định của ta, một nhận định là một mệnh đề/định đề (proposition) bất kỳ, bạn biết đấy, nghĩa là...... S là P6 , cái gì đó là cái gì đó, bất cứ khái niệm nào bạn áp dụng, mỗi nhận định của ta đều có cấp độ nhận thức luận (epistemic status7 ), nó có thể chắc-chắn-xảy-ra (certain), nó có thể là cái gì đó mà bạn chắc chắn về mặt lập luận, nó có thể được xem là tri thức, nhưng nó có thể chưa đạt được cấp độ đó nhưng vẫn đáng để tạo ra, hoặc ít nhất là đáng hoan nghênh. Nhận định đó có thể là có-khả-năng-xảy-ra (probable), có nhiều khả năng đúng hơn là sai, tôi có đủ bằng chứng để làm căn cứ nếu buộc phải ra quyết định, nhưng tôi không chắc chắn nó đúng. Nếu một tầng trong tòa nhà của bạn giống như vậy, nó chỉ có-khả-năng-xảy-ra, thì tất cả các tầng trên cũng chỉ có-khả- năng-xảy-ra. Tuy nó không thật sự vững chắc nhưng cũng không lung lay hoàn toàn. Nếu bạn phụ trách bảo trì tòa nhà thì đây là một trong những điều bạn cần phải biết, không được chất đồ quá nặng từ trên tầng sáu. Tòa nhà này không thể đứng vững được, nhưng ở công trình khác thì bạn có thể. Như vậy, bạn đưa ra nhận định, đánh giá mức độ chắc chắn của nhận định, tức cấp độ nhận thức luận của chúng.
Bây giờ, một điểm khái quát hơn trong phần tổng quan về cách thức hoạt động của tri thức. Nãy giờ, chúng ta đang xem xét các tòa nhà riêng biệt, với tri giác là nền móng, có những nhận định hình thành trực tiếp dựa trên tri giác, có những nhận định hình thành trên các nhận định khác. Nhưng ngoài việc đó ra, chúng ta phải nỗ lực tích hợp các nhận định thành một tổng thể nhất quán. Để trau dồi kiến thức, ta không phát triển nó giống như xây những tòa nhà nhỏ riêng lẻ, mà phải xây dựng tất cả các loại cầu nối và kết nối để có được một khu phức hợp, tất cả đều căn cứ vào tri giác. Tuy có nhiều thứ dựa vào những tầng bên dưới chúng và dựa vào những liên kết đến các cấu trúc khác, nhưng chung quy vẫn dựa vào tri giác. Do đó, đây là một loại phiên bản phức tạp hơn của phép ẩn dụ về tòa nhà. Phép ẩn dụ vừa rồi dùng để khái quát lại những tri thức mà tôi nghĩ hầu hết các bạn đã quen thuộc. Vậy, nếu công việc của ta là xây dựng và bảo trì công trình này, khu phức hợp này, thì yếu tố nào liên quan? Tất cả hoạt động chúng ta đã mô tả...tôi đã mô tả khi nãy, nhưng riêng đối với việc bảo trì, bạn cần phải hiểu rất rõ công trình này hoạt động như thế nào, đặc biệt biết rõ cái gì chắc-chắn-xảy-ra, cái gì hơi có-khả-năng-xảy-ra, cái gì rất dễ lung lay và không nên chất đồ đạc quá nặng lên đó... Chúng ta sẽ giải thích ý nghĩa của việc dồn sức nặng lên thứ gì đó trong phép ẩn dụ này một chút. Để nói về điều đó, tôi muốn nhắc đến tầm quan trọng của siêu dữ liệu (metadata8 ). Khi tôi lên kế hoạch cho bài nói về siêu dữ liệu lần đầu tiên cách đây một năm, tôi nghĩ là cần phải giải thích ý nghĩa thuật ngữ đó cho một số người, nhưng nhờ các diễn biến chính trị, tôi nghĩ thuật ngữ đã quen thuộc với tất cả. Vậy, siêu dữ liệu, hay thông tin về các nhận định và các khái niệm của bạn, bạn phải biết rõ đối với từng thứ đang diễn ra trong tòa nhà và đối với những thứ khác diễn ra trong ý thức của bạn, có thể không thuộc về công trình tri thức tổng thể, chúng là gì? Như vậy bạn mới có thể bảo trì chúng, kết nối chúng phù hợp với những thứ khác. Ayn Rand mô tả về điều này như sau: “Ta không cần phải thông suốt mọi sự để sở hữu tri thức, ta chỉ cần biết những gì mình thực sự biết và phân biệt với những thứ ta tưởng là mình biết, cũng không cần có một hệ thống nhận thức luận triết học đầy đủ để...” để làm gì? Đây chính là điểm tôi chú ý, “... để phân biệt đâu là nhận định được xem xét chu đáo và đâu là cảm xúc, mong muốn, hy vọng hoặc sợ hãi của bản thân”.
Vì vậy, bạn phải phân biệt đâu là nhận định mà bạn đưa ra một cách có căn cứ, là một phần của hệ thống này, với những nội dung tinh thần khác mà bạn có, phân biệt tri thức của bạn với những thứ khác có thể xuất hiện trong đầu bạn, nghĩa là phân biệt tri thức với những nội dung tinh thần khác. Đầu tiên, bạn phải phân biệt những gì mình biết với mong muốn, hy vọng hay sợ hãi, là cảm xúc của bạn, trích dẫn của Ayn Rand đã nói điều này. Thứ hai, bạn phải phân biệt tri thức với giả thuyết, chúng không chỉ đơn thuần là mong muốn, hy vọng, hay nỗi sợ. Bạn lập luận để suy ngẫm về các giả thuyết, nhưng các lý lẽ đó chua đủ vững chắc để bạn có thể coi giả thuyết là tri thức. Chúng là những thứ tôi đã mô tả ở trên, có-khả-năng-xảy-ra (probable) hoặc có-thể-xảy-ra (possible). Tôi nghĩ, hai phạm trù này có lẽ khá quen thuộc mà bạn cần để phân biệt với tri thức này, nên tôi muốn dành thêm chút thời gian cho phần thứ ba: dữ liệu chưa qua xử lý mà bạn nghe được hoặc đọc được. Bây giờ, giả sử bạn thực sự đang nghĩ đến việc lưu trữ siêu dữ liệu cho tất cả những điều trong nhận thức của bạn, cho mọi thứ trong đầu bạn, tôi đang cân nhắc về từng dữ liệu bạn có, vậy cấp độ của dữ liệu đó là gì? Nó chắc-chắn-xảy-ra, tôi có biết rõ dữ liệu đó không? Hay nó chỉ ở mức có-khả-năng-xảy-ra và tôi cần thêm chứng cứ, nó đã có đủ bằng chứng để nghiêng về khả năng đúng nhiều hơn, nhưng chưa đủ để khẳng định chắc chắn? Hay nó chỉ ở mức có-thể- xảy-ra, một điều đáng để xem xét vì có bằng chứng nào đó nhưng chưa đủ để trở thành giả thuyết khả dĩ nhất? Cần rất nhiều nỗ lực, cho dù chỉ để đạt đến cấp độ giả thuyết. Ví dụ, ý kiến cho rằng con người là nhân tố góp phần, hoặc là nguyên nhân chính yếu khiến cho trái đất nóng lên, đó có phải là điều gì đó đã được biết rõ (cấp độ nhận thức: certain)? Hay đó là điều có-khả-năng-xảy-ra (cấp độ nhận thức: probable)? Hay đó chỉ là điều có-thể-xảy-ra (cấp độ nhận thức: possible), hay đó là điều ngẫu-nhiên-xảy-ra (cấp độ nhận thức: arbitrary) mà ai đó vừa nêu? Thậm chí tôi còn chưa hỏi về mức độ tri thức của khẳng định này trong thế giới nói chung, của cộng đồng khoa học, và của những người... mức độ tri thức của bạn ra sao? Với hầu hết quý vị, tôi không nghĩ quý vị có thể trả lời câu hỏi đó, với bạn, đó là có-khả-năng-xảy-ra, có-thể-xảy-ra, hay chắc-chắn-xảy-ra? Nếu bạn không trả lời được thì cũng là chuyện bình thường. Bạn chỉ có thể trả lời câu này khi bạn nỗ lực xác định “cấp độ của nhận định này đối với mình là gì? Đây là điều mình đã nghe, đã quen thuộc, nhưng mình có được bao nhiêu bằng chứng về nó?”. Việc này đòi hỏi sự nỗ lực và có thể mất vài giờ, cho dù bạn không học thêm bất cứ điều gì mới, không thực hiện thêm bất kỳ nghiên cứu nào, nhưng vẫn sẽ mất vài giờ để nghiền ngẫm những gì bạn có, và cân nhắc xem nhận định đó nên bị bác bỏ hoàn toàn hay nó có-khả-năng-xảy-ra. Tôi nghĩ không ai có thể chắc chắn, nếu như họ không thực hiện nhiều nghiên cứu hơn những gì mà hầu hết mọi người đã biết. Nhưng để xác định cấp độ của nhận định thì cần có sự nỗ lực, đây chỉ là một gợi ý. Giả sử như lời khuyên bạn nên ăn... hiện có một nghiên cứu cho rằng ăn bơ không hại gì đến sức khỏe, nó không có hại như mọi người thường nghĩ. Ý kiến đó đáng tin ở mức độ nào? Nó không bắt đầu ngay từ một trong ba cấp độ: có-thể-xảy-ra, có-khả-năng-xảy-ra hoặc chắc-chắn-xảy-ra và rồi bạn chỉ việc thăng cấp hoặc giáng cấp cho nó. Ban đầu, ý kiến này chỉ là một thông tin bạn biết. Bạn cần nỗ lực để xếp nó vào một vị trí bất kỳ trong tòa lâu đài tri thức, thậm chí để biến nó thành một giả thuyết mà bạn xem xét một cách sáng suốt. Còn trước đó, nó chỉ là điều bạn được nghe. Tâm trí tất cả chúng ta chỉ toàn chứa những thứ như vậy, hầu hết những gì nằm trong đầu ta là thứ ta đã đọc hoặc đã nghe, hoặc có thể là ý tưởng của bạn, nhưng bạn chưa nỗ lực tìm kiếm có bao nhiêu chứng cứ cho điều đó. Đây không phải vấn đề do bạn, chỉ vì chúng ta càng nghe nhiều thì càng xuất hiện nhiều suy nghĩ nên bạn không thể xử lý hết, bởi vì việc đó đòi hỏi sự nỗ lực, tri thức là sự nỗ lực. Nếu chỉ nghe, chú ý hoặc đọc về một điều gì đó thì không phải là nỗ lực, hoặc cần rất ít nỗ lực.
Vậy, một điều tôi nghĩ chúng ta phải làm để trở thành một người tư duy khách quan, tôi nghĩ việc đó rất dễ thực hiện và bạn có thể làm ngay trong giây lát, nên tôi đề nghị tất cả chúng ta hãy cùng làm bây giờ, nhưng sau đó bạn phải tự làm lại trong từng giây từng phút, đó là hãy gạt tất cả những thứ không phải tri thức sang một bên, bạn không hiểu chúng, thậm chí chúng không phải là lý thuyết mà bạn đang tán thành, trừ phi...trừ phi bạn đã nỗ lực và nghiền ngẫm về nó, bằng không đó chỉ là điều bạn đã nghe thôi. Khi nói như vậy, tôi không có ý hạ thấp giá trị của dữ liệu, thật tuyệt khi chúng ta sở hữu tất cả dữ liệu. Hãy tưởng tượng bạn có thể tải toàn bộ Wikipedia9 vào trong đầu mình. Bạn sẽ không biết cái gì hết, Wikipedia không phải là tri thức. Bạn không biết thông tin đó có đúng hay không nếu chỉ đọc trên Wikipedia, nhưng nó rất hữu ích, nó cung cấp các loại gợi ý khi bạn cần nghiên cứu về điều gì đó. Xin nhắc lại, có rất nhiều thứ không phải tri thức, chúng không phải tri thức nhưng việc biết những nội dung đó vẫn rất rất hữu ích. Một lần nữa, khi tôi nói một số thứ không phải là tri thức, tôi không có ý xem thường chúng...Vâng, tôi muốn loại chúng khỏi cấp độ tri thức nhưng không có ý chê bai, và tôi nghĩ có nhiều nội dung rất hay mà tôi đánh giá cao hơn nhiều so với một bài viết trên Wikipedia, mà tôi muốn dành cho hầu hết mọi người ở cấp độ này. Chẳng hạn, tôi đã nghiên cứu về các bài viết mang tính thời sự của Ayn Rand. Chúng viết về các sự kiện xảy ra trong những năm 60 và 70, v.v. Hầu hết khẳng định mà bà đưa ra về những sự kiện đương thời và lý do chúng xảy ra vào các thập niên đó, tôi đều không biết có đúng hay không, thậm chí còn không thể... chí ít là khi bắt đầu tìm hiểu, tôi còn không thể đánh giá chúng có-thể-xảy-ra hay có-khả-năng-xảy-ra. Tất cả chỉ là lời nói của một nhân vật mà tôi tôn trọng, đó là một lý do khiến tôi nghiên cứu về chúng. Nhưng tôi không có quan điểm cụ thể về mức độ đúng đắn của chúng, tôi không đủ hiểu biết để đưa ra đánh giá như vậy. Tương tự, giả sử... giả sử tất cả những gì bạn biết về phong trào Quân bình10, là những điều Tiến sĩ Brooks đã nói hôm trước, nếu đó là tất cả những gì bạn biết, thì đó vẫn chưa phải là tri thức về phong trào Quân bình, chúng chỉ là những gợi ý đầy hứa hẹn mà bạn phải làm thêm những việc khác nữa. Hãy xem nó như bản thiết kế tòa nhà mà ông ấy giao cho bạn, và bây giờ bạn phải dành thời gian xây dựng nó. Tương tự những điều Ayn Rand nói về các nhân vật lịch sử và trong tác phẩm For the new intellectual11 , bạn biết đấy, hầu hết những thứ bạn đọc, cho dù do những trí thức tài ba viết ra, cho dù họ cung cấp cho bạn nhiều điều nhất có thể thông qua một quyển sách, thì việc chỉ đọc mỗi cuốn sách ấy chưa thể chứng minh điều đó với bạn. Bạn phải nỗ lực tìm hiểu, tri thức là sự nỗ lực. Vậy, bạn cần phân biệt tri thức với cảm xúc, với những giả thuyết chưa chắc chắn, nhưng bạn đã nỗ lực tìm hiểu khi bạn biết mình dựa vào điều gì trong giả thuyết đó. Bạn cũng phải phân biệt tri thức với những điều đã nghe hoặc đã xảy ra với bạn, nhưng bạn chưa nỗ lực xác định “điều đó chắc chắn đến mức nào?” và bạn lưu trữ chúng thành bộ sưu tập thông tin có thể hữu ích cho việc tư duy sau này.
Nhưng giờ hãy nghĩ về những điều mà chúng ta thực sự đánh giá là đúng, những điều nếu không phải tri thức thì ít nhất ta cũng nghĩ rằng chúng có thể có-khả-năng-xảy-ra, những thứ là tiền đề của chúng ta. Một điều gì đó trở thành tiền đề của bạn nghĩa là như thế nào? Chúng ta thường nói "hãy kiểm tra tiền đề của bạn”, phải không? Tiền đề là một nhận định mà bạn sẵn sàng dùng làm nền tảng cho hành động hoặc cho những tư duy xa hơn, bạn sẵn sàng kết luận xa hơn hoặc thực hiện hành động dựa trên tiền đề đó. Đó là điều bạn cho rằng hoặc mình đã biết rõ, hoặc ít nhất bạn nghĩ điều đó đủ có-khả-năng-xảy-ra để làm cơ sở hành động trong tình huống này. Câu “hãy kiểm tra tiền đề của bạn” chính là trích từ tác phẩm Atlas Shrugged (Atlas vươn mình), đó là việc bạn phải làm khi gặp mâu thuẫn. Khi gặp mâu thuẫn, tất nhiên, bạn phải thật sự nỗ lực và thực sự nghiêm túc kiểm tra lại tất cả tiền đề của mình cho đến khi giải quyết được mâu thuẫn vì bạn biết bạn sẽ mắc sai lầm nếu mâu thuẫn xảy ra. Nhưng trong cuộc sống bình thường hàng ngày, cho dù bạn không đối diện với mâu thuẫn trực tiếp, tôi nghĩ bạn vẫn cần kiểm tra tiền đề, nghĩa là khi bạn đi lên đi xuống “tòa nhà” và làm việc trong “tòa nhà của bạn”, hãy kiểm tra xem các tầng và tất cả mọi thứ có an toàn không, có được xây dựng kỹ lưỡng không, có chắc chắn không...
Trước tiên, ta sẽ kiểm tra tiền đề khi nào và làm thế nào? Khi nào? Bất cứ khi nào bạn sử dụng chúng, bất cứ khi nào bạn nhận thấy mình đang suy luận từ một tiền đề, hoặc hành động dựa trên tiền đề đó, thì tôi nghĩ bạn cần kiểm tra một chút. Kiểm tra một chút là như thế nào? Không cần một quy trình phức tạp, dài dòng, tập-trung-lý-trí, và mất hàng tiếng đồng hồ suy nghĩ đâu. Ví dụ như khi đổ sữa ra, nhiều người có thói quen ngửi sữa trước khi đổ. Việc này không mất nhiều thời gian và cũng không phải một quy trình riêng biệt mà chỉ là một bước trong quá trình đổ sữa, giống như một phần của quá trình suy luận hoặc làm điều gì đó, bạn chỉ cần tự hỏi “tôi chắc chắn về điều này đến mức nào?” Hoặc một hình ảnh khác, khi tôi rời khỏi nhà và đi tản bộ, tôi thường có thói quen vỗ nhẹ vào những cái túi, bởi vì tôi để chìa khóa ở đây, ví tiền ở đây, điện thoại ở đây. Nếu chúng không nằm trong đó, thậm chí tôi còn không biết mình luôn làm như vậy, nhưng tôi biết ngay có điều không ổn, và nhờ vậy, tôi không để quên đồ đạc lung tung, giống như bản năng thứ hai bạn có thể phát triển. Cách tự kiểm tra tiền đề: chỉ cần lùi lại một cấp độ, bạn không cần cố lùi lại hẳn cấp độ tri giác. Hãy tự hỏi mình một cách nhẹ nhàng hai câu hỏi: “Làm sao mình biết điều này? Mình biết được nó từ đâu?”, không cần cả một bài diễn văn giải thích, chỉ cần trả lời “à, mình nghe nó từ Joe, và Joe đáng tin cậy”,“mình đọc được nó trong một cuốn sách thế này thế nọ”, “mình tìm ra điều này vào thứ Ba tuần trước”, chỉ cần xem liệu bạn có nội dung thế nào. Và tôi có thể chắc chắn về nó ra sao? Ta rất dễ dàng làm điều này một cách tự động: nó chắc chắn đến mức nào? Bạn chỉ cần nhìn vào tệp siêu dữ liệu nhỏ của mình. Ví dụ, với tiền đề bạn đang sử dụng, chỉ cần xem liệu bạn có thông tin về nó không, nếu không, chỉ cần thêm “cần dẫn nguồn” (Cười). Tôi nghĩ đó là một điều rất thú vị trong nền văn hóa này. Nhân tiện, việc này xuất phát từ Wikipedia mà tôi nhắc ở trên. Mọi người chỉ xem sơ và lướt qua nó như đọc báo, (“lướt qua” (trawl) như một chiếc thuyền chứ không phải hành động “khích bác” (troll) của mấy người khó ưa), lướt qua như đang đọc báo. Nếu họ thấy điều gì đó chưa đủ dẫn chứng về nguồn gốc, họ chỉ thêm “cần dẫn nguồn”, họ không xóa nó đi và chê “một đống tào lao”, mà thêm “cần dẫn nguồn”, nghĩa là "ý kiến này chưa hoàn chỉnh, chúng ta phải bổ sung đầy đủ rồi mới tiếp tục dựa vào nó". Chỉ cần làm vậy. Bạn không cần phải nổi giận nếu thấy chưa chắc chắn về nguồn gốc của một điều nào đó, chỉ cần giáng cấp nó xuống một chút, thêm “cần dẫn nguồn” rồi quay lại sau, bất cứ khi nào bạn tự tranh luận và dựa vào một tiền đề.
Vì vậy, tôi nghĩ thái độ đúng đắn đối với tiền đề của một người là điều tạo nên tính khách quan, đó là một phần của tính khách quan. Nếu bạn cảm thấy “cần dẫn nguồn”, nghĩa là bạn có một tiền đề cần kiểm tra, hay có thể bạn đã kiểm tra rồi và nhận thấy không chắc chắn về nó, và bạn cần quay lại tìm hiểu từ đầu và suy ngẫm “mình chắc chắn về điều này đến mức nào?”. Vì nó là một tiền đề quan trọng đối với bạn, nên nó đáng để nỗ lực xem xét. Rất nhiều lần bạn sẽ nhận thấy mình không biết về điều gì đó. Chẳng sao cả, bạn không cần biết tất cả mọi thứ, bạn không thể biết tất cả mọi thứ. Có rất nhiều việc phải làm, nên bạn phải sắp xếp thứ tự ưu tiên, “đây có phải là điều đáng để mình tìm hiểu sâu hơn, hay chỉ cần thừa nhận là mình không biết về nó và không dựa vào nó nữa”. Nhưng bạn hãy nhớ rằng “nếu tôi cần tiền đề đó, tôi phải tìm hiểu và nghiêm túc chứng minh nó với chính mình”. Và khi bạn phải giáng cấp tiền đề, giáng cấp nghĩa là chúng ta truy xét cẩn thận một điều gì đó, đưa trở về mức độ tri giác, cẩn thận tìm ra những lý lẽ khiến bạn tin tưởng nó, trở về mức độ tri giác - nguồn gốc tri thức cơ bản. Vậy bạn thực hiện như thế nào?
Vấn đề này đã được viết khá nhiều. Tiến sĩ Peikoff đã thảo luận điều này ở một số nơi, ông giảng những bài giảng về quy nạp, tôi nghĩ đó là nguồn tư liệu tốt nhất về việc thực hiện [giáng cấp tiền đề], về các nguyên tắc triết học. Nhưng tôi muốn đưa ra một góc nhìn mang tính ứng dụng hơn. Tôi nhận thấy ở những người tư duy nhiều, có sự khác biệt giữa cái mà tôi gọi là giáng cấp trung thực và không trung thực. Giả sử, một tình huống sau, bạn có một quan điểm mà bạn cho là đúng, nó có vẻ đúng với bạn, bạn cho rằng nó đúng nhưng rồi bạn nhận thấy: “mình không thực sự chắc chắn về cơ sở của điều này, mình không hoàn toàn... nó có vẻ lung lay khi mình kiểm tra thử qua”. Nó giống như, một hình ảnh so sánh khác nhé, một người nha sĩ gõ và đẩy vào răng của bạn để xem chúng có chắc chắn không, có bị sâu không, đôi khi nó mắc kẹt một chút và anh ta phải kiểm tra thêm. Tương tự, khi kiến thức có vẻ hơi lung lay, bạn không thể thật sự yên tâm bảo vệ nó. Bạn tự hỏi bản thân, đối với một vấn đề không quá thách thức, rằng tôi chắc chắn về điều này ở mức độ nào, làm sao tôi biết được? Và bạn nghĩ “tôi không chắc chắn về điều này giống như với những điều khác”. Vậy bạn có được đánh giá này trong khi cố gắng giáng cấp tiền đề. Tôi muốn phân biệt cách kiểm định trung thực với không trung thực. Khi giáng cấp trung thực, điều ta phải làm trong tình huống này là tự hỏi mình: tại sao bạn tin vào điều gì đó? Hẳn là bạn đã tin tưởng nó ở mức độ nào đó, vì nếu không tin thì bạn đã không dùng nó làm tiền đề, và bạn truy lại nguồn gốc: “tôi tin tưởng điều đó vì đã đọc nó ở đây, tôi tin điều đó vì dường như nó xuất phát từ cái này, tôi tin điều đó vì tôi đã rút ra từ cái này”. Thoạt đầu nghe có thể mơ hồ. Nhưng khi bạn cố gắng trình bày rõ ràng, củng cố, làm sáng tỏ những điểm có thể còn mơ hồ, bên cạnh những lý lẽ đã có về tiền đề; bạn cố gắng diễn giải mạch lạc và thu được các lý lẽ chính xác hơn; khi bạn đưa ra những lý lẽ mình đã có, những điều khiến bạn tin tưởng vào tiền đề này sẽ sáng tỏ hơn, chính xác hơn, thì bạn có thể điều chỉnh nhận định đó một chút. Có thể là: “điều này luôn luôn đúng, hoặc nó chỉ đúng trong phạm vi này nhưng không đúng trong phạm vi kia”. Ví dụ: “Tại sao tôi nghĩ châu Mỹ ở thế kỷ 19 là nơi tự do nhất trong lịch sử?”, bạn sẽ bắt đầu suy nghĩ về các lý lẽ và minh chứng.“À, thật ra, châu Mỹ không tự do toàn diện, Bắc Mỹ là nơi tự do nhất, nhưng Nam Mỹ thì không vì tồn tại chế độ nô lệ, và nếu bạn nhìn vào..." hoặc có thể là “tôi đưa ra ý kiến đó một phần là từ Ayn Rand, khi đọc tác phẩm của bà ấy, tôi thấy bà đã phân biệt như thế, điều đó rất quan trọng, và tôi hiểu tại sao bà nêu lên sự phân biệt này, với minh chứng là... ”, bạn thấy đấy, bạn bắt đầu từ câu hỏi...“tôi biết gì về lịch sử? Tôi biết thời đó có ít quy định kinh tế hơn nhưng dĩ nhiên còn các lĩnh vực khác...”. Nghĩa là bạn đang củng cố những lý lẽ của mình là gì, những lý lẽ mà bạn đã có. Khi làm vậy, bạn có thể điều chỉnh một chút hoặc làm rõ điều mà bạn đang giải thích, tức là nhận định đó. Đó là sự giáng cấp trung thực, vậy trái ngược với nó là gì? Trái ngược với việc cố gắng tìm ra những lý lẽ có vẻ đáng tin cậy là việc biện minh cho những điều bạn đã tin rồi. Điểm không trung thực trong việc này là: Nếu bạn đã tin tưởng điều đó thì bạn phải có lý lẽ về nó, bạn nên cố gắng giải thích lý lẽ đó. Còn nếu bạn không có bất cứ điều gì giải thích được hoặc làm rõ về lý lẽ đã có, thì ngay từ đầu bạn không việc gì phải nghĩ rằng nó đúng. Vậy, bạn không nên cố gắng tìm ra lý do chứng minh tại sao điều đó đúng, bạn nên quay lại bước đầu tiên và hỏi: “điều gì là đúng ở đây?”. Vì nếu bạn bắt đầu tìm kiếm những lý do biện minh cho những điều bạn tin tưởng, trong khi bạn hoàn toàn không biết nó đúng hay sai, thì bạn đang không giải thích cái gì cả, bạn chỉ toàn tìm kiếm lý do mới, bạn sẽ có thành kiến với những thứ ủng hộ nó, bạn không... Ngay từ đầu, đây đã không phải là một cuộc nghiên cứu trung thực. Thậm chí bạn còn chưa đạt đến cấp độ giả thuyết, bạn chỉ đang ở mức tìm hiểu về phạm vi thôi.
Hiện nay, tôi nghĩ nhiều người đang... không trung thực có lẽ là một từ khá nặng, nhưng hầu như đều thực hiện kiểu kiểm định không trung thực. Hầu hết các nhà phi kinh tế học, các lập luận kinh tế ủng hộ những thứ thuộc chủ nghĩa tư bản, tôi nghĩ đều thuộc dạng này. Hầu hết lập luận về một hiện tượng tâm lý do một người bình thường đưa ra, nhắc đến những từ như "bộ não" hoặc "thần kinh", theo tôi, cũng rơi vào loại này. Ví dụ, những người theo phương pháp Montessori12 (tôi có đọc một chút về bà và quan tâm đến hoạt động này) có những quan điểm hình thành từ nghiên cứu của Maria Montessori13 về các giai đoạn phát triển nhạy cảm, nhất định trong cuộc đời của trẻ, khi chúng sẵn sàng tiếp nhận một số thông tin nhất định. Montessori có những lý lẽ chứng minh quan điểm của bà, được đúc kết từ việc quan sát trẻ em. Nếu bạn là người theo phương pháp Montessori, bạn đã đọc Montessori và bạn đang băn khoăn rằng: mình giải thích về điều này như thế nào, mình chắc chắn về nó đến mức nào, thì việc cần làm là xem lại những lý lẽ đó, chứ không phải... như tôi thường thấy, chứ không phải trích dẫn một số nghiên cứu chụp cộng hưởng chức năng (FMRI14) mới nhất. Chúng không liên quan đến việc thuyết phục bạn tin tưởng Montessori nhưng bạn thấy chúng có vẻ ủng hộ quan điểm đó. Trên đây là một vấn đề cụ thể, lý do tôi nhấn mạnh nó ở đây là, đối với tri thức triết học, cách mà tri thức triết học được chứng minh và lý lẽ khiến chúng ta tin tưởng các nguyên tắc triết học mà ta đang tin, khác với loại lý lẽ, ít nhất là khác về chi tiết, được sử dụng để chứng minh trong vật lý hoặc sinh học. Chúng không liên quan đến các nghiên cứu thực nghiệm chi tiết. Chúng liên quan đến một dạng tích hợp rộng hơn khác từ dữ liệu sẵn có một cách tình cờ hơn. Tôi lại giới thiệu mọi người những bài giảng thực sự xuất sắc của Tiến sĩ Peikoff về Chủ nghĩa Khách quan thông qua quy nạp và một số tác phẩm khác của ông nói về cách chúng ta biết được những nguyên tắc triết học này và cách người ta nên tư duy về chúng. Nhưng vì triết học thường bị mang tiếng xấu, và bởi vì lĩnh vực duy nhất mà hầu hết mọi người cảm thấy họ có vẻ hiểu rõ về phương pháp luận đúng đắn chính là khoa học vật lý, nên họ có xu hướng nghĩ rằng việc chứng minh bằng các phương pháp như khoa học vật lý thì đáng tin, vững chắc, khách quan hơn. Điều này không đúng nếu bạn áp dụng phương pháp vào sai đối tượng, hoặc nếu bạn sử dụng nó để hợp lý hóa một điều mà bạn tin tưởng dựa trên những cơ sở khác. Nhưng tôi thấy mọi người thường bị lôi kéo làm như vậy, vì làm thế khiến họ cảm thấy mình có cơ sở vững chắc hơn. Tôi nghĩ đó là một kiểu kiểm định không trung thực. Bạn không thực sự làm những việc bạn nghĩ là mình đang làm, đưa ra lý lẽ cho những gì bạn đang tư duy, đưa ra lý lẽ của chính bạn cho những gì bạn tư duy. Nếu bạn tin rằng chủ nghĩa tư bản là đạo đức, sự vị kỷ là đạo đức, lòng vị tha là xấu xa sau khi đọc Atlas Shrugged và các bài viết của Ayn Rand, thì lý do để bạn nghĩ như vậy xuất phát từ các bài viết đó. Nếu bạn muốn biết những gì mình tin có đúng hay không, và bạn chắc chắn về nó đến mức nào, hoặc bạn có thể chắc chắn về một vấn đề kinh tế nào đó hiện nay đến mức nào, hoặc bất cứ điều gì khác, bạn phải truy lại nguồn gốc của chúng. Bạn không chỉ cần xem xét văn bản gốc, mà còn cả những điều bạn ghi nhớ từ chúng, những điều rút ra từ chúng, những điều bạn thấy thuyết phục, sau đó kiểm tra lại nguồn tài liệu để xem “đó có phải những gì nó đã nói không, lập luận này có thực sự chặt chẽ không, lập luận đó có chứng minh chính xác những gì mình nghĩ không”, v.v, thay vì ngay từ đầu, tìm kiếm những lập luận/luận cứ mới cho kết luận này. Nếu bạn không tìm được lập luận nào, nếu bạn hoàn toàn không thể biết được chút gì về việc “tại sao mình lại nghĩ như vậy?”, thì bạn vẫn chưa sẵn sàng giáng cấp một kết luận nào đó. Bạn phải xếp nó vào hạng mục những điều nghe có vẻ hợp lý nhưng chưa thật sự là nhận thức, chưa phải là điều tôi nỗ lực hiểu hiểu, sau đó bắt đầu nghiên cứu lĩnh vực mà không có bất kỳ lý thuyết nào để xem bạn khám phá được gì. Nhưng tôi nghĩ hầu hết chúng ta không rơi vào tình trạng này. Đối với phần lớn lĩnh vực triết học, chúng ta có một số lý lẽ và có thể khai thác từ chúng.
Vậy, đó là một số gợi ý về việc giáng cấp, về việc truy tìm ngọn nguồn tri thức. Một gợi ý khác nữa, vì ta thường kết nối những gì mình biết với nhiều thứ khác, điều này rất tốt và nên làm, bởi vì ta tích hợp tri thức của mình, vì ta xây dựng những cây cầu nhỏ đó giữa các tòa nhà mà tôi đã cho bạn xem trong bức ảnh trước đó. Ta có rất nhiều thứ đa dạng kết nối với nhau, và chúng có thể được dùng làm lý do để thuyết phục bạn tin vào điều gì đó. Vì vậy, đối với riêng bạn, một điều thực sự quan trọng cần phân biệt là: ‘đâu là lý do thuyết phục tôi về điều này?’ và ‘những kết nối phụ trợ có giá trị mà tôi rút ra cùng với nó là gì?’ Nếu bạn không làm được việc đó thì sẽ gây ra, nếu không phải là sự giáng cấp không trung thực, thì cũng gây khó khăn cho việc giáng cấp tiền đề. Ví dụ, những người theo phương pháp Montessori có thể tin vào các giai đoạn phát triển nhạy cảm của trẻ, giả sử bằng chứng thực sự thuyết phục họ tin vào những giai đoạn nhạy cảm này cũng là bằng chứng mà Montessori đã đưa ra cho kết quả quan sát của bà ấy, nếu bạn đã cho rằng điều đó đúng, thì khi phát hiện ra một điều gì đó trong quá trình quét não – quét não là ngành khoa học còn rất mới, đang thử nghiệm và chưa chứng minh được điều gì; giả sử phát hiện được điều gì đó trong quá trình quét não, cộng thêm việc bạn đã biết có những giai đoạn nhạy cảm như vậy, bạn có thể kết hợp những thay đổi trong não bộ từ giai đoạn này sang giai đoạn khác [các giai đoạn phát triển nhạy cảm ở trẻ] với thông tin của Montessori và có thể xem đó như một gợi ý để bạn lần theo nhằm khám phá thêm về tri thức này [tri thức về việc phát hiện ra điều gì mới trong quét não]. Việc rút ra liên kết đó không hề sai. Nhưng sẽ là sai lầm, sẽ là không trung thực, và sẽ phá hủy tòa nhà tri thức của bạn, nếu bạn cho rằng mối liên kết ấy là lý lẽ để bạn tin vào phát hiện mới về quét não. Và đặc biệt sai lầm nếu như lý do khiến bạn tin tưởng, động cơ khiến bạn tin tưởng điều đó là: một người mặc áo khoác phòng thí nghiệm thì có vẻ đáng tin cậy hơn một phụ nữ nào đó ở lớp học, và [đáng tin cậy hơn] những kết quả quan sát của cô với tư cách là cơ sở của một điều gì đó.
Như vậy, chúng ta đã nói về việc giáng cấp, một quá trình đưa tri thức của bạn trở lại mức độ tri giác. Và xin nhắc lại, nếu muốn trình bày cặn kẽ về cách giáng cấp/kiểm định, bạn phải xem xét những loại lập luận nào chứng minh sự việc, và mỗi loại đó thuyết phục đến mức nào. Đó là chủ đề dành cho cả khóa học logic kéo dài một học kỳ. Nhưng tất cả chúng ta đều biết khá nhiều về cách thực hiện giáng cấp. Chúng ta đều là những người có kỹ năng tư duy khá tốt, không phải chỉ vì ta đang ngồi trong phòng này, và ta là những người theo chủ nghĩa Khách quan hay vì ta đã đọc rất nhiều tác phẩm của Ayn Rand, mà bởi vì ta không phải là đứa trẻ sáu tuổi, và ngay cả những đứa trẻ sáu tuổi, thì ta cũng không phải không biết cách tư duy. Ta đã biết khá nhiều về cách tư duy (nhiều ngang ngửa việc ta chê con người là loài không biết cách suy nghĩ). Là con người, bạn đã biết kha khá về cách tư duy, nhờ đó, bạn có thể sử dụng để thực hiện tốt hơn, học hiệu quả hơn về cách tư duy, về những gì bạn thực hiện trong lớp logic. Việc học về cách tư duy như vậy cũng giống như học ngữ pháp trong lớp học ngữ pháp. Đó là điều bạn làm sau khi bạn đã biết nói, và bạn đang đạt được khả năng tự hiểu thay vì những kỹ năng mình đã có rồi mà nhờ vậy có thể cải thiện chúng và thực hành tốt hơn. Vậy nên, tôi nghĩ không có gì là gian dối nếu tại đây tôi không hướng dẫn bạn cách chứng minh điều gì đó bằng phương pháp diễn dịch hoặc quy nạp. Bạn biết và có thể học hỏi tốt hơn (tôi cũng vậy) về cách thực hiện, nhưng bạn đã biết đủ rõ về nó để hiểu được quy trình. Tất cả chúng ta đều hiểu được.
Vậy, ngoài việc chất vấn về mọi kết luận bạn có, mọi đánh giá bạn đưa ra, mọi tiền đề bạn dựa vào để hành động, rằng “tại sao mình lại nghĩ như vậy, và điều này chắc chắn đến mức nào?”, một việc khác ta cần làm, luôn luôn cần làm như một quá trình nền tảng trong tâm trí, một phần then chốt trong việc nỗ lực hiểu biết chính là tích hợp tri thức, nỗ lực kết nối chúng với nhau. Tại sao vậy? Tôi nghĩ mục đích chính của việc tích hợp tri thức là để phát triển thêm tri thức. Mục tiêu của chúng ta không phải là, khi ta có một mẩu tri thức, biết chỉ một mệnh đề này có đúng không, có thực sự đúng là có nhiều giai đoạn nhạy cảm giữa độ tuổi này với độ tuổi kia, có thực sự đúng là việc khí hậu chứa cái này hay cái kia thì nhạy cảm với carbon dioxide. Nếu chỉ là một mệnh đề rỗng tuếch thì ai cần quan tâm chứ. Bạn không thể hành động dựa trên bất cứ mệnh đề vô nghĩa nào. Mục tiêu của chúng ta là tìm hiểu cách vận hành của thế giới, và như bạn biết, thế giới là một tổng thể, chứ không phải nhiều đơn vị tách biệt nhỏ lẻ. Vì vậy, mục đích chính của việc tích hợp tri thức là ta cần tích hợp để đạt được những điều mình đang tìm kiếm, không chỉ tri thức về những sự vật riêng lẻ mà về tổng thể. Càng ngày ta càng cần tìm hiểu về tổng thể hơn nên càng phải tích hợp nhiều hơn. Nhưng có một lý do thứ yếu đặc biệt quan trọng cần nhấn mạnh khi trình bày về tính khách quan, về sự cẩn trọng đối với hiểu biết của bạn chứ không cẩu thả, và do đó, giả sử bạn có thể chắc chắn các nhận định của mình là đúng chứ không phải suy nghĩ bất chợt, thì việc tích hợp cũng là bước kiểm tra các khái niệm và kết luận bạn đang có. Việc kiểm tra này thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, nếu bạn cố gắng tích hợp một nhận định với những nhận định khác của mình thì bạn có thể nhận ra sự mâu thuẫn. Nếu bạn thấy mâu thuẫn, bạn biết rằng có sai lầm ở đâu đó và cần phải quay lại kiểm tra lỗi sai. Nói dễ hiểu nhất, tích hợp chính là cách phát hiện mọi sự mâu thuẫn ở bạn. Từ đó, bạn sẽ biết thật sự cần thực hiện kiểm tra tiền đề nào. Thứ hai, tôi nghĩ điều này thú vị hơn vì ít được biết đến hơn, tích hợp tri thức là cách phát hiện nguồn gốc của lỗi sai và là cách cải thiện phương pháp tư duy. Khi tôi nói sự mâu thuẫn có thể... giả sử bạn tin rằng thế kỷ 19 là thời kỳ tự do nhất từ trước đến nay, nhưng bạn cũng biết thời kì đó tồn tại chế độ nô lệ. Hai điều này dường như mâu thuẫn nhau. Làm sao một giai đoạn tự do nhất xưa nay cũng là giai đoạn tồn tại xiềng xích khủng khiếp mà thời nay không có? Lúc này bạn phải nghĩ “vậy cái nào sai, hay cả hai đều đúng cả?”, nhưng thời đó tự do hơn ở chỗ có khuynh hướng hướng tới sự tự do, còn chế độ nô lệ... chúng ta có thể nói sâu hơn nếu mọi người muốn biết về thế kỷ 19, nhưng đó là điều khiến bạn có thể tìm ra mâu thuẫn, khiến bạn cố gắng kiểm tra xem phương diện nào đúng hoặc phải hiểu cả hai mặt như thế nào để chúng không mâu thuẫn nữa. Ý của tôi khi nói về việc phát hiện ra nguồn gốc sai sót và cải tiến phương pháp tư duy là điều hơi khác một chút. Nó không phải là phát hiện ra mâu thuẫn riêng biệt bạn mắc phải, mà là học hỏi về cách khiến mọi người đi sai và bạn cần làm gì để đi đúng. Trước khi chuyển sang chủ đề đó, tôi xin nói thêm một điều về cách tích hợp tri thức, cách kết hợp tri thức thành một tổng thể. Tất nhiên, có rất nhiều cách để làm điều đó, nhiều quy trình khác nhau hữu ích cho việc này. Một là, hãy chọn một phương án đơn giản và là lạ. Ayn Rand từng khuyến khích bạn bè của bà chơi trò “khái niệm trong cái mũ”, bạn sẽ lấy ra hai nguyên tắc của Chủ nghĩa Khách quan trong cái mũ, thật ra bạn có thể thực hiện với hai đơn vị tri thức bất kỳ, rồi bạn cần giải thích chúng liên quan đến nhau như thế nào. Nghĩa là bạn chỉ cần lấy hai cái mà bạn nghĩ khác nhau, rồi thử nghĩ xem cái này liên quan với cái kia thế nào. Bạn có thể làm việc này như chơi một trò chơi có tổ chức vào buổi tối nào đó, nhưng cũng có thể xem nó là một hoạt động nền tảng. Và tôi nghĩ việc này có ích hơn đối với cuộc sống hằng ngày. Hãy nghĩ rằng bạn đang kiểm tra nhanh các tiền đề mà bạn sẽ dựa vào chúng để hành động và suy luận: chúng có liên quan đến những thứ gì khác, mối quan hệ nào mà tôi vẫn mơ hồ, và có thể làm rõ hơn một chút? Bạn không cần phải nghiên cứu tất tần tật về tiền đề, chỉ giống như thêm “cần dẫn nguồn” vào một điều mà bạn... bạn không chắc chắn, và bạn phải quay lại bổ sung, chỉ cần thêm một chút như liên kết chéo, những kết nối khả dĩ đến cái này, cái kia, và sau đó, sau khi tìm hiểu thì bạn có thể củng cố điều đó. Chỉ cần tỉnh táo với các dấu hiệu của những kết nối mà bạn gặp trong cuộc sống hàng ngày, “điều này còn như thế nào nữa?” Đây lại là một chủ đề quan trọng trong bài giảng của Tiến sĩ Binswanger về Nhận thức luận tâm lý. Tôi nghĩ bài giảng đó chứa rất nhiều lời khuyên bổ ích về vấn đề này nên tôi muốn giới thiệu chúng cho mọi người. Tôi nghĩ bài trình bày đó có bán ở hiệu sách. Tuy nhiên, một điều nữa mà tôi nghĩ ít được bình luận hơn trong vấn đề này, và tôi cho rằng đây là một phương tiện tích hợp tri thức hiệu quả. Đó là tìm hiểu các lý thuyết khái quát của người khác cho dù ngay bây giờ bạn không cần cố gắng xác minh những lý thuyết đó đúng hay không. Nếu bạn nỗ lực và tự chứng minh được những lý thuyết đó với bản thân thì càng tốt, bạn đã thực sự tích hợp chặt chẽ tri thức của mình. Nhưng cho dù bạn không làm vậy, bạn không biết chắc các lý thuyết đó có đúng không, bạn chưa chứng minh được, bạn không biết những gì Ayn Rand nói về toàn bộ sự kiện lịch sử trong tác phẩm For the new intellectual (Dành cho trí thức mới) có đúng không, bởi vì bạn chưa bỏ công tìm hiểu nó, ngay cả khi bạn chưa tìm hiểu nên chưa thể khẳng định đó có thật sự là tri thức không, thì việc biết về quan điểm khái quát, biết kết quả nỗ lực của ai đó trong việc tích hợp tất cả những thứ này, cho dù chúng chưa phải là tri thức của bạn, bạn chưa nỗ lực để biến tri thức của người khác thành của mình, thì việc biết về chúng cũng sẽ làm cho bạn chắc chắn về tất cả các loại kết nối khả dĩ mà bạn có thể khám phá và về tất cả các loại dữ liệu có thể mâu thuẫn. Việc biết các lý thuyết đúng đặc biệt hữu ích, nhưng việc biết các lý thuyết sai cũng có ích lợi. Ví dụ, việc biết về quan điểm Chủ nghĩa Quân bình đối với những sự kiện trong thế kỷ 20 mà Tiến sĩ Brook trình bày trong bài giảng hôm trước là rất hữu ích, mặc dù nó [chủ nghĩa Quân bình] sai. Nhưng nhờ biết về chúng nên ta mới có thể phản đối chúng, và nó còn hữu ích ở chỗ đó là nỗ lực của nhiều người để tập hợp những điều xấu xa, sai lầm, tập hợp thông tin theo quan điểm của họ, và việc biết như vậy giúp bạn cảnh giác với những vấn đề mà có thể bạn sẽ không cảnh giác nếu như không biết. Tôi không nói rằng bạn nên tin tưởng hoặc ngưỡng mộ điều đó, bạn chỉ cần biết nó giống như biết các mục dữ liệu trên Wikipedia. Bất cứ điều gì tương tự mà bạn có thể học thường sẽ hỗ trợ cho việc tích hợp tri thức. Về vai trò của sự tích hợp tri thức trong việc phát hiện nguồn gốc sai lầm và cải thiện phương pháp tư duy, cách tôi diễn đạt điều này trong tâm trí tôi: “Hãy là một người phê bình khó tính và vị kỷ đối với suy nghĩ của người khác”, hãy nghiêm khắc nhất có thể... đừng nói to lên, bạn chỉ cần phân tích bất cứ thứ gì mình đọc ra thành từng mảnh, nhưng hãy làm điều đó một cách vị kỷ. Làm một cách vị kỷ nghĩa là bạn biết mình cũng có khả năng mắc phải những lỗi đó. Vì vậy, sau mỗi lần bạn phân tích một thứ gì đó và nghĩ “gã này không nhìn ra mối liên hệ giữa cái này, điều này thật vô căn cứ...”, bất cứ gì, khi đưa ra bất cứ lời chỉ trích nào, hãy suy nghĩ thấu đáo và phát triển khả năng phản biện, hãy bồi dưỡng năng lực của bản thân bằng cách tìm hiểu cặn kẽ mỗi khi bạn nghĩ lập luận của ai đó có sai sót, nhưng rồi hãy nói, “tôi có thể làm điều này, có lẽ tôi sẽ làm điều này, tôi cần làm gì để tránh mắc phải lỗi đó? Có lúc nào tôi thành công không?”. Bạn có thể tìm được câu trả lời hoặc không. Nhưng cho dù không tìm được đáp án ngay thời điểm ấy, thì bạn vẫn đang xây dựng một tài liệu về loại lỗi đó và các phương án thay thế để tránh mắc phải nó. Bạn đang phát triển sự nhạy bén của bản thân. Bạn đang tích hợp tri thức về một sai lầm nào đó mà bạn thấy người khác mắc phải và sự tương đồng giữa nó với những sai lầm khác của mọi người. Bạn đang xây dựng một kho dữ liệu giúp bạn nhận ra những điều tương tự ở chính mình mà trước giờ có thể bạn không nhận thấy. Lý do khiến bạn nên trở thành nhà phê bình khó tính đối với người khác là vì việc này dễ làm hơn rất nhiều. Rất khó để tự nhận ra sai sót của chính mình, nhưng “cái anh chàng đó, tôi thấy rõ ràng có gì đó không ổn”, vậy nên, tôi nghĩ đây là một việc rất hữu ích, cứ để bản thân hăng hái phê bình người khác vì bạn thường tức giận khi đọc một điều có vẻ sai sai, “cái này thật nực cười”. Hãy tìm hiểu kỹ hơn, cân nhắc về suy nghĩ ấy, nghĩ xem điều vừa đọc vô lý chỗ nào, không ổn chỗ nào. Nhưng đừng vì thế mà tự mãn, hãy tự hỏi: “Ô, mình có làm thế không? Nếu là mình làm thì nó sẽ như thế nào? Có giống với anh ta và điều này không?”. Một phần nữa của việc phản biện là hãy ý thức về loại sai lầm mà những người tốt, những người giống như bạn, những người giàu kinh nghiệm mà bạn coi trọng, có vẻ thường mắc phải. Tôi gọi loại sai lầm ấy là những ảo tưởng về tri thức. Có thể tôi phải xin lỗi mọi người trong khán phòng này. Tôi sẽ đưa ra một ví dụ, đây là những con dao của công ty Cutco. Tôi không biết mọi người có quen thuộc với mô hình kinh doanh của công ty này không. Tôi không có ý nói những con dao này không tốt. Theo mô hình kinh doanh của công ty này, dường như họ chọn hoặc ít nhất đã chọn, nhiều bạn trẻ tuổi, rất thông minh, hăng hái, chu đáo làm thực tập sinh. Tôi biết nhiều bạn trẻ theo Chủ nghĩa Khách quan từng là nhân viên bán dao Cutco. Công ty này cho họ tham gia một chương trình đào tạo. Ở đó, người ta đưa ra rất nhiều lý lẽ có vẻ rất thuyết phục rằng dao Cutco có chất lượng tuyệt hảo nhất, những lý lẽ so sánh dựa trên các nghiên cứu, so sánh dao Cutco với những loại dao khác, cung cấp cho bạn lý lẽ mà những người cho rằng các loại dao khác tốt hơn và đáp trả họ. Nhưng điều khiến tôi rất ấn tượng, tôi biết bởi vì tôi có nhiều người bạn từng bán dao cho Cutco, đó là mức độ cuồng nhiệt và tin tưởng, đến tận 10, 20 năm sau, của nhiều người đối với sự tuyệt vời của loại dao này, kể cả những người không thích công ty Cutco và nghĩ những gì công ty làm đều có toan tính, “nhưng những con dao đó không giống tất cả các con dao khác” và điều gây ấn tượng là hầu như mỗi khi... (tôi thích nấu ăn, nên tôi cũng biết chút đỉnh về nấu ăn), hầu như mỗi khi tôi hỏi những người bạn bán dao, họ không biết điều gì khác về dao ngoài những điều đã được học từ Cutco, bao gồm cả suy nghĩ của những người ghét dao Cutco. Bạn thấy đấy, tất cả tri thức đó đều đến từ một nguồn, chúng đang xây dựng một thứ kiểu như có phản đề và hưởng ứng. Tất cả đều có vẻ rất lý trí và rất hợp lý. Chúng nằm trong một phạm vi nhất định, nhưng nó không cung cấp loại thông tin mà bạn cần để đánh giá một cách thực chất, chẳng hạn “vậy các đầu bếp chuyên nghiệp sử dụng loại dao nào?”,“nếu chúng được cho là tốt vậy, thì tại sao họ không dùng loại này? Lý do là gì? Có sự khác biệt quan trọng nào không? Một số loại dao khác (loại mà không được đưa ra bởi công ty cung cấp cho tôi dữ liệu này, hoặc bởi người cung cấp cho tôi dữ liệu này) thì sao? Các loại khác như thế nào? Những người không dùng dao Cutco mà chọn những loại dao khác thật sự nghĩ gì?” v.v. Thật thú vị, tôi thấy khó chịu về sự cuồng nhiệt của những tín đồ đặc biệt này trong khoảng 15 năm nay. Gần đây, bởi vì thời đại bây giờ rất dễ sử dụng internet, tôi nhận ra rằng, khi tìm hiểu về loại dao này, nhiều đại diện bán hàng Cutco trẻ tuổi mà tôi thực sự hài lòng, họ chỉ hỏi mỗi câu này, họ tham gia các lớp ẩm thực và nói: “đây, tôi đã tham gia lớp đào tạo của Cutco và những con dao này thực sự rất tuyệt vời. Nhưng những người không tham gia thì nghĩ gì? Tại sao mọi người thích các loại dao khác? Có đúng là đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Cutco là con dao New York này không?". Tôi nghĩ đó là việc chúng ta cần làm, và đặc biệt, càng dễ thực hiện nó trong thời đại internet, lúc nào cũng có thể làm được. Bất kể một người lập luận chặt chẽ, có hệ thống, hợp lý... một điều gì đó có vẻ lập-luận-chặt-chẽ, thì ta vẫn phải cân nhắc, ta vẫn phải thực hiện một phần việc khi tìm hiểu về nó, chính là biết rằng liệu nguồn gốc tri thức của người đó có bị hạn chế không, liệu tất cả tri thức của họ có đến từ một nơi, hoặc xuất phát từ các nguồn giống nhau nếu họ dựa vào lập luận của người khác, liệu ta có công cụ cần thiết để đánh giá những chuyên gia đó không?
Tôi sẽ nói nhiều hơn về các vấn đề trên vào thứ năm, trong bài trình bày về việc trở thành một người dùng khoa học một cách khách quan. Việc đó khó và quan trọng hơn việc trở thành một người dùng dao kéo khách quan. Nhưng lúc này tôi chỉ nêu nó lên như một kiểu nguyên tắc chung. Tôi trình bày nó ở đây vì tất cả chúng ta đều học hỏi nhiều tri thức từ các nguồn nào đó. Ta học hỏi nhiều tri thức về lịch sử triết học từ Ayn Rand và từ Leonard Peikoff. Là một người đã nghiên cứu những nguồn trên lẫn nhiều nguồn khác, lịch sử triết học khác, các quan điểm đối lập, tôi nghĩ, tôi có cơ sở biết rằng tổng quan của Ayn Rand về lịch sử triết học là đúng, quan điểm của bà về Kant15 là đúng, quan điểm của bà về Hume16 là đúng, quan điểm của bà về vai trò của lý thuyết vạn vật và lý thuyết tri thức của bà là đúng. Nhưng tôi phải đầu tư nhiều công sức để biết được điều đó. Còn nếu tất cả những gì bạn làm chỉ là đọc tài liệu, chỉ đọc Đại cương Nhận thức luận tâm lý của Chủ nghĩa Khách quan, hoặc chỉ... thì bạn vẫn chưa biết rõ về chúng. Bạn cần phải làm rất nhiều việc thì mới hiểu rõ tất cả những điều đó. Nói như vậy không có nghĩa là bạn nên cảm thấy tệ hại hoặc cảm thấy không chắc chắn, hoặc thậm chí khiến bạn nghi ngờ triết học, ngay cả với những khía cạnh triết học mà bạn chưa nỗ lực tìm hiểu. Vì nếu ta quay lại ví dụ ở trên, nếu bạn tải Wikipedia vào bộ não của mình, thì thái độ đúng đắn nên có đối với những nội dung của Wikipedia là không nghi ngờ chúng, bởi nếu bạn nghi ngờ chúng thì giống như bạn đã ngầm định tin vào chúng. Như vậy là không đúng.
Có một câu nói được cho là của Aristotle, nhưng thật ra không phải, có điều nó thực sự hay đến nỗi tôi ước gì ông ấy là tác giả của câu đó. Nó như sau: “Dấu hiệu của một người trí thức là sẵn sàng xem xét một mệnh đề mà không cần tin vào nó”. Tôi nghĩ tôi cũng sẽ tiếp thu mà không nghi ngờ điều đó, chỉ nghe và suy nghĩ về một mệnh đề hoặc toàn bộ lý thuyết nhưng chưa cho rằng nó đúng hoặc bị cám dỗ nghĩ rằng nó đúng để bạn có thể dựa vào nó. Bạn có thể xem nó như một lý thuyết thú vị đầy hứa hẹn, một điều bạn cần xem xét vào một ngày nào đó, hoặc nếu bạn có đủ thời gian thì sẽ tìm hiểu. Tôi nghĩ điều thực sự quan trọng là bạn phải phân biệt giữa những thứ bạn đang nhìn nhận ở trạng thái như vậy, chúng thuộc về những phần chưa phải là tri thức của bạn mà là ngân hàng nội dung xa hơn nữa mà bạn sẽ tìm hiểu hoặc cũng có thể không, nhưng bạn đã có sẵn chúng trong trường hợp chúng tỏ ra liên quan đến nội dung nhận thức của bạn; đồng thời phân biệt chúng với những thứ thực sự do chính bạn xử lý dựa trên tri thức, các bộ phận trong tòa nhà tri thức của bạn. Đặc biệt đối với chúng ta, ta đã học được triết lý toàn diện, sau đó biết những trường hợp áp dụng triết lý đó vào mọi loại lĩnh vực, bạn biết Elan đã viết cuốn sách này về chính sách đối ngoại, Tiến sĩ Peikoff đã viết cuốn sách tổng quan nói về tất cả các thời đại văn hóa khác nhau và sự khác biệt... và có cả núi kiến thức trong đó, một núi dữ liệu; tôi đã đọc một số cuốn và đó là tri thức dựa trên nỗ lực thực hiện tìm hiểu của tôi, những cuốn khác thì tôi chưa nỗ lực tìm hiểu, nhưng những tài liệu đó rất, rất hay, đầy cảm hứng và thú vị. Tất cả chúng ta đều tiếp thu những điều như vậy. Tôi nghĩ việc phân biệt này rất quan trọng đối với tính khách quan của chính chúng ta. Cho dù tất cả đều đúng, xin nhắc lại là dựa trên những gì tôi nghiên cứu thì theo tôi, nó đúng, thì bạn vẫn cần phân biệt đâu là điều mà bạn đã nỗ lực tìm hiểu và biết rõ, đâu là điều bạn chưa tìm hiểu mà bạn nghĩ nó có vẻ hợp lý, hoặc theo bạn đó là lý thuyết hay nhất trong các lĩnh vực và nếu bạn bắt đầu nỗ lực tìm hiểu về nó thì sẽ bắt đầu ở đây, nhưng bạn chưa biết rõ về chúng và không thể lấy chúng làm cơ sở hành động. Tôi nghĩ nếu bạn làm như vậy, bạn sẽ nhận thấy mình biết và có khả năng biết rất nhiều, bạn sẽ biết một cách rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn, bằng cách phân biệt nó với các mẩu chi tiết bổ sung mà bạn có thể thêm vào trong tương lai.
Vậy, quay trở lại chủ đề của chúng ta, tri thức là sự nỗ lực: Nỗ lực nằm ở việc khám phá tri thức mới, nỗ lực để học hỏi tri thức từ người khác. Tôi đã ngầm nhắc đến việc nghiên cứu Chủ nghĩa Khách quan bởi vì tất cả chúng ta đều biết về nó, nhưng nhận định trên có thể áp dụng đối với bất kỳ lĩnh vực nào, và nỗ lực để duy trì tri thức đang có, liên tục tích hợp chúng với tất cả những thứ mới xuất hiện, nhạy bén nhận ra rằng một thứ nào đó có thể gợi lên nghi ngờ hoặc mâu thuẫn với điều mà ta đã biết, rồi ta sẽ phải kiểm tra tiền đề dù trước đó đã chứng minh nó rồi. Đừng để tri thức bị lãng quên và mục ruỗng như thân cây đã nói ở trên. Đó là những nỗ lực mà ta có thể thực hiện. Tất cả chúng ta đang làm rất nhiều việc, nhưng hầu hết chúng ta, kể cả tôi, còn có thể làm tốt hơn nữa, có thể gia cố các công trình tri thức của mình tin cậy hơn, chặt chẽ hơn, cứng cáp hơn, vững vàng hơn trong việc định hướng cuộc sống của bản thân và cho ta khả năng hành động tốt hơn. Tôi hy vọng vừa rồi tôi không chỉ trình bày một khóa học đầy đủ mà còn cung cấp vài công cụ để giúp bạn thực hiện điều đó, giúp bạn ứng dụng công cụ và tri thức đã có về phương pháp tư duy. Bây giờ tôi nghĩ đã đến phần hỏi đáp.
Nguồn: ReasonVN
