Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 7)
Ở đây còn có một cách tiếp cận khác nữa khá quan trọng về mặt lịch sử đối với đề tài này, cách tiếp cận này làm rối tung tự do với những chị em của nó là bình đẳng và tình huynh đệ, dẫn đến những kết luận hẹp hòi tương tự. Suốt từ khi vấn đề được nêu ra cho tới cuối thế kỉ 18, câu hỏi “một cá nhân” hàm nghĩa gì đã được tra vấn không ngừng và với hiệu quả gia tăng. Chừng nào tôi còn sống trong xã hội thì mọi việc tôi làm đều không tránh khỏi có tác động đến, và chịu tác động bởi, những người khác. Thậm chí nỗ lực hết sức của Mill để đánh dấu khác biệt giữa các phạm vi của đời sống riêng tư và đời sống xã hội đã đổ vỡ khi xem xét kĩ. Hầu như tất cả những người phê phán Mill đã chỉ ra rằng mọi việc tôi làm đều có thể có kết quả gây tổn thương cho người khác. Hơn thế nữa, tôi là một hữu thể mang tính xã hội trong một ý nghĩa sâu sắc hơn là việc tương tác với những người khác. Vì trong mức độ nào đó liệu tôi có phải là người như những người khác nghĩ và cảm thấy tôi là như thế hay không? Khi tôi tự hỏi mình tôi là ai: một người Anh, một người Trung Hoa, một người buôn bán, một người không có tầm quan trọng nào, một triệu phú, một kẻ bị kết án tù - phân tích kĩ thì tôi thấy rằng việc sở hữu những biểu tượng ấy kéo theo việc được những người khác trong xã hội của tôi thừa nhận thuộc về một nhóm người hay một giai cấp đặc biệt, và sự thừa nhận ấy là một phần ý nghĩa của đa số các từ ngữ chỉ ra một số các thuộc tính không đổi và mang tính cá nhân nhiều nhất của tôi. Tôi không phải là một lí trí bị tách lìa. Tôi cũng không phải là Robinson Crusoe một mình trên hòn đảo của anh ta. Ở đây không chỉ có [vấn đề]: đời sống vật chất của tôi phụ thuộc vào việc tương tác với những người khác, hay do kết quả của các sức mạnh xã hội nên tôi là người như tôi đang là, mà [vấn đề] còn là: một số, hay có thể là tất cả, các ý tưởng của tôi về bản thân tôi, đặc biệt là cảm nhận của tôi về bản diện đạo đức và xã hội của riêng tôi, chỉ có thể hiểu được trong dạng thức mạng lưới xã hội mà tôi là một phần tử trong đó (ẩn dụ không nên đẩy đi quá xa).
Tình trạng thiếu tự do mà nhiều người hay những nhóm người rất hay than phiền, thường không phải thuần túy nói về chuyện không được thừa nhận. Tôi có thể tìm kiếm không phải cái mà Mill muốn tôi tìm kiếm, được gọi là an toàn thoát khỏi bị ép buộc, bắt giữ tùy tiện, chuyên chế, tước đoạt những cơ hội hành động nhất định, hay được gọi là khoảng không gian trong đó tôi không phải trình báo với ai hết về các hoạt động của mình. Cũng như vậy, tôi có thể không tìm kiếm một kế hoạch duy lí cho đời sống xã hội, hay tự hoàn thiện để được thông thái điềm tĩnh. Cái tôi tìm cách né tránh, đơn giản là việc bị coi thường, hay là bị người khác đối xử với thái độ kẻ cả, hay là bị khinh miệt, hay bị coi như vốn dĩ là thế - tóm lại, là không được đối xử như một cá nhân, là cái độc đáo của tôi không được thừa nhận đầy đủ, là bị xếp loại như thành viên của một đám hỗn tạp vô diện mạo, như một đơn vị thống kê không có những bản sắc con người đặc biệt khả dĩ nhận diện được và không có những mục đích của riêng mình. Đây là tình trạng mất phẩm giá mà tôi đang tranh đấu chống lại - tôi không tìm kiếm bình đẳng về các quyền pháp lí, cũng không tìm kiếm tự do được làm cái tôi mong muốn (mặc dù tôi có thể muốn cà cái đó nữa), mà tôi tìm kiếm điều kiện để tôi cảm thấy cái mình được là, vì tôi được thu nhận vào như một tác nhân có trách nhiệm, ý chí của tác nhân ấy được tính đến vì tôi xứng đáng với điều đó, ngay cả khi tôi bị tấn công và bị truy bức vì là người mà tôi là, hay vì chọn lựa như tôi làm.
Đây là thèm muốn được có danh phận và được thừa nhận. “Người nghèo khổ nhất ở nước Anh cũng có một cuộc đời để sống y như anh ta là người vĩ đại nhất. 171 Tôi khao khát được hiểu và được thừa nhận, ngay cả khi điều ấy có nghĩa là không được quần chúng ưa thích hay là bị ghét bỏ. Và chỉ những người nào có thể thừa nhận tôi như thế và do đó đem lại cho tôi ý nghĩa được là một nhân vật nào đó, chỉ những người ấy mới là các thành viên của xã hội mà tôi cảm thấy mình thuộc về nó trên phương diện lịch sử, đạo đức, kinh tế và có thể cả sắc tộc nữa.172 Cái ngã cá nhân của tôi không phải là thứ gì đó mà tôi có thể tách ra khỏi mối quan hệ của tôi với những người khác, hay tách khỏi những thuộc tính của bản thân tôi, bao gồm cả thái độ của những người khác đối với tôi. Hệ quả là khi tôi đòi hỏi mình phải được giải phóng, ví dụ như, khỏi danh phận phụ thuộc về chính trị hay xã hội, thì cái điều mà tôi đòi hỏi chính là biến đổi thái độ đối với tôi của những người mà các ý kiến và hành vi của họ hỗ trợ cho việc xác định cái hình ảnh của chính tôi về bản thân mình. Và cái gì là đúng cho một cá nhân thì cũng đúng cho các nhóm người mang tính chất xã hội, chính trị, tôn giáo, tức là những người có ý thức về những nhu cầu và mục tiêu của họ trong tư cách là những thành viên của các nhóm người như là vậy. Điều đòi hỏi của các giai cấp, các quốc gia bị áp bức theo quy luật thì chẳng phải là tự do hành động không bị ngăn trở cho các thành viên của họ, cũng chẳng phải là, trên hết mọi thứ, bình đẳng về cơ hội mang tính xã hội hay kinh tế, lại càng chẳng phải là việc chia phần địa vị trong một nhà nước hữu cơ không có bất đồng do người ban bố luật pháp duy lí đặt ra. Điều họ muốn, thường là thế hoặc không phải thế, đơn thuần là thừa nhận (giai cấp hay quốc gia của họ, hoặc màu da hay chủng tộc của họ) như một ngọn nguồn độc lập của hoạt động con người, như một thực thể với ý chí riêng của nó, dự tính hành động phù hợp với ý chí ấy (dù có tốt đẹp hoặc chính đáng hay không), và không còn phải bị cai trị, bị giáo dục, bị lãnh đạo, dù bởi bàn tay nhẹ nhàng đến đâu đi nữa, như là tình trạng không đầy đủ nhân bản lắm cho nên không đầy đủ tự do lắm.
Điều này đem lại một ý nghĩa dân tộc chủ nghĩa rộng hơn nhiều so với ý nghĩa dân tộc chủ nghĩa thuần khiết trong nhận xét của Kant nói rằng chủ nghĩa gia trưởng là “chuyên chế to lớn nhất có thể hình dung được”.173 Chủ nghĩa gia trưởng là chuyên chế không phải vì nó nhiều áp bức hơn bạo chúa ngu tối, hung bạo trần trụi, cũng không phải đơn thuần vì nó coi thường lí trí siêu việt chứa đựng trong tôi, mà vì nó là sỉ nhục đối với ý niệm về bản thân tôi như một con người, đầy quyết tâm tạo nên cuộc sống của riêng tôi phù hợp với những mục tiêu của riêng tôi (không nhất thiết phải duy lí hay bác ái), và trến tất cả, có quyền được những người khác thừa nhận như là vậy. Bởi nếu tôi không được thừa nhận như thế, thì tôi có thể sẽ thất bại trong việc thừa nhận [người khác], tôi có thể sẽ nghi ngờ điều khẳng định của chính tôi được là con người hoàn toàn độc lập. Bởi việc tôi là ai phần nhiều được quyết định bởi cảm nhận và suy nghĩ ưu trội trong xã hội mà tôi thuộc về, trong ý nghĩa của Burke, tôi không phải là một nguyên tử khả dĩ cô lập được của nó, mà là một thành phần trong một khuôn mẫu xã hội (sử dụng một ẩn dụ nguy hiểm nhưng không thể thay thế được). Tôi có thể cảm thấy không được tự do trong ý nghĩa không được thừa nhận như một cá nhân tự cai quản mình; nhưng tôi cũng có thể cảm thấy như một thành viên của nhóm người không được thừa nhận hay không được kính trọng đầy đủ: khi ấy tôi mong muốn giải phóng toàn bộ giai cấp của tôi, hay quốc gia của tôi, hay chủng tộc, hay nhóm người cùng nghề nghiệp. Trong chừng mực tôi khao khát điều ấy nhiều đến mức, trong nỗi khao khát đầy cay đắng về danh phận của mình, tôi có thể thấy thà bị bắt nạt và bị cai trị tồi tệ bởi thành viên nào đó thuộc chủng tộc của tôi hay thuộc giai cấp xã hội của tôi, mà dù sao người đó vẫn thừa nhận tôi như một con người và một kẻ cạnh tranh - tức là như một người bình đẳng - còn hơn là được đối xử tốt và khoan dung bởi một kẻ nào đó từ nhóm ngườỉ nào đó cao hơn và xa cách, bởi một kẻ nào đó là người không thừa nhận tôi như là tôi mong muốn tự cảm nhận mình là vậy.
Đây là tâm điểm của tiếng gào thét vĩ đại nhất cả từ phía các cá nhân lẫn các nhóm người, và vào thời nay là của các nhóm người cùng nghề nghiệp và các giai cấp, là của các quốc gia và các chủng tộc. Dù cho tôi không có được thứ tự do “phủ định” từ bàn tay các thành viên xã hội của chính tôi, nhưng họ vẫn là các thành viên thuộc nhóm người của chính tôi; họ hiểu được tôi như tôi hiểu được họ; và thấu hiểu này tạo nên trong tôi ý nghĩa của việc được là nhân vật nào đó trên thế gian. Chính niềm khao khát được thừa nhận tương hỗ ấy, đã dẫn đến việc thiết lập đa số các nền dân chủ độc đoán, đôi khi được các thành viên của chúng ưa thích hơn một cách có ý thức so với các chính thể đầu sỏ khai minh nhất, hay đôi khi khiến cho một thành viên của quốc gia Á hay Phi mới được giải phóng hiện nay than phiền ít hơn, khi bị đối xử thô bạo bởi chính chủng tộc hay quốc gia của anh ta, so với khi anh ta bị cai trị bởi nhà quản trị nào đó cẩn trọng, công chính, hòa nhã, có thiện ý, nhưng đến từ bên ngoài. Nếu không nắm bắt được hiện tượng này thì những lí tưởng và hành vi của toàn thể dân chúng, là những người bị tước đoạt các quyền con người cơ bản trong ý nghĩa từ ngữ của Mill, lại là những người rất chân thành nói về việc được hưởng tự do nhieu hơn, so với khi họ đã từng sở hữu mức độ rộng rãi hơn của các quyền như thế, [những lí tưởng và hành vi ấy của họ] sẽ trở thành nghịch lí không sao hiểu được.
Cái khát khao muốn có danh phận và được thừa nhận ấy có thể dễ dàng nhận ra, nhưng vẫn không đồng nhất được với tự do cá nhân cả trong ý nghĩa “phủ định” lẫn “khẳng định” của từ ngữ. Đây là một thứ gì đó mà con người cần đến và tranh đấu vì nó không kém phần sâu nặng - là thứ gì đó có quan hệ gần gũi với tự do, nhưng không phải là bản thân tự do; mặc dù nó đòi hỏi tự do phủ định cho toàn bộ nhóm người, nó gần gũi hơn với tình đoàn kết, tình huynh đệ, thông hiểu lẫn nhau, nhu cầu kết hội dưới dạng thức bình đẳng, tất cả những thứ ấy đôi khi được gọi là tự do xã hội một cách nhầm lẫn. Những thuật ngữ xã hội và chính trị tất yếu là mơ hồ. Toan tính làm một từ điển chính trị học cho thật chính xác có thể khiến nó thành vô dụng. Thế nhưng buông lỏng việc sử dụng thoải mái, vượt quá mức cần thiết, sẽ chẳng giúp ích gì cho chân lí. Bản chất của khái niệm tự do trong cả hai nghĩa “khẳng định” và “phủ định” là chống trả lại thứ gì đó hay người nào đó - chống lại những kẻ khác xâm phạm vào lĩnh vực của tôi hay khẳng định quyền uy của họ đối với tôi, hay chống lại những nỗi ám ảnh, những nỗi sợ hãi, chứng loạn thần kinh, các sức mạnh phi lí tính - những kẻ xâm nhập và bọn chuyên chế loại này hay loại khác. Khao khát được thừa nhận là khao khát thứ gì đó khác biệt: liên hiệp, thông hiểu gần gũi hơn, hòa nhập lợi ích, một cuộc sống cùng phụ thuộc và cùng hi sinh. Đây chỉ là lẫn lộn khao khát tự do với niềm khao khát sâu nặng và phổ quát này - khao khát danh phận và thông hiểu - bị rối tung thêm bởi việc đồng nhất nó với khái niệm về tự hướng dẫn mang tính xã hội, ở đó cái ngã cần được giải phóng không còn là cái ngã cá nhân, mà là cái “toàn thể xã hội”, việc này khiến cho hiện tượng sau đây trở thành khả dĩ: trong khi phục tùng thói độc đoán của bọn đầu sỏ hay lũ độc tài, nhiều người lại khẳng định điều này là giải phóng cho họ theo ý nghĩa nào đó.
Người ta đã viết nhiều về ngộ nhận khi coi các nhóm xã hội như là những hữu thể con người hay các ngã, mà kiểm soát hay kỉ luật của các thành viên trong nhóm chính là kỉ luật tự giác (selfdiscipline), kiểm soát tự nguyện tự giác (voluntary self-control), là thứ vẫn để cho tác nhân cá thể được tự do. Thế nhưng ngay cả trên quan điểm “hữu cơ” đi nữa, liệu việc gọi yêu sách được thừa nhận và có danh phận là yêu sách tự do theo nghĩa thứ ba nào đó, có phải là điều tự nhiên hay đáng mong muốn hay không? Quả thực là nhóm người mà trong đó người ta tìm kiếm thừa nhận, tất phải tự nó có đủ mức độ tự do “phủ định” - thoát khỏi kiểm soát bởi mọi độc đoán từ bên ngoài - nếu không thì thừa nhận của nhóm sẽ không đem lại được danh phận mà người đời hỏi nó tìm kiếm. Thế nhưng liệu có thể nào gọi việc tranh đấu cho danh phận cao hơn, ước muốn thoát khỏi một địa vị thấp kém, là cuộc tranh đấu cho tự do được hay không? Liệu đây có phải đơn thuần là cứng nhắc giới hạn từ ngữ trong những ý nghĩa chính được thảo luận ở trên, hay là chúng ta đang có nguy cơ, tôi nghi là vậy, gọi bất cứ cải thiện nào cho tình huống xã hội của con người có lợi cho anh ta, là gia tăng tự do của anh ta, và liệu điều này có khiến cho thuật ngữ này trở nên mơ hồ và bị thổi phồng lên đến mức nó thành ra vô dụng trên thực tế? Dù sao chúng ta cũng không thể đơn giản gạt bỏ đi trường hợp này đơn thuần như là lẫn lộn khái niệm tự do với các khái niệm danh phận, hay tình đoàn kết, hay tình huynh đệ, hay bình đẳng, hay tổ hợp nào đó của những khái niệm ấy. Bởi vì khao khát danh phận, về những phương diện nào đấy, rất gần gũi với khao khát được là một tác nhân độc lập.
Chúng ta có thể từ chối danh xưng tự do cho mục đích ấy; nhưng vẫn còn một quan điểm nông cạn cho rằng giả định những tương đồng giữa các cá nhân và các nhóm người, hay những ẩn dụ hữu cơ, hay một vài ý nghĩa của từ ngữ “tự do”, chỉ đơn thuần là những ngộ nhận hoặc là do khẳng định tình trạng giống nhau giữa các thực thể ở những phương diện mà chúng không giống nhau, hay đơn giản là lẫn lộn ngữ nghĩa. Điều mong muốn ở những người sẵn sàng đổi chác tự do hành động của chính họ và của những người khác để có được danh phận cho nhóm người của họ, và cho chính họ bên trong nhóm, không chỉ đơn giản là dâng nộp tự do đe được an toàn, để có được một chỗ đảm bảo trong một thứ bậc tôn ti đầy hài hòa mà ở đó tất cả mọi người và tất cả các giai cấp đều biết được chỗ của mình, và họ sẵn sàng đánh đổi đặc quyền đau đớn của việc chọn lựa - gánh nặng tự do – để lấy được an bình và tiện nghi, cũng như tình trạng vô tư lự tương đối trong một cấu trúc độc đoán hay toàn trị. Chắc chắn có những người như thế và những khát khao như thế, và chắc chắn việc dâng nộp tự do cá nhân như thế có thể xảy ra, và quả thực nó đã xảy ra thường xuyên. Nhưng sẽ là một hiểu lầm nặng nề về trạng thái [tinh thần] của thời đại chúng ta nếu giả định rằng điều này đã tạo nên tính hấp dẫn của chủ nghĩa dân tộc hay chủ nghĩa Marx đối với các quốc gia còn bị cai trị bởi những ông chủ ngoại quốc, hay đối với những giai cấp có cuộc sống bị hướng dẫn bởi các giai cấp khác trong chế độ bán-phong kiến hay chế độ tổ chức theo tôn ti nào đó khác. Cái mà họ tìm kiếm khá giống với cái mà Mill gọi là “Tính tự khẳng định của dị giáo”174, nhưng trong một hình thức tập thể được xã hội hóa. Thật vậy, phần nhiều những điều ông nói về lí lẽ của riêng ông đối với khao khát tự do - giá trị mà ông đặt thêm vào lòng dũng cảm và tính không chịu uốn mình, đặt thêm vào sự khẳng định các giá trị của cá nhân đối mặt với ý kiến đang thịnh hành, vào phẩm tính mạnh mẽ và tính tự lực thoát khỏi sự giật dây của những kẻ ban bố luật pháp chính thống và những huấn luyện viên xã hội - giá trị không liên quan nhiều với ý niệm tự do của ông như không bị can thiệp, nhưng lại liên quan nhiều đến lòng khao khát của những người muốn thoát khỏi tình trạng mà tập hợp các phẩm tính cá nhân của họ bị đánh giá quá thấp, bị coi là thiếu khả năng có hành vi tự trị, độc đáo, “khả tín”, dẫu cho hành vi như thế ắt sẽ vấp phải việc bị lăng nhục, hay kiềm chế xã hội, hay cấm đoán pháp luật.
Lòng mong ước ấy muốn khẳng định “bản diện” của giai cấp của tôi, hay của nhóm người, hay của quốc gia, liên hệ cả với lời giải đáp cho câu hỏi “Phạm vi của quyền uy phải là thế nào?” (vì nhóm người phải không bị can thiệp bởi những ông chủ từ bên ngoài), và cả với lời giải đáp, thậm chí còn gần gũi hơn nữa, cho câu hỏi “Ai là người được cai trị chúng tôi?” - cai trị tốt đẹp hay tệ hại, khai phóng hay đàn áp, nhưng trước hết là “Ai?” đã. Và những lời giải đáp như “Các đại biểu được bầu ra bởi sự lựa chọn không có ngăn trở của chính tôi và những người khác”, hay “Tất cả chúng tôi tập hợp lại cùng nhau trong các đại hội thường kì”, hay “Người tốt nhất”, hay “Người sáng suốt nhất”, hay “Cả dân tộc hiện thân trong những người này hay những người kia, hay những định chế”, hay “Lãnh tụ siêu phàm” đều là những lời giải đáp độc lập về mặt logic, đôi khi cả về mặt chính trị và xã hội nữa, độc lập với chuyện tôi đòi hỏi phạm vi tự do “phủ định” cho bản thân tôi hay cho các hoạt động của nhóm tôi được triển khai đến đâu. Miễn là lời giải đáp cho “Ai cai trị tôi?” là người nào đó hay thứ gì đó mà tôi có thể hình dung như “của tôi”, như là thứ gì đó thuộc về tôi, hay là người mà tôi thuộc về anh ta, [khi ấy] tôi có thể, bằng cách sử dụng lời lẽ truyền tải tình huynh đệ và tình đoàn kết, cũng như là một bộ phận nào đó nội hàm ý nghĩa “khẳng định” của từ “tự do” (khó mà định rõ chính xác hơn nữa từ ngữ này), mô tả lời giải đáp ấy như một hình thức lai ghép của tự do, dù thế nào đi nữa cũng như một lí tưởng có lẽ nổi bật hơn bất cứ thứ gì khác trên thế gian hiện tại, nhưng vẫn còn là một thứ mà chưa có từ ngữ hiện hữu nào có thể ăn khớp chính xác với nó. Những người cố giành lấy điều này bằng cái giá tự do “phủ định” theo kiểu Mill của họ, chắc sẽ khẳng định họ được “giải phóng” bằng cách đó, trong ý nghĩa lầm lẫn nhưng được cảm nhận thật nồng nhiệt ấy. [Câu hỏi] “Sự phục vụ của ai sẽ là tự do hoàn hảo?” theo cách đó có thể được thế tục hóa, và nhà nước, hay quốc gia, hay chủng tộc, hay một quốc hội, hay một nhà độc tài, hay gia đình tôi, hay môi trường, hay chính tôi, có thể được thế vào chỗ của Thượng Đế, mà không làm cho từ ngữ “tự do” trở thành hoàn toàn vô nghĩa.175
Chắc chắn mọi diễn giải từ ngữ “tự do”, dù có bất thường đến đâu đi nữa, cũng phải bao gồm một cái tối thiểu của thứ mà tôi đã gọi là tự do “phủ định”. Tất phải có một không gian mà ở bên trong nó tôi không bị ngăn trở. Không có xã hội nào lại dập đi theo nghĩa đen tất cả tự do của các thành viên của nó; một hữu thể mà bị các thành viên khác ngăn chặn không cho làm bất cứ điều gì theo ý mình, thì không còn chút nào là một tác nhân có tính đạo đức nữa, và không còn có thể được xem như một con người cả về phương diện pháp lí lẫn phương diện đạo đức, cho dù một nhà sinh lí học hay một nhà sinh vật học, hay thậm chí một nhà tâm lí học có ý thiên về phân loại anh ta như một con người. Thế nhưng các vị khai sinh ra chủ nghĩa tự do - Mill và Constant - muốn có nhiều hơn là cái tối thiểu ấy: họ đòi hỏi một mức độ cực đại của tình trạng không can thiệp, tương thích được vói một tối thiểu các đòi hỏi của đời sống xã hội. Có vẻ như sự đòi hỏi cực đoan ấy cho tự do sẽ chẳng bao giờ có bất cứ ai thực hiện ngoại trừ một thiểu số nhỏ bé những người văn minh và tự giác cao. Khối đông đảo loài người trong phần lớn thời gian chắc sẽ sẵn sàng hi sinh tự do ấy cho các mục tiêu khác: an toàn, danh phận, giàu sang, quyền lực, đức hạnh, phần thưởng trong thế giới kế tiếp; hay là công bằng, bình đẳng, tình huynh đệ, và rất nhiều giá trị khác nữa, mà những giá trị ấy có vẻ như bất tương hợp với việc đạt được mức độ lớn nhất của tự do cá nhân về toàn cục hay chỉ phần nào, chắc rằng khối đông đảo loài người ấy sẽ chẳng cần đến tự do cá nhân như điều kiện tiên quyết để thực hiện [những mục tiêu ấy] cho mình. Đây không phải là một đòi hỏi Không gian sinh tồn (Lebensraum)176 cho mỗi cá nhân, là thứ đã từng kích thích các cuộc nổi loạn hay chiến tranh giải phóng mà người ta đã sẵn sàng chết vì nó trong quá khứ, hay trong cả hiện nay nữa. Những người đã tranh đấu cho tự do thông thường đã tranh đấu đòi quyền được cai trị bởi chính mình hay bởi các đại diện cho họ - cai trị một cách khắc nghiệt, nếu cần thiết, như những người Sparta, với tự do cá nhân ít ỏi, nhưng theo một cung cách cho phép họ tham dự vào, hay dù sao cũng tin rằng họ đang được tham dự vào việc lập pháp và hành pháp của đời sống tập thể của họ. Và những người đã từng tạo ra cách mạng, thường như thế và cũng thường không như thế, đã hàm nghĩa tự do không là gì khác hơn việc chinh phục quyền lực và uy tín bởi một giáo phái nhất định gồm các tín đồ theo một học thuyết, một giai cấp, hay bởi nhóm xã hội nào đó khác, cũ hay mới. Thắng lợi của họ chắc sẽ ngăn trở những ngưòi bị họ hất cẳng đi, và đôi khi bị họ đàn áp, nô dịch hay bị tiêu diệt với số lượng lớn. Thế nhưng những nhà cách mạng như vậy thường cảm thấy nhất thiết phải cãi lại rằng, bất chấp điều đó, họ đại diện cho phe đảng của tự do, hay của tự do “chân chính”, bằng việc khẳng định tính phổ quát lí tưởng của họ, mà cái “ngã đích thực” của ngay cả những người kháng cự lại họ cũng bị gán cho là theo đuổi lí tưởng ấy, mặc dù những người này đã lầm đường lạc lối đi tới mục tiêu ấy, hay đã sai lầm trong bản thân mục tiêu do sự mù quáng đạo đức hay tinh thần nào đó. Tất cả những điều ấy chẳng liên quan gì nhiều đến khái niệm tự do của Mill, như là chỉ bị giới hạn bởi nguy cơ làm tổn hại đến những người khác. Chính do việc không chịu thừa nhận sự thật tâm lí và chính trị ấy (núp sau vẻ bề ngoài mơ hồ của thuật ngữ “tự do”), mà có lẽ một số những người thuyết giảng tự do đương thời đã bị mù lòa trong thế giới họ đang sống. Biện hộ của họ là rõ ràng, nguyên nhân của họ là chính đáng. Nhưng họ không cho phép có sự đa dạng muôn vẻ các nhu cầu cơ bản của con người. Vả chăng vẫn còn chưa có sự tài tình để con người có thể tự hài lòng chứng minh được rằng con đường đi đến một lí tưởng lại cũng dẫn đến điều trái ngược với nó.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
