Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 2: Tính tất yếu của lịch sử (Phần 7)
Hai học thuyết vững mạnh đang được truyền bá rộng rãi trong tư duy đương đại, ấy là tương đối luận và tất định luận. Học thuyết thứ nhất, do nó được trình bày như là thuốc giải độc cho thái độ tự tin quá đáng, hay cho chủ nghĩa giáo điều ngạo mạn, hay thái độ tự thỏa mãn về đạo đức, nhưng thực ra lại được đặt nền tảng trên một diễn giải sai lầm về trải nghiệm; học thuyết thứ hai, do xiềng xích của nó được trang điểm bằng những bông hoa, và bất chấp việc nó tập hợp được chủ nghĩa khắc kỉ cao quý và bản thiết kế vũ trụ của nó đầy huy hoàng và bao la, nhưng thực ra nó lại trình bày hoàn vũ như một nhà tù. Tương đối luận đối lập lại với sự phản kháng và niềm tin cá nhân vào những nguyên tắc đạo đức, là sự cam chịu hay sự mỉa mai của những người đã từng nhìn thấy nhiều thế giới sụp đổ, nhiều lí tưởng theo thời gian hóa ra là thứ hào nhoáng rẻ tiền hay đáng tức cười. Tất định luận tự cho là làm cho chúng ta tình ngộ bằng cách chỉ ra chân lí nằm ở đâu, guồng máy có tính khách quan và không thể biến cải điều khiển đời sống và tư duy được cho là đã tìm thấy. Học thuyết thứ nhất, khi nó không còn như một châm ngôn, hay đơn thuần như một lời nhắc nhở đáng hoan nghênh cho chúng ta về những giới hạn của chúng ta hay về tính phức tạp của vấn đề, và yêu cầu chúng ta chú ý tới như một Thế giới quan (Weltanschauung) nghiêm túc, [học thuyết ấy] dựa trên việc sử dụng sai từ ngữ, một sự lầm lẫn về ý tưởng, tin vào một lập luận logic sai lầm. Học thuyết thứ hai, khi nó vượt quá việc chỉ ra những trở ngại đặc thù đối với sự lựa chọn tự do mà ở đó bằng chứng khả dĩ khảo sát được cho điều này có thể được viện dẫn, thì hóa ra nó lại dựa trên hoặc là một huyền thoại, hoặc là một giáo điều siêu hình. Cả hai học thuyết này đã nhiều lúc thành công trong việc thuyết phục hay gây sợ hãi cho người ta để họ rời xa những niềm tin đạo đức và chính trị nhân bản nhất, nhân danh một sự thấu hiểu sâu sắc hơn và có sức tàn phá hơn về bản chất của các sự vật. Nhưng có lẽ đây chỉ là dấu hiệu của chứng loạn thần kinh và sự lầm lẫn: vì chẳng quan điểm nào có vẻ như được nâng đỡ bởi trải nghiệm của con người. Vậy tại sao mỗi học thuyết (đặc biệt là tất định luận) lại cột chặt bùa chú của nó mạnh đến thế lên tâm hồn của nhiều người, mà là những tâm hồn về nhiều phương diện khác rất sáng láng và trung thực?
Một trong những khát khao sâu nặng nhất của con người là tìm được một khuôn mẫu nhất nguyên mà trong khuôn mẫu ấy toàn bộ trài nghiệm quá khứ, hiện tại và tương lai, những điều khả dĩ thực sự và những thứ chưa được hoàn tất, được sắp xếp trật tự một cách đối xứng. Điều này thường được bày tỏ bằng cách nói rằng có một thời đã từng có một thống nhất hài hòa - “một toàn thể cảm xúc và tư duy không có trung gian”, “sự thống nhất của người nhận thức và cái được nhận thức”, của “cái bên ngoài và cái bên trong”, của chủ thể và khách thể, hình thức và thực chất, ngã và phi-ngã; rằng sự thống nhất này đã bị phá vỡ sao đó; và rằng toàn bộ trải nghiệm của con người bao gồm nỗ lực không dứt để tập hợp lại những mảnh vỡ, khôi phục lại sự thống nhất, và như vậy sẽ tránh được, hay “siêu việt hóa” được, các phạm trù - cách thức tư duy - vốn chia tách và cô lập và “giết chết” cái hiện thực sống động, và “tách biệt” (dirempt) chúng ta khỏi nó. Chúng ta được nói cho biết về một sự theo đuổi không ngừng cố tìm được lời giải đáp cho câu đố, trở về với cái toàn thể không có vết khâu ráp, với thiên đường mà thuở nào đó chúng ta đã bị trục xuất khỏi nơi đó, hoặc là thừa kế di sản mà chúng ta còn chưa nỗ lực đủ để có được nó.
Ý niệm trung tâm ấy, dù cội nguồn và giá trị của nó có là gì, chắc chắn nằm trong tâm điểm của nhiều suy tưởng siêu hình, của nhiều nỗ lực nhằm thống nhất các khoa học và của một phần lớn tư duy mĩ học và logic, xã hội và lịch sử. Thế nhưng dù việc khám phá ra một khuôn mẫu đơn nhất của trải nghiệm có đem lại sự thỏa mãn lí trí của chúng ta hay không, sự thỏa mãn mà nhiều nhà siêu hình khao khát và nhân danh nó để bác bỏ khoa học thường nghiệm như là thứ đơn thuần kết hợp các sự kiện “tàn nhẫn” trên thực tế (de facto) - những miêu tả các biến cố hay nhân vật hay sự vật không gắn kết với những mối liên hệ “hợp lí” mà chỉ riêng có lí trí là có khả năng chấp nhận - dù điều này có nằm trong tiềm thức của nhiều học thuyết siêu hình hay tôn giáo hay không, thì nó cũng không biến cải được trật tự của các biểu hiện bề ngoài thực sự - cái hiện trường thường nghiệm - mà lịch sử chỉ có thể xử lí thích đáng với riêng nó mà thôi. Từ những ngày của Bossuet cho tới những ngày của Hegel và càng gia tăng thêm sau đó, những tuyên bố đã được đưa ra, khác nhau ở mức độ khái quát và độ tin cậy, khiến cho có thể phác thảo được một cấu trúc của lịch sử (thường là tiên nghiệm (a priori), bất chấp tất cả những phản đối khẳng định ngược lại), nhằm phát hiện một khuôn mâu duy nhất đúng mà tất cả các sự kiện sẽ được thấy là vừa khớp vào chỉ riêng nó. Thế nhưng điều này chưa bao giờ, và có thể không bao giờ, được chấp nhận bởi một nhà sử học nghiêm chỉnh nào, vốn là người mong muốn thiết lập cái sự thật như nó được hiểu bởi những nhà phê bình tốt nhất trong thời đại của ông ta, và là người đang làm việc theo những chuẩn mực được những đồng nghiệp nghiêm cẩn và sáng láng nhất chấp nhận như có tính hiện thực. Vì ông ta không cảm nhận được một sơ đồ duy nhất như là sự thật - cái khuôn khổ hiện thực duy nhất mà các sự kiện thực sự nằm ở riêng trong đó; ông ta sẽ không phân biệt một cái khuôn mẫu vũ trụ hiện thực với những cái khuôn mẫu trá ngụy khác, giống như ông ta hẳn đang tìm cách phân biệt những sự kiện hiện thực với điều hư cấu. Những sự kiện nhất định có thể được sắp xếp vào nhiều khuôn mẫu chứ không phải chỉ một, có thể được nhìn từ nhiều triển vọng, có thể được trưng bày dưới nhiều ánh sáng, tất cả mọi thứ đều có giá trị, dù cho một số thứ sẽ mang tính gợi ý hay phong phú ở lĩnh vực này hơn là lĩnh vực khác, hoặc là thống nhất lại nhiều lĩnh vực theo một kiểu cách làm sáng tỏ nào đó, hoặc khác nữa, như đưa ra những chênh lệch và mở ra những hố phân cách. Một số khuôn mẫu ấy sẽ nằm gần hơn các khuôn mẫu khác - gần với quan điểm siêu hình hay tôn giáo của nhà sử học hay nhà tư tưởng lịch sử này nọ. Qua chuyện này ta thấy bản thân các sự kiện vẫn còn tương đối “nghiệt ngã”. Tương đối, nhưng, tất nhiên rồi, không tuyệt đối; và mỗi khi nỗi ám ảnh bởi khuôn mẫu nhất định khiến cho một người viết nào đó diễn giải các sự kiện quá giả tạo, lấp đầy khoảng trống tri thức của mình quá trôi chảy, mà thiếu xem xét đầy đủ bằng chứng thường nghiệm, thì các nhà sử học khác sẽ qua trực giác thấy rằng một kiểu bạo lực nào đó đã xảy ra đối với các sự kiện, rằng mối quan hệ giữa bằng chứng và diễn giải theo cách nào đó trở nên dị thường; và chuyện đó không phải là vì có nghi ngờ về các sự kiện, mà vì có một khuôn mẫu mang tính ám ảnh đang hoạt động108. Tự do thoát khỏi những ý tưởng cố định (idées fixes) - mức độ của tự do đó - phân biệt lịch sử đích thực với huyền thoại về một thời kì; vì rằng không có tư duy lịch sử theo đúng nghĩa, ngoại trừ nơi nào các sự kiện có thể được phân biệt không chỉ đơn thuần với huyền thoại, mà còn phân biệt lí thuyết với sự diễn giải, có thể không hẳn tuyệt đối, nhưng ở mức độ ít hơn hay nhiều hơn.
Chúng ta sẽ được nhắc nhở rằng không có sự tách biệt rõ ràng giữa lịch sử với huyền thoại; hay lịch sử với siêu hình học; và rằng theo cùng nghĩa ấy không có phân tuyến rõ ràng giữa “sự kiện” và lí thuyết: rằng không có tiêu chuẩn tuyệt đối nào có thể đưa ra về nguyên tắc; và điều này cũng khá đúng, nhưng từ đó chẳng suy ra điều gì đáng kinh ngạc, về chuyện những khác biệt ấy có tồn tại thì chỉ có các nhà siêu hình học đã từng tranh cãi; nhưng lịch sử như một bộ môn độc lập, mặc dù vậy, vẫn đã trỗi dậy; và chuyện đó cũng chẳng khác gì khi nói rằng đường ranh giới giữa các sự kiện và các khuôn mẫu vũ trụ, thường nghiệm hay siêu hình hay thần học, là không rõ ràng và dịch chuyển như có thể, đây là một khái niệm đích thực đối với tất cả những người xem xét các vấn đề lịch sử thật nghiêm chỉnh. Chừng nào chúng ta vẫn còn là các nhà sử học thì cần phải phân biệt hai mức độ. Cho nên, toan tính thoái thác trách nhiệm, mà ở mức độ thường nghiệm có vẻ như nằm ở cá nhân hay xã hội lịch sử này nọ, hay nằm ở tập hợp các ý kiến được duy trì hay tuyên truyền bởi một ai trong số đó, để trút trách nhiệm ấy cho bộ máy siêu hình nào đó, vốn là khách quan vô nhân xưng, nên vì thế mà loại trừ chính ý tưởng về trách nhiệm đạo đức, [toan tính ấy] phải luôn là vô giá trị; và sự thèm muốn làm điều này sẽ được ghi nhận, thường hay như thế hay không phải thế, như mong muốn trốn chạy khỏi một thế giới lộn xộn, tàn ác và trên hết có vẻ như vô mục đích, để tới một vương quốc mà ở đó mọi thứ đều hài hòa, sáng tỏ, dễ hiểu, cố leo lên hướng tới một đỉnh cao hoàn hảo nào đó, khả dĩ thỏa mãn mọi đòi hỏi của “lí trí”, hoặc để đi vào một cảm xúc thẩm mĩ, hay một xung động siêu hình hay nôi khát khao tôn giáo; trên hết cả, để tới một nơi không thứ gì có thể là đối tượng phê phán hay than phiền hay lên án hay tuyệt vọng.
Sự việc trở nên nghiêm trọng hơn, khi những luận cứ thường nghiệm bị thúc đẩy nhằm tới tất định luận lịch sử, vốn loại trừ ý niệm về trách nhiệm cá nhân. Ở đây không phải chúng ta đang xử lí với siêu hình học hay lịch sử nữa - những biện thân luận của Schelling hay của Toynbee chẳng hạn - như những vật thay thế hiển nhiên cho thần học. Chúng ta đang có trước mặt những lí thuyết xã hội học vĩ đại về lịch sử - những diễn giải duy vật luận hay khoa học, vốn khởi đầu từ Montesquieu và nhóm philosophes, rồi dẫn đến những trường phái lớn ở thế kỉ 19, từ những môn đồ của SaintSimon hay Hegel đến những người đi theo Comte, Marx, Darwin và các nhà kinh tế theo trường phái tự do; từ Freud, Pareto và Sorel đến những kẻ theo ý thức hệ chủ nghĩa phát xít. Có nhiều người táo bạo nhất và trí tuệ nhất trong số những người theo chủ nghĩa Marx, thế nhưng những người thực hành chủ nghĩa Marx đã không thành công trong toan tính dũng cảm và mạnh mẽ nhằm biến lịch sử thành môn khoa học, xét qua phần lớn những gì họ bổ sung vào sự hiểu biết của chúng ta. Nổi lên từ phong trào vĩ đại ấy, chúng ta có được sự sinh sôi nảy nở rộng khắp các nghiên cứu nhân học và xã hội học về các xã hội văn minh, với khuynh hướng truy nguyên mọi tính cách và hành vi đưa về cùng một loại những nguyên nhân tương đối phi lí tính và vô thức, vốn được dùng để giải thích khá thành công hành vi của các xã hội nguyên thủy; chúng ta đã chứng kiến sự tái sinh của ý niệm “xã hội học về tri thức”, là ý niệm cho rằng không phải chỉ có các phương pháp, mà cả các kết luận và lí lẽ của chúng ta để tin vào chúng trong toàn bộ vương quốc của tri thức, có thể được chứng tỏ bị tất định hoàn toàn hay phần nhiều bởi giai đoạn đạt tới trong sự phát triển của giai cấp hay nhóm người, hay quốc gia hay nền văn hóa, hay của bất cứ đơn vị tổ chức nào đó khác được chọn lựa; vào thời điểm thích hợp, bằng sự tổng hợp những học thuyết ấy đôi khi không thuyết phục, nhưng thường ít nhất cũng có vẻ khoa học, với những điều tưởng tượng phi-thường nghiệm như thế - đôi khi đủ mọi thứ ngoại trừ những sức mạnh được nhân cách hóa cả tốt lẫn xấu - như là “tinh thần tập thể”, hay “Huyền thoại thế kỉ 20”, hay “sự sụp đổ các giá trị đương đại” (đôi khi được gọi là “cuộc khủng hoảng lòng tin ), hay “con người hiện đại”, hay “giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa tư bản”.
Tất cả những kiểu cách phát biểu ấy lan tràn trong không khí với những thực thể có sức mạnhvĩ đại, những tinh thần Tân Plato và Ngộ đạo, thiên thần và ác quỷ vốn vẫn chơi đùa với chúng ta như chúng sẽ còn làm thế, hay ít nhất cũng đưa ra những đòi hỏi với chúng ta mà chúng ta đang bỏ qua, tự gây nguy hiểm cho mình, chúng ta được bảo thế. Một huyền thoại giả-xã hội học đã lớn lên trong thời hiện đại của chúng ta, nó phát triển trong bộ áo của các khái niệm khoa học thành một thuyết vật linh mới - chắc chắn là một tôn giáo thô thiển và ngờ nghệch hơn những đức tin truyền thống của châu Âu mà nó muốn thay thế109. Sự thờ cúng mới mẻ này gây rắc rối cho những người đặt những câu hỏi như “Liệu chiến tranh có là chuyện không thể tránh khỏi hay không?” hoặc “Liệu chủ nghĩa tập thể có nhất định chiến thắng hay không?”, hay “Liệu nền văn minh có nhất định phải tiêu vong hay không?”. Những câu hỏi này và giọng điệu chúng được phát biểu ra, cũng như cách thức chúng được thảo luận, hàm ý một niềm tin vào sự hiện diện huyền bí của những thực thể khách quan bao la - những cuộc chiến tranh, chủ nghĩa tập thể, số mệnh - những tác động và những sức mạnh rộng lớn trên thế giới mà chúng ta chẳng có được bao nhiêu sức mạnh để kiểm soát hay làm chúng chệch hướng. Đôi khi những thứ này được nói ra như “tự hiện thân” trong những vĩ nhân, những nhân vật khổng lồ, vì họ thống nhất với thời đại của mình nên đạt được những kết quả siêu nhân - Napoleon, Bismarck, Lenin; đôi khi [“tự hiện thân”] trong những hành động của các giai cấp - những nhà tư bản lớn phối hợp với nhau hoạt động cho những cứu cánh mà bản thân các thành viên của họ khó mà hiểu nổi, những cứu cánh mà vị trí kinh tế và xã hội của họ “tất yếu” lôi cuốn họ hướng tới; đôi khi [“tự hiện thân”] trong những thực thể khổng lồ còn phôi thai được gọi là “quần chúng”, là những thực thể làm nên lịch sử mà ít biết rằng chính họ là những “cỗ xe sáng tạo” có sức mạnh thật vĩ đại đến thế nào. Các cuộc chiến tranh, các cuộc cách mạng, các nền chuyên chế, những cải cách quân sự và kinh tế, dễ dàng được quan niệm giống như các vị thần trong truyện ma quỷ phương đông nào đó, những vị thần vốn bị nhốt trong chai hàng thế kỉ, một khi được thoát khỏi đó sẽ trở nên không thể kiểm soát, và chơi đùa với cuộc sống của con người và các quốc gia một cách đỏng đảnh thất thường. Có lẽ chẳng đáng ngạc nhiên khi thấy rằng với sự gia tăng thật xa hoa của những so sánh và ẩn dụ, thì nhiều người ngây thơ từ nay có khuynh hướng tin rằng cuộc đời của họ bị thống trị không đơn thuần bởi những yếu tố vật chất tương đối ổn định và dễ dàng nhận dạng - có bản chất vật lí và có các định luật chi phối chúng bằng các khoa học tự nhiên; mà bởi những yếu tố thậm chí còn hùng mạnh và hiểm ác hơn và rất khó hiểu được - những cuộc tranh đấu khách quan của các giai cấp mà các thanh viên của chúng có thể không hề mưu tính, sự xung đột của các lực lượng xã hội, những tác động của thời kì suy thoái hay bùng nổ giống như thủy triều hay vụ mùa gặt hái mà những người sống phụ thuộc vào chúng khó có thể kiểm soát được, - trên hết là bởi những khuôn mẫu có tính “xã hội” và “hành vi”, viện dẫn đến chỉ một ít từ thiêng liêng lấy trong hệ thống từ vựng man rợ của những huyền thoại mới.
Bị hoảng sợ và bị làm nhục bởi sự phô bày của những tính thần thánh mới, người ta tha thiết và lo lắng tìm kiếm tri thức và sự an ủi trong những cuốn sách thiêng và trong những dòng tu mới đang làm bộ nói với họ về những thuộc tính và thói quen của những ông chủ mới. Và những cuốn sách cũng như những kẻ giải thích chúng quả có nói những lời an ủi: cầu tạo ra cung. Những thông điệp của họ đơn giản và rất xưa cũ. Trong một thế giới vốn là nơi những con quỷ đụng độ nhau, thì những con người cá biệt có thể ít phải chịu trách nhiệm về những gì họ làm; việc phát hiện ra những sức mạnh khách quan mới mẻ, gây kinh hoàng có thể khiến cho cuộc sống trở nên nguy hiểm vô cùng, thế nhưng nếu chúng không phục vụ cho mục đích nào khác, thì ít nhất chúng cũng cởi bỏ mọi trách nhiệm cho các nạn nhân của chúng - thoát khỏi tất cả những gánh nặng đạo đức mà con người vào những thời buổi ít khai sáng hơn vẫn thường mang theo với nỗ lực và đau khổ. Vậy là những gì chúng ta mất đi trong những chao đảo thì chúng ta tạo nên cái bù lại cho cân bằng: nếu chúng ta mất đi quyền tự do lựa chọn, thì ít nhất chúng ta sẽ không còn phải chê trách hay bị chê trách vì một thế giới phần nhiều ở ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Thuật ngữ ca ngợi và chê trách hóa ra tự thân chúng (eo ipso) trở thành không văn minh và làm ngu dân. Ghi nhận lại những gì xảy ra và tại sao, trong những biên niên sử khách quan, như các thầy tu không thiên kiến và thật cẩn trọng đã thực hiện vào những thời kì khác của bạo lực và xung đột, được trình bày như đáng vinh danh và trang nghiêm hơn, và phù hợp hơn với tính khiêm nhường cao quý và tính chính trực của nhà học giả, trong một thời buổi hoài nghi và khủng hoảng, vẫn giữ được tâm hồn của mình, nếu ông ta khước từ con đường dễ dãi tự nuông chiều theo các tình cảm đạo đức. Những hoài nghi khắc khoải về cư xử của các cá nhân bị mắc kẹt trong những cuộc khủng hoảng lịch sử, rồi cảm xúc hi vọng và tuyệt vọng, tội lỗi, hãnh diện và ân hận vốn đồng hành với những phản ánh như thế, được trút bỏ khỏi chúng ta; giống như các binh sĩ trong đạo quân bị dồn ép bởi những lực lượng quá mạnh không thể kháng cự, chúng ta mất đi chứng loạn thần kinh nảy sinh từ nỗi sợ hãi phải chọn lựa những phương án khác nhau. Ở đâu không có lựa chọn, ở đó không có nỗi lo âu; và cả niềm hạnh phúc sinh ra từ trách nhiệm. Một số người luôn luôn ưu tiên cho sự thanh bình của việc ở tù, một sự an toàn mãn nguyện, một cảm nhận có được một chỗ thích đáng rốt cuộc đã tìm thấy ở trong vũ trụ, hơn là những xung đột đau đớn và những bối rối của tự do vô trật tự ở một thế giới bên ngoài những bức tường [của nhà tù].
Nhưng điều này thật kì cục. Vì những giả định mà dựa vào đó loại tất định luận này vốn được dựng lên, [những giả định ấy] là hết sức không đáng tin cậy khi được khảo sát. Những sức mạnh ấy và những định luật lịch sử không thể lay chuyển ấy là cái gì vậy? Nhà nghiên cứu phương pháp lịch sử nào, nhà xã hội học nào, có thể tự cho là đã đưa ra được những khái quát hóa mang tính thường nghiệm khả dĩ so sánh được với tính đồng đều lớn của các khoa học tự nhiên? Thật tầm thường sáo rỗng khi nói rằng môn xã hội học còn đang chờ một Newton của nó, nhưng ngay cả điều này cũng là một tuyên bố quá táo tợn; vẫn còn phải tìm ra được Euclid của nó và Archimedes của nó trước khi có thể bắt đầu mơ đến một Copernicus. Một bên là việc tích góp lại thật kiên nhẫn và hữu ích các sự kiện và các phân tích, phép phân loại, những nghiên cứu mang tính so sánh hữu ích, những giả thuyết cẩn trọng và giới hạn, nhưng vẫn còn bị què quặt bởi quá nhiều những ngoại lệ nên chẳng có được chút sức mạnh tiên đoán đáng kể nào110; còn bên kia là áp đặt những tòa nhà lí thuyết đôi khi thật tài tình, được che mờ bởi những an dụ sinh động khác thường và một huyền thoại táo bạo, thường gây kích thích cho những người làm việc ở các lĩnh vực khác; và giữa những thứ đó là một khoảng trống gián đoạn rộng lớn chưa từng thấy trong những thời đại có lịch sử, giữa những lí thuyết và bằng chứng thực sự của các khoa học tự nhiên. Thật là chuyện vô công rồi nghề đối với môn xã hội học, nếu cứ biện bạch rằng mình hãy còn trẻ và có một tương lai đầy vinh quang. Nhân vật chính được vinh danh mà những lời này được phát biểu để tưởng niệm, Auguste Comte, đã sáng lập ra nó tròn một trăm năm trước đây, và những cuộc chinh phục vĩ đại có-khả-năng-thiết-lập-các- định- luật (nomothetic) vẫn còn đang được trông đợi sẽ đến111. Nó đã tác động đến các bộ môn khác rất có kết quả, đặc biệt là môn lịch sử; nó đã bổ sung cho môn này thêm một chiều kích112; thế nhưng nó vẫn còn thật ít thành công trong việc khám phá các định luật, hay các khái quát hóa rộng rãi được nâng đỡ bởi bằng chứng thỏa đáng, cho nên lời cầu xin của nó được đối xử như một môn khoa học tự nhiên khó có thể được vui lòng xem xét, mà những định luật nghèo nàn ít ỏi ấy cũng không đủ có tính cách mạng để khiến cho việc thử thách tính chân lí của chúng có vẻ là cấp thiết. Trong lĩnh vực rộng lớn và phong phú của môn xã hội học (không giống như cô em gái trẻ hơn của nó mang tính suy đoán nhiều hơn nhưng lại hiệu quả hơn nhiều, ấy là môn tâm lí học) những khái quát hóa lỏng lẻo của các đầu óc được rèn luyện về lịch sử hình như lại có kết quả nhiều hơn so với những thứ tương đương với chúng mang tính “khoa học”.
Tất định luận xã hội, ít nhất cũng về mặt lịch sử, gắn bó chặt chẽ với những lí tưởng “có khả năng thiết lập các định luật” của môn xã hội học. Và quả thực nó có thể là một học thuyết đúng đắn. Thế nhưng nếu nó là đúng, và nếu chúng ta bắt đầu xem nó thật nghiêm chỉnh, khi nó quả thực những thay đổi ngôn ngữ của chúng ta trong tổng thể, thuật ngữ đạo đức của chúng ta, những thái độ của chúng ta đối với nhau, những quan điểm của chúng ta về lịch sử, về xã hội và về mọi thứ khác, [những thay đổi ấy] sẽ quá sâu sắc đến mức thậm chí không thể phác họa được. Những khái niệm về ca ngợi hay chê trách, vô tội và có tội, cũng như trách nhiệm cá nhân mà chúng ta khởi đầu từ đó, sẽ chỉ là một phần tử nhỏ bé trong cái cấu trúc có thể sẽ sụp đổ hay biến mất. Nếu giả sử tất định luận xã hội và tâm lí được thiết lập như một chân lí được chấp nhận, thì thế giới của chúng ta hẳn sẽ bị biến cải một cách căn bản hơn là cái thế giới thần học của những thời cổ đại và trung cổ [bị biến cải] bởi những chiến thắng của các nguyên lí cơ học hay các nguyên lí chọn lọc tự nhiên. Lời nói của chúng ta - những kiểu cách phát biểu và tư duy của chúng ta - hẳn sẽ bị biến cải theo những cung cách không thể hình dung được trong nghĩa đen; những ý niệm về lựa chọn, về trách nhiệm, về tự do đã ăn sâu vào thế giới quan của chúng ta, đến nỗi cuộc sống med của chúng ta như những sinh linh trên thế giới không có sẵn những khái niệm ấy, tôi dám khẳng định, chỉ có thể được chúng ta quan niệm với khó khăn cực lớn.
Thế nhưng ở đây vẫn chưa cần phải tự báo động cho chúng ta quá mức. Chúng ta đang nói về những lí tưởng giả-khoa học mà thôi; hiện thực chưa được xét đến. Bằng chứng cho một tất định luận xuyên suốt còn chưa có trong tay; và nếu như có một khuynh hướng dai dẳng tin vào nó theo một kiểu cách lí thuyết nào đó, thì chắc hẳn đó là do sức cám dỗ của một lí tưởng “khoa học” hay siêu hình, hay là do khuynh hướng của một bộ phận những người khao khát thay đổi xã hội tin rằng số tử vi theo hướng của họ đang phù hộ cho họ. Hoặc có thể là do một khao khát trút bỏ những gánh nặng đạo đức, hay tối thiểu hóa trách nhiệm cá nhân và chuyển nó sang những sức mạnh khách quan, là thứ có thể bị kết tội gây ra tất cả những bất mãn của chúng ta, còn hơn là phải gia tăng đôi chút sức mạnh tư duy phê phán của chúng ta hay cải thiện những kĩ năng khoa học của chúng ta. Lòng tin vào tất định luận lịch sử kiểu này tất nhiên lan truyền rất rộng, đặc biệt là thứ mà tôi muốn gọi là hình thức “triết sử” (historiosophical) của nó, bằng từ này tôi có ý nói đến những lí thuyết siêu hình-thần học về lịch sử, là thứ hấp dẫn nhiều người đã mất niềm tin của mình vào những tôn giáo chính thống xưa cũ hơn. Có lẽ thái độ này, mới đây khá thịnh hành, giờ đây đang tàn tạ, và một xu hướng ngược lại hiện nay đã có thể nhận thấy. Những nhà sử học ưu tú nhất của chúng ta sử dụng những phép thử mang tính thường nghiệm trong việc sàng lọc các sự kiện, tiến hành những khảo sát vi mô về bằng chứng, chang suy diễn ra được khuôn mẫu nào, và chứng tỏ rằng chẳng có nỗi e sợ giả mạo nào trong việc quy trách nhiệm cho các cá nhân. Những quy kết đặc thù của họ và những phân tích có thể sai lầm, nhưng cả họ lẫn những độc giả của họ hẳn đã bác bỏ một cách chính đáng ý niệm cho rằng chính hoạt động của họ đã bị thay thế và bị mất tác dụng bởi sự tiến bộ của môn xã hội học, hay bởi một sự thấu hiểu siêu hình sâu sắc hơn nào đó, giống như thuật chiêm tinh phương Đông [bị thay thế và bị mất tác dụng] bởi những khám phá của các môn đồ của Kepler.113
Theo một cách thức riêng khá kì cục, một số nhà hiện sinh hiện đại cũng chỉ ra tầm quan trọng cốt yếu của hành động cá nhân lựa chọn. Một số trong những người này lên án tất cả các hệ thống triết học và tất cả các học thuyết về đạo đức (cũng như về các chuyện khác) là trống rỗng như nhau đơn giản vì chúng là các hệ thống và các học thuyết, sự lên án ấy có thể không có giá trị; thế nhưng những người nghiêm chỉnh hơn trong số họ cũng nhất quán không kém Kant về tính hiện thực của sự tự trị của con người, tức là về tính hiện thực của sự tự cam kết đối với một hành động hay một hình thức của đời sống vì những gì tự thân nó là thế. Liệu sự thừa nhận tự do theo nghĩa cuối cùng này có cho người ta quyền được thuyết giảng cho những người khác, hay phán xét quá khứ, một cách logic hay không, đây là một chuyện khác; dù thế nào đi nữa, điều này cũng chứng tỏ một sức mạnh của trí tuệ đáng khen ngợi, đã nhìn thấu được kì vọng của những biện thần luận giải thích được hết, biện minh được hết, hứa hẹn đồng hóa được các khoa học nhân văn với khoa học tự nhiên nhằm tìm kiếm một sơ đồ thống nhất tất cả mọi thứ.
Cần phải có thứ gì đó còn hơn cả sự say đắm với một cương lĩnh lật đổ một số tập quán đạo đức và trí tuệ có gốc rễ ăn sâu nhất của những con người, dù họ là thợ sửa ống nước hay nhà sử học. Chúng ta được bảo rằng thật ngốc nghếch mới phán xét Charlemagne hay Napoleon hay Thành Cát Tư Hãn hay Hitler hay Stalin về những vụ tàn sát của họ, rằng nhiều nhất đó là một lời bình luận về bản thân chúng ta, chứ không phải bình luận về “những sự kiện”. Cũng như vậy, chúng ta được bảo rằng chúng ta không nên miêu tả những người mà các môn đồ của Comte ca tụng thật chân thành, như là những nhà hảo tâm của nhân loại; hoặc ít nhất thì làm chuyện này cũng không phải là việc của các nhà sử học: vì trong tư cách nhà sử học, các phạm trù của chúng ta phải “trung lập” và khác biệt với những phạm trù mà chúng ta sử dụng trong tư cách những người bình thường, giống như những nhà hóa học rõ ràng vẫn làm thế. Chúng ta cũng được bảo rằng trong tư cách nhà sử học thì nhiệm vụ của chúng ta là miêu tả, chẳng hạn như miêu tả những cuộc cách mạng xã đại của thời đại chúng ta thì không được gợi ý rằng những cá nhân nào đó bị lôi cuốn vào những cuộc cách mạng ấy không đơn thuần chỉ gây ra, mà còn phải chịu trách nhiệm về những nỗi khốn khổ và sự tàn phá to lớn - dùng những lời lẽ như thế vốn phù hợp với những chuẩn mực không phải chỉ đơn thuần của thế kỉ 20 mà nó sắp qua rồi, hay là của xã hội tư bản chủ nghĩa đang suy tàn, mà là của loài người ở mọi thời đại và mọi nơi chốn chúng ta được biết đến; rồi thì họ bảo rằng chúng ta phải thực hành những khắc khổ ấy vì tôn trọng chuẩn mực khoa học tưởng tượng nào đó, chuẩn mực ấy phân biệt sự kiện với giá trị thật gay gắt, gay gắt tới nỗi chúng ta có thể xem sự kiện như là khách quan, “không thể lay chuyển” và do đó cũng là tự biện minh được, còn giá trị chỉ đơn thuần là lời chú giải mang tính chủ quan về sự kiện - do thời điểm, môi trường, tính khí cá nhân - nên chẳng có giá trị cho sự uyên bác nghiêm chỉnh.
Đối với chuyện này chúng ta chỉ có thể đáp lại rằng chấp nhận học thuyết đó tức là dùng bạo lực đối với những ý niệm cơ bản về đạo đức của chúng ta, trình bày sai cảm nhận về quá khứ của chúng ta, và bỏ qua một số khái niệm và phạm trù thuộc loại khái quát nhất của tư duy bình thường. Những ai quan tâm đến sự nghiệp của con người buộc phải dùng những phạm trù và khái niệm mà ngôn ngữ bình thường kết hợp và bày tỏ. Các nhà hóa học, ngôn ngữ học, ngay cả xã hội học với tính thiên vị định lượng mạnh mẽ, bằng cách sử dụng những thuật ngữ trung lập về đạo đức, có the né tránh được những khái niệm ấy. Thế nhưng các nhà sử học khó có thể làm như vậy. Họ không nhất thiết phải răn dạy đạo đức - họ không bị bắt buộc phải làm: nhưng họ cũng không thể tránh được sử dụng ngôn ngữ bình thường với tất cả những liên tưởng của nó và những phạm trù đạo đức “bị gắn chặt” ở trong đó. Tìm cách né tránh điều này tức là chọn một quan điểm đạo đức khác, chứ không phải không có quan điểm đạo đức nào. Sẽ đến thời người ta thấy ngạc nhiên không hiểu làm sao mà cái quan điểm kì quặc này lại có thể đạt được danh tiếng và ảnh hưởng cũng như sự tôn trọng nhiều đến thế - ấy là quan điểm kết hợp sự hiểu sai về mối quan hệ của giá trị đối với sự kiện, cùng với thái độ vô liêm sỉ được ngụy trang như sự vô tư nghiêm ngặt. Vì nó không hề có tính khoa học, mà tiếng tăm của nó cũng không phải hoàn toàn nhờ vào nỗi e ngại đáng khen về thói ngạo mạn hay phàm tục quá mức, hoặc là về một sự áp đặt quá vô vị và thiếu phê phán những giáo điều và chuẩn mực của chính chúng ta cho người khác. Một phần là do sự hiểu lầm đích thực về những ngụ ý của các khoa học tự nhiên mà uy tín quá lớn của những khoa học ấy bị lạm tiêu bởi bọn ngu ngốc và mạo danh, kể từ khi [các khoa học tự nhiên ấy] có những chiến thắng sớm nhất. Tuy nhiên tôi thấy hình như quan điểm đó nảy sinh chủ yếu từ khao khát chối bỏ trách nhiệm của chúng ta, không muốn phán xét nữa, miễn là chính chúng ta cũng không bị phán xét, và trên hết là chúng ta không bị ép buộc phải tự phán xét mình nữa; nó nảy sinh từ khao khát bỏ trốn tìm nơi ẩn náu ở một toàn thể nào đó thật bao la, phi đạo đức, khách quan, vững chắc - thiên nhiên, hay lịch sử114, hay giai cấp, hay chủng tộc, hay “những hiện thực tàn nhẫn của thời đại chúng ta”, hay sự tiến hóa không thể kháng cự của cấu trúc xã hội115 - là thứ sẽ sáp nhập và hợp nhất chúng ta vào kết cấu vô hạn, vô cảm, trung lập của nó, là thứ thật vô nghĩa để đánh giá hay phê phán và là thứ chúng ta chiến đấu chống lại cho đến ngày tận thế của chúng ta.
Đây là hình ảnh thường xuất hiện trong lịch sử loài người, bao giờ cũng vào những thời điểm lộn xộn và yếu đuối nội tâm. Đây là một trong những bằng chứng ngoại phạm vĩ đại, được biện hộ bởi những người không thể hay không muốn đối diện với thực tế trách nhiệm của con người, với sự tồn tại của một không gian giới hạn, nhưng dù sao cũng hiện thực, của tự do của con người, hoặc là xù họ đã bị tổn thương hay bị sợ hãi quá sâu sắc, nên không còn muốn quay trở lại với sự lưu thông của cuộc sống bình thường, hoặc là vì họ tràn đầy phẫn nộ chống lại những giá trị trá ngụy và những tập quán đạo đức đáng ghê tởm ở xã hội, hay ở giai cấp, hay ở giới nghề nghiệp của chính họ, và cầm lấy vũ khí đứng lên chống lại mọi tập quán đạo đức như tự thân chúng là thế, như là phương tiện đàng hoàng để ném đi một nền đạo đức ghê tởm (rất có thể là biện bạch được) đối với họ. Mặc dù vậy, những quan điểm như thế, dẫu có thể nảy sinh từ một phản ứng tự. nhiên chống lại tình trạng quá nhiều lời hùng hồn đạo đức, thì cũng vẫn là một phương thuốc tuyệt vọng; những người giữ các quan điểm này sử dụng lịch sử như một phương pháp trốn chạy khỏi một thế giới, vì lí do nào đó, đã trở nên bỉ ổi đối với họ, để đi vào một hoang tưởng mà ở đó những thực thể khách quan trả thù lại những nỗi bất bình và xếp đặt lại mọi thứ cho đúng, gây bối rối ít nhiều cho những kẻ truy bức họ, hiện thực hay tưởng tượng. Và theo chiều hướng đó họ miêu tả cuộc sống bình thường của con người ta dưới dạng thức không ghi nhận được những điểm phân biệt tâm lí và đạo đức quan trọng nhất mà chúng ta đã biết. Họ làm chuyện này nhằm phục vụ cho một khoa học tưởng tượng; và giống như những nhà chiêm tinh và nhà tiên tri mà họ kế tục, hướng đôi mắt của họ lên những đám mây, và phát biểu trong những hình ảnh và so sánh bao la, không có thực thể, trong những ẩn dụ và phúng dụ lừa dối sâu sắc, đưa ra công thức mang tính thôi miên ít liên hệ với trải nghiệm, hay luận cứ hợp lí, hay thử nghiệm chứng minh tính đáng tin cậy. Bằng cách đó họ tung bụi vào chính mắt họ cũng như vào mắt chúng ta, cản trở chúng ta nhìn thấy thế giới thực, và gây nhầm lẫn nhiều hơn nữa cho một công chúng vốn đã đủ bối rối về những mối quan hệ của đạo đức và chính trị, và về bản chất và các phương pháp của các khoa học tự nhiên cũng như của các nghiên cứu lịch sử.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
