[VIDEO] Tại sao phải hành động theo nguyên tắc?

[VIDEO] Tại sao phải hành động theo nguyên tắc?

Người dẫn chương trình (MC): Xin chào các bạn. Chào mừng đến với diễn đàn Ford Hall. Tối nay, chúng ta đến với một diễn đàn truyền thống tại Ford Hall, một tổ chức hoạt động với các thông lệ sau: thông lệ thứ nhất, chúng tôi luôn dành một khoảng thời gian để các bạn - các khán giả có thể đặt câu hỏi cho diễn giả của chúng ta. Một thông lệ khác, chúng tôi luôn miễn phí đối với công chúng, và điều này dẫn đến thông lệ thứ ba, đó là, chúng tôi dựa vào sự quyên góp của các thành viên và bạn bè để có thể giữ các chương trình như thế này được tiếp tục như chúng đã tồn tại trong suốt 80 năm qua. Vậy nên, nếu bạn là thành viên (tôi biết nhiều người trong số các bạn đã là thành viên), tôi xin chân thành cảm ơn các bạn, và nếu bạn chưa phải là thành viên, tôi hy vọng các bạn sẽ cân nhắc tham gia hoặc chí ít có thể nhiệt tình quyên góp khi các bạn rời đi.

Nhiều năm qua, hàng năm, Ayn Rand đã phát biểu tại diễn đàn, thu hút một lượng khán giả đông đảo hơn bao giờ hết và sau đó, nó trở thành nơi diễn thuyết duy nhất trong năm của bà. Trong sáu năm qua, truyền thống đó đã được tiếp tục bởi Tiến sĩ Leonard Peikoff.

Cách đây một khoảng thời gian, vào năm 1951, Leonard Peikoff đã thực hiện một chuyến đi đến California và nó đã thay đổi cuộc đời của ông. Thông qua một người bạn quen biết với Ayn Rand, ông được mời đến nhà của Rand- một tiểu thuyết gia và một triết gia về Chủ nghĩa Khách quan. Từ đó, họ bắt đầu một tình bạn và ông trở thành cộng sự cho đến khi Rand qua đời vào năm 1982. Tiến sĩ Peikoff được Rand chọn làm người thừa kế hợp pháp về tài sản và tri thức của bà. Tiến sĩ Peikoff đã từng là giáo sư triết học tại nhiều trường cao đẳng, đại học và ông diễn thuyết nhiều nơi trên toàn quốc cũng như thường xuyên đến với diễn đàn Ford Hall. Hiện tại, Tiến sĩ Peikoff đang hoàn thành một tác phẩm mang tính hệ thống về triết lý của Ayn Rand mà ông hy vọng có thể xuất bản vào khoảng thời gian này năm sau. [Vỗ tay]. Cuốn sách tiếp theo ông sẽ xuất bản có tên là The Voice of Reason: Essays in Objectivist Thought2 , sẽ ra mắt vào khoảng Giáng sinh, là một tuyển tập gồm 30 tác phẩm: 10 trong số đó là từ các bài giảng trước đây tại diễn đàn Ford Hall (5 của Ayn Rand và 5 của Leonard Peikoff). Tôi hân hạnh được giới thiệu với các bạn, diễn giả tối nay Leonard Peikoff (L.P).

L.P: Xin chân thành cảm ơn. Xin chào các bạn.

Ngày nay, không có câu nói vô vị nào phổ biến hơn câu: chúng ta đang sống trong một thế giới “phức tạp”. Bất kể chủ đề của cuộc thảo luận là gì, nhận định này thường được đưa ra ngay từ đầu như một câu thần chú ma thuật và như một loại thuốc hướng thần 3 . Tác dụng của nó không phải truyền cảm hứng cho con người tư duy mà gây ra cảm giác bất lực, mệt mỏi, tuyệt vọng. Nó được sử dụng không phải để giải quyết vấn đề mà để quả quyết trước với mọi người rằng không có giải pháp nào cả. Trong quá khứ thì khác, trước đây, chúng ta có thể tìm ra câu trả lời rõ ràng cho vấn đề của mình và biết phải làm gì, còn các nhà lãnh đạo và phát ngôn viên văn hóa của chúng ta không còn cho rằng như vậy nữa. Cuộc sống bây giờ quá phức tạp - đây là câu nói đáng sợ, câu trả lời đơn giản. Bản thân từ “đơn giản” trở thành cơ sở của một sự chỉ trích kiểu mới, được bao hàm trong thuật ngữ ngày nay “đơn giản hóa”. Khi tôi tranh luận với mọi người, tôi nghe thấy tất cả các loại công kích từ họ vì những quan điểm theo Chủ nghĩa Khách quan của tôi. Tôi ích kỷ, thiếu thực tế, quá duy tâm, vô thần, v.v. Nhưng sự công kích phổ biến nhất cho đến nay là: Anh đang đơn giản hóa vấn đề.

Đơn giản hóa không giống như quá đơn giản. Nếu bạn cáo buộc ai đó quá đơn giản, bạn ngụ ý rằng đơn giản cũng tốt thôi, nhưng họ phải làm một cách hợp lý, không được bỏ sót những yếu tố quan trọng. Nếu ai đó cáo buộc tôi quá đơn giản, tôi sẽ trả lời: hãy cho tôi biết tôi đã bỏ sót điều gì. Tuy nhiên, “đơn giản hóa” theo nghĩa hiện nay truyền tải quan điểm rằng không chỉ đơn thuần là vấn đề về một yếu tố nào đó bị bỏ sót mà còn ngụ ý rằng cái đơn giản, sự đơn giản như vậy là khờ khạo, không thực tế, nguy hiểm. Thuật ngữ này là một sự phản khái niệm nhằm gieo rắc vào tâm trí chúng ta ý niệm như thế này: bạn đơn giản điều gì đó và thực tế là bạn đã sai lầm, bóp méo, làm sai. Điều này rốt cuộc là sự đơn giản hóa trong lập pháp không còn tồn tại. Tôi gọi thái độ này là “tôn thờ sự phức tạp” và ngày nay, nó hiện diện ở khắp mọi nơi.

Theo cách hiểu thông thường, chúng ta nên đối phó với mọi tình huống phức tạp mà chúng ta gặp phải như thế nào? Câu trả lời ẩn ngầm trong thực tiễn ngày nay là: bằng sự phân rẽ. Nói cách khác, hãy chia nhỏ vấn đề phức tạp ban đầu thành nhiều phần, sau đó loại bỏ ngay hầu hết các vấn đề phức tạp nhất có thể xem xét, sau đó loại bỏ thêm, tiếp tục loại bỏ các khía cạnh cho đến khi cuối cùng bạn có được một điều cụ thể được thu hẹp còn lại trên bàn để tranh luận. Ví dụ cụ thể, giả sử những doanh nhân người Mỹ không hài lòng về doanh số bán hàng của người Nhật Bản ở Mỹ, điều này làm họ cảm thấy doanh số của mình bị giảm, vì vậy, họ đến gặp chính phủ để yêu cầu hỗ trợ. Tất nhiên, nếu họ đến và hỏi tôi, tôi sẽ nói rằng: Trước tiên, bạn phải quyết định xem bạn ủng hộ nguyên tắc tự do thương mại hay nguyên tắc bảo hộ mậu dịch. Và sau đó, tôi sẽ đưa ra bằng chứng về những điều tai hại của bảo hộ mậu dịch, tại sao nó sẽ gây hại cho mọi người về lâu dài, bao gồm cả các doanh nhân Mỹ, và tại sao nguyên tắc tự do thương mại cuối cùng sẽ mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Như vậy, sẽ kết thúc tình thế tiến thoái lưỡng nan, và những người yêu cầu thuế nhập khẩu sẽ được giải tán. Nhưng hiện nay, kiểu phân tích này sẽ bị loại trừ bởi bất kỳ ủy ban quốc hội nào hoặc bất kỳ hội đồng học thuật nào nghiên cứu về các vấn đề kinh tế. Họ sẽ nói rằng chúng ta không thể đơn giản hóa, và bàn về những vấn đề chung chung như thương mại tự do hay chủ nghĩa bảo hộ. Họ sẽ hỏi chúng ta phải làm thế nào để có thể đưa ra những phát biểu mang tính bao quát ở cấp độ này, liên quan đến mọi quốc gia, mọi sản phẩm, mọi nhóm người tiêu dùng, nhà sản xuất, và mọi thời đại lịch sử. Cuộc sống quá phức tạp để làm điều đó. À, lúc này chúng ta phải làm gì khi đối mặt với sự phức tạp như vậy? Về cơ bản, câu trả lời là chúng ta phải thu hẹp sự trọng điểm của mình một cách đáng kể. Chúng ta không được nói về thương mại tự do nói chung mà là thương mại tự do với Nhật Bản, và tất nhiên không phải toàn bộ ngành công nghiệp của Nhật Bản, mà chỉ riêng ô tô của Nhật Bản, chúng ta sẽ phải để lại máy tính và tivi cho một ủy ban khác gánh vác. Và, chúng ta sẽ phải bỏ xe tải ra vì chúng có quá nhiều yếu tố mới phức tạp, chỉ quan đến những chiếc ô tô đơn giản thôi là đủ rồi. Nhưng, có lẽ chúng ta nên bao gồm thêm xe bán tải nhỏ, vì chúng gần giống với ô tô. Hãy đưa điều đó ra cho một phân ban để nghiên cứu riêng, và tất nhiên ở đây chúng ta sẽ không đề cập về vấn đề này mãi mãi hay thậm chí là mười năm. Chúng ta sẽ giới hạn bản thân trong một năm, chẳng hạn, hoặc thậm chí chỉ trong mùa này, và chúng ta sẽ xét lại vấn đề ở kỳ tiếp theo. Cuối cùng, câu hỏi đang được tranh luận không phải là: Chúng ta có nên áp dụng chính sách tự do thương mại với nước ngoài hay không? mà đúng hơn, chúng ta có nên đánh thuế nhập khẩu 30% đối với một số loại Toyotas và Datsuns nào đó trong sáu tháng tới không?4

Ngày nay, người ta nói với chúng ta rằng không được đơn giản hóa vấn đề. Thật không may, nó cũng không phải là lời giải đáp hợp lý. Làm thế nào để người ta quyết định phải làm gì trong trường hợp này, một khi họ đã tuôn ra lời hô hào các nguyên-tắc là khờ dại? Câu trả lời là: Bạn tổ chức các phiên điều trần, và tất cả những người vận động hành lang liên quan la hét, hoặc mua chuộc, hoặc đe dọa hoặc nếu không thì họ thực hiện những chiêu trò, và mọi người đưa ra những thỏa hiệp trái ngược nhau. Những người Toyota nói rằng 30% là không công bằng, nhưng nếu chúng ta cắt giảm xuống còn 20%, họ sẽ “tự nguyện” bán ít hơn ở Mỹ. Trong khi đó những người Chrysler5 khăng khăng rằng như vậy vẫn chưa đủ, họ có thể trả lương cho công nhân của mình nhiều hơn nếu Toyota thực sự bị đè bẹp, vậy nên, các liên đoàn lao động lao vào cuộc đàn áp Toyota. Trong khi đó, các nhóm người tiêu dùng bận rộn đòi hỏi ngày càng nhiều những chiếc xe hơi rẻ hơn của Nhật Bản. Cuối cùng, điều gì xuất hiện sau tất cả? Một số thỏa thuận mang tính thời điểm, một sự hạn chế vừa phải đối với Nhật Bản, được phản hồi bằng hành động trả đũa mới của Nhật Bản đối với chúng ta, một khoản trợ cấp mới của chính phủ cho Detroit, một cơ quan môi giới mới để giúp người tiêu dùng, tài trợ cho các khoản vay ô tô, thâm hụt ngân sách nhiều hơn một chút và một ủy ban khác xem xét lại toàn bộ tình hình vào tháng tới hoặc một năm tới. Rốt cuộc, không có chính sách nào mà chúng ta nói được thiết lập. Không có điều gì là tuyệt đối. Chúng ta phải linh hoạt, trải nghiệm. Thử xem.

Xét về mặt triết học, đây là cái được gọi là chủ nghĩa thực dụng. Trong cách tiếp cận này, không có nguyên tắc nào cả, như thương mại tự do hay bảo hộ mậu dịch, chỉ có những điều cụ thể như Toyota hay Chrysler, và những nhóm người tranh giành chúng với những mong muốn trái ngược nhau. Vì vậy, giải pháp duy nhất là tìm một kế sách tạm thời nào đó có thể xoa dịu những kẻ la hét ầm ĩ nhất trong thời điểm này. Và sau đó, chờ đợi cho đến khi toàn bộ mớ lộn xộn bùng phát trở lại. Không có gì lạ khi những người áp dụng phương pháp này tin rằng cuộc sống rất phức tạp và không có câu trả lời cho bất kỳ vấn đề nào. [Vỗ tay]. Nhưng nghịch lý là họ sử dụng phương pháp này bởi vì, họ khẳng định, cuộc sống quá phức tạp để chúng ta dựa vào các nguyên tắc.

Bây giờ, một tư tưởng triết học nào đó, những vấn đề cơ bản nào đó rõ ràng chính là ở đây. Cuộc sống có phức tạp không? Nếu vậy, con người có lý trí như một phương tiện chống lại sự thực dụng và đối phó với sự phức tạp của nó không? Nếu vậy, các nhà lãnh đạo của chúng ta có thất bại nặng nề như họ đã làm bởi vì họ đang từ chối các phương tiện đúng đắn của con người để đối phó với sự phức tạp không? Câu trả lời của tôi cho tất cả những câu hỏi này là ‘chắc chắn Có’.

Luận điểm của tôi tối hôm nay là: Cuộc sống phức tạp, vô cùng phức tạp, nhưng con người có khả năng khái niệm, có khả năng hình thành các nguyên tắc, đó là vũ khí đặc biệt của con người để đương đầu với sự phức tạp. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo của chúng ta, vì trải qua nhiều thế kỷ triết học tồi tệ nên đã nghi ngờ và từ chối khả năng này, và do đó, bất lực trong việc lãnh đạo hoặc không biết phải làm gì.

Bây giờ, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách xác định sự phức tạp. Về bản chất, phức tạp là một ý niệm mang tính định lượng, sự phức tạp bao gồm nhiều yếu tố hoặc đơn vị được gắn với nhau hoặc có liên quan với nhau. Ngược lại, sự đơn giản liên quan đến một hoặc nhiều nhất là một vài yếu tố hoặc một vài đơn vị. Ví dụ, nếu các viên chức của diễn đàn Ford Hall muốn thu hút một lượng đông đảo khán giả, họ phải gỡ rối và vật lộn với nhiều vấn đề khác nhau: họ nên mời ai? Anh ta có cần phải nổi tiếng không? Anh ta nên nói cái gì? Liệu anh ta có đồng ý không? Liệu anh ta có thể tóm gọn bài nói của mình trong vòng 50 phút không? Anh ta phù hợp với phần chương trình còn lại trong năm như thế nào? v.v Lúc này, chúng ta có thể nói đây là một vấn đề tương đối phức tạp. Ngược lại, nếu khán giả ở đây ồn ào trước cửa vào buổi diễn thuyết, và ai đó bên trong nói: chúng ta phải làm gì bây giờ? Thì đây là một vấn đề đơn giản, giải pháp là mở cửa ra và cho mọi người vào. Ở đây, chúng ta không có sự phức tạp, không có sự rắc rối mà chỉ có một yếu tố cần giải quyết.

Bây giờ, điều đầu tiên cần lưu ý là cuộc sống con người vốn dĩ phức tạp. Trái ngược với tất cả những lời tuyên truyền mà chúng ta nghe thấy, đây không phải là một vấn đề hiện đại khác biệt. Nó không phải là kết quả của cuộc Cách mạng Công nghiệp hay sự gia tăng dân số, hay sự kiện truyền thông thế giới. Tất cả những sự phát triển này đã mang đến những yếu tố mới nhất định vào phương trình cuộc sống của chúng ta, nhưng chúng cũng đã loại bỏ những vấn đề và khó khăn theo nhiều cách, đưa chúng ta vào nhiều bối cảnh ít đơn vị hơn để tư duy hoặc lo lắng, làm cho cuộc sống trở nên đơn giản hơn. Hãy so sánh, chẳng hạn việc ăn uống ngày nay được đơn giản hóa hoàn toàn bằng một chuyến đi đến siêu thị để mua thực phẩm đông lạnh nào đó so với tình trạng thời trung cổ. Hãy nghĩ xem có bao nhiêu vấn đề, những câu hỏi khác nhau, và những nhiệm vụ riêng biệt liên quan đến thời đại dành cho việc bạn chỉ đơn thuần có một bữa tối đầy đủ trên bàn để ăn.

Ở mọi thời đại, cuộc sống con người đều phức tạp, dù có công nghiệp hay không. Con người luôn có vô số lựa chọn để thực hiện, con người có cả thế giới trải rộng trước mắt, chúng ta phải liên tục đưa ra quyết định và cân nhắc kết quả của vô số yếu tố trong tâm trí. Ngay cả trong thời kỳ nguyên thủy nhất, người tiền sử đã phải quyết định săn bắt cái gì, làm như thế nào, có thể chấp nhận rủi ro gì, sử dụng vũ khí gì, chế tạo chúng như thế nào, làm sao để bảo vệ vật mình giết được, cách để tích trữ, bảo quản và phân chia nó. Và họ đã phải làm tất cả những điều này rất lâu trước khi có bất kỳ ngành khoa học nào, rất lâu trước khi có bất kỳ sổ tay hay cuốn sách quy tắc nào hướng dẫn họ trong tất cả các hoạt động như vậy. Trong bối cảnh hiểu biết của họ, việc rình rập con mồi là một điều vô cùng phức tạp, đối với họ không dễ dàng hơn những vấn đề khó khăn nhất mà chúng ta phải giải quyết trong bối cảnh hiện đại ngày nay. Sự đơn giản hóa, theo nghĩa tuyệt đối là đặc quyền chỉ của động vật. Động vật hoạt động theo bản năng để duy trì sự sống, chúng được lập trình để hành động theo những cách nhất định mà không cần phải đi làm, tạo ra của cải, lựa chọn giữa các phương án thay thế, cân nhắc kết quả. Chúng chỉ phản ứng bằng cảm giác chi phối nào đó trong một tình huống nhất định, chẳng hạn: con chó ngửi thấy mùi cục xương và chạy đến lấy nó. Điều gì có thể đơn giản hơn? Nhưng con người không thể tồn tại bằng cách phản ứng không suy nghĩ với những cảm giác đơn giản. Không một người nào có thể tránh khỏi vấn đề đối phó với sự phức tạp và bằng cách nào đó làm cho nó trở nên đơn giản và có thể quản lý được. Điều này cũng áp dụng cho những người theo chủ nghĩa thực dụng hiện đại, những người tôn sùng sự phức tạp như vậy. Nhưng họ cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách quay lại cấp độ động vật, bằng cách thu hẹp trọng điểm của mình thành một điều cụ thể biệt lập nào đó, như con chó phản ứng với mùi xương, trong khi đó gạt bỏ mối quan tâm của họ về tất cả những điều cụ thể khác mà nó được kết nối trong thực tế. Nói cách khác, họ giải quyết vấn đề phức tạp bằng cách loại bỏ, xóa bỏ lượng lớn thông tin liên quan, do đó, khiến bản thân rơi vào tình trạng bất lực.

Phương pháp đúng đắn của con người hoàn toàn ngược lại. Chúng ta cần giữ lại tất cả dữ liệu, chúng ta không thể loại bỏ, chúng ta càng ghi nhớ nhiều dữ kiện khi đưa ra bất kỳ quyết định nào, thì càng tốt cho chúng ta, nhưng chúng ta cần lưu giữ tất cả những dữ kiện này ở dạng có thể xử lý. Chúng ta không thể chờ đợi đọc hoặc tự lải nhải trước mỗi hành động, chúng ta có cả một bộ bách khoa toàn thư về những trải nghiệm của con người trong quá khứ, hoặc thậm chí là một tập các mẹo, các quy tắc và các gợi ý thực tế. Bằng cách nào đó, chúng ta phải thu thập và lưu giữ rất nhiều thông tin, nhưng ở dạng cô đọng. Đây chính xác là điều được thực hiện bởi khả năng đặc biệt của con người, khả năng khái niệm, một tên gọi khác của nó là lý trí.

Các khái niệm là phương tiện cô đọng thông tin của con người. Chúng là phương tiện giảm thiểu đơn vị của chúng ta. Chúng là phương tiện để chúng ta chuyển đổi sự phức tạp thành đơn giản, mà thông tin không bị mất. Ở đây, hãy lấy một ví dụ về khái niệm “con người”. Nếu tôi thốt ra câu: “Tất cả mọi người đều sẽ chết”. Không ai trong số các bạn gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng, bạn biết nó có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của mình, bạn lập di chúc và mua các hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ cho những trường hợp thực tế bất ngờ phát sinh liên quan đến nó, và bạn biết rằng cái chết xảy ra đối với tất cả mọi người, trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Đây là kho dữ liệu vô cùng phong phú, thông tin về số lượng đơn vị không giới hạn, trải dài trên toàn cầu, từ thời tiền sử cho đến tương lai vô tận, bất kỳ nơi nào con người đã, đang hoặc sẽ tồn tại, tuy nhiên, bạn không gặp khó khăn gì khi lưu giữ quy mô thông tin đáng kinh ngạc này dưới dạng một vài từ: Tất cả mọi người đều sẽ chết. Bạn có làm điều đó bằng cách loại bỏ, bằng cách thu hẹp trọng điểm của mình chỉ còn một hoặc hai người và gạt phần còn lại sang một bên vì quá phức tạp không? Có phải bạn chỉ nhìn vào bản thân và một vài người bạn rồi nói: bây giờ tôi không thể đối phó với những người khác, cuộc sống quá phức tạp, tôi sẽ lập một phân ban để lo lắng về việc đó? Ngược lại, điểm mấu chốt là bạn đã nắm được tất cả các đơn vị liên quan đến con người, bạn lưu giữ tất cả trường hợp thực tế vô số kể, bao gồm cả những trường hợp bạn chưa từng thấy và có thể không bao giờ thấy, và bạn tổng hợp tất cả chúng lại với nhau thành một đơn vị mới duy nhất, vô cùng súc tích, thuật ngữ “con người”, cái được hợp nhất, kết hợp, thống nhất, một tổng thể. Tất nhiên, bạn hoàn thành kỳ tích vĩ đại này bằng cách xử lý dữ liệu tri giác của mình, bằng cách hỏi: các thực thể khác nhau có điểm gì chung? Điều cốt yếu của chúng là gì? Chúng có gì khác biệt so với những thứ khác tôi thấy? Ví dụ, bạn nắm được rằng, trái ngược với các sinh vật khác, tất cả con người đều có chung một loại ý thức nhất định, khả năng lý trí. Vậy nên, bạn gạt sang một bên tất cả sự khác biệt giữa con người về chiều cao, màu tóc, dấu vân tay, trí thông minh, v.v, và bạn có được ý niệm về một thực thể lý trí, và sau đó xác định điều này bằng một từ đơn lẻ “con người”. Kết quả là sự phức tạp rộng lớn biến thành một sự đơn giản hóa, thành một đơn vị đơn lẻ. Giờ đây, bạn có khả năng tập trung, trong một khung nhận thức, về tất cả các trường hợp mà nó áp dụng, bạn có thể biết sự thật về tất cả chúng bởi vì chúng thuộc “con người”, chúng được gộp chung trong cùng một khái niệm.

Bây giờ, dựa vào bối cảnh này, chúng ta hãy xem xét cụ thể các nguyên-tắc. Nguyên-tắc là một điều khái quát cơ bản. Nói cách khác, đó là một tuyên bố mang tính khái niệm tích hợp vô số thông tin về tất cả các trường hợp cụ thể nếu không thì chúng ta sẽ bất lực khi xử lý hoặc ghi nhớ. Tuy nhiên, chúng ta có thể làm điều đó bằng cách giảm tải tất cả những thông tin này thành một vài từ hoặc thậm chí chỉ một vài chữ cái như: E = mc26 . Nguyên-tắc là hình thức sử dụng khái niệm chính của con người, sử dụng chúng để giảm bớt sự phức tạp mà con người phải đối mặt trong khi vẫn giữ lại được tất cả những thông tin cần thiết để hành động hiệu quả. Nguyên-tắc có trong mọi lĩnh vực cố gắng của con người và chúng ta liên tục dựa vào chúng. Có những nguyên tắc trong vật lý, hóa học, nông nghiệp, thậm chí có cả những nguyên tắc diễn thuyết hiệu quả trước đám đông, điều này cần vô số kinh nghiệm của những người diễn thuyết trong quá khứ và những hiệu quả mà họ có được, cả tích cực và tiêu cực, với vô số chủ đề khác nhau, với vô số khán giả khác nhau và cô đọng tất cả thành các quy tắc ngắn gọn, dễ hiểu, để hướng dẫn các diễn giả trong tương lai, chẳng hạn như: tạo hứng thú cho khán giả của bạn và đưa ra các ví dụ rõ ràng, v.v. Trong tất cả những lĩnh vực này, các nguyên tắc là không thể tranh cãi. Lý trí đã được phép thực hiện đúng chức năng của nó và được coi là tất yếu. Trong tất cả các lĩnh vực tôi đã đề cập, các nguyên tắc không bị bắt buộc cạnh tranh với việc đọc lá trà7 hay với những mặc khải của thần thánh. Nhưng trong lĩnh vực đạo đức, tình hình ngược lại một cách bi thảm. Trong toàn bộ lĩnh vực nhân văn, chúng ta vẫn đang ở trong thời đại tiền lý tính. Kết quả là, mọi người không thấy sự cần thiết của các khái niệm để quyết định các vấn đề đạo đức. Họ không thấy rằng lý do chúng ta cần các nguyên tắc đạo đức cũng giống như lý do chúng ta cần các nguyên tắc trong mọi lĩnh vực.

Nguyên tắc đạo đức là một tuyên bố mang tính khái niệm cơ bản cho phép chúng ta lựa chọn cách hành động đúng đắn. Đạo đức phù hợp tính đến tất cả những lựa chọn trong đời sống mà con người phải thực hiện. Nó cho chúng ta biết những hệ quả có thể xảy ra từ những lựa chọn khác nhau mà chúng ta phải đối mặt. Nó sắp xếp tất cả thông tin cho chúng ta bằng cách chọn những yếu tố cần thiết, nó tích hợp tất cả dữ liệu thành một nhóm các quy tắc cơ bản mà chúng ta có thể dễ dàng ghi nhớ, xử lý và tồn tại, giống như khái niệm đơn lẻ “con người”, tích hợp tất cả các trường hợp thành một đơn vị mới đơn lẻ. Nếu bạn không có khái niệm về “con người”, bạn không thể quyết định liệu một thực thể mới mà bạn thấy có phải là con người hay không, giả sử nếu anh ta cao hơn và tóc vàng hơn nhiều so với bất kỳ ai mà bạn từng thấy cho đến nay, thì bạn sẽ bối rối nhìn chằm chằm cho đến khi bạn quyết định được điều gì là cốt yếu để là một con người, nói cách khác là cho đến khi bạn khái niệm hóa dữ liệu có liên quan. Điều này cũng áp dụng cho việc đánh giá một hành động. Nếu bạn không có nguyên tắc đạo đức nào cho bạn biết hành động nào đúng và hành động nào sai, thì điều gì là cần thiết để đánh giá một tình huống nhất định và điều gì không liên quan, làm thế nào bạn biết điều gì nên làm và điều gì nên tránh?

Có hai cách tiếp cận đối lập đối với các vấn đề đạo đức: cách tiếp cận có nguyên tắc đối lập với cách tiếp cận theo chủ nghĩa thực dụng. Một cách cố gắng tích hợp, cách kia thì phân rẽ. Một cách cố gắng mở rộng dữ liệu mà anh ta phải sử dụng, khai thác tất cả kiến thức liên quan mà con người đã tích lũy được, để có được tầm nhìn và bối cảnh rộng lớn hơn cho câu trả lời của mình, điều này con người chỉ có thể thực hiện bằng cách sử dụng phương tiện nén dữ liệu của mình, nói cách khác là khái niệm. Những người khác theo chủ nghĩa thực dụng cố gắng thu hẹp cơ sở dữ liệu, thu nhỏ đối tượng xuống cấp độ động vật, giảm tải các đơn vị bằng cách chỉ nhìn chằm chằm vào những đối tượng tri giác biệt lập nào đó. 

Bây giờ, hãy áp dụng điều này vào một ví dụ. Giả sử tôi hỏi: Bạn có nên cướp ngân hàng không? Chỉ cần làm điều này theo khuôn mẫu không cần quá chi tiết. Theo khuôn mẫu, cá nhân có khái niệm nghĩ rằng: Ngân hàng là tài sản của ai đó. Ở đây, bạn thấy ngay một quan điểm mở rộng, anh ta đang tìm kiếm khái niệm trừu tượng bao hàm ngân hàng, khái niệm cụ thể đối với bản chất của nó: tài sản, và anh ta hiểu rằng về phương diện này, ngân hàng giống như một ngôi nhà hay một cỗ máy hoặc một cuốn sách hoặc một đôi giày: nó là sự sáng tạo không có sẵn, mà phải được tạo ra bởi một điều gì đó. Điều này ngay lập tức mở ra cho tâm trí của anh ta một loạt dữ liệu mới đối với mọi thứ anh ta biết về những cuốn sách hoặc giày dép hoặc ngân hàng và những thứ còn lại bắt nguồn từ đâu; rằng chúng bao hàm óc sáng tạo tri thức, phán đoán độc lập, sự bền bỉ, sự làm việc. Tất cả những quan sát này được hợp nhất và lưu giữ trong tâm trí anh ta thông qua một nguyên tắc đơn giản: tài sản là sản phẩm từ tư duy và nỗ lực của con người, từ đó có thể thấy rõ rằng, nếu con người muốn sống, con người phải sở hữu sản phẩm đó, họ cần có quyền lưu giữ và sử dụng thành quả công sức của mình. Đây là một nguyên tắc khác, cô đọng và gộp tất cả tri thức của chúng ta về hậu quả mang tính hủy diệt của việc tước đoạt tài sản của con người, không chỉ thông qua vụ cướp ngân hàng, mà còn thông qua hàng nghìn phương pháp khác: nó bao gồm những gì xảy ra khi người ta đột nhập vào nhà riêng hoặc đột kích vào trang trại, hoặc ăn cắp bản thảo hoặc ăn cắp những cái nắp đậy trục bánh xe. Bằng phương thức khái niệm hóa hành động cướp ngân hàng, nói cách khác, tức là quy nó thành những điều cốt yếu và đưa nó vào những nguyên tắc, nói tóm lại, chúng ta biết cách đánh giá như thế nào. Chúng ta biết rằng nếu hành vi như vậy được dung túng hoặc cho phép, nguyên tắc liên quan về lâu dài sẽ dẫn đến sự hủy diệt. Bạn có thể thấy chúng ta đang phải đối mặt với mô hình một vụ cướp ngân hàng cụ thể, và chúng ta đối phó với nó chỉ bằng cách xem xét một số đơn vị tương đối, một vài nguyên tắc mà tôi đã đề cập. Tuy nhiên, chúng chứa tất cả những thông tin mà chúng ta đã từng thu thập được về các yêu cầu liên quan của cuộc sống con người. Và vì vậy, chúng ta có được câu trả lời mang tính quyết định ngay lập tức.

Bây giờ, ngược lại, hãy hỏi một người có tâm lý thực dụng: tôi có nên cướp ngân hàng không? Và động thái đầu tiên của anh ta không phải là khái niệm hóa, mà là cụ thể hóa. Câu hỏi ngay lập tức thường xuất hiện trong đầu anh ta là: chúng ta đang nói về ngân hàng nào? Chase Manhattan? Chi nhánh đường 42? Đừng mơ hồ và hãy đơn giản hóa điều này. Và bạn có ý định ăn trộm bao nhiêu, anh ta muốn biết, một ngân hàng lớn thậm chí không bỏ qua 10.000 đồng8 đâu? Và bạn sẽ dùng số tiền này để làm gì - cho bản thân bạn, cho bệnh nhân AIDS hay cho người nghèo, v.v. Giờ, chúng ta đang ở đâu? Đi theo hướng này, phân rẽ vấn đề và xem ngân hàng X như một trường hợp cụ thể duy nhất. Làm thế nào anh ta có thể quyết định phải làm gì? Tôi nghĩ, bạn biết đấy, chỉ có cướp ngân hàng là cách quyết định. [Vỗ tay] Họ hỏi: tôi có thể trốn thoát được không? [Vỗ tay] Hay chính xác hơn: tôi cảm thấy có cố gắng trốn thoát được hôm nay hay không? Một khi bạn từ bỏ các nguyên tắc, một khi bạn loại bỏ - với tư cách khái niệm chung chung chất phác - những khái niệm trừu tượng như quyền sở hữu, quyền tài sản, sự trung thực, công lý, thì sẽ không có cách nào để quyết định các trường hợp cụ thể ngoại trừ bằng cảm giác tùy tiện, cảm giác của riêng bạn hoặc của một nhóm nào đó mà bạn đồng cảm. Nói cách khác, cuối cùng bạn phải sử dụng phương pháp quyết định tương tự như chúng ta đã thấy về ủy ban quốc hội điều tra nghiên cứu thuế nhập khẩu của Nhật Bản.

Bây giờ, hãy quan sát sự đảo ngược, tình trạng đảo ngược được thực hiện ở đây. Người ủng hộ các nguyên tắc là người thực sự được hưởng lợi từ ngân hàng dữ liệu khổng lồ của cuộc sống. Họ là người luôn ghi nhớ khi đưa ra quyết định, ghi nhớ mạng lưới phức tạp các yếu tố liên quan lẫn nhau, và hệ quả hành động của họ đối với vô số các tình huống tương tự. Họ là người thực sự đối mặt và giải quyết sự phức tạp của cuộc sống, nhưng họ bị buộc tội là đơn giản hóa. Mặt khác, người thực dụng, người chế nhạo các nguyên tắc, người mù quáng loại bỏ hầu hết dữ liệu liên quan và kết thúc bằng việc nhìn chằm chằm vào một trường hợp cá biệt mà không có bối cảnh hoặc manh mối nào, kiểu như một đứa trẻ sơ sinh, họ là người được ca ngợi vì đánh giá cao sự phức tạp của cuộc sống và không phải là người có trí óc đơn giản. Nếu tôi đã từng nghe thấy một lời nói dối trắng trợn, thì đây chính là điều đó: Người bác bỏ các nguyên tắc, bác bỏ phương pháp của con người đối phó với sự phức tạp. Nhưng vì họ cũng không có phương tiện sao chép của động vật, cho nên họ bất lực. Cuối cùng, họ chỉ trông cậy vào cảm giác thô sơ hoặc xung đột băng nhóm. Khi đó, bất kỳ điều gì xảy ra đều là sự hoang dã tai hại. Đây là cách mà các chính trị gia hiện đang cố gắng quyết định các vấn đề sinh tử của nền kinh tế và chính sách đối ngoại của nước Mĩ.

Nếu một người sống theo nguyên tắc, hành động của anh ta về bản chất có thể đoán trước được, bạn biết anh ta sẽ làm gì. Nhưng nếu một người từ bỏ các nguyên tắc, ai biết được anh ta sẽ làm gì tiếp theo? Hãy quan sát tất cả các ứng cử viên hàng đầu của chúng ta ngày nay, Đảng Dân Chủ cũng như Đảng Cộng Hòa, đều có lập trường chi tiết ở từng điều cụ thể, bạn có thể tưởng tượng, họ ban hành một văn kiện riêng biệt với đầy đủ các điều khoản và số liệu thống kê để bao hàm mọi thứ rắc rối ở Washington và trên thế giới, nhưng không ai biết họ đại diện cho cái gì hoặc họ làm gì trong nhiệm kỳ. [Vỗ tay] Không ai có thể nhớ được tất cả những điều cụ thể đã bị phân chia này hoặc không ai có thể tổng hợp chúng theo hướng gắn kết, có thể đoán trước được. Các ứng viên đưa ra cho chúng ta vô số kế hoạch và đề xuất, nhưng không có sự liên kết nào giữa các kế hoạch của họ, không có sự hợp nhất, không có nguyên tắc thống nhất nào cả về đối nội lẫn đối ngoại. Trong những tình trạng như vậy, các cuộc bầu cử trở thành một canh bạc, đặc biệt khi bạn nhớ rằng các ứng viên và các nhà lãnh đạo của chúng ta là những bậc thầy của “ván bài lật ngửa” thực dụng, như nó được gọi ngày nay. Rốt cuộc, chúng ta thường xuyên được cho biết rằng mọi tình huống cụ thể đều là duy nhất, vì vậy, những gì áp dụng ngày hôm qua không nhất thiết phù hợp với ngày hôm nay. Bản thân các ứng viên và những người đương nhiệm cũng không biết họ sẽ làm gì hoặc nói gì tiếp theo. Họ không cố gắng lừa gạt đất nước bằng cách che giấu một cách xảo quyệt động cơ thầm kín nào đó, họ chỉ đơn thuần là phản ứng với lỗ nứt mới nhất trên con đê bằng cách thọc ngón tay vào đó một cách ngẫu nhiên. 9 Nói cách khác, không có bất kỳ nguyên tắc nào cung cấp hướng dẫn cho họ. Do đó, “đó là một sự sỉ nhục”- một ứng cử viên nói. Tôi chắc rằng bạn biết tôi đang nghĩ đến ai, thật đáng phẫn nộ khi đầu hàng như Tổng thống Carter10 đã làm với những kẻ bắt cóc Iran hung ác – “và đây là kế hoạch của tôi”, ông ấy nói, “một lát sau, vận chuyển vũ khí đến Iran để đổi lấy con tin”. Hoặc: “nước Nga là một đế chế xấu xa mà không ai nên tin tưởng”- ông nói, “và đây là hiệp ước vũ khí mới mà tôi tin tưởng họ sẽ tuân theo”. Hoặc, “chúng ta hãy loại bỏ bớt một vài cơ quan chính phủ, chúng ta hãy bãi bỏ Bộ Giáo dục”, và vài năm sau một sáng kiến mới của ông ta, “chúng ta hãy lập Bộ Cựu chiến binh”.

Tất nhiên, ngay cả các chính trị gia ngày nay cũng cảm thấy cần phải cung cấp cho cử tri một điều gì đó truyền cảm hứng hơn là thay đổi các vấn đề cụ thể. Thông thường, những gì họ làm là sử dụng những từ ngữ trừu tượng trong bài phát biểu của mình mà không liên quan gì đến thực tế, không phải những nguyên tắc mà là những khẩu hiệu trống rỗng được rải khắp bài diễn văn của họ như để trang trí, chẳng có cam kết gì, nhưng nghe có vẻ vĩ đại và có tầm nhìn, những từ như hòa bình, tình yêu, hoặc chủ nghĩa Mỹ hoặc lợi ích cộng đồng. Người thực hiện điều này trơ trẽn nhất, mặc dù chắc chắn không phải là người duy nhất, chính là Gary Hart11, với sự kêu gọi cần thiết “những ý tưởng mới” định kỳ, điều mà không ai có thể tìm thấy trong tất cả văn kiện chi tiết của ông. Nếu chúng ta muốn cứu đất nước của mình, điều chúng ta cần không phải là những chính trị gia giỏi hơn, mà là điều duy nhất có thể tạo ra họ: một bộ quy tắc đạo đức. Đạo đức đúng đắn chính xác là một tập hợp các nguyên tắc bắt nguồn từ thực tế, giảm sự vô cùng phức tạp về các lựa chọn của con người thành các đơn vị đơn giản, có thể ghi nhớ được, cho chúng ta biết loại hành động nào hỗ trợ cuộc sống con người và loại hành động nào phá hủy nó. Đây là bộ quy tắc cơ bản về các phẩm giá và giá trị hướng dẫn cho từng cá nhân và sau đó là trong lĩnh vực xã hội, hướng dẫn cho xã hội về các vấn đề chính trị hoặc chính phủ. Người hành động theo nguyên tắc đạo đức, theo nghĩa này, không phải là một kẻ tử vì đạo, một người cuồng tín, hoặc một kẻ hợm mình. Họ là người có hành động được hướng dẫn bởi khả năng nhận thức đặc biệt của con người. Đối với con người, hành động có nguyên tắc là loại hành động hiệu quả, thành công duy nhất. Bản thân các nguyên tắc đạo đức không phải là những mục đích, chúng là phương tiện để đi đến mục đích. Chúng không phải là những thứ xa xỉ về mặt tinh thần dành riêng cho cái gọi là linh hồn cao cấp hơn, cũng không phải là những bổn phận đối với Chúa trời hay thượng đế. Chúng là một nhu cầu thực tế, cần thiết trên trái đất đối với bất kỳ ai quan tâm đến bản năng tự vệ. Vâng, tôi muốn nói thêm một điểm nữa, nếu các nguyên tắc đạo đức được vận hành thành công trong cuộc sống con người, nếu chúng thực hiện vai trò quan trọng của mình, thì chúng phải được chấp nhận như một sự tuyệt đối. Bạn không thể linh hoạt với chúng, hoặc bẻ cong chúng theo cảm nhận của riêng bạn hoặc nhóm của bạn, bạn không thể thỏa hiệp. Điều này tất nhiên là trái ngược với quan điểm thực dụng đang thống trị nền văn hóa của chúng ta, vì vậy, tôi muốn tiếp tục quan điểm này một chút, nếu chúng ta làm như vậy, tôi nghĩ vai trò của các nguyên tắc trong cuộc sống của con người sẽ càng trở nên rõ ràng hơn nữa.

Chúng ta hãy quay lại với “tên cướp ngân hàng” của chúng ta và tưởng tượng đang cố để đạt được một thỏa hiệp đạo đức với hắn. Bạn nói bạn là chủ ngân hàng, và phản ứng đầu tiên của bạn là yêu cầu kẻ đột nhập dừng lại, tài sản là của bạn. Tên cướp nói: “không, ta muốn tất cả tiền bạc của ngươi”. Lúc này, thay vì gọi cảnh sát hoặc giữ vững nguyên tắc, bạn lại quyết định thỏa hiệp, bạn đồng ý ngay mà không bị cưỡng ép, như là ý niệm của bạn về một giải pháp đạo đức, chỉ đưa cho tên cướp một phần số tiền mà hắn ta đã trộm. Sau cùng, điều đó thể hiện sự linh hoạt từ phía bạn, sự khoan dung, thỏa hiệp và sẵn sàng thương lượng, tất cả những điều chúng ta nghe thấy ở khắp mọi nơi là điều tốt. Bạn thấy cách xử sự như vậy có ý nghĩa gì và sẽ dẫn đến điều gì không? Theo cách nói của Ayn Rand, nó có nghĩa là đầu hàng toàn diện, công nhận quyền của tên cướp đối với tài sản của bạn. Một khi bạn nhượng bộ kiểu này, bạn khiến mình bất lực: bạn không chỉ từ bỏ tài sản nào đó của mình, mà còn từ bỏ nguyên tắc sở hữu. Kẻ cướp, do vậy, chiếm thế thượng phong trong mối quan hệ này và có quyền quyết định tương lai của nó. Hắn ta có được lợi thế không thể tưởng tượng được như là kẻ có đạo đức. Cái hắn ta nhận được trong thỏa hiệp này chỉ là một điều cụ thể, hắn ta tạm thời từ bỏ một chiến lợi phẩm nào đó, ‘tạm thời’ bởi vì bây giờ không có cách nào bạn có thể ngăn cản hắn ta khi hắn ta quay lại với một yêu cầu mới vào ngày mai. Kiểu phân tích tương tự áp dụng cho mọi trường hợp thỏa hiệp đạo đức. Có một vài ví dụ khác, hãy lấy một ví dụ từ chính sách đối ngoại: hãy tưởng tượng một quốc gia có đủ phương tiện tự vệ, ví dụ như Anh hoặc Pháp vào những năm 3012 , đầu hàng, với danh nghĩa “mềm dẻo” đối với những yêu cầu độc đoán nào đó của một kẻ xâm lược như Adolf Hitler13. Do đó, kiểu quốc gia như vậy lôi cuốn ngày càng nhiều yêu cầu hơn để được đáp ứng nhiều sự linh hoạt hơn. Một quốc gia như vậy sẽ bị diệt vong cho đến khi nó thay đổi chính sách cơ bản của mình. Bằng cách nhượng bộ quyền sở hữu cho một hành động xâm lược nào đó, nó đã từ bỏ nguyên tắc tự vệ và chủ quyền của chính mình, khiến nó không còn cơ sở đạo đức để phản đối cuộc tấn công kế tiếp.

Hoặc chuyển sang chính sách đối nội, giả sử bạn chấp nhận ý tưởng “ôn hòa” rằng các quyền cá nhân không phải tuyệt đối, và chúng có thể bị kiểm soát bởi chính phủ khi lợi ích cộng đồng yêu cầu. Ví dụ, khi công chúng cần nhiều khoản thanh toán phúc lợi hơn hoặc cần nhiều Medicare14 hơn hoặc kiểm duyệt đồi trụy nhiều hơn hoặc bạn có thể điền thêm vào chỗ trống. Trong trường hợp này, bạn đồng ý với những người theo chủ nghĩa tập thể rằng các quyền cá nhân không phải là bất khả xâm phạm, rằng lợi ích cộng đồng vượt lên trên quyền cá nhân, nói cách khác, con người thực hiện một số đặc quyền nào đó không phải bởi quyền, mà là bởi sự cho phép của xã hội, đại diện bởi chính phủ. Nếu vậy, nguyên tắc về các quyền cá nhân đã bị bạn chối bỏ hoàn toàn, thay vào đó là nguyên tắc theo thuyết trung ương tập quyền. Nói cách khác, với danh nghĩa đạt được sự thỏa hiệp giữa các hệ thống xung đột, bản chất của xu hướng tư bản đã bị loại bỏ, trong khi bản chất của loại xu hướng khác đã trở thành sự thống trị tuyệt đối.

Hoặc lấy một ví dụ cuối cùng, một thẩm phán cố gắng không quá “cực đoan” đối với công lý, ông ta quyết định sửa đổi công lý bằng một “liều thuốc” thiên vị chính trị, và một lần nữa, chịu áp lực từ những thủ trưởng của các hội nhóm địa phương. Giờ, bạn thấy rằng ông ta đã từ bỏ nguyên tắc công lý. Công lý không cho phép một hành động bất công đơn lẻ. Do đó, cái đặt ra các điều khoản thỏa hiệp của vị thẩm phán và quyết định phán quyết của ông ta là nguyên tắc thiên vị, cho phép bất kỳ điều gì bất chợt mà các thủ trưởng quyền lực cho phép, thậm chí bao gồm nhiều phán quyết đáng xấu hổ, khi điều này phù hợp về mặt chính trị đối với họ. Tại một Tòa án như vậy, một phán quyết công bằng có thể xảy ra, nhưng chỉ là ngẫu nhiên, bản chất của hệ thống và kết quả cuối cùng của nó, là loại bỏ sự công bằng bằng cách nhờ vả. Hoặc là bạn chấp nhận một nguyên tắc phù hợp - cho dù là quyền cá nhân, quyền tự vệ, công lý hay bất kỳ nguyên tắc nào khác – như một sự tuyệt đối, hoặc không có gì cả.

Không có “vành đai trắng” giữa các nguyên tắc trái ngược nhau, không có sự trung dung không bị tác động bởi một trong hai hoặc không được định hình như nhau. Thực tế, con người không thể tránh khỏi quy luật của loại nguyên tắc nào đó, với tư cách là một sinh thể có khái niệm, con người không thể hành động mà không có sự hướng dẫn về những sự tích hợp cơ bản nào đó. Và cũng giống như kinh tế học, đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt, do đó, về mặt đạo đức, các nguyên tắc xấu đuổi các nguyên tắc tốt. Cố gắng kết hợp một nguyên tắc hợp lý với phản đề của nó là loại bỏ cái hợp lý với tư cách là sự hướng dẫn dành cho bạn và thiết lập cái phi lý. Bây giờ, nếu, giống như Faust16 , bạn cố gắng thỏa thuận với ma quỷ, sau đó, bạn thua hắn hoàn toàn, khi đó Ayn Rand tóm tắt điểm này bằng câu nói: “Trong bất kỳ sự thỏa hiệp nào giữa thức ăn và chất độc, chỉ có cái chết mới có thể chiến thắng, trong bất kỳ sự thỏa hiệp nào giữa thiện và ác, chỉ có cái ác mới có thể sinh lợi”. Lý do cho điều này không phải là cái ác mạnh hơn điều tốt, ngược lại, lý do là vì cái ác bất lực, và do đó, chỉ có thể tồn tại như một vật ký sinh trên điều tốt. Điều tốt là cái hợp lý, nó phù hợp với những đòi hỏi của thực tế, và từ đó thúc đẩy cuộc sống của con người, cùng với tất cả những giá trị mà cuộc sống đòi hỏi, chủ trương như vậy không thu được lợi ích nào từ phản đề của nó.

Tiếp tục những ví dụ của chúng ta: chủ ngân hàng không cần sự giúp đỡ của một tên cướp đang cố cướp bóc anh ta. Một quốc gia tự do cũng không cần sự tấn công của kẻ xâm lược. Một cá nhân đang tìm cách duy trì sự sống cũng không cần nhà tù và kẻ độc tài. Chính quyền tư pháp cũng không được hưởng lợi từ sự lật đổ của các thủ trưởng tham nhũng. Tự bản chất của nó, điều tốt chỉ có thể mất đi khi giao dịch với cái ác.

Tuy nhiên, cái ác lại ở vị trí hoàn toàn ngược lại. Cái ác là cái phi lý, nó mâu thuẫn với các sự kiện của thực tế và do đó, đe dọa cuộc sống của con người, cách cư xử như vậy không thể được duy trì như một sự tuyệt đối hoặc thực hành một cách nhất quán, nếu bạn muốn tránh sự hủy diệt ngay lập tức. Cái ác phải dựa vào yếu tố nào đó của điều tốt, nó chỉ có thể tồn tại như một vật ký sinh, chỉ là cái-loại-ra đối với những đức tính mà nó dựa vào. “Cái phi lý có tất cả mọi thứ để hưởng lợi từ cái hợp lý, một phần của những thành tựu và giá trị của nó”. Một nhà sản xuất không cần một tên cướp, nhưng một tên cướp cần sản phẩm mà hắn ta săn lùng. Và các quốc-gia-ăn-cướp cũng cần các quốc gia tự do hơn nữa, nơi họ không tìm cách tiêu diệt mà để thống trị và cướp bóc. Và không có người nào theo chủ nghĩa tập thể muốn ngăn cản mọi hành động tự khẳng định cá nhân, họ cần những người có thể tư duy và hành động như một cá nhân ở một mức độ nào đó, nếu không hệ thống của chính họ sẽ sụp đổ. Và không có nhà lãnh đạo chính trị nào tìm cách đảo ngược mọi phán quyết đúng đắn, ngược lại, tinh thần lãnh đạo lại trông chờ vào sự xuất hiện của công lý để con người tôn trọng và tuân theo tòa án, để rồi khi ông ta muốn, vị lãnh đạo có thể can thiệp vào hậu trường và lợi dụng sự tôn trọng đó. Tóm lại, cái ác không nhất quán và không thể trở nên nhất quán. Điều nó muốn là đôi khi thoát khỏi việc thi thành quá trình duy trì sự sống, trong phạm vi ngắn hạn, ngoài ngữ cảnh, theo ý thích tùy tiện. Để đạt được mục tiêu này, tất cả những gì nó cần là sự nhượng bộ của điều tốt: sự nhượng bộ về nguyên tắc liên quan, sự nhượng bộ mà cái xấu đôi khi phù hợp. Sự thỏa hiệp như vậy là điều lệ Tự do của cái ác. Sau đó, điều phi lý có thể tự do thiết lập các điều khoản và lan truyền nhiều hơn bởi sự hùy hứng, cho đến khi điều tốt và con người bị tiêu diệt.

Sức mạnh của điều tốt là rất lớn, nhưng phụ thuộc vào tính nhất quán của nó. Đó là lý do tại sao điều tốt là vấn đề của hoặc tất cả hoặc không có gì, hoặc đen hoặc trắng, và đó là lý do tại sao cái ác thỉnh thoảng là một phần “màu xám”.

Chú ý là, một “kẻ nói dối” theo cách nói thông thường, không phải là người luôn cố nói dối, không có sinh vật nào như vậy, đối với thuật ngữ này khi áp dụng cho bạn, một vài lần nói dối trơ trẽn đối với bạn cũng đủ rồi. Cũng giống như một “kẻ đạo đức giả” không phải là người luôn phản bội mọi ý tưởng của mình. Cũng giống như một “tên trộm” không phải là người ăn cắp của tất cả những người anh ta gặp. Cũng giống như một người là “kẻ giết người” khi anh ta tôn trọng mạng sống con người 99,9 phần trăm tổng số lần, và chỉ thỉnh thoảng bán mình cho Mafia với tư cách là kẻ làm theo mệnh lệnh. Điều tương tự cũng áp dụng cho mọi kiểu tham nhũng. Để trở nên xấu xa, “chỉ đôi khi” là trở nên xấu xa rồi. Tốt là phải luôn luôn tốt, nói cách khác, là vấn đề nguyên tắc nhất quán và hợp lý. Đây là lý do tại sao chủ nghĩa khách quan là tuyệt đối và tại sao chúng ta lên án việc sự sùng bái sự thỏa hiệp ngày nay. Những người sùng bái này sẽ đạt được cùng một đích đến cuối cùng, những người ủng hộ nhiệt thành sự thỏa hiệp như vậy, thành thực hơn, bằng cách nói với mọi người mà không cần phải trốn tránh điều tốt và thực hành cái ác. Cái ác rất hân hoan khi được thỏa hiệp, đối với nó, một thỏa thuận như vậy là chiến thắng hoàn toàn, là loại chiến thắng duy nhất mà nó có thể đạt được: chiến thắng của cướp bóc, lật đổ và cuối cùng là tiêu diệt điều tốt.

Tại sao nên hành động theo nguyên tắc? Câu trả lời của tôi là: cuối cùng, bạn không thể tránh khỏi điều đó, nguyên tắc luôn chiến thắng. Nếu những nguyên tắc đúng đắn, những nguyên tắc hợp lý, không phải là những điều có ý thức rõ ràng trong tâm trí con người, thì những mặt đối lập xấu xa của họ sẽ mặc nhiên chiếm lấy và cuối cùng giành chiến thắng. Đó là lý do tại sao, trong thời đại thực dụng, vô kỷ luật của chúng ta, tất cả các nguyên tắc sai lầm đều chiến thắng và chúng ta có thể thấy mọi hình thức phi lý, hèn nhát, bất công và chuyên chế đang càn quét thế giới này. Do đó, chỉ đơn thuần hành động “theo nguyên tắc” là chưa đủ, con người cần phải hành động một cách có ý thức theo những nguyên tắc hợp lý, những nguyên tắc dựa trên những sự thật của thực tại, những nguyên tắc thúc đẩy và duy trì sự sống của con người. Nếu bạn chấp nhận những nguyên tắc phi lý, chẳng hạn như những giáo điều tôn giáo hoặc những điều răn thần bí, thì ngược lại, bạn sẽ thấy rằng mình không thể sống theo chúng một cách nhất quán, chính vì chúng phi lý và xung đột với thực tại, và bạn sẽ bị hướng tới chủ nghĩa thực dụng và tuyệt vọng như là sự lựa chọn thay thế duy nhất.

Ví dụ, nếu nguyên tắc đạo đức của bạn là hy sinh bản thân, bạn không thể hành động theo nó một cách nhất quán, như một điều tuyệt đối – không, nếu bạn muốn sống sót. Hãy nhớ rằng một nguyên tắc, một nguyên tắc tích hợp vô số những điều cụ thể. Nếu bạn thực sự cố gắng thực hành như một nguyên tắc, mệnh lệnh từ bỏ - từ bỏ các giá trị của bạn vì lợi ích của Chúa hoặc của người khác - hãy nghĩ xem một chiều hướng như vậy sẽ bao gồm những gì và yêu cầu cái gì: từ bỏ tài sản của mình - người khác cần nó, từ bỏ theo đuổi hạnh phúc của mình - bạn không ở đây trên trái đất này để thỏa mãn những ham muốn ích kỷ, từ bỏ niềm tin của mình- bạn nghĩ mình là ai để có thể biết được sự thật khi Chúa trời, xã hội hoặc chủ nhân của bạn nghĩ khác. Từ bỏ lựa chọn bạn bè cá nhân - bạn phải yêu tất cả mọi người, trên hết là kẻ thù của mình, điều đó, suy cho cùng là một hành động hy sinh thực sự. Từ bỏ quyền tự vệ của mình - bạn sẽ phải im lặng ngoảnh mặt làm ngơ ví dụ khi Nga tiếp quản Nicaragua, hay Florida. Ngay cả khi bạn quyết định từ bỏ mọi thứ để trở nên giống như các vị thánh thời trung cổ, hành xác, uống nước giặt, ngủ trên một tảng đá để kê làm gối, miễn là bạn được thúc đẩy bởi bất kỳ giá trị cá nhân nào, ngay cả khi nó chỉ là niềm vui vĩnh hằng trên thiên đàng, và không liên quan gì ở đây, trên trái đất này, thì bạn vẫn bị lên án vì đó là ích kỷ. Ai có thể làm theo một hệ quy tắc như vậy? Ai có thể tuân theo, ngày này qua ngày khác, trong tất cả các tình huống cụ thể của cuộc sống, một quy tắc như vậy? Không ai có thể, và không ai đã từng làm. Tuy nhiên, điều đó có ý nghĩa là chấp nhận ‘hy sinh bản thân như một đức tính tốt’, hay nói cách khác, như một nguyên tắc đạo đức. Vậy thì, người ta đã làm gì khi đối mặt với một hệ quy tắc đạo đức đảo ngược như vậy? Thay vì chạy trốn khỏi nó trong nỗi kinh hoàng và tuyên bố một đạo đức tư lợi duy lý, họ đã chấp nhận tín ngưỡng hy sinh bản thân, nhưng nhanh chóng bổ sung rằng, tất nhiên, không có gì là tuyệt đối và bạn phải thỏa hiệp và “chừng mực” để tồn tại. Nói cách khác, họ rao giảng những nguyên tắc phi lý, sau đó nửa thực hành, nửa né tránh chúng, vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi họ hoảng loạn trước viễn cảnh phải hành động theo nguyên tắc. Nếu bạn nắm giữ những nguyên tắc phi lý, những nguyên tắc đó sẽ trở thành mối đe dọa cho cuộc sống của bạn, và khi đó, sự thỏa hiệp, và chủ nghĩa thực dụng sẽ là điều tất yếu. Nhưng điều đó cũng không phải là câu trả lời, nó chỉ đơn thuần là một mối đe dọa khác. Giải pháp duy nhất là một hệ các nguyên tắc hợp lý, một cách tiếp cận đạo đức hợp lý, khoa học, một đạo đức dựa trên thực tại, không dựa trên trí tưởng tượng siêu nhiên nào đó hay một quy ước xã hội tùy tiện nào đó, mà dựa trên thực tại.

Điều này trực tiếp dẫn chúng ta đến cơ sở của triết học, siêu hình học, mà bản thân đạo đức học phụ thuộc vào đó, và dẫn đến nguyên tắc làm nền tảng cho tất cả các nguyên tắc khác. Ý tôi là, nguyên tắc rằng có một thực tại, rằng nó là cái-mà-nó-là, rằng nó tồn tại độc lập với con người, và do đó, chúng ta phải nhận ra những sự kiện của thực tại, thích chúng hoặc không, và sống cho phù hợp. Đây là nguyên tắc cơ bản mà bất kỳ cách tiếp cận hợp lý nào đối với đạo đức đều hàm ý. Đạo đức chỉ bao gồm những điều tuyệt đối bởi vì nó dựa trên những sự thật tuyệt đối. Mặt khác, nếu bạn nói rằng không có thực tại, hoặc thực tại là bất cứ điều gì bạn hoặc xã hội muốn nó trở thành, thì cũng không có nguyên tắc đạo đức nào và cũng không cần thiết. Trong kiểu thiết lập này, tất cả những gì bạn phải làm là khẳng định những mong muốn tùy ý, bất kể chúng kỳ lạ hay mâu thuẫn như thế nào, và thế giới sẽ làm theo và thỏa mãn bạn. Đây là nền tảng thực sự của quan điểm thực dụng. Chủ nghĩa thực dụng, với tư cách là một triết học, không bắt đầu bằng cách tấn công nguyên tắc đạo đức, nó bắt đầu bằng cách phủ nhận thực tại, nó bác bỏ chính ý niệm về một lĩnh vực thực tế bên ngoài mà con người phải tuân theo. Sau đó, nó kết luận: bất cứ điều gì xảy ra, không có gì là tuyệt đối cả, không có gì cản đường chúng ta nữa.

(Tôi không thể để kính của mình trên lò sưởi.)

Tôi có đang phóng đại ở đây không? Tháng trước, tôi đã phát biểu tại một hội nghị các nhà triết học ở Oregon. Người phát biểu trước tôi trong chương trình là một triết gia đã chuyển đến Washington DC vài năm trước để làm việc cho Tổ chức Quốc gia về các ngành Nhân văn. Một điểm trong bài nói chuyện của mình, ông đã giải thích cho khán giả về điều mà ông gọi là, mỉa mai thay, bài học siêu hình mà ông học được từ việc đối phó với Quốc hội. Ông bắt đầu, những người mà ông đã gặp trong các văn phòng Quốc hội, thường đeo những “nút bấm” tuyên truyền bài học này một cách rõ ràng. Những nút bấm với nội dung là: Thực tại có thể thương lượng. Ông nói, khi lần đầu tiên đến Washington, ông đã nghĩ rằng các chính trị gia bắt đầu quá trình lập pháp bằng cách nghiên cứu các sự kiện của một vấn đề nào đó, dữ liệu được đưa ra không thể chối cãi và phải được chấp nhận, và sau đó, họ tiến hành tranh luận chính sách nào là phù hợp với những sự kiện được đưa ra này. Tuy nhiên, điều ông quan sát được là các nghị sĩ đến bàn đàm phán với quyết định chính sách của họ đã được đưa ra từ lâu, và sau đó, ghi lại bất kỳ sự kiện quan trọng nào để khiến chúng phù hợp với quyết định đã đưa ra sẵn. Ví dụ: nếu một đảng viên Đảng Cộng hòa phản đối rằng một chương trình xã hội mới quá đắt đỏ và sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách, các phụ tá của đảng Dân chủ sẽ được cử đi thực hiện lại các dự báo về thu nhập từ thuế của năm tới, họ sẽ tăng GNP17 dự kiến hoặc dự đoán một tỷ lệ lãi suất mới hoặc đưa ra dự đoán nào đó khác để đảm bảo rằng, trong các tính toán mới của mình, mọi thứ sẽ diễn ra đúng như họ muốn và không dẫn đến thâm hụt ngân sách. Đảng Cộng hòa tất nhiên chấp nhận cách tiếp cận này và cũng vận hành theo một phương pháp tương tự.

Bây giờ, có thể bạn sẽ thắc mắc: còn những con số thực tế, những dự đoán thực tế, những sự kiện thực tế thì sao? Ai biết và ai quan tâm chứ? Bạn sẽ được trả lời: Thực tế có thể thương lượng. Những cái nút này được cho là một trò đùa. Nhưng bi kịch là thực tế không phải chuyện đùa: những người ở Washington đã học được thông điệp mà họ đang phô trương, học được thông điệp đó trong tất cả các trường Ivy League18 của họ, và họ tin điều đó, sự thật đã được chứng minh bằng hành động của họ, không chỉ luôn-cụ-thể-hóa, mà còn có phần quá khích. Hay như chúng ta có thể nói rằng nó không chỉ đơn thuần là vô kỷ luật, mà còn vô kỷ luật về mặt nguyên tắc. Làm thế nào để bạn chống lại tinh thần như thế này và ngăn nó dẫn chúng ta đến thảm họa? Bạn cần bắt đầu ở cấp độ sâu sắc nhất; bạn cần nhiều hơn một quy tắc đạo đức. Bạn cần một triết lý thừa nhận và đề cao lý trí, một triết lý được xây dựng dựa trên thực tế rằng các sự kiện không thể thương lượng được, rằng nó là cái hiện hữu.

Bây giờ câu nói: “Cái hiện hữu” theo một nghĩa nào đó là câu nói phức tạp nhất mà bạn có thể thốt ra, nó liên quan và áp dụng không chỉ với mọi người, loài chó hoặc ngôi sao, mà còn cho mọi thứ, mọi thứ đã, đang hoặc sẽ xảy ra. Thực tế, nó đưa ra cho chúng ta kết quả về một chuyến tham quan toàn bộ vũ trụ, dưới dạng ba từ ngắn gọn, mà nếu bạn hiểu và chấp nhận chúng, thì hãy khắc sâu trong tâm trí bạn và mang theo bạn suốt quãng đời còn lại, bản-chất cốt-yếu của sự tồn-tại. Đó là ví dụ hùng hồn nhất về hoạt động thuộc về khả năng khái niệm của chúng ta, mở rộng đáng kể phạm vi và sức mạnh của tâm trí chúng ta, giảm sự phức tạp đến đơn giản bằng sức mạnh của nguyên tắc, trong trường hợp này là nguyên tắc siêu hình học.

Không gì có thể mang lại cho con người phương tiện để sống trên đời một cách thành công hoặc mang lại cho con người nền tảng để hành động theo nguyên tắc đạo đức. Tại sao người ta phải hành động theo nguyên tắc? Câu trả lời sâu sắc nhất và cuối cùng là: cũng như người ta nên nhảy ra khỏi đường đi của một chiếc xe tải đang chạy quá tốc độ, bởi vì nếu không, anh ta sẽ bị đè bẹp bởi một kẻ thù không khoan dung: một thực tại tuyệt đối. Cảm ơn các bạn. Cảm ơn rất nhiều.

MC: Bây giờ chúng ta đến với một phần của chương trình, phần đặt câu hỏi của các bạn. Tôi muốn đưa ra hai thông báo ngắn gọn trước khi chúng ta thực hiện điều đó. Một là, khi chúng ta kết thúc phần đặt câu hỏi, Tiến sĩ Peikoff sẽ về phòng chờ, trong vài phút để trả lời thêm một số câu hỏi và ngoài ra có lẽ sẽ ký tên lên vài cuốn sách. Điều còn lại là, hãy đứng dậy khi đặt câu hỏi và ông ấy sẽ mời phát biểu. Bây giờ, ai sẽ bắt đầu đặt câu hỏi.

Hỏi: Hãy cập nhật bộ phim Atlas Shrugged đi ạ.

MC: Chà, câu hỏi là muốn cập nhật bộ phim Atlas Shrugged19

L.P: À, tôi có thể nói với bạn điều này, một biên kịch đã được thuê, ngay trước khi cuộc đình công của biên kịch diễn ra nên anh ta không viết nữa, do đó, không có sự tiến triển nào cho đến khi cuộc đình công kết thúc, nhưng họ dự kiến bản thảo kịch bản sơ bộ cho bộ phim từ bốn đến sáu tháng kể từ ngày đó. Và sau đó, tìm kiếm một ngôi sao và đạo diễn và kế tiếp là sản xuất, vậy nên, đã qua vài năm rồi. Tôi có thể cho bạn biết tên nhà biên kịch nếu nó có ý nghĩa đối với bạn, tên của anh ấy là John Hill, anh ấy rất có kinh nghiệm trong lĩnh vực này, tôi cũng sẽ cho bạn biết một điều để bạn hiểu rằng thực tế không thể thương lượng được. Một trong những điều đầu tiên anh ấy nói với tôi khi tôi gặp anh ấy là: tôi thấy rõ sự khác biệt cơ bản giữa bộ phim so với cuốn tiểu thuyết đúng không? Và tôi nói: tôi nghĩ vậy nhưng cụ thể là anh có ý gì? Anh ấy trả lời: Vâng, thật sự khó khăn về cơ sở định lượng, cuốn tiểu thuyết có nội dung dài hơn một nghìn trang, và giờ bộ phim chỉ có 2 tiếng rưỡi theo kịch bản mà họ hướng đến là một trăm năm mươi trang kịch bản. Vậy nên, anh ấy nói thật khó để tính toán, trước hết, chúng ta phải hiểu rằng chín phần mười của cuốn sách sẽ bị lược bỏ. Bây giờ, tôi muốn cho bạn biết rằng phải mất nhiều năm nữa bộ phim này mới được công chiếu trên màn ảnh, nhưng có thể là một ý hay, ý tưởng chỉ vừa mới bắt đầu và giai đoạn này sẽ trở thành lịch sử.

Hỏi: Liên quan đến vấn đề được gọi là sự quy nạp về mặt triết học. Nguyên tắc nhận thức luận nền tảng cơ bản nói chung là biện minh hay xác nhận, suy luận quy nạp hay suy diễn?

L.P: À, tôi nghĩ là điều này thực sự giống như việc hỏi tôi cái gì..., ờ, kiểu như điều cho tôi thông tin về lý thuyết tương đối ở mức cơ bản trên tạp chí Reader’s Digest. Đây là một trong những vấn đề hóc búa và phức tạp nhất về nhận thức luận, tôi có thể đưa ra cho bạn câu trả lời nhưng tôi không nghĩ câu trả lời sẽ giúp ích gì được cho bạn, bởi vì nó khái quát rất rộng, nhưng sự quy nạp về mặt siêu hình học dựa trên luật nhân-quả 21, dựa trên thực tế là Hume22 đã sai, bạn biết đấy, chỉ là may mắn khi mặt trời vẫn mọc, mọi thứ xảy ra đều có lý do, các thực thể hoạt động một cách nhất định theo bản chất của chúng. Và do đó, giả sử chúng ta lấy một mẫu thích hợp, chúng ta có quyền dự đoán tương lai trên cơ sở quá khứ. Không phải tất cả đều là “việc bất ngờ và cơ hội”. Khi đó, vấn đề trở thành là làm sao bạn biết: khi nào bạn đã lấy được các mẫu thích hợp, và điều bạn nắm giữ đạt được mức độ khái quát thực sự. Và câu trả lời cho điều này trong một câu là: nó phải được tích hợp trong bất kỳ bối cảnh tri thức nào đó với mọi thứ khác có liên quan. Nó phải liên kết với mọi thứ khác có liên quan, nhưng để minh họa và làm rõ điều này sẽ mất hết 1 giờ cho một ví dụ ngắn của cả phần, vì vậy, tôi sẽ phải bỏ qua nó.

Hỏi:

MC: Câu hỏi đặt ra là về chủ đề mà Tiến sĩ Peikoff nói đến gần đây về hiệp hội triết học, phản ứng của họ như thế nào?

L.P: Chủ đề của buổi nói chuyện là một hội nghị chuyên đề có chủ đề: triết học và thế giới thực sự ngoài kia. Và phụ đề ẩn ngầm là: Có mối liên hệ nào không? [Vỗ tay] Một giáo sư triết học, theo thông lệ của hội nghị chuyên đề này, đưa ra một bài phát biểu, và sau đó ba người chúng tôi được yêu cầu đưa ra nhận xét về bài phát biểu của ông ấy và sau đó ông ấy phải trả lời nhận xét của chúng tôi, và sau đó đặt những câu hỏi, hình thức như vậy. Ông ấy đã đưa ra một bài phát biểu rất thú vị, người trình bày đầu tiên, ông ấy nói nhiều điều xác thực và mổ xẻ về tình trạng triết học hiện nay. Ông ấy là một ‘nhà phân tích’ nếu bạn biết nó có nghĩa là gì. Ông ấy là một triết gia có tiếng trong số các triết gia ngày nay và ông nói rằng họ là những nhà học thuật, tách rời với cuộc sống, rằng họ có những tính cách kỳ dị, tâm lý rất bất thường. Ông ấy dẫn dắt bằng nhiều lý do hoàn toàn chính đáng, và thực tế ông ta đã có một số điều rất hùng hồn trong bài báo cáo của mình. Ông ấy nói rằng chúng ta đã nghe kể về con tàu của những kẻ ngốc nhưng nghề nghiệp của chúng ta đứng đầu cả một hạm đội ngốc. [Vỗ tay] Vậy nên, tôi khích lệ, tất cả chúng ta, tất cả các bạn phát hành những bài báo cáo của mình trước để mọi người biết bạn nói gì. Và tôi đã đưa ra, nhiệm vụ của tôi về cơ bản là tìm ra cái ông ấy đã bỏ lỡ, và nói rằng tôi hoàn toàn đồng ý với mô tả của ông ấy, nhưng ông ấy không nói lý do tại sao mọi thứ lại như vậy, và sau đó đưa ra giải thích về nguyên nhân gốc rễ trong phần Kant23 và tiếp tục triết lý dẫn đến tình trạng thảm họa này. Hai diễn giả sau ông ấy và trước tôi đã rất hóm hỉnh, họ có rất nhiều chuyện vặt thực sự hài hước, nhưng họ ít nhiều coi nó như một bài phát biểu mang tính giải trí. Và khán giả tiếp nhận điều đó, họ rõ ràng không chấp nhận tôi, một số lượng lớn đứng dậy và bước ra ngoài khi tên tôi được gọi, và họ tiếp tục bước ra khi tôi tiếp tục. Chỉ còn lại một số ít các nhà triết học thực sự khi tôi hoàn thành. Tôi không mong đợi sự nổi tiếng và chắc chắn tôi đã không đạt được điều đó khi tôi hoàn thành. Kết thúc duy nhất của câu chuyện là khi người thuyết trình đầu tiên bắt đầu trả lời ý kiến của tôi, ông ấy nói: đối với những nhận xét của Leonard, tôi không thực sự muốn đi sâu vào triết học trong buổi chiều hôm nay. Vậy nên, tôi sẽ tóm tắt nó trong một từ, đó là một sự ‘thất bại hoàn toàn’. [Vỗ tay]

MC: Người hỏi trích dẫn câu nói của Ayn Rand, nói rằng...cảnh báo về tội không được tha thứ và anh ấy tự hỏi rằng liệu chúng ta có nên tha thứ cho người có nguyên tắc sai lầm.

L.P: Vâng, chủ nghĩa khách quan cho rằng tha thứ là một tội lỗi nếu bạn chấp nhận nó như một nguyên tắc, hay nói cách khác, nó đồng nghĩa với việc thỏa hiệp, làm ngơ, cho phép mọi người vi phạm quyền của bạn. Điều này không có nghĩa là luôn luôn sai khi tha thứ cho một cá nhân, tùy thuộc vào những gì họ đã làm, có thể chuộc tội được hay không và liệu họ có đưa ra cho bạn bất kỳ bằng chứng nào cho thấy họ đã chuộc lỗi hay không. Ví dụ, bạn không thể tha thứ cho ai đó giống như Adolf Hitler, cho dù ông ta có đến gặp bạn và nói rằng “Ta xin lỗi, ta đã thay đổi quyết định”, điều đó đơn giản là nằm ngoài ranh giới. Nhưng với quy mô tội phạm nhỏ hơn, giả sử người đó sẽ bồi thường nếu có thể và sau đó cung cấp cho bạn bằng chứng rằng anh ta thực sự thành khẩn, lúc này sự tha thứ từ phía bạn sẽ chỉ đơn giản là thừa nhận hiện thực. Nhưng tôi phải nhấn mạnh rằng không phải chỉ cần nói: “Tôi xin lỗi, tôi ước gì tôi đã không làm điều đó” là được. Người đó phải thực sự chứng minh trong một khoảng thời gian đáng kể, và bằng nhiều hành động khác nhau rằng anh ta đã thay đổi tính cách bên trong bản thân anh ta do cú sốc của tội ác mà anh ta đã phạm phải, rằng anh ta sẽ không tái phạm hành động đó nữa. Và trong bối cảnh đó, tôi sẽ nói rằng việc tha thứ cho anh ấy là hoàn toàn thích hợp, giả sử bạn không mất đi một giá trị không thể thay thế trong quá trình này. Nhưng nếu anh ta đã gây ra cho bạn điều gì đó, không thể thay thế được đối với bạn, ngay cả khi đó không phải là mạng sống, và bạn là..., giả sử, là một vũ công và anh ta đã đánh gãy chân bạn theo cách mà bạn không bao giờ có thể nhảy được nữa, và anh ta phải trả giá toàn bộ về mặt hình sự, và tưởng tượng, bằng một giả thuyết đáng kinh ngạc nào đó, anh ta đã đến gặp bác sĩ tâm lý trong 25 năm, rằng anh ta đã được chữa khỏi hoàn toàn, v.v. Về mặt lý thuyết, bạn vẫn có thể nói rằng anh ta không phạm tội nữa, nhưng cá nhân tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho anh ta vì ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi, và bạn hoàn toàn có quyền, trong trường hợp như thế, theo tôi, chắc chắn là vô đạo đức khi để ai đó tổn hại mình mà không phản kháng, tôi không thể nghĩ gì khác hơn là hành động tự-ghét-bản-thân và theo cách đó, tha thứ là một tội lỗi.

MC: Cảm ơn Tiến sĩ Peikoff đã đến với khóa học này. [Vỗ tay]

Nguồn: ReasonVN

Dịch giả:
Reason Việt Nam