Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Dẫn nhập
Không dễ gì có thể nói sự quan tâm đến tính chất khoa học của những vấn đề xã hội và chính trị xuất hiện muộn hơn so với sự quan tâm đến tính chất khoa học của nghiên cứu vũ trụ và của vật lý học. Bởi ngay từ thời Cổ Đại, có những giai đoạn mà khoa học về xã hội tưởng chừng đã có sự phát triển vươn xa hơn so với khoa học về tự nhiên (nói như vậy là tôi nghĩ đến luận thuyết chính trị của Plato và bộ hiến pháp của Aristotle). Nhưng với Galileo và Newton, vật lý học đã có những thành công ngoài mong đợi, qua mặt hầu hết các bộ môn khoa học khác; và kể từ Pasteur, người được coi là Galileo của sinh học, các khoa học sinh học cũng đã đạt được những thành tựu không thua kém. Trong khi đó, có vẻ như các bộ môn khoa học xã hội vẫn chưa tìm được cho mình một Galileo.
Trong hoàn cảnh ấy, các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau đã thể hiện một mối quan tâm lớn đến vấn đề phương pháp. Có rất nhiều cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề này đã dẫn dắt họ đến với những phương pháp được sử dụng trong các bộ môn khoa học phát triển rực rỡ nhất, đặc biệt là vật lý học. Chẳng hạn, trong thế hệ của Wilhelm Wundt, những nỗ lực sao chép một cách có ý thức phương pháp thực nghiệm của vật lý học đã dẫn tới một cuộc cải cách trong bộ môn tâm lý học; và bắt đầu từ J. S. Mill, hết nỗ lực này đến nỗ lực khác đã được đưa ra nhằm cải biến phương pháp của các bộ môn khoa học xã hội theo đường hướng đó. Ở một chừng mực nhất định, có thể nói những cuộc cách tân như vậy trong lĩnh vực tâm lý học cũng đã đạt được một số thành tựu, mặc dù có không ít kết quả tiêu cực. Còn ở các bộ môn khoa học lý thuyết về xã hội, trừ kinh tế học, những nỗ lực này không mang lại thành quả gì nhiều, nếu không muốn nói là chúng đã mang lại toàn những thất vọng. Khi tranh cãi về những thất bại, một câu hỏi đã sớm được đặt ra: liệu có thực sự áp dụng được các phương pháp của vật lý học cho khoa học xã hội hay không? Phải chăng sự cố gắng tin vào khả năng ápdụng những phương pháp như vậy đã là nguyên nhân gây ra tình trạng đáng thất vọng của những công trình nghiên cứu nói trên?
Câu hỏi này cho phép ta nghĩ đến một sự phân loại đơn giản các trường phái tư duy liên quan đến những phương pháp được áp dụng trong các bộ môn khoa học kém thành công hơn cả. Hiểu theo cách quan niệm của từng trường phái về khả năng áp dụng các phương pháp vật lý học, ta có thể chia những trường phải này thành hai nhóm: duy tự nhiên luận (pronaturalistic) và phản tự nhiên luận (anti-naturalistic). Ta gọi những trường phái ủng hộ việc áp dụng các phương pháp vật lý học vào các bộ môn khoa học xã hội là những trường phái “duy tựnhiên luận” hay là những trường phái “lạc quan”; còn những trường phái phản đối việc áp dụng này thì ta gọi là những trường phái “phản tự nhiên luận” hay là những trường phái “bi quan”.
Người chuyên nghiên cứu về phương pháp có thể hoặc tán thành cách nhìn “duy tự nhiên luận” hoặc tán thành cách nhìn “phản tự nhiên luận”, mà cũng có thể chấp nhận một học thuyết nào đó kết hợp cả hai cách nhìn; việc này phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm của anh ta về đặc tính của lĩnh vực đề tài anh ta đang nghiên cứu. Không những thế, lập trường của anh ta lại còn tùy thuộc vào việc anh ta hiểu các phương pháp được sử dụng trong vật lý học như thế nào. Tôi cho rằng điểm sau cùng này quan trọng hơn cả. Tôi cũng tin rằng những sai lầm có tính then chốt trong hầu hết các cuộc tranh cãi về phương pháp đều xuất phát từ những sự ngộ nhận rất phổ biến đối với các phương pháp vật lý học. Đặc biệt tôi đồ rằng chúng xuất phát từ sự ngộ giải đối với dạng thức logic của lý thuyết vật lý, đối với những phương pháp trắc nghiệm các lý thuyết đó và đối với chức năng logic của quan sát và của thực nghiệm. Theo quan điểm của tôi, những sự ngộ nhận như vậy sẽ chắc chắn dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng; và tôi sẽ cố biện minh cho quan điểm này ở phần III và IV của cuốn sách. Tôi sẽ cố chứng minh rằng những luận cứ và những luận điểm đa dạng và đôi khi đối lập nhau, dù là duy tự nhiên luận hay phản tự nhiên luận, đều thực ra xuất phát từ việc hiểu sai các phương pháp được vật lý học sử dụng. Tuy nhiên, trong phần I và phần II, tôi chỉ giới hạn vào việc giải thích một số luận điểm duy tự nhiên luận và một số luận điểm phản tự nhiên luận có liên quan đến một cách tiếp cận rất đặc biệt mà trong đó ta thấy có sự kết hợp của cả hai luận điểm trên.
Tôi gọi cách tiếp cận đặc biệt đó là thuyết sử luận, và việc đầu tiên tôi muốn làm là cắt nghĩa nó, rồi sau đó mới phê phán nó. Cách tiếp cận này rất hay được đề cập trong các cuộc thảo luận về phương pháp của các bộ môn khoa học xã hội, mặc dù nó cũng rất hay được vận dụng một cách thiếu phê phán, hoặc thậm chí được xem như một cách tiếp cận dĩ nhiên.
Thế nào là “sử luận”? Điều đó sẽ được cắt nghĩa đầy đủ trong toàn bộ công trình khảo cứu này. Ở đây tôi chỉ tạm vắn tắt như sau: “sử luận” theo tôi là một cách tiếp cận đối với các bộ môn khoa học xã hội mà với cách tiếp cận đó người ta khẳng định rằng nhiệm vụ chủ yếu của các bộ môn khoa học xã hội là tiên đoán lịch sử, và người ta còn khẳng định rằng mục đích này hẳn sẽ được đạt tới thông qua việc phát hiện ra những “nhịp độ” hoặc những “khuôn mẫu”, những “quy luật” hoặc những “xu hướng” được coi là nền tảng của quá trình tiến hóa lịch sử. Do tôi hoàn toàn tin rằng những luận điểm sử luận về phương pháp như vậy là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng không thỏa đáng của các bộ môn khoa học lý thuyết về xã hội (ngoại trừ kinh tế học), cho nên cách diễn giải của tôi về các luận điểm ấy hẳn sẽ không tránh khỏi những thiên kiến. Thế nhưng tôi đã cố hết sức tìm ra những lý do để bênh vực cho thuyết sử luận để làm hậu thuẫn cho những lý do nhằm bênh vực cho thuyết sử luận để làm hậu thuẫn cho những phê phán của tôi sau này. Tôi đã cố thử trình bày thuyết sử luận như một thứ triết lí đã được cân nhắc kỹ lưỡng và bao gồm những luận cứ chặt chẽ. Và rồi tôi đã không ngần ngại đưa ra những luận cứ nhằm bênh vực cho chủ thuyết ấy, mà theo tôi biết thì bản thân các nhà sử luận cũng chưa từng có được những luận cứ như vậy. Bằng cách ấy, tôi hy vọng mình đã tiếp tục tạo được cho thuyết sử luận một thế đứng đáng bỏ công sức để công kích. Nói cách khác, tôi đã cố hoàn thiện một lý thuyết thường xuyên được áp dụng, nhưng có lẽ chưa bao giờ được triển khai đầy đủ. Đó là lý do vì sao tôi đã rất thận trọng trong việc chọn dùng một cái nhãn có phần không thuận tai lắm là thuyết sử luận. Với việc đưa ra khái niệm này, tôi chỉ hy vọng tránh được những ý kiến chỉ trích vụn vặt về mặt câu chữ mà thôi, bởi lẽ tôi hy vọng rằng sẽ không có ai mất công nêu ra câu hỏi xem liệu có luận cứ nào được nêu ra trong cuộc thảo luận này thực sự là, hoặc chính xác là, hoặc về cơ bản là, một luận cứ theo lối của thuyết sử luận hay không, hay sẽ không có ai mất công thắc mắc xem cụm từ thuyết sử luận thực sự muốn nói, hoặc chính xác muốn nói, hoặc về cơ bản muốn nói lên điều gì.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
