Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 1: Những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 3)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 1: Những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 3)

5. SỰ THIẾU CHÍNH XÁC TRONG TIÊN ĐOÁN

Thông qua những cuộc tranh luận về các luận điểm duy tự nhiên luận giữa các nhà sử luận với nhau ta sẽ thấy thuyết sử luận có khuynh hướng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiên đoán, coi tiên đoán là một trong những nhiệm vụ của khoa học (ở góc độ này, tôi gần như hoàn toàn nhất trí với thuyết sử luận, mặc dù tôi tin rằng tiên tri lịch sử là một trong những nhiệm vụ của tất cả các bộ môn khoa học xã hội). Song thuyết sử luận lại lập luận tiếp rằng tiên đoán xã hội ắt là một việc làm vô cùng khó khăn, không những chỉ do tính phức hợp của các cấu trúc xã hội mà còn do cả tính phức hợp đặc thù nảy sinh từ mối quan hệ tương tác giữa những lời tiên đoán và những sự kiện đã được tiên đoán. Ý niệm cho rằng việc tiên đoán hẳn phải có ảnh hưởng tới sự kiện được tiên đoán là một ý niệm đã có từ xa xưa. Theo truyền thuyết, Oedipus đã giết chết người cha mà chàng chưa hề một lần gặp mặt; và đó là kết quả của lời tiên tri xưa kia khiến cha chàng ruồng bỏ chàng. Đó là nguyên nhân vì sao tôi muốn gọi sự ảnh hưởng của việc tiên đoán đến sự kiện được tiên đoán (hay khái quát hơn là ảnh hưởng của một đơn vị thông tin đến tình huống mà thông tin đó nói tới) là “hiệu ứng Oedipus”, dù sự ảnh hưởng này có chiều hướng hỗ trợ sự kiện được tiên đoán hay có chiều hướng ngăn ngừa sự kiện đó.

Các nhà sử luận gần đây đã chứng minh rằng ảnh hưởng loại này có khả năng liên quan trực tiếp tới khoa học xã hội; họ cho rằng nó có thể gây thêm nhiều trở ngại cho việc đưa ra những tiên đoán chính xác và phương hại đến tính khách quan của chúng. Việc cho rằng khoa học xã hội xưa nay phát triển được là nhờ có những dự đoán chính xác mang tính khoa học về mọi loại thực kiện và sự kiện xã hội theo họ, sẽ dẫn đến những hệ quả phi lý, và do đó, ta có thể dựa trên những cơ sở thuần túy logic để bác bỏ một giả định như vậy. Bởi vì, nếu có một thứ “lịch tử vi” xã hội được xây dựng một cách khoa học và được phổ biến rộng rãi (không thể giữ bí mật lâu về thứ lịch này vì về nguyên tắc bất cứ ai cũng có thể tái phát hiện ra nó), thì chắc chắn nó sẽ dẫn đến những hành động có khả năng làm đảo lộn những tiên đoán mà nó đưa ra. Chẳng hạn, giả sử ta tiên đoán được rằng giá cổ phiếu sẽ tăng trong vòng ba ngày rồi sau đó sẽ rớt. Một điều chắc chắn là tất cả những ai tham gia thị trường chứng khoán đều sẽ bán ra vào ngày thứ ba, làm giá cổ phiếu tụt ngay trong ngày đó, vậy là lời tiên đoán đã không còn chính xác. Tóm lại, ý tưởng về một lịch trình các sự kiện xã hội chính xác và chi tiết đã tự mâu thuẫn với chính nó; và do đó việc đưa ra những tiên đoán xã hội chính xác và chi tiết một cách khoa học là một việc làm bất khả.

6. TÍNH KHÁCH QUAN VÀ ĐÁNH GIÁ

Như chúng ta vừa thấy, với việc nhấn mạnh đến những khó khăn của tiên đoán trong các bộ môn khoa học xã hội, thuyết sử luận đã đưa ra những luận cứ dựa trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của những tiên đoán tới những sự kiện được tiên đoán. Nhưng cũng theo thuyết này thì trong một số hoàn cảnh nhất định, sự ảnh hưởng đó có thể có những tác động ngược lại đáng kể đối với người quan sát đưa ra tiên đoán. Ngay trong vật lý học cũng có những nhận định tương tự cho rằng mọi phép quan sát đều được tiến hành dựa trên cơ sở trao đổi năng lượng giữa người quan sát và đối tượng được quan sát. Điều đó đã dẫn đến tính bất định thường không được tính đến của các tiên đoán và nó được mô tả bằng một nguyên lý gọi là “nguyên lý bất định”. Có thể cho rằng tính bất định này là kết quả của mối tương tác giữa đối tượng được quan sát và chủ thể quan sát và cả hai lại thuộc cùng một thế giới vật lý như nhau của hành động và của tương tác. Như Bohr đã chứng minh, trong các bộ môn khoa học khác, nhất là trong sinh học và tâm lý học, cũng có những tình huống tương tự. Nhưng không đâu việc nhà khoa học với đối tượng của mình thuộc cùng một thế giới lại có tầm quan trọng lớn như trong các bộ môn khoa học xã hội. Điều đó đưa đến (như ta đã thấy) một sự bấp bênh, thiếu chắc chắn trong việc tiên đoán, và đôi khi trong thực tiễn, nó mang một ý nghĩa rất lớn.

Trong các bộ môn khoa học xã hội, ta phải đối mặt với một sự tương tác toàn diện và phức tạp giữa người quan sát với cái được quan sát, giữa chủ thể và đối tượng. Việc ý thức được sự tồn tại của những xu hướng có khả năng tạo ra một sự kiện trong tương lai, và hơn nữa, việc ý thức được bản thân lời tiên đoán có thể tác động đến những sự kiện được tiên đoán dường như có những tác động ngược lại với nội dung của tiên đoán; và rồi những tác động ngược lại lại có thể làm suy yếu một cách trầm trọng tính khách quan của những tiên đoán và của những kết quả nghiên cứu khác trong các bộ môn khoa học xã hội.

Một tiên đoán cũng là một biến cố xã hội, và do đó nó có thể tương tác với những biến cố xã hội khác, trong đó có biến cố đã được tiên đoán. Điều đó có thể (như ta thường thấy) khiến cho sự kiện xảy ra sớm hơn; nhưng cũng dễ thấy rằng nó có thể ảnh hưởng theo chiều ngược lại. Trong trường hợp hãn hữu nó có thể là nguyên nhân của biến cố: biến cố có thể hoàn toàn không xảy ra nếu không được tiên đoán. Trong trường hợp hãn hữu ngược lại, lời tiên đoán về một sự kiện mang tính đe dọa có thể dẫn đến thái độ phòng ngừa (do đó, với sự cẩn trọng hay bất cẩn khi đưa ra lời tiên đoán, nhà khoa học xã hội dường như có thể gây ra biến cố hay dập tắt biến cố). Hiển nhiên là còn nhiều trường hợp trung gian nằm giữa hai trường hợp tới hạn nói trên. Cả hành động tiên đoán điều gì đó lẫn hành động dè dặt trong việc tiên đoán điều gì đó đều có thể dẫn đến hàng loạt hệ quả khác nhau.

Vậy là rõ ràng các nhà khoa học xã hội phải kịp thời ý thức được những khả năng nói trên. Một nhà khoa học xã hội, chẳng hạn, có quyền tiên đoán một điều gì đó và có thể thấy trước việc tiên đoán của mình sẽ khiến điều đó xảy ra. Hoặc giả người đó có quyền cho rằng một sự kiện nào đó là một sự kiện không đáng trông đợi, và do đó anh ta tìm cách ngăn ngừa nó. Và trong cả hai trường hợp, nhà khoa học đều có vẻ như vẫn tôn trọng một nguyên tắc được coi là nguyên tắc về tính khách quan khoa học: nói ra sự thật và chỉ sự thật. Nhưng mặc dù nhà khoa học có nói lên sự thật chăng nữa thì chúng ta vẫn không thể bảo rằng anh ta đã tuân thủ tính khách quan khoa học; bởi vì trong khi đưa ra những dự báo (về những biến cố sắp xảy ra) anh ta vẫn có thể tác động đến những biến cố theo chiều hướng mà cá nhân anh ta mong muốn.

Tuy có thể thừa nhận bức tranh trên đây đã phần nào khái quát được vấn đề, nhưng nhà sử luận sẽ còn đòi hỏi phải làm thật rõ một điểm mà ta dễ nhận ra ở hầu hết mọi đề tài nghiên cứu của các bộ môn khoa học xã hội. Sự tương tác giữa những lời công bố của nhà khoa học xã hội gần như luôn tạo ra những tình huống trong đó ta không những cần cân nhắc lại chân lý của những lời công bố đó mà còn phải luôn xem xét đến ảnh hưởng thực tế của chúng đến sự phát triển tương lai. Nhà khoa học xã hội có quyền dồn hết nỗ lực cho chân lý; nhưng đồng thời anh ta còn có nhiệm vụ tác động vào xã hội. Chính việc những công bố của nhà khoa học phải mang lại ảnh hưởng cho xã hội đã phá hỏng tính khách quan của chúng.

Đến giờ chúng ta vẫn giả định rằng nhà khoa học xã hội dồn hết nỗ lực cho chân lý, và không gì ngoài chân lý; nhưng nhà sử luận sẽ vạch cho ta thấy những gì được mô tả đã gây khó khăn như thế nào cho lời giả định của chúng ta. Bởi vì một khi những sự ưu tiên lựa chọn và những quyền lợi còn ảnh hưởng đến các lý thuyết khoa học và các tiên đoán thì ta rất khó mong đợi sẽ xác định hay né tránh được thái độ thiên vị. Do đó ta không nên ngạc nhiên về việc ở các bộ môn khoa học xã hội hầu như không có gì giống với sự truy tìm chân lý mang tính khách quan và lý tưởng thấy được ở vật lý học. Chúng ta nên trông đợi tìm thấy ở các bộ môn khoa học xã hội tính đa xu hướng mà chúng ta thấy được trong đời sống xã hội, ở đó các quan điểm cũng nhiều như các quyền lợi. Một câu hỏi được đặt ra là liệu có phải luận cứ mang tính sử luận nói trên sẽ dẫn đến một dạng tương đối luận cực đoan cho rằng tính khách quan, và cả lý tưởng về chân lý, đều hoàn toàn không thể áp dụng được trong các bộ môn khoa học xã hội hay không, nơi chỉ có những thành công - những thành công về mặt chính trị - là mang tính quyết định.

Để minh họa cho những luận cứ như vậy, nhà sử luận tất sẽ chỉ ra rằng bất cứ khi nào thấy có một xu hướng cố hữu nhất định trong một giai đoạn phát triển của xã hội, ta đều có thể hy vọng tìm ra những lý thuyết xã hội học ảnh hưởng đến sự phát triển đó. Có thể coi khoa học xã hội như một bà đỡ giúp sức cho sự ra đời của những giai đoạn xã hội mới; nhưng khi nằm trong tay của những quyền lợi bảo thủ, nó lại cũng có thể được sử dụng để trì hoãn những biến đổi đang sắp xảy ra.

Một quan niệm như vậy có thể giúp mở ra khả năng phân tích và cắt nghĩa những khác biệt giữa nhiều học thuyết và trường phái xã hội học khác nhau, hoặc bằng việc xem xét chúng trong mối tương quan với những ưu tiên lựa chọn và những quyền lợi đang chiếm ưu thế trong một giai đoạn lịch sử nhất định (một cách tiếp cận đôi khi được gọi là cách tiếp cận theo “thuyết sử quan” [historism], và không nên nhầm lẫn nó với cái tôi gọi là “thuyết sử luận” [historicism]), hoặc bằng việc xem xét chúng trong mối tương quan với những quyền lợi chính trị, kinh tế hay giai cấp (một cách tiếp cận đôi khi còn được gọi là “xã hội học tri thức”).

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.