Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 5)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 5)

31. LOGIC TÌNH HUỐNG TRONG SỬ HỌC, DIỄN GIẢI LỊCH SỬ

Tất cả chỉ có thế thôi sao? Vậy thì mong muốn của thuyết sử luận là có một cuộc cải tổ đối với môn sử học - một môn xã hội học đóng vai trò của một môn sử học lí thuyết, hoặc một lí thuyết về quá trình phát triển lịch sử - chẳng có ý nghĩa gì ư (xem mục 12 và 16)? Thế còn ý tưởng của những nhà sử luận về các “thời kì”, về “tinh thần” hay “nét đặc trưng” của một thời đại, về những xu hướng lịch sử không gì cưỡng được; về những trào lưu cuốn hút tâm trí mọi cá nhân và cuồn cuộn như nước triều lên, cuốn trôi cả những cá nhân thay vì bị các cá nhân dồn thúc, tất cả những thứ đó thì sao đây? Không mấy ai đã từng đọc, chẳng hạn, những suy đoán trong cuốn tiểu thuyết Chiến tranh và Hòa bình của Tolstoy - một nhà sử luận - trong đó, ông đã giãi bày những động cơ của mình một cách bộc trực và chân thành về trào lưu hướng về phương Đông của người phương Tây và trào lưu hướng về phương Tây của người Nga (Tolstoy đã tiên liệu được những vấn đề mà gần đây Giáo sư Toynbee đề cập nhưng còn bỏ ngỏ), lại có thể phủ nhận một điều rằng thuyết sử luận đang đáp lại một nhu cầu có thực. Chúng ta phải thỏa mãn nhu cầu này bằng việc cống hiến một cái gì đó khả quan hơn trước khi ta có thể hi vọng rũ bỏ thuyết sử luận một cách nghiêm túc.

Quan điểm sử luận của Tolstoy là một phản ứng chống lại một phương pháp viết sử vốn mặc nhiên chấp nhận sự đúng đắn của nguyên lí lãnh đạo, một phương pháp vốn đề cao tầm quan trọng - quá đề cao, nếu Tolstoy đúng, mà hẳn là ông phải đúng - của vĩ nhân, của lãnh tụ. Tolstoy đã cố chứng minh, một cách thành công theo tôi nghĩ, ảnh hưởng nhỏ bé của những hành động và những quyết định của Napoleon, của Alexander, của Kutuzov và của những lãnh tụ lớn vào năm 1812 đối với những gì ta có thể gọi là logic của các sự kiện. Tolstoy đã chỉ ra được một cách chính xác tầm quan trọng vô cùng lớn lao nhưng bị quên lãng của những quyết định và hành động của vô số những cá nhân vô danh đã chiến đấu trên các chiến trường, đã phóng hỏa thành Moscow, và đã nghĩ ra chiến tranh du kích. Nhưng ông tin rằng qua những sự kiện ấy ông có thể nhìn ra được một kiểu quyết định luận lịch sử nào đó - một định mệnh, những định luật lịch sử, hay một kế hoạch. Trong phiên bản của mình về thuyết sử luận, ông đã pha trộn vào đó cả chủ nghĩa cá nhân phương pháp luận lẫn chủ nghĩa tập thể; có nghĩa là, ông đã đại diện cho một sự kết hợp tiêu biểu - tiêu biểu cho thời đại ông, và tôi e rằng cho cả thời đại chúng ta - giữa những yếu tố dân chủ mang tính cá nhân chủ nghĩa và những yếu tố tập thể chủ nghĩa mang màu sắc quốc gia.

Ví dụ trên đây có thể nhắc nhở chúng ta rằng thuyết sử luận có một vài yếu tố hợp lí nhất định của nó. Nó là một phản ứng chống lại phương pháp diễn giải lịch sử chính trị một cách ấu trĩ bằng cách xem đó chỉ đơn thuần là câu chuyện của những bạo chúa và những vị tướng vĩ đại. Các nhà sử luận cảm nhận được rằng còn một cái gì đó khả quan hơn phương pháp này nhiều. Đó chính là cái cảm nhận đã mang lại cho họ ý tưởng về những thứ “tinh thần” - của một thời đại, của một dân tộc, của một đạo quân - vô cùng hấp dẫn.

Vậy mà tôi lại chẳng hề cảm tình với những thứ “tinh thần” ấy - chẳng cảm tình với nguyên mẫu mang tính hệ ý tưởng của chúng mà cũng chẳng cảm tình với những hiện thân biện chứng và duy vật của chúng. Tôi lại hoàn toàn có cảm tình với những ai tỏ ra xem thường chúng. Tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy rằng ít nhất chúng cũng vạch ra cho thấy một lỗ hổng, một sự thiếu hụt mà môn xã hội học có nhiệm vụ lấp đầy bằng một cái gì đó có ý nghĩa hơn, thể như một sự phân tích thấu đáo những vấn đề nổi lên từ một truyền thống. Còn đủ chỗ trống cho một sự phân tích logic tình huống thật chi tiết. Mặc dù ít nhiều vô thức nhưng các nhà sử học giỏi vẫn thường áp dụng quan niệm này. Tolstoy chẳng hạn, khi ông giải thích vì sao không có một quyết định nào được đưa ra như những “sự tất yếu” đã khiến các đạo quân Nga không chiến đấu mà rút chạy khỏi Moscow để tìm một nơi có nhiều lương thực hơn. Ngoài tầm của cái logic tình huống này, hoặc có thể coi như một yếu tố của cái logic ấy, chúng ta cần có một thứ gì đó giống như một sự phân tích các trào lưu [hay những sự vận động của] xã hội. Chúng ta cần đến những công trình nghiên cứu, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân phương pháp luận, về những thiết chế xã hội mà thông qua đó những ý tưởng có thể lan truyền và quyến rũ các cá nhân khác nhau, về cách mà những truyền thống mới được hình thành, và về cách mà các truyền thống tác động và bị phá hủy. Nói cách khác, những mô hình cá nhân luận và duy thiết chế của chúng ta về các thực thể có tính tập thể như các quốc gia, hay các chính thể, hay các thị trường, sẽ phải được bổ sung những mô hình về các tình huống chính trị cũng như về các trào lưu xã hội như sự tiến bộ khoa học và công nghiệp (một sự phân tích về tiến bộ sẽ được phác qua ở mục tiếp đây). Những mô hình như vậy có thể nên được các nhà sử học sử dụng, một phần giống với những mô hình kia, một phần là dành cho mục đích kiến giải, cùng với những định luật phổ quát khác mà họ sử dụng. Nhưng ngay cả thế thì dường như cũng chưa đủ, chưa thỏa mãn được những đòi hỏi thực sự mà thuyết sử luận cố tìm cách thỏa mãn.

Nếu xem xét khoa học lịch sử dưới góc độ sự so sánh của chúng ta giữa chúng với các khoa học lí thuyết, ta có thể thấy rằng sự thiếu quan tâm đến các định luật phổ quát của chúng đã đặt chúng vào một vị thế khó khăn. Bởi trong khoa học lí thuyết, bên cạnh những thứ khác, các định luật tác động với tính chất những trung tâm thu hút sự quan tâm liên quan đến các phép quan sát, hoặc với tính chất những góc nhìn mà từ đó các phép quan sát được tiến hành. Trong sử học thì những định luật phổ quát phần lớn là ít quan trọng và thường được sử dụng một cách vô thức, cho nên khó có thể đáp ứng được chức năng nói trên. Phải có một cái gì khác thay thế chúng. Bởi chắc chắn không có thứ sử học nào không dựa trên một quan đỉểm, không xuất phát từ một góc nhìn. Cũng tựa như các môn khoa học tự nhiên, sử học phải mang tính chọn lọc nếu không muốn chết nghẹt dưới một đống những sử liệu nghèo nàn và thiếu mạch lạc. Những nỗ lực lần theo một chuỗi nhân quả kéo dài từ quá khứ xa xôi chẳng giúp ích gì, vì mỗi kết quả cụ thể mà ta muốn dùng để lần ngược đều có một số lớn những nguyên nhân không hoàn chỉnh khác nhau. Có nghĩa là, những điều kiện ban đầu là vô cùng phức hợp, và hầu hết đều quan trọng chút ít với chúng ta.

Tôi tin rằng cách duy nhất để vượt qua trở ngại này là phải áp dụng một cách có ý thức vào sử học một quan điểm chọn lọc được định trước, tức là phải viết loại lịch sử quan trọng với chúng ta.

Điều này không có nghĩa là ta phải uốn các thực kiện cho đến khi chúng vừa với khuôn khổ của những ý tưởng đã được định trước, hoặc được quyền bỏ qua những thực kiện không vừa khuôn (để biết thêm về ý kiến phê phán đối với luận thuyết cho rằng mọi tri thức lịch sử đều tương đối, xin xem Hayek, Economica, tập X, từ trang 55). Trái lại, tất cả những bằng chứng có thể dùng được có liên quan với quan điểm của chúng ta đều phải được xem xét một cách kĩ lưỡng và khách quan (hiểu theo nghĩa của “tính khách quan khoa học”, sẽ được đề cập ở mục sau). Nhưng điều đó còn muốn nói rằng ta không cần thiết phải bận tâm lắm đến tất cả những thực kiện và khía cạnh không liên quan đến quan điểm của chúng ta và do đó chúng không quan trọng với chúng ta.

Những cách tiếp cận chọn lọc như vậy đáp ứng được các chức năng trong nghiên cứu lịch sử, mà ít nhiều những chức năng ấy cũng tương tự như những chức năng của các lí thuyết trong khoa học. Do đó cũng dễ hiểu vì sao chúng thường được coi là những lí thuyết. Và đúng vậy, những ý tưởng hiếm hoi vốn có trong những cách tiếp cận ấy có thể được trình bày dưới dạng những giả thuyết có khả năng trắc nghiệm được, dù đó là những giả thuyết đơn lẻ hay phổ quát, và thế là chúng được xem như những giả thuyết khoa học. Nhưng nhìn chung, những “cách tiếp cận” hay “quan điểm” lịch sử này không thể mang ra trắc nghiệm được. Chúng không thể bị bác bỏ, và do đó những khẳng định không tranh cãi được chính là những khẳng định vô giá trị, kể cả chúng có nhiều như sao trời. Chúng ta sẽ gọi một thứ quan điểm chọn lọc hay một thứ tâm điểm của mối quan tâm mang tính lịch sử như vậy - nếu không thể trình bày nó như một giả thuyết có thể mang ra trắc nghiệm - là một sự diễn giải lịch sử.

Thuyết sử luận lẫn lộn những diễn giải như vậy với những lí thuyết. Đó là một trong những sai lầm cốt yếu của thuyết sử luận, chẳng hạn, ta có thể diễn giải “lịch sử” như lịch sử đấu tranh giai cấp, hoặc như lịch sử đấu tranh chủng tộc để giành quyền là chủng tộc thượng đẳng, hoặc như lịch sử tư tưởng tôn giáo hoặc lịch sử đấu tranh giữa xã hội “mở” và xã hội “khép kín”, hoặc như lịch sử của tiến bộ khoa học và công nghiệp. Tất cả đều là những quan điểm mang tính quan trọng không ít thì nhiều và không có gì đáng chê trách. Nhưng các nhà sử luận lại không trình bày chúng đúng như thế. Họ không nhìn ra sự cần thiết của tính đa dạng trong những cách diễn giải về cơ bản tương đương nhau (cho dù một số trong những cách diễn giải ấy có thể nổi bật lên nhờ vào tính phong phú của chúng - một điều ít nhiều có ý nghĩa). Thay vì thế, họ trình bày chúng như những học thuyết hoặc lí thuyết, và khăng khăng rằng “toàn bộ lịch sử là lịch sử đấu tranh giai cấp”,.v..v. Và nếu thấy rằng quan điểm của mình là phong phú và có nhiều thực kiện có thể được sắp xếp theo thứ tự và diễn giải dưới ánh sáng quan điểm của mình, họ sẽ nhầm lẫn quan điểm với một sự chứng thực, hoặc thậm chí một phép chứng minh, cho học thuyết của họ.

Mặt khác, những sử gia kinh điển dù không tán thành quy trình này cũng vẫn dễ phạm phải một sai lầm lớn khác.

Nhân danh tính khách quan, họ thấy bị buộc phải loại bỏ mọi quan điểm chọn lọc. Nhưng bởi điều đó là không thể thực hiện, họ thường chấp nhận các quan điểm mà không hề ý thức rõ về chúng. Điều đó chắc chắn sẽ vô hiệu hóa mọi nỗ lực muốn trở nên khách quan của họ, vì khó mà phê phán được quan điểm của chính mình và biết được những hạn chế của nó nếu không luôn ý thức về nó một cách rõ ràng.

Việc làm hiển nhiên duy nhất nhằm thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan này là phải ý thức được sự tất yếu trong việc chấp nhận một quan điểm; phải trình bày quan điểm đó một cách rõ ràng, rành mạch, và phải luôn ý thức được rằng đó chỉ là một trong nhiều quan điểm khác nhau, và thậm chí cho dù đó có thể được xem như một lí thuyết thì cũng không có gì bảo đảm là có thể mang nó ra trắc nghiệm được.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.

Dịch giả:
Chu Lan Đình