Vì một nền tự do mới - Chương 12: Khu vực công III - Cảnh sát, luật và tòa án
Sự bảo vệ của cảnh sát
Thị trường và doanh nghiệp tư nhân thực sự tồn tại, nên hầu hết mọi người có thể dễ dàng hình dung về một thị trường tự do trong hầu hết các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, có lẽ lĩnh vực khó nắm bắt nhất lại là việc xóa bỏ các hoạt động của chính phủ trong vai trò bảo vệ: cảnh sát, tòa án, v.v. — tức là lĩnh vực liên quan đến việc bảo vệ con người và tài sản khỏi bị tấn công hay xâm phạm. Làm sao doanh nghiệp tư nhân và thị trường tự do có thể cung cấp những dịch vụ như vậy? Làm sao cảnh sát, hệ thống pháp luật, tư pháp, cơ quan thực thi pháp luật, nhà tù — làm sao tất cả những dịch vụ ấy có thể tồn tại trong khuôn khổ của thị trường tự do? Chúng ta đã thấy rằng ít nhất, một phần đáng kể dịch vụ bảo vệ của cảnh sát có thể được cung cấp bởi các chủ sở hữu đường phố và đất đai khác nhau. Nhưng giờ đây, cần xem xét toàn bộ lĩnh vực này một cách có hệ thống.
Trước hết, có một ngộ nhận phổ biến — ngay cả trong số những người ủng hộ tự do kinh doanh — rằng chính phủ phải cung cấp “dịch vụ bảo vệ của cảnh sát”, như thể đó là một thực thể tuyệt đối, một lượng cố định nào đó mà chính phủ phân phối cho mọi người. Thực tế thì không hề có một “hàng hóa tuyệt đối” nào gọi là “sự bảo vệ của cảnh sát”, cũng như không có một hàng hóa duy nhất nào gọi là “thực phẩm” hay “nơi trú ẩn”. Đúng là mọi người đều đóng thuế cho một mức độ bảo vệ tưởng như cố định, nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Trên thực tế, có vô số cấp độ bảo vệ khác nhau. Với mỗi cá nhân hoặc doanh nghiệp, cảnh sát có thể cung cấp từ một viên cảnh sát đi tuần một lần mỗi đêm, đến hai cảnh sát túc trực thường xuyên ở từng khu phố, hoặc xe tuần tra, thậm chí đến một hay nhiều vệ sĩ riêng trực suốt ngày đêm. Ngoài ra, còn hàng loạt quyết định khác mà lực lượng cảnh sát phải đưa ra — sự phức tạp của chúng sẽ hiện rõ ngay khi ta gỡ bỏ lớp màn huyễn tưởng về “sự bảo vệ tuyệt đối”: cảnh sát sẽ phân bổ ngân sách hạn hẹp của họ ra sao? đầu tư bao nhiêu vào thiết bị điện tử, vào lấy dấu vân tay, vào thám tử so với cảnh sát mặc đồng phục, vào xe tuần tra hay cảnh sát đi bộ, v.v.?
Vấn đề là: chính phủ không có phương thức hợp lý nào để đưa ra các quyết định phân bổ này. Họ chỉ biết rằng ngân sách có hạn, và việc phân bổ ngân sách rốt cuộc lại bị chi phối bởi chính trị, sự phung phí và bộ máy quan liêu kém hiệu quả — mà không có bất kỳ chỉ dấu nào cho thấy liệu sở cảnh sát có đang phục vụ người dân đúng theo nhu cầu của họ hay không, hoặc có vận hành hiệu quả hay không. Tình hình sẽ hoàn toàn khác nếu các dịch vụ cảnh sát được cung cấp trên thị trường tự do, mang tính cạnh tranh. Khi đó, người dân sẽ trả tiền cho mức độ bảo vệ mà họ muốn mua: những ai chỉ muốn thỉnh thoảng thấy cảnh sát sẽ trả ít hơn, những ai muốn tuần tra liên tục trả nhiều hơn, và những người cần vệ sĩ suốt ngày đêm sẽ trả cao nhất. Trên thị trường tự do, dịch vụ bảo vệ sẽ được cung cấp theo mức độ và hình thức mà người tiêu dùng sẵn sàng chi trả. Động lực hướng đến hiệu quả sẽ luôn được đảm bảo — như mọi lĩnh vực khác trên thị trường — bởi nhu cầu tạo ra lợi nhuận, tránh thua lỗ, giảm chi phí và đáp ứng tối đa mong muốn của khách hàng. Bất kỳ công ty cảnh sát nào hoạt động kém hiệu quả sẽ sớm phá sản và biến mất.
Một vấn đề lớn mà lực lượng cảnh sát nhà nước luôn phải đối mặt là: thực ra nên thực thi điều luật nào? Về mặt lý thuyết, các sở cảnh sát chịu mệnh lệnh tuyệt đối: “thực thi tất cả các điều luật.” Nhưng trên thực tế, ngân sách hạn hẹp buộc họ phải phân bổ nhân lực và trang thiết bị cho những tội phạm cấp bách nhất. Tuy nhiên, chính mệnh lệnh tuyệt đối ấy lại đi ngược lại nguyên tắc phân bổ nguồn lực một cách hợp lý. Trên thị trường tự do, điều được “thực thi” chính là bất cứ thứ gì mà khách hàng sẵn sàng chi trả. Ví dụ, giả sử ông Jones có một viên ngọc quý mà ông tin rằng có thể sắp bị đánh cắp, ông có thể yêu cầu — và trả tiền cho — dịch vụ bảo vệ suốt ngày đêm, với quy mô lực lượng tùy theo thỏa thuận với công ty cảnh sát. Ngược lại, ông cũng có thể có một con đường riêng trong khu đất của mình mà ông không muốn nhiều người qua lại, nhưng lại chẳng mấy bận tâm nếu có ai đó xâm phạm. Trong trường hợp đó, ông ta sẽ không dành bất kỳ nguồn lực cảnh sát nào để bảo vệ con đường đó. Cũng như trên thị trường nói chung, quyền quyết định thuộc về người tiêu dùng — và vì tất cả chúng ta đều là người tiêu dùng, có nghĩa là mỗi cá nhân sẽ tự quyết định mức độ và hình thức bảo vệ mà mình mong muốn và sẵn sàng chi trả.
Tất cả những điều đã nói về lực lượng cảnh sát của các chủ đất đều có thể áp dụng cho cảnh sát tư nhân nói chung. Cảnh sát trên thị trường tự do không chỉ hoạt động hiệu quả hơn, mà còn có động lực mạnh mẽ để cư xử nhã nhặn và tránh bạo lực với khách hàng, cũng như với bạn bè hoặc đối tác của khách hàng. Công viên Trung tâm tư nhân, chẳng hạn, sẽ được bảo vệ hiệu quả để tối đa hóa doanh thu của công viên, thay vì áp đặt lệnh giới nghiêm hà khắc đối với những khách hàng vô tội — những người thực sự đã trả tiền cho dịch vụ đó. Trên thị trường tự do, sự bảo vệ hiệu quả và lịch sự của cảnh sát sẽ được tưởng thưởng; còn sự tắc trách hay thô bạo sẽ bị trừng phạt. Sẽ không còn tồn tại khoảng cách giữa dịch vụ và việc trả tiền — vốn là đặc trưng cố hữu của mọi hoạt động của chính phủ. Khoảng cách này có nghĩa là cảnh sát, cũng như mọi cơ quan nhà nước khác, không thu được nguồn thu một cách tự nguyện và cạnh tranh từ người tiêu dùng, mà từ người nộp thuế bằng biện pháp cưỡng bức.
Thực tế cho thấy, khi cảnh sát nhà nước ngày càng kém hiệu quả, người dân ngày càng chuyển sang các hình thức bảo vệ tư nhân. Chúng ta đã đề cập đến dịch vụ bảo vệ khu phố hoặc khu dân cư. Ngoài ra còn có vệ sĩ tư, công ty bảo hiểm, thám tử tư, cùng những thiết bị ngày càng tinh vi như két sắt, khóa an toàn, hệ thống camera và báo động chống trộm. Năm 1969, Ủy ban của Tổng thống về Thực thi Pháp luật và Quản lý Tư pháp ước tính rằng cảnh sát nhà nước tiêu tốn của người dân Mỹ 2,8 tỷ đô la mỗi năm, trong khi họ chi 1,35 tỷ đô la cho dịch vụ bảo vệ tư nhân và thêm 200 triệu đô la cho thiết bị — tức chi phí bảo vệ tư nhân đã chiếm hơn một nửa tổng chi tiêu cho cảnh sát nhà nước. Những con số này hẳn khiến những ai cả tin vào “quyền năng thần bí” cho rằng bảo vệ cảnh sát là thuộc tính vĩnh viễn và tất yếu của chủ quyền Nhà nước phải suy ngẫm lại[1].
Mọi độc giả tiểu thuyết trinh thám đều biết rằng các thám tử bảo hiểm tư nhân thường hiệu quả hơn cảnh sát trong việc thu hồi tài sản bị đánh cắp. Các công ty bảo hiểm không chỉ được thúc đẩy bởi yếu tố kinh tế để phục vụ khách hàng — và do đó, tìm cách tránh chi trả bồi thường — mà trọng tâm của họ cũng rất khác với cảnh sát. Cảnh sát, với tư cách là đại diện cho “xã hội” trừu tượng, chủ yếu quan tâm đến việc bắt giữ và trừng phạt tội phạm; còn việc trả lại tài sản cho nạn nhân chỉ là thứ yếu. Trong khi đó, với công ty bảo hiểm và các thám tử của họ, mục tiêu hàng đầu là thu hồi tài sản, còn việc bắt giữ hay trừng phạt tội phạm chỉ là phương tiện phụ để phục vụ nạn nhân — tức khách hàng của họ. Ở đây ta lại thấy rõ sự khác biệt giữa doanh nghiệp tư nhân, vốn bị thôi thúc bởi động lực phục vụ khách hàng, và cảnh sát công quyền, vốn không chịu ràng buộc bởi bất kỳ áp lực kinh tế nào như thế hết.
Dĩ nhiên, chúng ta không thể phác họa chi tiết thị trường mới chỉ tồn tại trên lý thuyết. Tuy vậy, có cơ sở để tin rằng trong xã hội tự do, dịch vụ cảnh sát sẽ được cung cấp bởi các chủ đất hoặc các công ty bảo hiểm. Vì các công ty bảo hiểm phải bồi thường cho nạn nhân của tội phạm, nên có khả năng cao là họ sẽ cung cấp dịch vụ cảnh sát như một biện pháp phòng ngừa nhằm giảm thiểu tội phạm — và qua đó, giảm chi phí bồi thường. Trong mọi trường hợp, dịch vụ cảnh sát rất có thể sẽ được chi trả thông qua phí bảo hiểm hàng tháng, và cơ quan cảnh sát — dù là công ty bảo hiểm hay đơn vị độc lập — sẽ được gọi đến bất cứ khi nào người dân cần đến họ.
Điều này mang lại câu trả lời đơn giản đầu tiên cho “ác mộng lý luận” quen thuộc của những người lần đầu nghe đến ý tưởng về lực lượng cảnh sát hoàn toàn tư nhân: “Nghĩa là nếu bạn bị tấn công hay cướp, bạn phải chạy đi tìm cảnh sát và mặc cả xem bảo vệ mình tốn bao nhiêu tiền à?” Chỉ cần suy nghĩ một chút, ta sẽ thấy rằng trên thị trường tự do, không có dịch vụ nào được cung cấp theo cách đó. Rõ ràng là, người muốn được Cơ quan A hay Công ty Bảo hiểm B bảo vệ sẽ trả phí định kỳ, chứ không đợi đến khi bị tấn công mới đi mua bảo hiểm. “Nhưng giả sử có tình huống khẩn cấp, và một cảnh sát của Công ty A thấy ai đó đang bị cướp — liệu anh ta có dừng lại để hỏi xem nạn nhân đã mua bảo hiểm của Công ty A hay chưa?” Trước hết, loại tội phạm đường phố như vậy sẽ do lực lượng cảnh sát được thuê bởi chủ sở hữu đường phố đó xử lý. Nhưng trong trường hợp hiếm hoi, nếu một khu phố không có lực lượng cảnh sát riêng và cảnh sát của Công ty A tình cờ chứng kiến vụ tấn công, liệu anh ta có can thiệp hay không? Điều đó, dĩ nhiên, tùy thuộc vào chính sách của Công ty A; nhưng thật khó tưởng tượng rằng các công ty cảnh sát tư nhân lại không muốn gây dựng thiện chí bằng cách hỗ trợ miễn phí cho nạn nhân trong các tình huống khẩn cấp — rồi có thể mời người được cứu quyên góp tự nguyện sau đó. Trong trường hợp một chủ nhà bị cướp hay tấn công, tất nhiên anh ta sẽ gọi công ty cảnh sát mà mình đã đăng ký — tức là gọi “Công ty Cảnh sát A”, chứ không phải gọi “cảnh sát” theo cách thông thường.
Cạnh tranh bảo đảm hiệu quả, chi phí thấp và chất lượng cao. Không có lý do gì để mặc định, như nhiều người vẫn nghĩ, rằng việc chỉ có một cơ quan cảnh sát duy nhất trong một khu vực địa lý nhất định là do “thiên định”. Các nhà kinh tế học thường cho rằng một số hàng hóa hay dịch vụ thuộc dạng “độc quyền tự nhiên”, nghĩa là không thể có nhiều hơn một doanh nghiệp tư nhân cùng tồn tại lâu dài trong một khu vực. Có thể là như thế — nhưng chỉ thị trường hoàn toàn tự do mới có thể quyết định điều này một cách dứt khoát. Chỉ thị trường mới có thể xác định bao nhiêu công ty, với quy mô và chất lượng ra sao, có thể tồn tại trong cạnh tranh năng động. Không có lý do gì để cho rằng dịch vụ bảo vệ cảnh sát là “độc quyền tự nhiên”. Suy cho cùng, các công ty bảo hiểm đâu có như thế; và nếu ta có thể có các công ty bảo hiểm như Metropolitan, Equitable, Prudential... cùng tồn tại song song, thì tại sao lại không thể có các công ty cảnh sát tư nhân Metropolitan, Equitable, và Prudential cùng tồn tại? Gustave de Molinari — nhà kinh tế học người Pháp thế kỷ XIX theo trường phái thị trường tự do — là người đầu tiên trong lịch sử nghĩ đến và cổ súy cho thị trường tự do trong lĩnh vực bảo vệ cảnh sát[2]. Ông ước tính rằng cuối cùng sẽ xuất hiện nhiều cơ quan cảnh sát tư nhân cùng hoạt động song song ở các thành phố, và một cơ quan duy nhất tại mỗi khu vực nông thôn. Có thể là vậy — nhưng cần nhận ra rằng công nghệ hiện đại ngày nay khiến việc mở các chi nhánh của những công ty lớn ở đô thị trở nên khả thi hơn nhiều, ngay cả tại các vùng hẻo lánh. Vì thế, một người sống ở ngôi làng nhỏ tại Wyoming có thể thuê dịch vụ của một công ty bảo vệ địa phương, hoặc sử dụng chi nhánh gần đó của Công ty Bảo vệ Đô thị.
“Nhưng người nghèo thì sao? Làm sao họ có thể trả tiền cho dịch vụ bảo vệ tư nhân thay vì được bảo vệ miễn phí như hiện nay?” Có vài câu trả lời cho câu hỏi này — vốn là một trong những phản biện phổ biến nhất đối với ý tưởng về cảnh sát hoàn toàn tư nhân. Trước hết, vấn đề này thực ra áp dụng cho bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào trong xã hội tự do, chứ không riêng gì cảnh sát. Nhưng bảo vệ chẳng phải là nhu cầu thiết yếu hay sao? Có thể đúng, nhưng thực phẩm, quần áo, chỗ ở... cũng đều thiết yếu không kém — thậm chí còn hơn. Tuy vậy, hầu như không ai cho rằng chính phủ cần quốc hữu hóa thực phẩm, quần áo hay nhà ở để cung cấp miễn phí như một dạng độc quyền bắt buộc. Nhìn chung, những người quá nghèo sẽ được các tổ chức từ thiện tư nhân giúp đỡ, như ta đã thấy trong chương nói về phúc lợi. Hơn nữa, trong trường hợp cụ thể của cảnh sát, chắc chắn sẽ có những cách thức tự nguyện để cung cấp dịch vụ bảo vệ miễn phí cho người nghèo — hoặc do chính các công ty cảnh sát thực hiện vì mục đích thiện chí (giống như các bệnh viện và bác sĩ hiện nay), hoặc thông qua các hội “hỗ trợ cảnh sát” đặc biệt, hoạt động tương tự như các hội “trợ giúp pháp lý” ngày nay. (Các hội trợ giúp pháp lý này tự nguyện cung cấp tư vấn miễn phí cho người nghèo gặp rắc rối với chính quyền.)
Có một vài điểm bổ sung quan trọng cần lưu ý. Như chúng ta đã thấy, dịch vụ cảnh sát không hề “miễn phí”; nó được người nộp thuế chi trả, và người nộp thuế ấy thường chính là người nghèo. Rất có thể họ hiện đang đóng thuế cho lực lượng cảnh sát còn nhiều hơn cả số tiền họ sẽ phải trả nếu thuê các công ty cảnh sát tư nhân — vốn hoạt động hiệu quả hơn hẳn. Hơn nữa, các công ty cảnh sát tư nhân sẽ phục vụ thị trường đại chúng; nhờ lợi thế kinh tế theo quy mô, chi phí cho dịch vụ bảo vệ chắc chắn sẽ rẻ hơn đáng kể. Không công ty nào lại muốn tự định giá cao đến mức đánh mất phần lớn khách hàng của mình; và chi phí bảo vệ sẽ không đắt đỏ hơn, thậm chí có thể rẻ hơn, so với chi phí bảo hiểm ngày nay. (Thực tế, nó có xu hướng rẻ hơn nhiều, vì ngành bảo hiểm hiện nay bị chính phủ quản lý chặt chẽ để ngăn chặn cạnh tranh giá thấp.)
Còn một “cơn ác mộng” cuối cùng mà hầu hết những ai từng suy nghĩ về các cơ quan bảo vệ tư nhân đều coi là lý do quyết định để bác bỏ ý tưởng này: Liệu các cơ quan ấy có thường xuyên xung đột với nhau hay không? Liệu tình trạng “không chính quyền” có bùng nổ, với những cuộc đụng độ bất tận giữa các lực lượng cảnh sát — khi mỗi người gọi “cảnh sát của mình”, còn đối thủ cũng gọi “cảnh sát của hắn”?
Có nhiều tầng trả lời cho câu hỏi trọng yếu này. Trước hết, vì sẽ không tồn tại một Nhà nước chung — không chính quyền trung ương, thậm chí không cả chính quyền địa phương duy nhất — nên ít nhất chúng ta sẽ thoát khỏi nỗi kinh hoàng của các cuộc chiến giữa các quốc gia, với vô số vũ khí khổng lồ, siêu hủy diệt, và nay là vũ khí hạt nhân. Nhìn lại lịch sử, chẳng phải rõ ràng và đau đớn hay sao: số người thiệt mạng trong các cuộc xung đột cục bộ, những “trận ẩu đả trong khu phố”, chẳng đáng kể gì so với mức độ tàn phá của các cuộc chiến giữa các quốc gia? Có những lý do hiển nhiên cho điều đó. Để tránh cảm tính, hãy giả định hai quốc gia tưởng tượng: “Ruritania” và “Walldavia.” Nếu cả Ruritania và Walldavia đều được giải thể thành xã hội tự do cá nhân, không còn chính phủ, chỉ còn vô số cá nhân, doanh nghiệp và cơ quan cảnh sát tư nhân, thì những xung đột duy nhất có thể xảy ra cũng chỉ ở quy mô địa phương, và vũ khí được sử dụng chắc chắn bị giới hạn cả về phạm vi lẫn mức độ tàn phá. Giả sử trong một thành phố của Ruritania, hai cơ quan cảnh sát xung đột và nổ súng vào nhau. Tệ nhất, họ cũng không thể sử dụng bom hủy diệt hàng loạt, vũ khí hạt nhân hay chiến tranh sinh học — bởi chính họ cũng sẽ bị tiêu diệt trong biển lửa đó. Chính việc chia cắt lãnh thổ thành những đơn vị độc quyền của chính phủ mới là nguyên nhân dẫn đến tàn phá hàng loạt. Bởi khi chính phủ độc quyền duy nhất của Walldavia đối đầu với kẻ thù truyền kiếp — chính phủ Ruritania — thì mỗi bên đều có thể sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt, thậm chí chiến tranh hạt nhân, bởi họ nghĩ rằng mình chỉ đang làm hại “kẻ khác” và “quốc gia khác”. Hơn nữa, một khi mỗi cá nhân đều trở thành thần dân của một chính phủ độc quyền, thì trong con mắt của mọi chính phủ khác, người ấy mặc nhiên bị đồng nhất với chính phủ “của mình”. Công dân Pháp bị xem là đồng nhất với chính phủ Pháp, nên khi một chính phủ khác tấn công nước Pháp, thì họ tấn công cả nhân dân lẫn chính quyền Pháp. Nhưng nếu Công ty A xung đột với Công ty B, điều tệ nhất có thể xảy ra chỉ là khách hàng của hai bên bị lôi kéo vào cuộc — chứ không phải toàn bộ xã hội. Do đó, rõ ràng là ngay cả trong trường hợp xấu nhất, nếu thế giới tự do cá nhân thực sự trở thành “thế giới không chính quyền”, thì chúng ta vẫn ở trong tình trạng tốt hơn hẳn so với hiện nay — khi đang sống trong tay các quốc gia dân tộc “không chính quyền” và hiếu chiến, mỗi quốc gia đều nắm độc quyền vũ khí hủy diệt hàng loạt. Xin đừng bao giờ quên rằng tất cả chúng ta đang, và luôn luôn đã, sống trong thế giới “không chính quyền quốc tế” — thế giới của các quốc gia cưỡng chế, không bị kiểm soát bởi bất kỳ chính phủ toàn cầu nào, và chẳng có dấu hiệu nào cho thấy tình trạng đó sẽ thay đổi.
Vậy thì, thế giới tự do cá nhân — dù mang tính không chính quyền — vẫn sẽ không phải chịu đựng những cuộc chiến tranh tàn khốc, những vụ tàn phá hàng loạt hay những vụ ném bom nguyên tử mà thế giới bị nhà nước chi phối của chúng ta đã phải gánh chịu suốt nhiều thế kỷ. Ngay cả khi cảnh sát địa phương đôi lúc xung đột với nhau, thì cũng sẽ không còn Dresden, không còn Hiroshima nữa.
Nhưng vẫn còn nhiều điều đáng bàn hơn thế. Chúng ta không nên dễ dàng thừa nhận rằng tình trạng “không chính quyền” cục bộ này sẽ xảy ra. Hãy tách riêng vấn đề xung đột giữa các lực lượng cảnh sát thành hai phần khác biệt: (1) những bất đồng chính kiến trung thực, và (2) nỗ lực của một hoặc nhiều lực lượng cảnh sát trở thành “ngoài vòng pháp luật”, nhằm cưỡng đoạt tiền bạc hoặc áp đặt quyền lực bằng vũ lực. Hãy tạm giả định rằng các lực lượng cảnh sát đều trung thực, và rằng họ chỉ khác biệt nhau ở những bất đồng chính kiến. Khi đó, chúng ta có thể tạm gác vấn đề “cảnh sát ngoài vòng pháp luật” sang một bên. Rõ ràng, một trong những yếu tố cốt lõi mà dịch vụ bảo vệ có thể mang lại cho khách hàng chính là sự bảo vệ yên ổn. Mọi người tiêu dùng – mọi người mua dịch vụ bảo vệ – đều mong muốn trên hết là được bảo vệ một cách hiệu quả và yên tĩnh, không có xung đột hay xáo trộn. Mọi công ty cảnh sát đều hiểu rõ điều này. Giả định rằng họ sẽ liên tục xung đột hay giao chiến với nhau là điều vô lý, vì nó bỏ qua ảnh hưởng tàn phá mà tình trạng “không chính quyền hỗn loạn” ấy sẽ gây ra cho toàn bộ ngành kinh doanh. Nói thẳng ra, chiến tranh và xung đột là điều vô cùng tai hại cho kinh doanh. Do đó, trong cơ chế thị trường tự do, các công ty cảnh sát sẽ tự điều chỉnh để tránh mọi va chạm, và mọi bất đồng sẽ được giải quyết thông qua tòa án tư nhân, do các thẩm phán hoặc trọng tài độc lập phân xử.
Cụ thể hơn: như đã nói, khả năng xung đột là rất nhỏ, bởi chủ đường phố có đội bảo vệ riêng, chủ cửa hàng có bảo vệ riêng, chủ đất có cảnh sát riêng, và chủ nhà cũng có công ty bảo vệ của mình. Trong thực tế đời thường, hầu như không có mấy tình huống dẫn đến xung đột trực tiếp giữa các cơ quan cảnh sát. Nhưng giả sử, đôi khi có hai chủ nhà hàng xóm xô xát, mỗi người buộc tội người kia gây hấn hoặc sử dụng bạo lực, và mỗi người đều gọi công ty cảnh sát mà mình đăng ký — nếu hai bên vô tình thuộc về hai công ty khác nhau — thì sao? Một lần nữa, việc hai công ty cảnh sát nổ súng vào nhau sẽ là điều vô nghĩa, tự hủy hoại cả về kinh tế lẫn thể chất. Thay vào đó, để duy trì hoạt động và uy tín của mình, mỗi công ty cảnh sát sẽ phải công khai tuyên bố rằng: phán quyết về ai đúng ai sai sẽ được chuyển tới tòa án hoặc trọng tài tư nhân.
Toà án
Giả sử thẩm phán hoặc trọng tài phán quyết rằng Smith là người có lỗi trong một vụ tranh chấp, vì anh ta đã gây hấn với Jones. Nếu Smith chấp nhận phán quyết đó, thì dù anh ta phải chịu bất cứ khoản bồi thường hay hình phạt nào, lý thuyết về bảo vệ quyền của chủ nghĩa tự do cá nhân cũng không gặp vấn đề gì. Nhưng nếu anh ta không chấp nhận thì sao? Hoặc, giả sử một ví dụ khác: Jones bị cướp. Anh ta thuê công ty cảnh sát tư của mình tiến hành điều tra để truy tìm tội phạm. Công ty này kết luận rằng một người tên Brown chính là kẻ phạm tội. Vậy thì sao? Nếu Brown thừa nhận tội lỗi của mình, thì một lần nữa không có vấn đề gì — việc thi hành án sẽ diễn ra, tập trung vào việc buộc tội phạm phải bồi thường cho nạn nhân. Nhưng, nếu Brown phủ nhận tội lỗi thì sao?
Những trường hợp như vậy đưa chúng ta ra khỏi phạm vi của bảo vệ cảnh sát và bước vào một lĩnh vực bảo vệ khác không kém phần quan trọng: dịch vụ tư pháp — tức là việc thiết lập, theo những thủ tục được xã hội chấp nhận, một phương thức nhằm xác định ai là tội phạm, hoặc ai là người vi phạm hợp đồng trong bất kỳ vụ án hay tranh chấp nào. Nhiều người, kể cả những người thừa nhận rằng dịch vụ cảnh sát tư nhân cạnh tranh có thể tồn tại trên thị trường tự do, vẫn cảm thấy e ngại trước ý tưởng về các tòa án hoàn toàn tư nhân. Làm sao tòa án có thể là tư nhân? Làm sao tòa án có thể sử dụng vũ lực trong một thế giới không có chính phủ? Chẳng phải như thế sẽ dẫn đến xung đột triền miên và “không chính quyền” hay sao?
Trước hết, các tòa án độc quyền của chính phủ cũng gặp phải những vấn đề nghiêm trọng như mọi hoạt động khác của nhà nước: kém hiệu quả, xa rời thực tế và bị người dân coi thường. Chúng ta đều biết rằng các thẩm phán, chẳng hạn, không được chọn lựa vì sự khôn ngoan, liêm khiết hay năng lực phục vụ công chúng, mà thường chỉ là những nhân vật chính trị được bổ nhiệm qua các toan tính chính trị. Hơn nữa, các tòa án nhà nước là độc quyền; nếu chẳng may tòa án ở một thành phố hay thị trấn nào đó trở nên tham nhũng, hối lộ, áp bức hoặc kém hiệu quả, thì người dân hiện nay không có đường thoát. Người dân bị thiệt hại ở Deep Falls, Wyoming, chỉ có thể chấp nhận phán quyết của tòa án địa phương Wyoming — hoặc chẳng được xét xử gì cả. Trái lại, trong một xã hội tự do cá nhân, sẽ có nhiều tòa án, nhiều thẩm phán để người dân có thể lựa chọn. Một lần nữa, không có lý do gì để cho rằng có một “độc quyền tự nhiên” về trí tuệ tư pháp. Người dân ở Deep Falls, chẳng hạn, có thể nhờ đến chi nhánh địa phương của Công ty Tư pháp Prudential.
Trong một xã hội tự do, tòa án sẽ được tài trợ như thế nào? Có nhiều khả năng. Có thể, mỗi cá nhân sẽ đăng ký dịch vụ của một hệ thống tòa án tư nhân, trả phí hằng tháng, và khi cần thì nhờ đến tòa án giải quyết. Hoặc, vì tòa án thường được sử dụng ít hơn cảnh sát, nên người ta có thể trả phí mỗi khi cần sử dụng dịch vụ xét xử, và cuối cùng, bên phạm tội hoặc vi phạm hợp đồng sẽ phải bồi thường cho nạn nhân hoặc nguyên đơn. Cũng có khả năng tòa án sẽ được các cơ quan cảnh sát thuê để phân xử tranh chấp, hoặc thậm chí có những công ty “tích hợp theo chiều dọc” cung cấp cả dịch vụ cảnh sát và tư pháp — chẳng hạn như “Công ty Tư pháp Prudential” có thể gồm cả bộ phận cảnh sát lẫn bộ phận tòa án. Chỉ có thị trường mới có thể quyết định mô hình nào trong số này là phù hợp nhất.
Tất cả chúng ta nên làm quen với việc ngày càng có nhiều người sử dụng trọng tài tư nhân, ngay cả trong xã hội hiện nay. Các tòa án nhà nước đã trở nên quá tải, kém hiệu quả và tốn kém, nên ngày càng nhiều bên tranh chấp tìm đến trọng tài tư nhân như là cách giải quyết nhanh hơn, rẻ hơn. Trong những năm gần đây, trọng tài tư nhân đã trở thành một nghề phát triển mạnh mẽ và thành công. Do mang tính tự nguyện, các quy tắc trọng tài có thể được các bên thỏa thuận nhanh chóng, không cần đến hệ thống pháp lý cồng kềnh và phức tạp áp dụng cho toàn dân. Nhờ vậy, các vụ việc có thể được phán quyết bởi những người am hiểu chuyên môn trong lĩnh vực hoặc ngành nghề liên quan. Hiện nay, Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ (American Arbitration Association), với phương châm “Cái bắt tay mạnh hơn nắm đấm”, có 25 văn phòng khu vực trên khắp cả nước và 23.000 trọng tài viên. Năm 1969, Hiệp hội đã tiến hành hơn 22.000 vụ trọng tài. Ngoài ra, mỗi năm, các công ty bảo hiểm cũng giải quyết hơn 50.000 yêu cầu bồi thường thông qua trọng tài tự nguyện. Việc sử dụng trọng tài tư nhân trong các vụ tranh chấp tai nạn ô tô cũng ngày càng phổ biến và hiệu quả.
Có thể có người phản đối rằng: mặc dù trọng tài tư nhân đang đảm nhiệm ngày càng nhiều chức năng tư pháp, nhưng phán quyết của họ vẫn cần được tòa án công quyền thi hành; do đó, khi các bên đồng ý chọn trọng tài, quyết định của trọng tài mới có giá trị pháp lý. Điều này đúng, nhưng trước năm 1920 thì không phải vậy — và nghề trọng tài vẫn phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1900–1920, không hề kém so với sau này. Thực tế, phong trào trọng tài hiện đại bắt đầu bùng nổ ở Anh vào thời Nội chiến ở Hoa Kỳ, khi các thương nhân ngày càng sử dụng những “tòa án tư nhân” do trọng tài tự nguyện cung cấp, dù phán quyết của họ không có giá trị pháp lý. Đến năm 1900, trọng tài tự nguyện bắt đầu lan rộng tại Mỹ. Trên thực tế, ở Anh thời Trung Cổ, toàn bộ hệ thống luật thương mại — vốn được tòa án nhà nước xử lý vụng về và kém hiệu quả — đã phát triển trong các tòa án thương nhân tư nhân. Những tòa án này hoàn toàn là trọng tài tự nguyện, và các quyết định không hề có tính ràng buộc pháp lý.
Vậy tại sao chúng vẫn thành công? Bởi vì, từ thời Trung Cổ cho đến tận năm 1920, các thương nhân chỉ dựa vào sự tẩy chay và cô lập của cộng đồng thương nhân khác trong khu vực. Nói cách khác, nếu một người từ chối tham gia trọng tài hoặc không tuân theo phán quyết, các thương nhân khác sẽ công khai việc đó trong giới kinh doanh và từ chối giao dịch với kẻ ngoan cố, buộc anh ta phải nhanh chóng khuất phục. Wooldridge đã nêu một ví dụ thời Trung Cổ như sau:
Các thương nhân khiến cho “tòa án” của họ hoạt động hiệu quả đơn giản bằng cách tự nguyện cam kết tuân theo kết quả xét xử. Dĩ nhiên, thương nhân nào vi phạm cam kết đó sẽ không bị bỏ tù, nhưng anh ta cũng khó có thể tiếp tục hành nghề thương mại lâu dài, bởi sự ràng buộc của đồng nghiệp và quyền lực tập thể của họ đối với hàng hóa của anh ta tỏ ra còn hiệu quả hơn cả sự cưỡng chế bằng bạo lực. Lấy ví dụ, John of Homing, người sống bằng nghề buôn bán cá sỉ. Khi John bán một lô cá trích và khẳng định rằng hàng hóa đúng theo mẫu ba thùng cá trích được chào bán trước đó, nhưng rồi các thương nhân khác phát hiện lô hàng ấy thực ra bị trộn với “cá gai và cá trích thối”, ông ta buộc phải bồi thường đầy đủ nếu không muốn bị tẩy chay kinh tế[3].
Trong thời hiện đại, biện pháp tẩy chay thậm chí còn hiệu quả hơn, bao gồm cả nhận thức rằng bất kỳ ai phớt lờ phán quyết của trọng tài sẽ không bao giờ còn được sử dụng dịch vụ trọng tài nữa. Nhà công nghiệp Owen D. Young, Chủ tịch General Electric, từng kết luận rằng sự khiển trách về mặt đạo đức từ giới doanh nhân là biện pháp chế tài hiệu quả hơn nhiều so với cưỡng chế pháp lý. Ngày nay, với công nghệ hiện đại, máy tính và hệ thống xếp hạng tín dụng, hình thức tẩy chay trên toàn quốc sẽ càng trở nên hiệu quả hơn bao giờ hết.
Tuy nhiên, ngay cả khi trọng tài hoàn toàn tự nguyện là đủ cho các tranh chấp thương mại, thì còn những hành vi tội phạm rõ ràng như cướp giật, hiếp dâm, hay cướp ngân hàng thì sao? Trong những trường hợp này, phải thừa nhận rằng biện pháp tẩy chay có lẽ không đủ — mặc dù, cần nhớ rằng, nó cũng bao gồm việc các chủ sở hữu đường phố tư nhân có thể từ chối, không cho phép tội phạm vào khu vực của họ. Vì vậy, đối với các vụ án hình sự, cần phải có tòa án và cơ chế thực thi pháp luật.
Vậy thì, trong xã hội tự do cá nhân, tòa án sẽ hoạt động như thế nào? Cụ thể, làm sao họ có thể thực thi các phán quyết của mình? Hơn nữa, trong mọi hoạt động của mình, họ phải tuân thủ nguyên tắc tự do cá nhân cốt lõi: không được sử dụng bạo lực đối với bất kỳ ai chưa bị kết án là tội phạm — nếu không, những người sử dụng vũ lực đó, dù là cảnh sát hay tòa án, sẽ tự biến mình thành kẻ gây hấn, nếu sau này chứng minh được rằng người bị họ tấn công là vô tội. Trái ngược với các hệ thống nhà nước, không một cảnh sát hay thẩm phán nào được đặc quyền miễn trừ trong việc sử dụng cưỡng chế vượt quá giới hạn mà bất kỳ công dân nào trong xã hội cũng có thể dùng.
Xin quay lại trường hợp đã nói ở trên: Jones bị cướp, công ty thám tử do ông ta thuê xác định rằng Brown là thủ phạm, nhưng Brown không thừa nhận tội lỗi. Vậy phải làm sao? Trước hết, cần nhận ra rằng hiện nay không tồn tại một tòa án hay chính phủ thế giới nào có quyền thực thi các sắc lệnh của mình; tuy nhiên, dù sống trong tình trạng “không chính quyền quốc tế”, các tranh chấp giữa công dân hai quốc gia hầu như không gặp vấn đề nghiêm trọng. Giả sử, chẳng hạn, một công dân Uruguay tuyên bố rằng anh ta bị một công dân Argentina lừa đảo. Anh ta sẽ đến tòa án nào? Anh ta sẽ đến tòa án của chính mình, tức là tòa án của nạn nhân hoặc nguyên đơn. Vụ án sẽ được xét xử tại tòa án Uruguay, và phán quyết của tòa này sẽ được tòa Argentina công nhận. Điều tương tự cũng đúng nếu một người Mỹ cảm thấy bị một người Canada lừa đảo, v.v. Tương tự, ở châu Âu sau khi Đế chế La Mã sụp đổ, giữa các bộ lạc Germanic sống xen kẽ cùng khu vực, nếu một người Visigoth cho rằng mình bị người Frank gây hại, anh ta sẽ đưa vụ việc ra tòa án của bộ tộc mình, và phán quyết thường được phía Frank chấp nhận. Việc đưa vụ án ra tòa của nguyên đơn cũng là thủ tục hợp lý trong tư tưởng tự do cá nhân, bởi nạn nhân hay nguyên đơn là người bị thiệt hại, và đương nhiên sẽ đưa vụ việc ra tòa án của mình. Vì vậy, trong ví dụ của chúng ta, Jones sẽ đến Công ty Tòa án Prudential để buộc tội Brown ăn trộm.
Tất nhiên, Brown cũng có thể là khách hàng của Tòa án Prudential, trường hợp này sẽ không có vấn đề gì. Quyết định của Prudential có hiệu lực đối với cả hai bên và có giá trị ràng buộc. Nhưng có điều khoản quan trọng là không được sử dụng quyền triệu tập mang tính cưỡng chế đối với Brown, bởi vì anh ta phải được coi là vô tội cho đến khi bị kết án. Tuy nhiên, Brown sẽ được tống đạt trát triệu tập tự nguyện, thông báo rằng anh ta đang bị xét xử về tội danh nào đó, và mời anh ta hoặc đại diện pháp lý của anh ta ra hầu tòa. Nếu anh ta không ra hầu tòa, anh ta sẽ bị xét xử khiếm diện, và điều này rõ ràng sẽ bất lợi hơn cho Brown vì phía anh ta sẽ không được biện hộ tại tòa. Nếu Brown bị tuyên có tội, thì tòa án và các thẩm phán sẽ sử dụng vũ lực để bắt giữ Brown và áp dụng bất kỳ hình phạt nào đã được đưa ra—mà rõ ràng sẽ tập trung trước tiên vào việc bồi thường cho nạn nhân.
Tuy nhiên, nếu Brown không công nhận Tòa án Prudential thì sao? Nếu anh ta là khách hàng của Công ty Tòa án Metropolitan thì sao? Vụ án trở nên khó khăn hơn. Sẽ xảy ra chuyện gì? Đầu tiên, nạn nhân Jones trình bày vụ việc của mình tại Tòa án Prudential. Nếu Brown được tuyên vô tội, thì tranh cãi chấm dứt ở đây. Tuy nhiên, giả sử bị cáo Brown bị tuyên có tội. Nếu anh ta không làm gì, phán quyết của tòa án sẽ tiếp tục chống lại anh ta. Tuy nhiên, giả sử Brown sau đó đưa vụ việc lên Công ty Tòa án Metropolitan, viện dẫn sự kém hiệu quả hoặc hối lộ của Prudential. Sau đó, vụ án sẽ được Metropolitan xét xử. Nếu Metropolitan cũng tuyên Brown có tội, thì tranh cãi cũng chấp dứt và Prudential sẽ nhanh chóng khởi kiện Brown. Tuy nhiên, giả sử Metropolitan tuyên Brown vô tội. Vậy thì sao? Liệu hai tòa án và các cảnh sát tư pháp của họ có nổ súng bắn nhau trên đường phố hay không?
Một lần nữa, đây rõ ràng là hành vi phi lý và tự hủy hoại của các tòa án. Một phần thiết yếu trong dịch vụ tư pháp của họ đối với thân chủ là cung cấp những phán quyết công bằng, khách quan và vận hành trong trật tự hòa bình — tức là tìm ra cách tốt nhất và khách quan nhất để đi đến sự thật về kẻ phạm tội. Việc đưa ra phán quyết rồi lại để xảy ra cảnh đấu súng hỗn loạn rõ ràng khó có thể được khách hàng coi là một dịch vụ tư pháp có giá trị. Do đó, một phần thiết yếu trong dịch vụ của bất kỳ tòa án nào dành cho khách hàng sẽ là thủ tục phúc thẩm. Nói cách khác, mọi tòa án đều sẽ đồng ý tuân thủ một phiên tòa phúc thẩm, do một trọng tài viên tự nguyện đứng ra phân xử — người mà lúc này cả Metropolitan và Prudential sẽ cùng tìm đến. Thẩm phán phúc thẩm sẽ đưa ra quyết định của mình, và kết quả của phiên tòa thứ ba này sẽ được coi là ràng buộc đối với bên có tội. Sau đó, tòa án Prudential sẽ tiến hành thi hành bản án.
Tòa phúc thẩm! Nhưng liệu như thế có đồng nghĩa với việc thiết lập một chính phủ độc quyền bắt buộc hay không? Không. Vì trong hệ thống này không có gì buộc bất kỳ cá nhân hay tòa án nào phải là tòa phúc thẩm duy nhất. Tóm lại, ở Hoa Kỳ hiện nay, Tòa án Tối cao được thành lập như tòa phúc thẩm chung thẩm, khiến các thẩm phán của nó trở thành trọng tài cuối cùng, bất kể ý chí của nguyên đơn hay bị đơn. Ngược lại, trong xã hội tự do cá nhân, các tòa án tư nhân cạnh tranh có thể lựa chọn bất kỳ thẩm phán phúc thẩm nào mà họ cho là công bằng, có chuyên môn và khách quan. Không một thẩm phán hay hội đồng phúc thẩm nào bị áp đặt lên xã hội bằng cưỡng chế.
Các thẩm phán phúc thẩm sẽ được tài trợ như thế nào? Có nhiều khả năng, nhưng hợp lý nhất là họ sẽ được trả lương bởi các tòa án sơ thẩm, và những tòa án này sẽ tính phí dịch vụ phúc thẩm cho khách hàng thông qua phí bảo hiểm hoặc lệ phí.
Nhưng giả sử Brown khăng khăng đòi một thẩm phán phúc thẩm khác, rồi thẩm phán khác nữa thì sao? Liệu ông ta có thể thoát khỏi phán quyết bằng cách kháng cáo vô thời hạn hay không? Rõ ràng, trong bất kỳ xã hội nào, thủ tục pháp lý không thể kéo dài vô tận; phải có một điểm giới hạn nào đó. Trong xã hội nhà nước hiện tại, nơi chính phủ độc quyền chức năng tư pháp, Tòa án Tối cao được chỉ định (một cách tùy tiện) làm điểm giới hạn. Trong xã hội tự do cá nhân, cũng cần có một điểm giới hạn được đồng thuận, và bởi vì chỉ có hai bên trong bất kỳ vụ án hay tranh chấp nào — nguyên đơn và bị đơn — nên hợp lý nhất là bộ luật quy định rằng: phán quyết của bất kỳ hai tòa án nào trùng nhau sẽ có giá trị ràng buộc. Quy định này bao gồm cả trường hợp tòa của nguyên đơn và bị đơn cùng ra một phán quyết, lẫn trường hợp tòa phúc thẩm phân xử bất đồng giữa hai tòa ban đầu.
Luật pháp và toà án
Giờ đây, rõ ràng là trong xã hội tự do cá nhân sẽ phải có một bộ luật pháp lý. Nhưng làm thế nào? Làm sao có thể tồn tại hệ thống luật pháp mà không có chính phủ để ban hành, không có hệ thống thẩm phán được bổ nhiệm, hay một cơ quan lập pháp để bỏ phiếu thông qua các đạo luật? Trước hết, liệu một bộ luật như vậy có phù hợp với các nguyên tắc của tự do cá nhân hay không?
Trước hết xin trả lời câu hỏi sau cùng: hiển nhiên là cần một bộ luật, nhằm đặt ra các chuẩn mực rõ ràng cho những tòa án tư nhân. Ví dụ, nếu Tòa án A quyết định rằng tất cả những người tóc đỏ đều vốn dĩ xấu xa và phải bị trừng phạt, thì rõ ràng đó là một phán quyết trái ngược hoàn toàn với nguyên tắc tự do cá nhân, vì nó xâm phạm quyền của những người tóc đỏ. Do đó, bất kỳ phán quyết nào như vậy đều là phi pháp xét theo nguyên tắc tự do cá nhân, và không thể được phần còn lại của xã hội công nhận.
Vì vậy, cần thiết lập một bộ luật chung – được mọi người chấp nhận, và các tòa án cam kết tuân thủ. Nói một cách đơn giản, bộ luật ấy sẽ nhấn mạnh nguyên tắc không xâm phạm thân thể hay tài sản của người khác, xác định quyền sở hữu phù hợp với nguyên tắc tự do cá nhân, đặt ra các quy tắc về bằng chứng (như hiện nay vẫn áp dụng) để xác định ai là bên có lỗi trong mọi vụ tranh chấp, và thiết lập khung hình phạt tối đa cho từng loại tội phạm cụ thể. Trong khuôn khổ của bộ luật này, các tòa án tư nhân sẽ cạnh tranh về quy trình xét xử hiệu quả nhất, và thị trường sẽ quyết định xem thẩm phán, bồi thẩm đoàn, hay hình thức nào khác là cách cung cấp dịch vụ tư pháp hiệu quả nhất.
Liệu những bộ luật ổn định và nhất quán như thế có khả thi hay không, khi chúng được phát triển và áp dụng chỉ bởi các thẩm phán cạnh tranh, mà không cần chính phủ hay cơ quan lập pháp? Không những khả thi, mà trên thực tế, những phần tốt nhất và thành công nhất của hệ thống pháp luật hiện nay đã từng được hình thành chính xác theo cách đó. Các cơ quan lập pháp – cũng như các ông vua – đều đã tỏ ra tùy tiện, xâm phạm và thiếu nhất quán, chỉ làm nảy sinh những điều bất thường và xu hướng chuyên quyền trong hệ thống pháp lý. Thật ra, chính phủ không có năng lực đặc biệt nào để xây dựng hay áp dụng luật pháp, cũng như không có năng lực đặc biệt để cung cấp bất kỳ dịch vụ nào khác. Và cũng như tôn giáo đã tách khỏi Nhà nước, kinh tế có thể tách khỏi Nhà nước, thì mọi chức năng khác của Nhà nước – kể cả cảnh sát, tòa án, và luật pháp – cũng có thể tách khỏi Nhà nước!
Ví dụ, như đã nói ở trên, toàn bộ luật thương mại được hình thành không phải bởi Nhà nước hay trong các tòa án Nhà nước, mà bởi các tòa án của các thương nhân tư nhân. Chỉ về sau, chính phủ mới tiếp quản luật thương mại từ những phát triển ban đầu trong các tòa án đó. Sự kiện tương tự cũng diễn ra với luật hàng hải – toàn bộ cấu trúc của luật biển, vận tải, cứu hộ, v.v. Ở đây một lần nữa, Nhà nước ban đầu không hề quan tâm, và thẩm quyền của nó không vươn ra vùng biển khơi; vì thế, chính các chủ tàu đã đảm nhận nhiệm vụ vừa áp dụng vừa phát triển toàn bộ cấu trúc của luật hàng hải trong các tòa án tư nhân của họ. Một lần nữa, chỉ sau này chính phủ mới chiếm đoạt luật hàng hải, đưa nó vào hệ thống tòa án của mình.
Cuối cùng, phần chính yếu của hệ thống luật Anglo-Saxon – tức thông luật, vốn được ca ngợi rộng rãi – đã được hình thành qua nhiều thế kỷ bởi các thẩm phán cạnh tranh với nhau trong việc áp dụng những nguyên tắc đã được thời gian thử thách, chứ không phải dựa trên những sắc lệnh luôn thay đổi của Nhà nước. Những nguyên tắc này không do bất kỳ ông vua hay cơ quan lập pháp nào tùy tiện đặt ra; chúng được hình thành dần dần qua nhiều thế kỷ, bằng cách vận dụng các nguyên tắc hợp lý – và rất thường mang tính tự do cá nhân – vào các vụ việc được đưa ra xét xử. Ý tưởng về việc tuân theo án lệ được phát triển, không phải như sự phục tùng mù quáng quá khứ, mà bởi vì mọi thẩm phán trong quá khứ đều đưa ra phán quyết dựa trên việc áp dụng các nguyên tắc chung của thông luật vào những vụ việc và hoàn cảnh cụ thể. Người ta tin rằng thẩm phán không làm ra luật (như thường thấy ngày nay); nhiệm vụ và chuyên môn của họ là tìm ra luật trong những nguyên tắc của thông luật đã được công nhận, rồi áp dụng nó vào từng vụ việc cụ thể hoặc trong các điều kiện công nghệ hay thể chế mới. Vinh quang của tiến trình phát triển kéo dài qua nhiều thế kỷ của thông luật chính là minh chứng cho thành tựu đó.
Hơn nữa, các thẩm phán trong hệ thống thông luật vận hành rất giống như những trọng tài tư nhân — là những chuyên gia pháp lý mà các bên tranh chấp tự nguyện tìm đến để nhờ phân xử. Không có “tòa án tối cao” nào được áp đặt một cách tùy tiện với phán quyết mang tính cưỡng bức, và dù án lệ được tôn trọng, nó cũng không được coi là mặc nhiên có tính ràng buộc. Nhà tư tưởng pháp lý người Ý theo khuynh hướng tự do cá nhân, Bruno Leoni, từng viết:
Các tòa án ở Anh không dễ dàng ban hành những quy tắc tùy tiện của riêng mình, vì họ không bao giờ ở vào vị thế có thể làm điều đó một cách trực tiếp – tức là theo cung cách đột ngột, rộng khắp và áp đặt như các nhà lập pháp. Hơn nữa, có quá nhiều tòa án ở Anh, và chúng lại ghen tị lẫn nhau đến mức ngay cả nguyên tắc nổi tiếng về tiền lệ ràng buộc cũng không được họ công khai thừa nhận là có hiệu lực cho đến thời gian khá gần đây. Bên cạnh đó, họ không thể quyết định bất cứ điều gì mà trước đó chưa được các cá nhân mang ra trước tòa. Cuối cùng, chỉ có tương đối ít người tìm đến tòa án để yêu cầu họ ban hành những quy tắc giải quyết vụ việc của mình.[4]
Và về sự vắng mặt của các “tòa án tối cao”, ông viết:
Không thể phủ nhận rằng luật của giới luật gia hoặc luật tư pháp có thể mang những đặc điểm của pháp chế – kể cả những đặc điểm không mong muốn – bất cứ khi nào các luật gia hay thẩm phán có quyền đưa ra phán quyết cuối cùng về một vụ việc. Trong thời đại chúng ta, cơ chế tư pháp ở một số quốc gia có thiết lập ‘tòa án tối cao’ thường dẫn đến việc áp đặt quan điểm cá nhân của các thành viên tòa án này, hoặc của đa số họ, lên tất cả những người có liên quan – nhất là khi có sự bất đồng sâu sắc giữa quan điểm của họ và niềm tin của công chúng. Tuy nhiên, khả năng này, thay vì là đặc tính vốn có của luật tư pháp hay luật của giới luật gia, thật ra lại là sự sai lệch khỏi bản chất vốn có của nó[5].
Ngoài những sai lệch như thế, các quan điểm cá nhân mà thẩm phán áp đặt đã được hạn chế đến mức tối thiểu: (a) bởi thực tế là thẩm phán chỉ có thể ra phán quyết khi công dân mang vụ việc đến cho họ giải quyết; (b) phán quyết của mỗi thẩm phán chỉ áp dụng cho từng vụ việc cụ thể; và (c) bởi vì các phán quyết của thẩm phán và luật sư trong hệ thống thông luật luôn dựa trên việc xem xét các án lệ đã tích lũy qua nhiều thế kỷ. Hơn nữa, như Leoni chỉ ra, trái ngược với cơ quan lập pháp hay hành pháp – nơi các đa số chi phối hoặc các nhóm lợi ích thường chèn ép thiểu số – thẩm phán, do chính vị thế của mình, bị buộc phải lắng nghe và cân nhắc lập luận của cả hai bên trong mỗi vụ tranh chấp. “Các bên bình đẳng trước thẩm phán, theo nghĩa là họ được tự do đưa ra lập luận và bằng chứng. Họ không tạo thành một nhóm mà trong đó thiểu số bất đồng phải nhường chỗ cho đa số thắng thế.” Leoni cũng chỉ ra sự tương đồng giữa tiến trình này và nền kinh tế thị trường tự do: “Dĩ nhiên, các lập luận có thể mạnh hơn hoặc yếu hơn, nhưng việc mỗi bên đều có thể đưa ra lập luận của mình tương tự như việc mỗi người đều có thể cạnh tranh với người khác trên thị trường để mua và bán.”[6]
Giáo sư Leoni nhận thấy rằng, trong lĩnh vực luật tư, các thẩm phán La Mã cổ đại cũng hoạt động theo cùng một cách như các tòa án theo thông luật của Anh:
Luật gia La Mã là một kiểu nhà khoa học; đối tượng nghiên cứu của họ là các giải pháp cho những vụ việc mà công dân trình lên họ để xem xét – giống như ngày nay các nhà công nghiệp có thể đưa cho một nhà vật lý hoặc kỹ sư một vấn đề kỹ thuật liên quan đến nhà máy hay quy trình sản xuất. Vì vậy, luật tư nhân La Mã là thứ cần được mô tả hoặc khám phá, chứ không phải ban hành — một thế giới của những điều vốn đã tồn tại, hình thành nên một phần di sản chung của mọi công dân La Mã. Không ai ban hành luật đó; cũng không ai có thể thay đổi nó bằng bất kỳ hành động nào của ý chí cá nhân... Đây là quan niệm lâu dài – hay nếu thích, có thể gọi là quan niệm La Mã – về tính chắc chắn của luật pháp.[7]
Cuối cùng, Giáo sư Leoni đã vận dụng hiểu biết của mình về hoạt động của luật cổ đại và thông luật để trả lời câu hỏi trọng yếu: trong xã hội tự do cá nhân, “ai sẽ bổ nhiệm các thẩm phán… để họ thực hiện nhiệm vụ định hình luật pháp?” Câu trả lời của ông là: chính người dân, những người sẽ tìm đến các thẩm phán có danh tiếng lớn nhất về chuyên môn và trí tuệ trong việc thấu hiểu và áp dụng các nguyên tắc pháp lý cơ bản của xã hội.
Thực tế, việc xác định trước ai sẽ bổ nhiệm các thẩm phán là điều không mấy quan trọng, bởi theo một nghĩa nào đó, bất kỳ ai cũng có thể làm việc đó – như vẫn diễn ra khi người ta nhờ đến các trọng tài tư nhân để giải quyết tranh chấp của mình... Việc bổ nhiệm thẩm phán không phải là vấn đề đặc biệt, như thể ‘bổ nhiệm’ các nhà vật lý, bác sĩ hay những người có học vấn và kinh nghiệm khác. Sự xuất hiện của những người chuyên nghiệp giỏi trong bất kỳ xã hội nào thoạt nhìn có vẻ nhờ vào các vụ bổ nhiệm chính thức, nếu có, nhưng thực ra là dựa trên sự đồng thuận rộng rãi từ khách hàng, đồng nghiệp và công chúng nói chung – một sự đồng thuận mà nếu không có, thì không một cuộc bổ nhiệm nào thực sự có hiệu lực. Tất nhiên, người ta có thể sai lầm trong việc đánh giá giá trị đích thực của người được chọn, nhưng những khó khăn trong việc lựa chọn ấy là điều không thể tránh khỏi trong bất kỳ sự lựa chọn nào[8].
Tuy nhiên, cho đến gần đây, các nhà sử học hầu như đã bỏ qua ví dụ đáng chú ý nhất trong lịch sử về một xã hội có luật pháp và tòa án theo tinh thần tự do cá nhân. Đây cũng là một xã hội mà không chỉ luật pháp và tòa án phần lớn mang tính tự do cá nhân, mà còn vận hành trong cộng đồng hoàn toàn không có nhà nước – một xã hội thực sự không chính quyền theo nghĩa thuần túy của chủ nghĩa tự do cá nhân. Đó chính là Ireland cổ đại – đã kiên định đi trên con đường tự do cá nhân trong suốt khoảng một nghìn năm, cho đến khi bị Anh quốc chinh phục tàn bạo vào thế kỷ XVII. Khác với nhiều bộ lạc nguyên thủy có cơ cấu hoạt động tương tự (như người Ibo ở Tây Phi hay nhiều bộ lạc châu Âu), Ireland trước thời kỳ bị chinh phục hoàn toàn không phải là xã hội “nguyên thủy” theo bất kỳ nghĩa nào: đó là xã hội có cơ cấu phức tạp, trong nhiều thế kỷ từng được coi là tiên tiến, uyên bác và văn minh nhất của toàn Tây Âu.
Suốt một nghìn năm, Ireland của người Celt cổ đại không có Nhà nước – hay bất cứ điều gì tương tự với khái niệm đó. Nhà nghiên cứu hàng đầu về luật Ireland cổ từng viết: “Không có cơ quan lập pháp, không có chấp hành viên, không có cảnh sát, không có sự thực thi công lý mang tính công quyền... Không hề có dấu vết nào của công lý do Nhà nước điều hành.”[9]
Vậy, công lý được bảo đảm như thế nào? Đơn vị chính trị cơ bản của Ireland cổ là tuath. Mọi “người tự do” sở hữu đất đai, cùng với các nhà chuyên môn và thợ thủ công, đều có quyền trở thành thành viên của một tuath. Các thành viên của tuath tổ chức hội đồng thường niên, nơi họ quyết định mọi chính sách chung, tuyên bố chiến tranh hoặc hòa bình với các tuath khác, và bầu chọn hoặc phế truất “vua” của mình. Điều đáng chú ý là – trái với các bộ lạc nguyên thủy – không ai bị ràng buộc cố định với một tuath, dù bởi quan hệ huyết thống hay vị trí địa lý. Mỗi cá nhân đều tự do – và thường xuyên – tách khỏi tuath này để gia nhập tuath khác, thậm chí có những trường hợp hai hay nhiều tuath sáp nhập thành một đơn vị mới hiệu quả hơn. Như Giáo sư Peden nhận định: “Tuath là một cộng đồng những con người tự nguyện liên kết với nhau vì các mục đích xã hội có lợi, và tổng thể tài sản đất đai của các thành viên chính là phạm vi lãnh thổ của nó.”[10] Tóm lại, người Ireland cổ không có Nhà nước theo nghĩa hiện đại, vốn tự tuyên bố chủ quyền trên một vùng lãnh thổ nhất định (thường là ngày càng mở rộng thêm), tách biệt khỏi quyền sở hữu đất đai của công dân. Ngược lại, tuath là những hiệp hội tự nguyện, chỉ bao gồm phần đất đai thuộc về các thành viên tự nguyện của mình. Về mặt lịch sử, có khoảng 80 đến 100 tuath cùng tồn tại ở khắp Ireland trong cùng một thời kỳ.
Nhưng còn vị “vua” được bầu chọn thì sao? Liệu ông ta có được xem là một hình thức cai trị mang tính quốc gia hay không? Trước hết, nhà vua chủ yếu đóng vai trò như một vị đại tư tế, chủ trì các nghi lễ thờ cúng của tuath — vốn là một tổ chức tôn giáo tự nguyện, đồng thời cũng là một đơn vị xã hội và chính trị. Giống như các chức tư tế trong thời kỳ ngoại giáo, tiền Kitô giáo, vai trò của nhà vua mang tính truyền thừa, và tập tục này vẫn được duy trì sang cả thời Kitô giáo. Nhà vua được tuath bầu chọn trong một nhóm thân tộc hoàng gia (derbfine), vốn nắm giữ chức năng tư tế mang tính di truyền. Tuy nhiên, về mặt chính trị, quyền hạn của nhà vua bị giới hạn nghiêm ngặt: ông là lãnh đạo quân sự của tuath và là người chủ trì các hội đồng tuath. Song ông chỉ có thể tiến hành chiến tranh hoặc đàm phán hòa bình với tư cách đại diện cho các hội đồng; ông không hề nắm giữ quyền lực tối thượng, cũng không có quyền hành trong việc thi hành công lý đối với các thành viên của tuath. Ông không có quyền lập pháp, và nếu chính ông là một bên trong vụ kiện, ông buộc phải trình vụ việc lên một trọng tài tư pháp độc lập.
Một lần nữa, vậy thì luật pháp được hình thành và công lý được duy trì bằng cách nào? Trước hết, bản thân luật pháp dựa trên hệ thống tập quán cổ xưa và lâu đời, được truyền miệng và sau đó được ghi chép lại qua các thế hệ của tầng lớp luật gia chuyên nghiệp gọi là brehons. Các brehons hoàn toàn không phải là quan chức công hay viên chức nhà nước; họ chỉ đơn thuần được các bên tranh chấp lựa chọn dựa trên uy tín về sự uyên bác, hiểu biết luật tục, và sự chính trực trong các phán quyết của họ. Như Giáo sư Peden nhận xét:
Các luật gia chuyên nghiệp được các bên tranh chấp tham khảo để xin ý kiến về việc áp dụng luật trong những trường hợp cụ thể, và chính họ cũng thường đảm nhiệm vai trò trọng tài giữa các đương sự. Họ luôn là những cá nhân độc lập, không phải công chức; hoạt động của họ dựa trên sự am hiểu luật pháp và uy tín về tính chính trực trong nghề nghiệp tư pháp của mình[11].
Hơn nữa, các brehon không hề có bất kỳ mối liên hệ nào với từng tuath hay với các vị vua của họ. Họ hoàn toàn là những cá nhân tư nhân, hoạt động trên phạm vi toàn quốc, và được các bên tranh chấp khắp Ireland tìm đến. Đặc biệt — và đây là một điểm then chốt — khác với hệ thống luật sư tư nhân của La Mã, các brehon là định chế duy nhất: không có bất kỳ thẩm phán nào khác, không có một “thẩm phán công” nào ở Ireland cổ đại.
Chính các brehon là những người được đào tạo bài bản về luật pháp, và là những người bổ sung các chú giải cũng như ứng dụng mới vào luật để thích ứng với điều kiện thay đổi. Hơn nữa, họ không hề nắm giữ độc quyền nào trong lĩnh vực pháp lý; trái lại, tồn tại nhiều trường phái luật học cạnh tranh với nhau để giành được sự tin cậy của người dân Ireland.
Các phán quyết của brehon được thực thi như thế nào? Thông qua một hệ thống “bảo lãnh” hay “bảo hiểm” phức tạp, hình thành hoàn toàn tự nguyện. Con người được liên kết với nhau trong nhiều mối quan hệ bảo lãnh khác nhau, qua đó họ cùng đảm bảo cho việc sửa sai, thực thi công lý và thi hành các phán quyết của brehon. Nói cách khác, bản thân brehon không trực tiếp tham gia việc cưỡng hành các quyết định; việc đó được thực hiện bởi các cá nhân tư nhân, liên kết với nhau qua cơ chế bảo lãnh.
Có nhiều loại bảo lãnh khác nhau. Ví dụ, người bảo lãnh có thể cam kết bằng tài sản của mình để bảo đảm việc thanh toán khoản nợ, và sau đó cùng nguyên đơn thi hành phán quyết nếu con nợ từ chối trả. Khi đó, con nợ sẽ phải bồi thường gấp đôi: một phần cho chủ nợ ban đầu, và một phần khác để đền cho người bảo lãnh. Hệ thống này áp dụng cho mọi hành vi phạm tội, xâm lấn, tấn công cũng như các hợp đồng thương mại; nói ngắn gọn, nó bao trùm toàn bộ những gì ngày nay ta gọi là “luật dân sự” và “luật hình sự”.
Tất cả tội phạm đều được xem như “con nợ”, có nghĩa vụ bồi hoàn và đền bù cho nạn nhân — những người vì thế trở thành “chủ nợ” của họ. Nạn nhân sẽ tập hợp những người bảo lãnh quanh mình, tiến hành bắt giữ tội phạm hoặc công khai khởi kiện, yêu cầu bị đơn chấp nhận phân xử trước các brehon. Kẻ phạm tội khi ấy có thể cử người bảo lãnh của mình đến thương lượng hoặc đồng ý đưa vụ việc ra brehon xét xử. Nếu hắn không làm vậy, hắn sẽ bị cả cộng đồng coi là “kẻ đứng ngoài vòng pháp luật”; không còn có thể đòi hỏi bất kỳ quyền lợi nào tại tòa, và phải chịu sự khinh miệt của toàn thể cộng đồng[12].
Dĩ nhiên, trong suốt cả ngàn năm của Ireland Celtic vẫn có những “cuộc chiến tranh”, song đó chỉ là những cuộc ẩu đả nhỏ nhoi — chẳng đáng kể so với các cuộc chiến khốc liệt đã tàn phá phần còn lại của châu Âu. Như Giáo sư Peden nhận xét:
Không có bộ máy cưỡng chế của Nhà nước — thứ có thể thông qua thuế khóa và chế độ nghĩa vụ quân sự để huy động khối lượng lớn vũ khí và nhân lực — người Ireland không thể duy trì bất kỳ lực lượng quân sự quy mô lớn nào trên chiến trường trong thời gian dài. Các cuộc chiến tranh Ireland... chỉ là những cuộc ẩu đả và cướp bóc gia súc, thật đáng thương nếu so theo tiêu chuẩn châu Âu[13].
Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng, cả về lý thuyết lẫn lịch sử, hoàn toàn có thể tồn tại những lực lượng bảo vệ hiệu quả và cư xử nhã nhặn, những thẩm phán giỏi giang và uyên bác, cùng một hệ thống luật pháp có trật tự và được xã hội thừa nhận — mà không cần đến một chính quyền cưỡng bức. Chính phủ — vốn tuyên bố độc quyền cưỡng chế trong lĩnh vực bảo vệ và trưng thu nguồn lực bằng bạo lực — có thể bị tách khỏi toàn bộ lĩnh vực đó. Không cần chính phủ cung cấp dịch vụ bảo vệ thiết yếu, cũng như nó không cần cung cấp bất kỳ thứ gì khác. Và còn một sự thật đáng lưu ý hơn: chính sự độc quyền bắt buộc của chính phủ đối với công cụ cưỡng chế đã dẫn đến vô số cuộc tàn sát, áp bức và bạo ngược khôn lường — vượt xa mọi điều mà bất kỳ cơ chế tư nhân phi tập trung nào có thể gây ra. Khi nhìn lại hồ sơ đen tối của những vụ thảm sát, bóc lột và bạo hành mà các chính phủ đã trút xuống nhân loại qua các thời đại, ta chẳng cần do dự gì nữa mà không dám từ bỏ Nhà nước Leviathan để... thử một lần sống trong tự do.
Người bảo vệ ngoài luật pháp
Xin bàn đến vấn đề cuối cùng: điều gì sẽ xảy ra nếu cảnh sát, thẩm phán hay tòa án trở nên tham nhũng và thiên vị — nếu họ cố tình bóp méo các phán quyết của mình, chẳng hạn theo hướng có lợi cho những khách hàng đặc biệt giàu có? Trước đó, chúng tôi đã chỉ ra cách mà hệ thống pháp lý và tư pháp tự do cá nhân có thể vận hành trong khuôn khổ thị trường hoàn toàn tự do, với giả định rằng những khác biệt về quan điểm vẫn nằm trong sự trung thực. Nhưng nếu một hoặc nhiều cảnh sát hay tòa án thực sự trở thành những kẻ đứng ngoài vòng pháp luật thì sao? Phải xử trí thế nào?
Trước hết, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân không hề né tránh câu hỏi này. Trái ngược với những người theo chủ nghĩa không tưởng — chẳng hạn như các nhà Marxist hay những người theo thuyết không chính quyền cánh tả (không chính quyền cộng sản hoặc công đoàn không chính quyền) — người theo chủ nghĩa tự do cá nhân không cho rằng sự ra đời của một xã hội hoàn toàn tự do như trong mơ của họ sẽ đồng thời mang đến một “Con người Tự do” mới, được biến đổi một cách kỳ diệu. Họ không tin rằng sư tử sẽ nằm cạnh chiên con, hay sẽ không còn ai có ý đồ tội phạm hay gian trá với người khác. Dĩ nhiên, con người càng “tốt đẹp” thì xã hội càng vận hành suôn sẻ — và cảnh sát, tòa án càng có ít việc để làm. Nhưng chủ nghĩa tự do cá nhân không hề dựa trên giả định ấy. Điều họ khẳng định là: ở bất kỳ mức độ “thiện” hay “ác” nào của con người, xã hội hoàn toàn tự do cá nhân vẫn sẽ là xã hội vừa đạo đức nhất, vừa hiệu quả nhất, ít tội phạm nhất, và an toàn nhất cho con người cũng như tài sản.
Hãy xét đến vấn đề thẩm phán hoặc tòa án gian lận, thiên vị thân chủ giàu có của mình. Trước hết, khả năng này rất khó xảy ra, nếu xét đến phần thưởng và chế tài tự nhiên của nền kinh tế thị trường tự do. Chính sự tồn tại của tòa án — sinh kế của thẩm phán — phụ thuộc vào danh tiếng của ông ta về tính chính trực, công bằng, khách quan, và tinh thần tìm kiếm sự thật trong mọi vụ việc. Đó chính là “thương hiệu” của ông ta. Nếu có tin đồn về hành vi hối lộ hay thiên vị bị rò rỉ, ông ta sẽ ngay lập tức mất khách hàng, và tòa án của ông sẽ không còn người tìm đến. Ngay cả những kẻ có khuynh hướng phạm tội cũng khó lòng tìm đến một tòa án mà phán quyết của nó không còn được xã hội xem trọng — bởi chính họ cũng có thể bị vướng vào tù tội vì những giao dịch gian trá. Ví dụ, nếu Joe Zilch bị buộc tội phạm pháp hoặc vi phạm hợp đồng, và anh ta đưa vụ việc ra trước “tòa án” do chính ông anh cọc chèo của mình đứng đầu, thì không một ai — đặc biệt là các tòa án trung thực — sẽ coi trọng phán quyết của “tòa án” đó. Trong mắt mọi người, ngoài Joe Zilch và gia đình anh ta, cơ quan ấy sẽ không còn được xem là “tòa án” nữa.
Hơn nữa, sự cám dỗ của tham nhũng và thiên vị sẽ còn ít hơn nữa vì một lý do khác: các doanh nghiệp trong thị trường tự do không kiếm sống nhờ một vài khách hàng giàu có, mà từ thị trường đại chúng — tức là người tiêu dùng phổ thông. Macy’s, chẳng hạn, thu nhập của họ đến từ đại đa số dân chúng chứ không phải một thiểu số giàu sang. Điều này đúng với Metropolitan Life Insurance hiện nay, và cũng sẽ đúng với bất kỳ hệ thống tòa án “Metropolitan” nào trong tương lai. Thật là dại dột nếu một tòa án đánh đổi sự tín nhiệm của đại đa số khách hàng để lấy sự ưu ái từ một số ít người giàu có. Trái lại, trong hệ thống hiện tại, các thẩm phán — như mọi chính trị gia khác — thường chịu ơn các nhà tài trợ giàu có, những người bỏ tiền cho chiến dịch tranh cử của đảng phái họ.
Có một huyền thoại cho rằng “Hệ thống Hoa Kỳ” được thiết kế với những “cơ chế kiểm soát và đối trọng” hoàn hảo, trong đó hành pháp, lập pháp và tư pháp có thể kiềm chế và giám sát lẫn nhau, ngăn quyền lực tập trung vào tay một nhóm người. Nhưng trên thực tế, hệ thống “kiểm soát và đối trọng” đó phần lớn chỉ là ảo tưởng. Bởi mỗi cơ quan trong ba nhánh quyền lức ấy đều là một độc quyền cưỡng chế trong phạm vi riêng, và tất cả đều thuộc về cùng một bộ máy chính quyền — bất kỳ thời điểm nào cũng do một đảng chính trị cầm đầu. Hơn nữa, cùng lắm cũng chỉ có hai đảng, mà cả hai lại gần nhau về tư tưởng lẫn nhân sự, thường ngấm ngầm thông đồng. Bộ máy hành chính của họ được điều hành bởi tầng lớp công chức không thể bị thay thế qua lá phiếu cử tri.
Trái ngược với cơ chế kiểm soát và đối trọng mang tính huyền thoại đó, chính nền kinh tế thị trường tự do mới có những cơ chế kiểm soát và đối trọng thực sự. Cái giữ cho A&P trung thực là sự cạnh tranh — cả thực tế lẫn tiềm năng — từ Safeway, Pioneer và vô số chuỗi cửa hàng khác. Cái giữ cho họ trung thực chính là quyền của người tiêu dùng: họ có thể ngừng mua sắm bất cứ lúc nào. Tương tự, cái giữ cho các thẩm phán và tòa án trong hệ thống tư pháp thị trường tự do trung thực chính là khả năng khách hàng rời đi — tìm đến tòa án khác — ngay khi có nghi ngờ về sự liêm chính. Động lực khiến họ trung thực chính là khả năng mất khách hàng. Đó mới là những cơ chế kiểm soát và đối trọng thực chất, linh hoạt và sống động của nền kinh tế và xã hội tự do.
Phân tích tương tự cũng áp dụng cho khả năng lực lượng cảnh sát tư nhân biến chất — dùng quyền lực cưỡng chế để đòi cống nạp, dựng nên “đường dây bảo kê” để tống tiền nạn nhân. Tất nhiên, hiện tượng đó có thể xảy ra. Nhưng khác với xã hội hiện nay, trong trật tự tự do sẽ tồn tại những biện pháp kiểm soát tức thời: sẽ có các lực lượng cảnh sát khác, có vũ trang và có thể liên kết lại để trấn áp những kẻ xâm hại khách hàng của họ. Nếu Lực lượng Cảnh sát Metropolitan trở thành băng đảng tống tiền, phần còn lại của xã hội có thể lập tức chuyển sang các lực lượng cảnh sát như Prudential, Equitable, v.v., những bên có thể hợp sức để dập tắt sự nổi loạn đó. Điều này đối lập hoàn toàn với Nhà nước hiện nay. Nếu một nhóm gangster chiếm được bộ máy nhà nước — vốn độc quyền sử dụng bạo lực — thì hầu như không có gì có thể ngăn cản họ, ngoài một cuộc cách mạng đầy gian nan. Trong xã hội tự do, sẽ chẳng cần đến những cuộc cách mạng quy mô như vậy để ngăn chặn sự tàn bạo của các “nhà nước gangster”; người dân chỉ cần chuyển ngay sang lực lượng cảnh sát lương thiện khác để kiểm soát và dập tắt những kẻ đã biến thành kẻ cướp.
Và, quả thực, Nhà nước là gì nếu không phải là cướp bóc có tổ chức? Thuế là gì nếu không phải là hành vi trộm cắp trên quy mô khổng lồ, không hề bị kiểm soát? Chiến tranh là gì nếu không phải là cuộc thảm sát hàng loạt trên quy mô mà bất kỳ lực lượng cảnh sát tư nhân nào cũng không thể làm được? Nghĩa vụ quân sự là gì nếu không phải là sự bắt ép nhiều người vào tình trạng nô lệ? Liệu có ai có thể tưởng tượng được rằng một lực lượng cảnh sát tư nhân nào đó lại có thể thoát tội nếu phạm phải dù chỉ một phần rất nhỏ những điều mà các Nhà nước vẫn thường xuyên làm, hết năm này qua năm khác, hết thế kỷ này sang thế kỷ khác?
Còn một yếu tố quan trọng khác khiến cho lực lượng cảnh sát ngoài vòng pháp luật hầu như không thể thực hiện được những hành vi cướp bóc tương tự như các chính phủ hiện đại đang làm. Một trong những nguyên nhân then chốt cho phép các chính phủ có thể ngang nhiên làm những điều tàn bạo như thế, chính là ý thức về tính chính danh mà công chúng — vì mê muội — đã trao cho họ. Người dân bình thường có thể không thích, thậm chí phản đối mạnh mẽ các chính sách và yêu sách của chính phủ, nhưng họ đã bị thấm nhuần ý tưởng — được nhồi nhét qua hàng thế kỷ tuyên truyền — rằng chính phủ là quyền lực hợp pháp của họ, và rằng chống lại nó là điều độc ác hoặc điên rồ. Chính cảm thức “chính danh” ấy đã được giới trí thức của Nhà nước nuôi dưỡng qua nhiều thời đại, được củng cố bởi tất cả những biểu tượng của quyền lực: cờ hiệu, nghi lễ, lễ kỷ niệm, huân chương, hiến pháp, v.v. Một băng đảng cướp — ngay cả khi toàn bộ lực lượng cảnh sát liên kết lại thành một băng khổng lồ — cũng không bao giờ có thể đạt được tính chính danh như thế. Công chúng sẽ chỉ xem chúng như phường cướp bóc; những hành vi tống tiền, cống nạp của chúng sẽ không bao giờ được coi là “thuế khóa” hợp pháp, dù có nặng nề đến đâu. Dân chúng sẽ nhanh chóng chống lại những yêu sách bất hợp pháp ấy, và lật đổ những tên cướp. Một khi công chúng đã nếm trải niềm vui, sự thịnh vượng, tự do và hiệu quả của xã hội tự do, không có Nhà nước, thì gần như Nhà nước không thể nào lại trói buộc họ một lần nữa. Khi tự do đã được hưởng trọn vẹn, việc buộc con người từ bỏ nó không phải là chuyện dễ dàng.
Nhưng giả sử — chỉ giả sử thôi — rằng bất chấp tất cả những trở ngại và bất lợi đó, bất chấp tình yêu dành cho tự do mới tìm được, bất chấp những cơ chế kiểm soát và đối trọng vốn có của thị trường tự do, Nhà nước vẫn bằng cách nào đó có thể tái lập chính mình — thì sao? Vâng, thì tất cả những gì xảy ra chỉ là: chúng ta lại có một Nhà nước như trước. Cũng chẳng tệ hơn hiện nay, khi ta đang sống cùng Nhà nước này. Và như một triết gia theo chủ nghĩa tự do cá nhân từng nói: “Ít nhất thì thế giới cũng đã có một kỳ nghỉ huy hoàng.” Lời hứa vang dội của Karl Marx lại thích hợp với xã hội tự do cá nhân hơn là với chủ nghĩa cộng sản: Khi thử nghiệm tự do, khi xóa bỏ Nhà nước, chúng ta chẳng có gì để mất, mà được tất cả.
Quốc phòng
Giờ đây, ta đến với luận cứ thường được xem là “pháo đài cuối cùng” của những người phản đối tư tưởng tự do cá nhân. Mỗi người theo chủ nghĩa này hẳn đều từng nghe một người đối thoại thiện cảm nhưng hoài nghi hỏi rằng: “Được rồi, tôi có thể hiểu hệ thống ấy có thể áp dụng thành công cho cảnh sát và tòa án địa phương. Nhưng làm sao xã hội tự do cá nhân có thể bảo vệ chúng ta khỏi người Nga?”
Tất nhiên, câu hỏi ấy bao hàm nhiều giả định đáng ngờ. Trước hết, giả định rằng người Nga quyết tâm xâm lược Hoa Kỳ bằng quân sự – điều này vốn đã rất đáng ngờ. Thứ hai, giả định rằng ngay cả sau khi Hoa Kỳ trở thành xã hội hoàn toàn theo chủ nghĩa tự do cá nhân, tham vọng ấy vẫn sẽ còn tồn tại. Quan niệm này bỏ qua một bài học quan trọng của lịch sử: chiến tranh nảy sinh từ những xung đột giữa các quốc gia dân tộc – mỗi bên đều vũ trang tới tận răng, luôn trong tâm thế ngờ vực và sợ hãi bị tấn công trước. Nhưng nước Mỹ theo chủ nghĩa tự do cá nhân hiển nhiên sẽ không là mối đe dọa cho bất kỳ ai – không phải vì nó không có vũ khí, mà vì nó không có ý định gây hấn với bất kỳ ai, bất kỳ quốc gia nào. Khi không còn là một “quốc gia dân tộc” – vốn dĩ đã mang sẵn tính đe dọa – thì xác suất bị tấn công từ bên ngoài sẽ giảm đi rất nhiều. Một trong những tệ hại căn bản của hệ thống quốc gia dân tộc là ở chỗ: mỗi Nhà nước tự đồng nhất mình với toàn thể thần dân của nó. Vì vậy, trong bất kỳ cuộc chiến giữa các quốc gia nào, những thường dân vô tội – thần dân của mỗi bên – đều trở thành nạn nhân của cuộc tấn công từ phía đối địch. Nhưng trong xã hội tự do cá nhân, sẽ không còn sự đồng nhất đó, và do đó, cũng rất hiếm khi có thể xảy ra những cuộc chiến tàn khốc như thế. Giả sử, chẳng hạn, lực lượng Cảnh sát Metropolitan ngoài vòng pháp luật của chúng ta khơi mào hành vi xâm lược không chỉ với người Mỹ mà cả người Mexico. Nếu Mexico có chính phủ, thì chính phủ ấy hẳn sẽ hiểu rõ rằng người Mỹ nói chung không liên quan đến tội ác của lực lượng Metropolitan, và không có mối quan hệ cộng sinh nào với nó. Nếu cảnh sát Mexico mở một cuộc hành quân trừng phạt chống lại Metropolitan, họ sẽ không tuyên chiến với người Mỹ nói chung – như cách mà các quốc gia làm hiện nay. Thực tế, rất có thể những lực lượng Mỹ khác sẽ cùng Mexico trấn áp kẻ xâm lược. Bởi vậy, khái niệm về một “cuộc chiến giữa các quốc gia” nhằm chống lại một xã hội hay khu vực theo chủ nghĩa tự do cá nhân có lẽ sẽ hoàn toàn biến mất.
Hơn nữa, có một sai lầm triết học nghiêm trọng ngay trong việc nêu ra câu hỏi kiểu như “người Nga” này. Khi suy xét bất kỳ hệ thống xã hội nào – dù là mới hay cũ – điều đầu tiên ta phải tự hỏi là: Liệu ta có thật sự muốn thấy nó được hình thành không? Để quyết định xem ta muốn chủ nghĩa tự do cá nhân, chủ nghĩa cộng sản, thuyết không chính quyền cánh tả, chế độ thần quyền, hay bất kỳ hình thái nào khác, trước tiên ta phải giả định rằng hệ thống đó đã được thiết lập, rồi xem xét xem: nó có thể vận hành được không? Có khả năng tồn tại bền vững không? Và hiệu quả ra sao? Tôi tin rằng chúng ta đã cho thấy: một hệ thống tự do cá nhân, một khi được thiết lập, hoàn toàn có thể vận hành – khả thi, hiệu quả, thịnh vượng, đạo đức và tự do hơn bất kỳ hệ thống xã hội nào khác. Tuy nhiên, ta vẫn chưa bàn đến việc: làm thế nào để đi từ hiện trạng này đến hệ thống lý tưởng ấy. Bởi vì đó là hai vấn đề hoàn toàn tách biệt: (1) mục tiêu lý tưởng là gì, và (2) chiến lược, phương cách để đạt tới mục tiêu đó. Câu hỏi “người Nga” đã vô tình trộn lẫn hai tầng diễn ngôn này. Nó giả định rằng chủ nghĩa tự do cá nhân chỉ được thiết lập ở Mỹ, chứ không ở nơi nào khác. Nhưng tại sao lại phải giả định như vậy? Tại sao không giả định rằng nó đã được thiết lập trên toàn thế giới, rồi xem thử ta có hài lòng với nó không? Suy cho cùng, triết lý tự do cá nhân là triết lý mang tính vĩnh cửu, không bị ràng buộc bởi thời gian hay không gian. Chúng ta cổ vũ cho tự do của mọi người, ở mọi nơi, chứ không chỉ riêng cho người Mỹ. Nếu ai đó tin rằng xã hội tự do cá nhân toàn cầu, một khi được hình thành, sẽ là mô hình tốt đẹp nhất mà con người có thể tưởng tượng – khả thi, hiệu quả và có đạo đức – thì hãy để người ấy trở thành người theo chủ nghĩa tự do cá nhân; hãy cùng chúng ta nhìn nhận tự do là mục tiêu tối hậu, và cùng nhau đảm nhận nhiệm vụ riêng biệt – dẫu đầy gian khó – là tìm ra cách để biến lý tưởng ấy thành hiện thực.
Nếu chúng ta chuyển sang bàn về chiến lược, thì rõ ràng: khu vực nào càng rộng lớn khi tự do được thiết lập đầu tiên, thì cơ hội tồn tại của nó càng cao, và khả năng chống lại mọi mưu toan lật đổ bằng bạo lực cũng càng mạnh. Nếu tự do được thiết lập đồng thời trên toàn thế giới, thì dĩ nhiên sẽ không còn vấn đề nào gọi là “quốc phòng” nữa — mọi vấn đề khi ấy chỉ còn là vấn đề của trật tự và an ninh địa phương. Ngược lại, nếu chỉ có Deep Falls thuộc bang Wyoming trở thành khu vực theo chủ nghĩa tự do cá nhân, trong khi phần còn lại của nước Mỹ và thế giới vẫn duy trì chủ nghĩa nhà nước, thì cơ hội tồn tại của nó sẽ vô cùng mong manh. Nếu Deep Falls tuyên bố ly khai khỏi chính phủ Hoa Kỳ và thiết lập xã hội tự do cá nhân, thì rất có khả năng — xét theo tiền lệ lịch sử tàn khốc của Hoa Kỳ đối với các phong trào ly khai — chính quyền liên bang sẽ nhanh chóng tiến hành xâm lược và nghiền nát xã hội tự do mới này. Khi ấy, lực lượng cảnh sát của Deep Falls cũng chẳng thể làm được bao nhiêu. Giữa hai thái cực ấy tồn tại vô số cấp độ trung gian, và dĩ nhiên, phạm vi tự do càng lớn thì khả năng chống chọi các mối đe dọa từ bên ngoài càng mạnh. Do đó, “vấn đề Nga” thực chất là một vấn đề chiến lược, chứ không phải vấn đề nguyên tắc nền tảng hay mục tiêu lý tưởng mà chúng ta đang hướng tới.
Tuy nhiên, sau khi đã bàn hết những điều vừa nói, xin xem xét “vấn đề Nga” thêm một lần nữa. Giả sử Liên Xô thật sự quyết tâm tấn công cộng đồng tự do cá nhân nằm trong ranh giới hiện nay của Hoa Kỳ (rõ ràng khi đó sẽ không còn chính phủ Hoa Kỳ nào tồn tại để đại diện cho “quốc gia dân tộc” thống nhất nữa). Trước hết, hình thức và quy mô chi tiêu quốc phòng sẽ do chính người tiêu dùng Mỹ quyết định. Những người tin vào mối đe dọa từ Liên Xô và ủng hộ việc triển khai tàu ngầm Polaris sẽ đóng góp tài chính để chế tạo chúng. Những người ưa chuộng hệ thống phòng thủ tên lửa ABM sẽ đầu tư vào các tên lửa đó. Còn những ai xem thường mối đe dọa ấy, hoặc là người theo chủ nghĩa hòa bình tuyệt đối, thì đơn giản là sẽ không đóng góp gì cho bất kỳ hình thức “quốc phòng” nào. Các học thuyết phòng thủ khác nhau sẽ được áp dụng tùy theo mức độ ủng hộ và tài trợ của những người tin tưởng vào từng học thuyết. Với sự lãng phí khổng lồ của các cuộc chiến tranh và những chương trình phòng thủ quốc gia trong suốt lịch sử, việc cho rằng những nỗ lực phòng thủ tư nhân, tự nguyện có thể hiệu quả hơn nhiều so với các bộ máy quan liêu tốn kém của chính phủ là điều hoàn toàn hợp lý. Và chắc chắn rằng, những nỗ lực ấy cũng sẽ mang tính đạo đức hơn hẳn.
Nhưng hãy giả định điều tồi tệ nhất. Giả sử Liên Xô cuối cùng cũng xâm lược và chinh phục lãnh thổ Hoa Kỳ. Khi ấy thì sao? Ta phải nhận ra rằng, những khó khăn thực sự của Liên Xô mới chỉ bắt đầu. Lý do chính khiến quốc gia chinh phục có thể cai trị được quốc gia bại trận là vì quốc gia bại trận có sẵn một bộ máy Nhà nước để truyền đạt và thực thi mệnh lệnh của kẻ thắng cuộc lên dân chúng bị trị. Anh quốc, tuy nhỏ hơn hẳn về diện tích và dân số, vẫn có thể cai trị Ấn Độ suốt nhiều thế kỷ, bởi họ có thể truyền đạt mệnh lệnh của mình qua các hoàng thân Ấn Độ, những người sau đó áp đặt chúng lên thần dân của mình. Nhưng trong những trường hợp mà người bị chinh phục không có chính phủ, kẻ chinh phục lại thấy việc cai trị trở nên vô cùng khó khăn. Khi người Anh chinh phục Tây Phi chẳng hạn, họ gặp trở ngại lớn trong việc cai trị bộ tộc Ibo (sau này lập nên quốc gia Biafra), vì bộ tộc này về bản chất là theo chủ nghĩa tự do tự nhiên, không có một cơ cấu cai trị của tù trưởng để truyền đạt mệnh lệnh xuống dân. Có lẽ cũng chính vì lý do đó mà người Anh phải mất hàng thế kỷ mới chinh phục được Ireland cổ đại: bởi người Ireland khi ấy không có Nhà nước, không có một hệ thống quyền lực trung ương để duy trì hiệp ước hay truyền đạt mệnh lệnh. Chính vì thế mà người Anh từng không ngừng lên án dân Ireland “hoang dã” và “không văn minh”, gọi họ là “bất tín”, chỉ vì họ không chịu giữ hiệp ước với kẻ chinh phục. Người Anh không bao giờ hiểu được rằng – do không có bất kỳ hình thức Nhà nước nào – nên những chiến binh Ireland ký hiệp ước với họ chỉ có thể đại diện cho chính mình, chứ không thể ràng buộc bất kỳ nhóm người Ireland nào khác[14].
Hơn nữa, đời sống của quân Nga chiếm đóng chắc chắn sẽ còn gian nan hơn nữa vì sự bùng nổ tất yếu của chiến tranh du kích do người dân Mỹ phát động. Đó là một bài học rõ ràng của thế kỷ XX – bài học đầu tiên được khẳng định bởi những nhà cách mạng Mỹ trong cuộc kháng chiến thành công chống lại Đế quốc Anh hùng mạnh – không một lực lượng chiếm đóng nào có thể khuất phục được một dân tộc quyết tâm kháng cự. Nếu nước Mỹ khổng lồ, với năng suất và hỏa lực vượt trội, mà vẫn thất bại trước dân tộc Việt Nam nhỏ bé và gần như không có vũ khí, thì thử hỏi Liên Xô làm sao có thể kìm hãm được người dân Mỹ? Không một người lính Nga chiếm đóng nào có thể an toàn trước cơn thịnh nộ của dân chúng Mỹ đang vùng lên kháng cự. Chiến tranh du kích đã chứng minh rằng đó là sức mạnh không thể khuất phục, bởi nó bắt nguồn – không phải từ chính quyền trung ương độc tài – mà từ chính nhân dân, những người đang chiến đấu vì tự do và độc lập của mình trước ngoại bang. Và chắc chắn, chỉ cần hình dung trước biển khổ ấy – với những tổn thất và chi phí khổng lồ không thể tránh được – cũng đủ khiến ngay cả chính quyền Liên Xô giả định, dù có nuôi mộng chinh phục bằng vũ lực, cũng phải chùn bước ngay từ đầu.
[1]Xem Wooldridge, Uncle Sam the Monopoly Man, pp. 111ff.
[2] Cf. Gustave de Molinari, The Production of Security (New York: Center for Libertarian Studies, 1977)
[3] Wooldridge, Uncle Sam the Monopoly Man, p. 96. Xem thêm pp. 94–110.
[4] Bruno Leoni, Freedom and the Law (Los Angeles: Nash Publishing, 1972), p. 87.
[5] Ibid., pp. 23–24.
[6] Ibid., p. 188
[7] Ibid., pp. 84–85.
[8] Ibid., p. 183.
[9] Trích trong dẫn nhập tuyệt với nhất về các thiết chế của Ireland cổ đại và không chính quyền, Joseph R. Peden, “Property Rights in Celtic Irish Law,” Journal of Libertarian Studies I (Spring, 1977): 83; xem thêm pp. 81–95. Tổng kết, xem Peden, “Stateless Societies: Ancient Ireland,” The Libertarian Forum (April 1971): 3–4.
[10] Peden, “Stateless Societies,” p. 4.
[11] Ibid.
[12] Giáo Charles Donahue của Fordham University khẳng định rằng rằng phần thế tục trong luật Ireland cổ không đơn thuần là những tập tục ngẫu nhiên; mà nó có nền tảng ý thức trong quan niệm Stoic về luật tự nhiên, có thể được con người khám phá bằng lý trí. Charles Donahue, “Early Celtic Laws” (bài viết chưa xuất bản, trình bày tại Columbia University Seminar in the History of Legal and Political Thought, Đại học Columbia, mùa thu 1964), trang 13 và tiếp theo.
[13]Peden, “Stateless Societies,” p. 4.
[14] Peden, “Stateless Societies,” p. 3; xem thêm Kathleen Hughes, dẫn nhập cho cuốn A. Jocelyn Otway-Ruthven, A History of Medieval Ireland (New York: Barnes and Noble, 1968).
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
