Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 3: Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận
19. NHỮNG MỤC ĐÍCH THỰC TIỄN CỦA PHÊ PHÁN NÀY
Liệu động cơ thực sự của nghiên cứu khoa học chỉ là lòng mong muốn hiểu biết, tức là một sự tò mò thuần túy lí thuyết hoặc “vô bổ”, hay liệu ta nên hiểu khoa học là một công cụ nhằm giải quyết những bài toán thực tiễn nổi lên trong cuộc đấu tranh sinh tồn, thì đó là một câu hỏi chưa cần phải trả lời dứt khoát ở đây. Ta sẽ buộc phải công nhận rằng những kẻ bảo vệ cho thực trạng của nghiên cứu “thuần túy” hay nghiên cứu “cơ bản” xứng đáng nhận được mọi sự ủng hộ trong cuộc đấu tranh của họ chống lại thứ quan điểm hẹp hòi nhưng đáng tiếc vẫn còn mang tính thời thượng cho rằng chỉ có thể biện minh cho nghiên cứu nếu chứng minh được đó là một sự đầu tư chắc chắn (đây là một vấn đề không mới, ngay như Plato đôi lúc cũng công kích nghiên cứu “thuần túy”. Về những ý kiến ủng hộ, xin xem T. H. Huxley, Science and Culture (1882), trang 19- 20 và M. Polanyi, Economica, N. S., tập VII (1941), các trang từ 428; tham khảo thêm cuốn The Place of Science in Modern Civilisation của Veblen, các trang từ 7 trở đi). Nhưng ngay cả quan điểm có phần nào cực đoan (mà cá nhân tôi thiên về quan điểm ấy) cho rằng khoa học có ý nghĩa hơn cả khi nó được xem như một trong những cuộc phiêu lưu tinh thần lớn nhất xưa nay của loài người, cũng vẫn có thể kết hợp được với sự thừa nhận tầm quan trọng của những vấn đề thực tiễn và những phép trắc nghiệm thực tiễn, cho dù là khoa học ứng dụng hay khoa học thuần túy; bởi thực tiễn luôn là vô giá đối với sự nghiên cứu khoa học, vừa như roi thúc vừa như dây cương. Người ta không cần phải tán dương triết lí thực dụng mới hiểu rõ được giá trị lời nói của Kant: “Đầu hàng bất cứ sự đỏng đảnh nào của tính tò mò, và để cho niềm đam mê tìm tòi của chúng ta được tung hoành hết khả năng mình có được, điều đó cho thấy một sự đắm đuối vô độ của tâm trí, không có gì không phù hợp với tinh thần thông kim bác cổ. Nhưng âu chỉ có sự khôn ngoan [wisdom - sagesse] mới có phẩm chất xứng đáng để lựa chọn, giữa vô vàn vấn đề tự chúng bộc lộ, những vấn đề mà giải pháp của chúng có ý nghĩa đối với nhân loại.” (Kant, Dreams of a Ghost Seer, phần II, chương III, Werke, nhà xuất bản E. Cassier, tập II, trang 385).
Rõ ràng là quan điểm trên có thể áp dụng được cho khoa học sinh học và có lẽ cả cho các bộ môn khoa học xã hội. Cuộc cải tổ khoa học sinh học đã được Pasteur tiến hành với sự kích thích của những vấn đề hết sức thực tiễn, một phần nào đó thuần túy mang tính công nghiệp và nông nghiệp, và ngày nay, nghiên cứu xã hội xem ra mang tính cấp thiết về mặt thực tiễn có khi còn hơn cả những công trình nghiên cứu về bệnh ung thư. Như Giáo sư Hayek nói: “Chưa có khi nào phép phân tích kinh tế lại là sản phẩm của sự tò mò vô tư mang tính trí tuệ về cái tại sao của hiện tượng xã hội cả, mà là sản phẩm của một đòi hỏi cấp thiết trong việc tái tạo một thế giới đang khiến nảy sinh tình trạng bất mãn sâu sắc” (Economica, tập XIII (1933), trang 122) và rồi một số bộ môn khoa học xã hội khác, trong đó không có kinh tế học, tuy chưa tiếp nhận quan điểm này, nhưng thông qua sự nghèo nàn về mặt thành tựu cũng đã cho thấy những nghiên cứu tư biện của chúng đang cần đến những phép thử thực tiễn một cách khẩn thiết như thế nào.
Sự cần thiết phải có tác nhân kích thích của các vấn đề thực tiễn cũng rõ ràng không kém khi ta xem xét đến những công trình khảo cứu về phương pháp nghiên cứu khoa học, cũng như về phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội được khái quát hóa hoặc mang tính lí thuyết, mà chúng ta sẽ bàn đến ở đây. Những cuộc tranh luận về phương pháp mang lại nhiều hiệu quả hơn cả luôn là những cuộc tranh luận trên tinh thần của một số bài toán thực tiễn mà nhà nghiên cứu phải đối mặt; còn lại hầu như những cuộc tranh luận không trên tinh thần đó đều được đặc trưng bởi cái không khí tinh tế vô bổ làm cho bộ môn phương pháp luận mang nhiều tai tiếng đối với các nhà nghiên cứu thực tế. Phải nhận thấy rằng những cuộc tranh luận về phương pháp luận nghiêng về phía các vấn đề thực tiễn là những cuộc tranh luận không chỉ hữu ích mà còn thiết yếu. Đối với quá trình phát triển và hoàn thiện của phương pháp, cũng như của bản thân khoa học, chúng ta chỉ có thể tìm hiểu thông qua phép thử sai, và ta cần đến sự phê phán của những người khác hòng tìm ra được những sai lầm của mình; sự phê phán đó là vô cùng quan trọng bởi việc đưa ra áp dụng những phương pháp mới có thể mang ý nghĩa của một sự thay đổi căn bản và mang tính cách mạng. Tất cả những cái đó có thể được minh họa bằng những ví dụ như việc đưa các phương pháp toán học vào áp dụng cho kinh tế học, hoặc việc đưa các phương pháp gọi là “khách quan” hay “ tâm lí” vào áp dụng cho lí thuyết giá trị. Một ví dụ mới đây là việc kết hợp những phương pháp của lí thuyết này với các phương pháp thống kê (“phân tích nhu cầu”). Cuộc cách mạng mới hơn cả này về phương pháp một phần là kết quả của những cuộc tranh luận kéo dài và mang đậm tính phê phán, một sự thực khích lệ những ai ủng hộ cho nghiên cứu phương pháp.
Một cách tiếp cận thực tiễn đối với việc nghiên cứu các bộ môn khoa học xã hội lẫn phương pháp của chúng được rất nhiều môn đồ của thuyết sử luận nhiệt thành ủng hộ, với niềm hi vọng rằng, bằng việc sử dụng những phương pháp sử luận, họ có thể biến các bộ môn khoa học xã hội thành một thứ công cụ đắc lực của các chính khách. Chính sự thừa nhận như vậy đối với nhiệm vụ thực tiễn của khoa học xã hội đã tạo ra một cái gì đó tựa như một sân chơi chung cho cuộc tranh luận giữa các nhà sử luận và một vài đối thủ của họ; và tôi cũng xin tham gia một chân trong sân chơi chung ấy nhằm tìm cách phê phán thuyết sử luận, xem nó như một thứ phương pháp nghèo nàn, không đủ sức mang lại những kết quả mà nó hứa hẹn.
20. LỐI TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI XÃ HỘI HỌC
Chủ đề chính của tôi trong công trình nghiên cứu này là thuyết sử luận, một học thuyết về phương pháp mà tôi không tán thành, chứ chủ đề không phải là những phương pháp mà theo tôi đã gặt hái được nhiều thành công và hi vọng sẽ phát triển rộng rãi và có ý thức hơn. Mặc dù vậy, tôi thiết nghĩ mào đầu bằng việc mô tả vắn tắt những phương pháp thành công cũng là một việc làm có ích, để độc giả biết được tôi đứng về phía nào và để làm rõ việc tôi đứng trên quan điểm nào phê phán, cho tiện theo dõi, tôi mạn phép dùng cụm từ công nghệ phân mảnh [piecemeal technology] để gọi chung cho những phương pháp này.
Thuật ngữ “công nghệ xã hội” (và thậm chí cả thuật ngữ “kiến dựng xã hội” [social engineering] sẽ được bàn đến ở phần sau) chắc hẳn sẽ khiến nhiều người lúng túng, và sẽ gây khó chịu cho những ai nhận thấy thuật ngữ này gợi nhớ đến những “kiểu mẫu xã hội” của những kẻ từng hoạch định các kế sách hợp tác hóa hay thậm chí của cả những nhà “kĩ trị”. Vì ý thức được nguy cơ đó nên tôi đã thêm vào đây tính từ “phân mảnh”, vừa để tránh những liên tưởng không đáng có, vừa để khẳng định niềm tin của tôi cho rằng “sự hàn nối từng mảnh” [piecemeal tinkering] (như thỉnh thoảng người ta vẫn gọi), kết hợp với việc phân tích phê phán, là phương cách chủ yếu nhằm đạt tới những thành quả thực tiễn trong khoa học xã hội cũng như trong khoa học tự nhiên. Các bộ môn khoa học xã hội đã phần lớn phát triển nhờ vào việc phê phán những dự án phát triển xã hội hay đúng hơn là nhờ vào việc đánh giá liệu một vài hành vi chính trị hoặc kinh tế có thực sự đưa lại những kết quả đáng trông đợi hay đáng mong muốn hay không (xem F. A. von Hayek, Economica, tập XIII (1933), trang 123: “... sự phát triển của kinh tế chủ yếu là kết quả của việc nghiên cứu và bác bỏ những dự án Không Tưởng kế tiếp nhau...”). Cách tiếp cận này thực sự được gọi là cách tiếp cận cổ điển và cũng là cách tiếp cận mà tôi nghĩ đến khi nói về cách tiếp cận khoa học xã hội từ góc độ công nghệ hay về “công nghệ xã hội phân mảnh”.
Những vấn đề công nghệ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội có thể mang đặc tính “tư” hoặc mang đặc tính “công”. Chẳng hạn, những nghiên cứu về quản trị kinh doanh hoặc về những tác động của việc cải thiện điều kiện lao động đến sản phẩm đầu ra là thuộc nhóm thứ nhất. Những nghiên cứu về tác động, chẳng hạn, đến trên cán cân thu nhập của việc cải tổ các trại giam, hoặc của chính sách bảo hiểm y tế cộng đồng, hoặc của việc ổn định giá cả thông qua các phương tiện pháp lí, hoặc của việc đưa ra mức thuế nhập khẩu mới,.v..v. là thuộc nhóm thứ hai; và cũng thuộc nhóm ấy còn có những vấn đề thực tiễn cấp bách khác, thể như khả năng kiểm soát các hoạt động mậu dịch quay vòng; hoặc vấn đề liệu hoạt động “kế hoạch hóa” tập trung, theo nghĩa nhà nước quản lí sản xuất, có tương hợp với sự kiểm soát dân chủ có hiệu lực đối với hệ thống hành chính hay không; hoặc vấn đề làm thế nào đưa được nền dân chủ đến các quốc gia Trung Đông.
Việc nhấn mạnh đến cách tiếp cận thực tiễn từ góc độ công nghệ không có nghĩa là phải loại bỏ mọi vấn đề lí thuyết có khả năng nổi lên từ việc phân tích các vấn đề thực tiễn. Ngược lại, tôi chủ yếu cho rằng cách tiếp cận từ góc độ công nghệ có vẻ như chỉ có thể mang lại thành công khi nó khiến nảy sinh những vấn đề thực sự có ý nghĩa xét về mặt lí thuyết thuần túy. Nhưng bên cạnh việc giúp chúng ta hoàn thành nhiệm vụ căn bản là lựa chọn các vấn đề, cách tiếp cận từ góc độ công nghệ còn áp đặt một kỉ luật đối với những khuynh hướng tư biện của chúng ta (những khuynh hướng có cơ lái chúng ta đến với địa hạt siêu hình học, nhất là trong lĩnh vực thuần túy xã hội học); bởi cách tiếp cận đó buộc chúng ta phải tuân theo các lí thuyết của mình về những tiêu chí đã được xác định, chẳng hạn như những tiêu chí về tính sáng sủa và tính khả trắc nghiệm [testability - khả năng có thể trắc nghiệm được]. Có lẽ nên tóm gọn quan điểm của tôi về cách tiếp cận từ góc độ công nghệ như sau: xã hội học (và có lẽ tất cả các bộ môn khoa học xã hội nói chung) thay vì cần tìm cho mình “một Newton hay một Darwin”, thì nên tìm cho mình một Galileo hay một Pasteur.
Những điều này cùng với những ý kiến trước đó của tôi về sự giống nhau giữa những phương pháp của khoa học xã hội và khoa học tự nhiên dường như đã gây ra quá nhiều bất đồng trong việc lựa chọn của chúng ta đối với những thuật ngữ như “công nghệ xã hội” và “kiến dựng xã hội” (bất chấp là khuynh hướng quan trọng được thể hiện bằng cụm từ “phân mảnh”). Cho nên tốt hơn hết tôi nên khẳng định rằng tôi đánh giá rất cao tầm quan trọng của cuộc chiến chống lại một thứ chủ thuyết tự nhiên hay “duy khoa học” (theo cách nói của Giáo sư Hayek) mang tính giáo điều về mặt phương pháp luận. Tuy nhiên, tôi không thấy có lí do gì khiến ta không lợi dụng sự giống nhau này một khi nó có thể đem lại thành công, mặc dù phải công nhận rằng sự giống nhau đó đã bị lạm dụng và diễn giải sai ở một số lĩnh vực. Ngoài ra, chúng ta khó có thể đưa ra được một luận cứ vững chắc nào hơn để chống lại các nhà tự nhiên chủ nghĩa giáo điều này ngoài luận cứ cho rằng những phương pháp mà họ công kích về cơ bản lại cũng chính là những phương pháp được sử dụng trong các bộ môn khoa học tự nhiên.
Thoạt nhìn, ý kiến phản đối cái ta gọi là cách tiếp cận từ góc độ công nghệ nằm ở chỗ cho rằng cách tiếp cận này buộc người ta phải chấp nhận một thái độ “duy hành động” đối với trật tự xã hội (xem mục 1), và rằng do đó nó có khả năng khiến ta phải dè chừng chống lại quan điểm phản can thiệp [antiinterventionist] hay quan điểm “duy thụ động”: đó là quan niệm cho rằng nếu ta không thỏa mãn với những hiện trạng xã hội hoặc kinh tế thì chỉ vì lẽ ta chưa hiểu hết được chúng vận hành như thế nào, và vì sao sự can thiệp tích cực chỉ có thể khiến cho mọi việc xấu đi. Do đó tôi phải khẳng định rằng tôi không có chút thiện cảm nào với loại quan điểm “duy thụ động” ấy, và thậm chí tôi còn tin rằng chính sách phản can thiệp tuyệt đối là một chính sách không thể đứng vững - kể cả nếu có xét nó trên quan điểm thuần túy logic, là bởi lẽ những người ủng hộ quan điểm ấy bị buộc phải coi hành động can thiệp chính trị như một phương tiện chống lại sự can thiệp. Nhưng bất chấp điều đó, cách tiếp cận từ góc độ công nghệ đích thực là cách tiếp cận mang tính trung lập (và nó buộc phải như thế) đối với việc này, và chẳng có gì là không tương hợp với quan điểm phản can thiệp cả. Ngược lại, tôi cho rằng quan điểm phản can thiệp lại đòi hỏi phải có cách tiếp cận từ góc độ công nghệ. Bởi việc khẳng định rằng chủ thuyết can thiệp khiến mọi việc xấu đi cũng ngang với việc nói rằng một số hành động chính trị nào đó sẽ không mang lại một số kết quả nhất định - tức là những kết quả mà người ta trông đợi; và một trong những nhiệm vụ đặc trưng của mọi thứ công nghệ là phải chỉ ra những gì không thể thực hiện được.
Cũng đáng bỏ chút thời qian tìm hiểu kĩ hơn về điểm này. Ở một bài viết khác tôi đã chỉ ra rằng, ta có thể phát biểu mọi định luật tự nhiên bằng lời khẳng định việc này hay việc kia không thể xảy ra có nghĩa là bằng một mệnh đề dưới dạng cách ngôn kiểu: “Không xách nước được bằng rổ” Chẳng hạn, có thể phát biểu định luật bảo toàn năng lượng như sau: “Không thể chế tạo được động cơ vĩnh cửu”; và định luật entropy: “Không có bộ máy nào có hiệu suất một trăm phần trăm” (Tham khảo cuốn “Logic phát kiến khoa học” của tôi, Phần 15 (Các mệnh đề tồn tại bị phủ định [Negated existential propositions]), lí thuyết này có thể đối lập với lí thuyết của J. S. Mill trình bày trong cuốn Logic, cuốn V, Chương V, mục 2). Cách phát biểu các định luật tự nhiên như thế là cách phát biểu khiến ý nghĩa công nghệ của chúng trở nên rõ ràng và do đó còn có thể được gọi là “dạng công nghệ” của một định luật tự nhiên. Nếu xem xét quan điểm phản can thiệp dưới góc độ này thì lập tức ta hoàn toàn có thể phát biểu nó dưới dạng: “Không thể có được kết quả này hay kết quả kia”, hoặc giả, “không thể đạt được mục đích này hay mục đích kia nếu không kèm theo hiệu ứng này hay hiệu ứng nọ”. Nhưng điều này lại cho ta thấy quan điểm phản can thiệp có thể được gọi là một luận thuyết công nghệ tiêu biểu.
Tất nhiên, đây không phải là điều duy nhất xảy ra trong lĩnh vực khoa học xã hội. Trái lại, ý nghĩa của việc phân tích của chúng ta nằm ở chỗ nó hướng chú ý của ta đến sự giống nhau căn bản giữa các bộ môn khoa học tự nhiên và các bộ môn khoa học xã hội. Ý tôi muốn nói là có những định luật hay giả thuyết xã hội học giống với những định luật hay giả thuyết của khoa học tự nhiên. Bởi vì người ta thường xuyên nghi ngờ sự tồn tại của những thứ định luật hay giả thuyết xã hội học như vậy (khác với cái gọi là “những định luật lịch sử”, chẳng hạn có thể xem M. R. Cohen, Reason and Nature, từ trang 356. Những ví dụ được nêu lên trong văn bản này có vẻ như phủ nhận cách nhìn phản tự nhiên luận nói trên). Tôi sẽ đưa ra đây một loạt ví dụ:
- Không thể song song vừa áp dụng các biểu thuế nông nghiệp lại vừa tìm cách giảm giá sinh hoạt.
- Trong một xã hội công nghiệp, không thể tổ chức các nhóm liên minh người tiêu dùng tốt như tổ chức một số nhóm liên minh người sản xuất.
- Không thể có một xã hội kế hoạch hóa tập trung với một hệ thống giá cả có thể thay thế cho những chức năng chính của các loại giá cả cạnh tranh.
- Không thể có đủ việc làm mà không có lạm phát.
Nhóm các ví dụ khác có thể được rút ra từ lĩnh vực quyền lực chính trị:
- Không thể tiến hành cải tổ chính trị mà không gây ra một số phản tác dụng đối với những mục tiêu đề ra (do đó phải phát hiện được những phản tác dụng ấy).
- Không thể tiến hành cải tổ chính trị không có sự chống đối ngày càng tăng từ phía các lực lượng đối lập mà mức độ dữ dội của nó tăng lên cùng với phạm vi của cuộc cải tổ (có thể nói đó là hệ luận xét về mặt công nghệ được suy ra từ “luôn có những quyền lợi đi liền với status quo [hiện trạng]”).
- Không thể tiến hành một cuộc cách mạng mà không có phản ứng.
Đi kèm với những ví dụ trên, nên đưa thêm ra hai ví dụ có thể gọi là “Định luật Plato về các cuộc cách mạng” (trong quyển thứ tám của tác phẩm Nền Cộng hòa) và “Định luật của Huân tước Acton về tham nhũng”, đó là:
- Không thể thực hiện thành công một cuộc cách mạng nếu giai cấp thống trị không bị suy yếu bởi sự tranh chấp nội bộ hoặc bởi bị thua cuộc trong chiến tranh.
- Việc trao quyền lực cho một người nhiều hơn những người khác không thể không cám dỗ người đó lạm dụng quyền lực - một sự cám dỗ tăng lên dữ dội với sự tăng lên của quyền lực có được, và là một sự cám dỗ ít ai cưỡng nổi.
Một cách phát biểu “định luật tham nhũng” tương tự cũng đã được C. J. Friedrich bàn đến trong tác phẩm rất đáng lưu ý và phần nào mang tính công nghệ của ông có tên Constitutional Government and Politics (1937). Về định luật này, ông nói: “tất cả mọi bộ môn khoa học tự nhiên đều không thể kiêu hãnh với việc đưa ra một “giả thuyết” duy nhất có tầm quan trọng đối với toàn bộ loài người” (trang 7). Tôi không nghi ngờ gì về tầm quan trọng của một thứ giả thuyết như vậy, nhưng tôi nghĩ ta có thể tìm thấy vô số định luật có tầm quan trọng ngang nhau trong khoa học tự nhiên, duy chỉ có điều ta phải tìm chúng nơi những định luật tầm thường hơn chứ không phải nơi những định luật trừu tượng (đó là những thứ định luật chẳng hạn như con người không thể sống mà không có thức ăn, hay như động vật có xương sống luôn phải có hai giống cái và đực). Giáo sư Friedrich nhấn mạnh vào luận điểm phản tự nhiên khi ông nói: “các bộ môn khoa học xã hội không được lợi gì trong việc áp dụng cho mình những phương pháp của các khoa học tự nhiên” (sđd, trang 4). Nhưng mặt khác, ông lại tìm cách bảo vệ lí thuyết về chính trị của mình trên cơ sở một loạt những giả thuyết có những đặc trưng mà ta có thể nhận rõ qua đoạn viết sau đây (sđd, trang 14): “sự ưng thuận và sự miễn cưỡng, cả hai đều là động lực của cuộc sống, đều thúc đẩy phát triển”, chúng cùng nhau xác định “mức độ trầm trọng của một tình huống chính trị”, và bởi “mức độ trầm trọng này được xác định bởi hoặc sự ưng thuận, hoặc sự miễn cưỡng, hoặc bởi cả hai, cho nên có lẽ nó được thể hiện rõ bởi đường chéo của hình bình hành lực được tạo bởi hai lực: Ưng thuận và Miễn cưỡng. Trong trường hợp này, trị số của nó ắt phải bằng căn bậc hai của tổng bình phương trị số của Ưng thuận và Miễn cưỡng”. Đó là nỗ lực nhằm áp dụng định lí Pythagoras cho “hình bình hành lực” (chúng ta cũng không hiểu vì sao lại không thể là hình chữ nhật) có hai giá trị khó có thể đo đếm được một cách chuẩn xác. Tôi cho rằng đây không phải là một ví dụ minh họa cho quan điểm phản tự nhiên mà chính là minh họa cho thứ lí thuyết duy tự nhiên hay “duy khoa học”, theo đó “các bộ môn khoa học xã hội không được lợi gì”, một cách nhìn mà tôi chấp nhận. Nên lưu ý rằng những “giả thuyết” này khó có thể được thể hiện dưới “dạng công nghệ”, trong khi “định luật tham nhũng” có tầm quan trọng được Friedrich nhấn mạnh một cách đúng đắn, chẳng hạn, lại có thể thể hiện được dưới dạng đó. (Đối với bối cảnh chính trị của quan niệm “duy khoa học” để dựa trên đó hiểu được những vấn đề thuộc lí thuyết chinh trị dưới dạng “hình bình hành lực”, xin tham khảo thêm cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” của tôi (tái bản có bổ sung), chú thích 2 của Chương 7)
Ở đây ta không nói gì về sức thuyết phục của những bằng chứng hiển nhiên chứng minh cho các giả thuyết trên, những giả thuyết mà cách chúng được phát biểu chắc chắn còn rộng chỗ cho cơ hội phát biểu một cách hoàn hảo hơn. Chúng chỉ là những ví dụ về một thể loại các phát biểu ghi nhận mà công nghệ phân mảnh có cơ thử bàn đến và chứng minh.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
