Chính thể đại diện -Chương 5: Những chức năng đích thực của các cơ quan đại diện
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng cơ quan cảm thấy mình chịu một trách nhiệm nào đó. Một quốc hội trong những trường hợp như thế sẽ cảm thấy không có trách nhiệm nào hết: bởi vì đã có khi nào mà một thành viên Nghị viện nào đó lại bị mất ghế do đã biểu quyết cho một chi tiết nào đó của hoạt động chính quyền đâu? Đối với một bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan thì những gì người ta suy nghĩ sau này về biện pháp của ông ta là quan trọng hơn những gì họ đang nói bây giờ, thế nhưng một quốc hội, nếu dư luận quần chúng nhất thời ngả theo, thì dù có là đề xuất thiếu cân nhắc hay bị kích động giả tạo đến đâu đi nữa, cũng vẫn tự xem mình và được mọi người xem là vô tội, dù cho hậu quả có tai hại thế nào đi nữa. Ngoài ra, một quốc hội không bao giờ đích thân trải nghiệm những phiền phức mà các biện pháp tồi tệ của họ gây ra, trừ phi những phiền phức ấy đạt tới tầm cỡ tổn hại quốc gia. Còn các bộ trưởng và những người cầm quyền hành chính thì nhìn thấy những phiền phức ấy tiến lại gần và phải chịu đựng mọi sự phiền hà khó chịu và rắc rối trong việc tìm cách chống đỡ chúng.
Trách nhiệm đích thực của một quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyết định chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thật sự thích hợp. Ngay cả làm điều đó thì họ cũng không thể dùng lợi thế chỉ định các cá nhân. Không có hành vi nào đòi hỏi khẩn thiết phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cá nhân hơn là việc chỉ định người làm việc. Kinh nghiệm của bất cứ ai thông thạo với công việc công cộng xác nhận điều khẳng định rằng, không có hành vi nào mà lương tâm của một người bình thường lại ít nhạy cảm đến thế; hầu như không có trường hợp nào mà việc xác định phẩm chất lại ít được cân nhắc đến thế, một phần vì người ta không biết rõ, một phần vì người ta không quan tâm lắm tới sự khác biệt trong việc xác định phẩm chất của người này so với người kia. Khi một vị bộ trưởng tiến hành một sự bổ nhiệm trung thực, nghĩa là khi mà ông ta thực sự không lợi dụng nó cho các mối quan hệ cá nhân hay cho phe đảng của ông ta, một kẻ không biết gì có thể cho rằng ông ta cố gắng dành công việc cho người có phẩm chất tốt nhất. Nhưng [thực tế] không phải như vậy. Một vị bộ trưởng bình thường vẫn nghĩ mình đức hạnh diệu kỳ, khi ông ta trao công việc cho một người có cống hiến hay người có tiếng tăm với công chúng về bất cứ chuyện gì, dù cho tiếng tăm hay cống hiến đó ngược hẳn lại với điều cần đòi hỏi của chức vụ. Il fallait un calculateur, ce fut un danseur qui l’ obtint(*), là một biếm họa khó mà hay hơn được của cái thời Figaro(*); và hẳn là ngài bộ trưởng nghĩ mình không những không đáng trách mà còn đáng khen thưởng nếu người ấy khiêu vũ giỏi. Hơn nữa, việc xác định phẩm chất thích đáng của những cá nhân đặc thù [để phục vụ] cho những nhiệm vụ đặc thù chỉ có thể được công nhận bởi những người biết rõ các cá nhân ấy, hay bởi những người chuyên trách làm việc này bằng cách khảo sát và đánh giá con người dựa trên những gì con người đó đã làm được hoặc dựa trên chứng chỉ của những người đứng ở địa vị đánh giá vô tư. Khi những nghĩa vụ lương tâm ấy ít được các quan chức lớn để ý đến thế, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những bổ nhiệm của họ và các quốc hội không thể làm việc này được thì các quốc hội sẽ phải như thế nào đây? Ngay cả thời bây giờ thì những bổ nhiệm tồi tệ nhất là những bổ nhiệm được thực hiện vì mục đích giành sự ủng hộ của phe đối lập trong hội đồng hay để làm họ bớt giận: liệu chúng ta có thể trông đợi điều gì nếu đích thân hội đồng đại biểu thực hiện những bổ nhiệm ấy? Các hội đồng đông người không bao giờ bận tâm đến việc xác định năng lực. Ngoại trừ cái người đáng bị treo cổ ra thì người nào cũng nghĩ mình giống như những người khác, hầu như là thích hợp cho bất cứ công việc gì mà anh ta có thể tự đề cử mình là ứng viên. Khi việc bổ nhiệm bởi cơ quan đại diện nhân dân không được quyết định theo quan
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng cơ quan cảm thấy mình chịu một trách nhiệm nào đó. Một quốc hội trong những trường hợp như thế sẽ cảm thấy không có trách nhiệm nào hết: bởi vì đã có khi nào mà một thành viên Nghị viện nào đó lại bị mất ghế do đã biểu quyết cho một chi tiết nào đó của hoạt động chính quyền đâu? Đối với một bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan thì những gì người ta suy nghĩ sau này về biện pháp của ông ta là quan trọng hơn những gì họ đang nói bây giờ, thế nhưng một quốc hội, nếu dư luận quần chúng nhất thời ngả theo, thì dù có là đề xuất thiếu cân nhắc hay bị kích động giả tạo đến đâu đi nữa, cũng vẫn tự xem mình và được mọi người xem là vô tội, dù cho hậu quả có tai hại thế nào đi nữa. Ngoài ra, một quốc hội không bao giờ đích thân trải nghiệm những phiền phức mà các biện pháp tồi tệ của họ gây ra, trừ phi những phiền phức ấy đạt tới tầm cỡ tổn hại quốc gia. Còn các bộ trưởng và những người cầm quyền hành chính thì nhìn thấy những phiền phức ấy tiến lại gần và phải chịu đựng mọi sự phiền hà khó chịu và rắc rối trong việc tìm cách chống đỡ chúng.
Trách nhiệm đích thực của một quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyết định chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thật sự thích hợp. Ngay cả làm điều đó thì họ cũng không thể dùng lợi thế chỉ định các cá nhân. Không có hành vi nào đòi hỏi khẩn thiết phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cá nhân hơn là việc chỉ định người làm việc. Kinh nghiệm của bất cứ ai thông thạo với công việc công cộng xác nhận điều khẳng định rằng, không có hành vi nào mà lương tâm của một người bình thường lại ít nhạy cảm đến thế; hầu như không có trường hợp nào mà việc xác định phẩm chất lại ít được cân nhắc đến thế, một phần vì người ta không biết rõ, một phần vì người ta không quan tâm lắm tới sự khác biệt trong việc xác định phẩm chất của người này so với người kia. Khi một vị bộ trưởng tiến hành một sự bổ nhiệm trung thực, nghĩa là khi mà ông ta thực sự không lợi dụng nó cho các mối quan hệ cá nhân hay cho phe đảng của ông ta, một kẻ không biết gì có thể cho rằng ông ta cố gắng dành công việc cho người có phẩm chất tốt nhất. Nhưng [thực tế] không phải như vậy. Một vị bộ trưởng bình thường vẫn nghĩ mình đức hạnh diệu kỳ, khi ông ta trao công việc cho một người có cống hiến hay người có tiếng tăm với công chúng về bất cứ chuyện gì, dù cho tiếng tăm hay cống hiến đó ngược hẳn lại với điều cần đòi hỏi của chức vụ. Il fallait un calculateur, ce fut un danseur qui l’ obtint(*), là một biếm họa khó mà hay hơn được của cái thời Figaro(*); và hẳn là ngài bộ trưởng nghĩ mình không những không đáng trách mà còn đáng khen thưởng nếu người ấy khiêu vũ giỏi. Hơn nữa, việc xác định phẩm chất thích đáng của những cá nhân đặc thù [để phục vụ] cho những nhiệm vụ đặc thù chỉ có thể được công nhận bởi những người biết rõ các cá nhân ấy, hay bởi những người chuyên trách làm việc này bằng cách khảo sát và đánh giá con người dựa trên những gì con người đó đã làm được hoặc dựa trên chứng chỉ của những người đứng ở địa vị đánh giá vô tư. Khi những nghĩa vụ lương tâm ấy ít được các quan chức lớn để ý đến thế, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những bổ nhiệm của họ và các quốc hội không thể làm việc này được thì các quốc hội sẽ phải như thế nào đây? Ngay cả thời bây giờ thì những bổ nhiệm tồi tệ nhất là những bổ nhiệm được thực hiện vì mục đích giành sự ủng hộ của phe đối lập trong hội đồng hay để làm họ bớt giận: liệu chúng ta có thể trông đợi điều gì nếu đích thân hội đồng đại biểu thực hiện những bổ nhiệm ấy? Các hội đồng đông người không bao giờ bận tâm đến việc xác định năng lực. Ngoại trừ cái người đáng bị treo cổ ra thì người nào cũng nghĩ mình giống như những người khác, hầu như là thích hợp cho bất cứ công việc gì mà anh ta có thể tự đề cử mình là ứng viên. Khi việc bổ nhiệm bởi cơ quan đại diện nhân dân không được quyết định theo quan hệ đảng phái hay thủ đoạn riêng tư như vẫn thường hay gặp, thì một người sẽ được bổ nhiệm hoặc do được tiếng là có khả năng chung chung, mà thường cũng không xứng đáng, hoặc thường khi chẳng có lý do nào hơn việc cá nhân anh ta là kẻ được lòng người.
Chưa bao giờ người ta có ý nghĩ mong muốn rằng Nghị viện phải đích thân chỉ định ngay cả các thành viên của Nội các. Việc dàn xếp để Nghị viện quyết định trên thực tế ai sẽ là thủ tướng, hoặc quyết định ai trong số hai hay ba người được đưa ra chọn sẽ làm thủ tướng, được xem là đủ rồi. Khi làm thế, nghị viện đơn thuần thừa nhận thực tế rằng, một người chắc chắn chính là ứng viên của chính đảng mà chính sách chung của đảng ấy đáng được sự ủng hộ của Nghị viện. Trên thực tế việc duy nhất mà Nghị viện quyết định là chọn ai trong số hai, hoặc nhiều nhất là ba, đảng phái hay đoàn thể sẽ nắm giữ quyền hành pháp: ý kiến của bản thân đảng phái [được chọn] ấy sẽ quyết định ai trong số những đảng viên là thích hợp với vị trí đứng đầu. Căn cứ vào sự thực hành hiện hữu của Hiến pháp Anh quốc thì những điều này có cơ sở vững chắc thật tốt như có thể. Nghị viện không chỉ định bất cứ bộ trưởng nào, nhưng Ngôi vua chỉ định người đứng đầu chính quyền phù hợp theo những nguyện vọng và xu thế chung được Nghị viện biểu thị ra, và bổ nhiệm các bộ trưởng khác theo đề nghị của người đứng đầu; trong khi đó mỗi bộ trưởng có trách nhiệm tinh thần trọn vẹn trong việc bổ nhiệm những người thích hợp vào các chức vụ hành chính khác không phải là vĩnh viễn suốt đời (tức các “chức vụ chính trị”, khác với chức vụ “quản trị hành chính” suốt đời – ND). Trong một nước cộng hòa, vài sắp đặt khác nào đó có thể sẽ là cần thiết: tuy nhiên nó càng gần hơn trong thực hành với những gì đã hiện hữu lâu dài ở nước Anh bao nhiêu thì có lẽ nó sẽ hoạt động tốt hơn bấy nhiêu. Hoặc là như ở nước Mỹ cộng hòa, người đứng đầu ngành Hành pháp phải được bầu lên bởi một cơ quan nào đó (ở đây là “nhân dân” trực tiếp bầu tổng thống – ND) hoàn toàn độc lập với quốc hội; hoặc là quốc hội phải tự bằng lòng với việc chỉ định thủ tướng và thủ tướng có trách nhiệm lựa chọn các đồng liêu và những thuộc cấp. Tôi hoàn toàn thấy trước, ít nhất về lý thuyết, là tất cả những xem xét này sẽ có được sự tán đồng chung: tuy vậy, các hội đồng đại biểu trong thực hành có khuynh hướng mạnh mẽ can thiệp ngày càng nhiều hơn vào các chi tiết của nền hành chính, bởi vì quy luật chung là bất cứ ai có quyền lực mạnh nhất đều bị cám dỗ trong việc lạm dụng quyền lực ngày càng nhiều hơn; và đây là một trong những nguy cơ thực tiễn đặt ra cho tương lai của các chính thể đại diện.
Nhưng cũng thật đúng không kém là một quốc hội đông người không mấy thích hợp cho công việc trực tiếp của cả lập pháp lẫn chính quyền, mặc dù điều này mới chỉ bắt đầu được thừa nhận khá muộn màng và chậm chạp. Công việc làm luật pháp cần thiết phải được thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải được rèn luyện và kinh qua thử thách mà còn phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên cứu dài lâu và cần cù; khó mà tìm thấy loại công việc vận dụng trí óc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến như vậy đối với những người thực hiện. Giá như không có các lý do nào khác nữa, thì đây chắc là lý do đủ giải thích tại sao công việc ấy không bao giờ thực hiện tốt được, trừ phi có một tiểu ban rất ít người đảm nhiệm nó. Một lý do nữa không kém phần thuyết phục là mỗi điều khoản của một bộ luật cần phải được đặt trong khuôn khổ với sự nhận thức chính xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được tác động của nó lên tất cả các điều khoản khác; bộ luật khi được làm ra, phải có khả năng ăn khớp vào trong một toàn thể hòa hợp với những bộ luật đã tồn tại trước đó. Những điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng được ở bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu thông qua các bộ luật từng điều khoản một tại một hội đồng hỗn tạp. Tính phi lý của cái
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng cơ quan cảm thấy mình chịu một trách nhiệm nào đó. Một quốc hội trong những trường hợp như thế sẽ cảm thấy không có trách nhiệm nào hết: bởi vì đã có khi nào mà một thành viên Nghị viện nào đó lại bị mất ghế do đã biểu quyết cho một chi tiết nào đó của hoạt động chính quyền đâu? Đối với một bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan thì những gì người ta suy nghĩ sau này về biện pháp của ông ta là quan trọng hơn những gì họ đang nói bây giờ, thế nhưng một quốc hội, nếu dư luận quần chúng nhất thời ngả theo, thì dù có là đề xuất thiếu cân nhắc hay bị kích động giả tạo đến đâu đi nữa, cũng vẫn tự xem mình và được mọi người xem là vô tội, dù cho hậu quả có tai hại thế nào đi nữa. Ngoài ra, một quốc hội không bao giờ đích thân trải nghiệm những phiền phức mà các biện pháp tồi tệ của họ gây ra, trừ phi những phiền phức ấy đạt tới tầm cỡ tổn hại quốc gia. Còn các bộ trưởng và những người cầm quyền hành chính thì nhìn thấy những phiền phức ấy tiến lại gần và phải chịu đựng mọi sự phiền hà khó chịu và rắc rối trong việc tìm cách chống đỡ chúng.
Trách nhiệm đích thực của một quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyết định chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thật sự thích hợp. Ngay cả làm điều đó thì họ cũng không thể dùng lợi thế chỉ định các cá nhân. Không có hành vi nào đòi hỏi khẩn thiết phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cá nhân hơn là việc chỉ định người làm việc. Kinh nghiệm của bất cứ ai thông thạo với công việc công cộng xác nhận điều khẳng định rằng, không có hành vi nào mà lương tâm của một người bình thường lại ít nhạy cảm đến thế; hầu như không có trường hợp nào mà việc xác định phẩm chất lại ít được cân nhắc đến thế, một phần vì người ta không biết rõ, một phần vì người ta không quan tâm lắm tới sự khác biệt trong việc xác định phẩm chất của người này so với người kia. Khi một vị bộ trưởng tiến hành một sự bổ nhiệm trung thực, nghĩa là khi mà ông ta thực sự không lợi dụng nó cho các mối quan hệ cá nhân hay cho phe đảng của ông ta, một kẻ không biết gì có thể cho rằng ông ta cố gắng dành công việc cho người có phẩm chất tốt nhất. Nhưng [thực tế] không phải như vậy. Một vị bộ trưởng bình thường vẫn nghĩ mình đức hạnh diệu kỳ, khi ông ta trao công việc cho một người có cống hiến hay người có tiếng tăm với công chúng về bất cứ chuyện gì, dù cho tiếng tăm hay cống hiến đó ngược hẳn lại với điều cần đòi hỏi của chức vụ. Il fallait un calculateur, ce fut un danseur qui l’ obtint(*), là một biếm họa khó mà hay hơn được của cái thời Figaro(*); và hẳn là ngài bộ trưởng nghĩ mình không những không đáng trách mà còn đáng khen thưởng nếu người ấy khiêu vũ giỏi. Hơn nữa, việc xác định phẩm chất thích đáng của những cá nhân đặc thù [để phục vụ] cho những nhiệm vụ đặc thù chỉ có thể được công nhận bởi những người biết rõ các cá nhân ấy, hay bởi những người chuyên trách làm việc này bằng cách khảo sát và đánh giá con người dựa trên những gì con người đó đã làm được hoặc dựa trên chứng chỉ của những người đứng ở địa vị đánh giá vô tư. Khi những nghĩa vụ lương tâm ấy ít được các quan chức lớn để ý đến thế, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những bổ nhiệm của họ và các quốc hội không thể làm việc này được thì các quốc hội sẽ phải như thế nào đây? Ngay cả thời bây giờ thì những bổ nhiệm tồi tệ nhất là những bổ nhiệm được thực hiện vì mục đích giành sự ủng hộ của phe đối lập trong hội đồng hay để làm họ bớt giận: liệu chúng ta có thể trông đợi điều gì nếu đích thân hội đồng đại biểu thực hiện những bổ nhiệm ấy? Các hội đồng đông người không bao giờ bận tâm đến việc xác định năng lực. Ngoại trừ cái người đáng bị treo cổ ra thì người nào cũng nghĩ mình giống như những người khác, hầu như là thích hợp cho bất cứ công việc gì mà anh ta có thể tự đề cử mình là ứng viên. Khi việc bổ nhiệm bởi cơ quan đại diện nhân dân không được quyết định theo quan hệ đảng phái hay thủ đoạn riêng tư như vẫn thường hay gặp, thì một người sẽ được bổ nhiệm hoặc do được tiếng là có khả năng chung chung, mà thường cũng không xứng đáng, hoặc thường khi chẳng có lý do nào hơn việc cá nhân anh ta là kẻ được lòng người.
Chưa bao giờ người ta có ý nghĩ mong muốn rằng Nghị viện phải đích thân chỉ định ngay cả các thành viên của Nội các. Việc dàn xếp để Nghị viện quyết định trên thực tế ai sẽ là thủ tướng, hoặc quyết định ai trong số hai hay ba người được đưa ra chọn sẽ làm thủ tướng, được xem là đủ rồi. Khi làm thế, nghị viện đơn thuần thừa nhận thực tế rằng, một người chắc chắn chính là ứng viên của chính đảng mà chính sách chung của đảng ấy đáng được sự ủng hộ của Nghị viện. Trên thực tế việc duy nhất mà Nghị viện quyết định là chọn ai trong số hai, hoặc nhiều nhất là ba, đảng phái hay đoàn thể sẽ nắm giữ quyền hành pháp: ý kiến của bản thân đảng phái [được chọn] ấy sẽ quyết định ai trong số những đảng viên là thích hợp với vị trí đứng đầu. Căn cứ vào sự thực hành hiện hữu của Hiến pháp Anh quốc thì những điều này có cơ sở vững chắc thật tốt như có thể. Nghị viện không chỉ định bất cứ bộ trưởng nào, nhưng Ngôi vua chỉ định người đứng đầu chính quyền phù hợp theo những nguyện vọng và xu thế chung được Nghị viện biểu thị ra, và bổ nhiệm các bộ trưởng khác theo đề nghị của người đứng đầu; trong khi đó mỗi bộ trưởng có trách nhiệm tinh thần trọn vẹn trong việc bổ nhiệm những người thích hợp vào các chức vụ hành chính khác không phải là vĩnh viễn suốt đời (tức các “chức vụ chính trị”, khác với chức vụ “quản trị hành chính” suốt đời – ND). Trong một nước cộng hòa, vài sắp đặt khác nào đó có thể sẽ là cần thiết: tuy nhiên nó càng gần hơn trong thực hành với những gì đã hiện hữu lâu dài ở nước Anh bao nhiêu thì có lẽ nó sẽ hoạt động tốt hơn bấy nhiêu. Hoặc là như ở nước Mỹ cộng hòa, người đứng đầu ngành Hành pháp phải được bầu lên bởi một cơ quan nào đó (ở đây là “nhân dân” trực tiếp bầu tổng thống – ND) hoàn toàn độc lập với quốc hội; hoặc là quốc hội phải tự bằng lòng với việc chỉ định thủ tướng và thủ tướng có trách nhiệm lựa chọn các đồng liêu và những thuộc cấp. Tôi hoàn toàn thấy trước, ít nhất về lý thuyết, là tất cả những xem xét này sẽ có được sự tán đồng chung: tuy vậy, các hội đồng đại biểu trong thực hành có khuynh hướng mạnh mẽ can thiệp ngày càng nhiều hơn vào các chi tiết của nền hành chính, bởi vì quy luật chung là bất cứ ai có quyền lực mạnh nhất đều bị cám dỗ trong việc lạm dụng quyền lực ngày càng nhiều hơn; và đây là một trong những nguy cơ thực tiễn đặt ra cho tương lai của các chính thể đại diện.
Nhưng cũng thật đúng không kém là một quốc hội đông người không mấy thích hợp cho công việc trực tiếp của cả lập pháp lẫn chính quyền, mặc dù điều này mới chỉ bắt đầu được thừa nhận khá muộn màng và chậm chạp. Công việc làm luật pháp cần thiết phải được thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải được rèn luyện và kinh qua thử thách mà còn phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên cứu dài lâu và cần cù; khó mà tìm thấy loại công việc vận dụng trí óc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến như vậy đối với những người thực hiện. Giá như không có các lý do nào khác nữa, thì đây chắc là lý do đủ giải thích tại sao công việc ấy không bao giờ thực hiện tốt được, trừ phi có một tiểu ban rất ít người đảm nhiệm nó. Một lý do nữa không kém phần thuyết phục là mỗi điều khoản của một bộ luật cần phải được đặt trong khuôn khổ với sự nhận thức chính xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được tác động của nó lên tất cả các điều khoản khác; bộ luật khi được làm ra, phải có khả năng ăn khớp vào trong một toàn thể hòa hợp với những bộ luật đã tồn tại trước đó. Những điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng được ở bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu thông qua các bộ luật từng điều khoản một tại một hội đồng hỗn tạp. Tính phi lý của cái kiểu cách lập pháp như vậy hẳn đã đập vào trí óc mọi người, nếu giả như các bộ luật đã có rồi của chúng ta không hỗn loạn lung tung đến thế, xét về mặt hình thành và xây dựng chúng, khiến cho sự rối rắm và mâu thuẫn có vẻ như không còn có thể lớn hơn nữa bởi bất cứ bổ sung nào thêm vào cái khối đông đúc [của sự hỗn loạn].
Ngay cả hiện tại, cái tình trạng cỗ máy lập pháp của chúng ta thiếu khả năng hoàn toàn đối với mục đích đó, vẫn cảm nhận thấy được trên thực tế càng ngày càng rõ hơn qua mỗi năm. Chỉ riêng thời gian phải bận rộn cho việc xử lý các Dự luật đã làm cho Nghị viện ngày càng không có khả năng thông qua được đạo luật nào vốn không chỉ liên quan đến những điểm thứ yếu nhỏ nhặt. Nếu một Dự luật được chuẩn bị mà nhằm vào giải quyết toàn cục một đối tượng nào đó (và không thể nào lập pháp chính xác một bộ phận nào mà lại không hình dung được toàn cục), nó sẽ bị treo từ kỳ họp này tới kỳ họp khác do hoàn toàn không thể tìm được thời gian xử lý nó. Không quan trọng là dẫu cho Dự luật có thể được soạn thảo kỹ lưỡng bởi chuyên gia trình độ cao với các phương tiện và trang thiết bị kèm theo; hay là bởi một tiểu ban chọn lọc những người thông thạo với đối tượng và đã mất nhiều năm để xem xét và suy nghĩ kỹ càng cho phương sách đặc thù; Dự luật cũng không thể được thông qua bởi vì Hạ nghị viện sẽ không bỏ đi cái đặc quyền quý báu là chắp vá nó bằng những bàn tay vụng về của họ. Sau này, một tục lệ đã được đưa vào trong chừng mực nào đó, khi mà nguyên tắc của một Dự luật đã được xác nhận ở phiên họp thông qua về nguyên tắc (second reading)(*) để rồi chuyển cho một Ủy ban Chọn lọc xem xét chi tiết: thế nhưng người ta đã không thấy sự thực hành ấy làm cho đỡ mất nhiều thời gian sau đó trong việc thông qua nó tại Ủy ban của toàn thể Nghị viện: những quan điểm hay ý nghĩ kỳ quặc đã bị bác bỏ bởi tri thức bao giờ cũng cứ nhất định đòi cho được có cơ hội thứ hai trước tòa án của sự dốt nát. Quả thực bản thân sự thực hành đã được Thượng nghị viện chấp nhận về nguyên tắc, các thành viên của Thượng viện không quá bận rộn và cũng thích lăng xăng can dự vào các công việc, họ lại tha thiết với tầm quan trọng của ý kiến của họ ít hơn so với Hạ viện được bầu lên. Khi một Dự luật gồm nhiều điều khoản mà đạt được việc thảo luận chi tiết thì khó mà tả hết được sự lo lắng của Ủy ban bộc lộ ra! Các điều khoản bị bỏ đi lại là thiết yếu cho hiệu lực của phần còn lại; những điều khoản không phù hợp được gài vào và lợi ích riêng tư nào đó; hay là một gã nghị sĩ kỳ quặc nào đó đe dọa trì hoãn Dự luật; những điều luật gian lận lồng vào theo đề nghị của một gã học giả nửa mùa nào đó có sự hiểu biết nông cạn về đối tượng, dẫn tới những hậu quả mà người đưa ra hay ủng hộ Dự luật nhất thời không tiên liệu được và sẽ phải cần tới một Đạo luật sửa đổi bổ sung tại kỳ họp kế tiếp đặng sửa chữa những mối nguy hại của chúng.
Một trong những điều xấu xa của cái cung cách điều hành những chuyện này hiện nay là, việc giải thích và bảo vệ một Dự luật cũng như các điều khoản khác nhau của nó hiếm khi nào được thực hiện bởi con người có trí tuệ phát sinh ra chúng, là người có lẽ không có chân trong nghị viện. Việc bảo vệ chúng dựa vào vị bộ trưởng hay nghị sĩ nào đó, tức vào những người không tạo dựng ra chúng, những người bị lệ thuộc vào việc học gạo tất cả những luận cứ vốn đã hoàn toàn hiển nhiên, là những người không hiểu biết đầy đủ thực chất vụ việc cũng như những lý do tốt nhất để ủng hộ nó, và hoàn toàn không có khả năng đối mặt với những phản bác không được tiên liệu. Cái điều xấu xa này trong chừng mực liên quan đến các dự luật của Chính phủ là có thể chữa trị được và đã được chữa trị trong một số biện pháp tổ chức có tính chất đại diện bằng cách cho phép Chính phủ được ủy nhiệm cho những người tin cậy làm đại diện tại cả hai Viện, [những người này] có quyền phát ngôn, nhưng không có quyền biểu quyết.
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng cơ quan cảm thấy mình chịu một trách nhiệm nào đó. Một quốc hội trong những trường hợp như thế sẽ cảm thấy không có trách nhiệm nào hết: bởi vì đã có khi nào mà một thành viên Nghị viện nào đó lại bị mất ghế do đã biểu quyết cho một chi tiết nào đó của hoạt động chính quyền đâu? Đối với một bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan thì những gì người ta suy nghĩ sau này về biện pháp của ông ta là quan trọng hơn những gì họ đang nói bây giờ, thế nhưng một quốc hội, nếu dư luận quần chúng nhất thời ngả theo, thì dù có là đề xuất thiếu cân nhắc hay bị kích động giả tạo đến đâu đi nữa, cũng vẫn tự xem mình và được mọi người xem là vô tội, dù cho hậu quả có tai hại thế nào đi nữa. Ngoài ra, một quốc hội không bao giờ đích thân trải nghiệm những phiền phức mà các biện pháp tồi tệ của họ gây ra, trừ phi những phiền phức ấy đạt tới tầm cỡ tổn hại quốc gia. Còn các bộ trưởng và những người cầm quyền hành chính thì nhìn thấy những phiền phức ấy tiến lại gần và phải chịu đựng mọi sự phiền hà khó chịu và rắc rối trong việc tìm cách chống đỡ chúng.
Trách nhiệm đích thực của một quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyết định chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thật sự thích hợp. Ngay cả làm điều đó thì họ cũng không thể dùng lợi thế chỉ định các cá nhân. Không có hành vi nào đòi hỏi khẩn thiết phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cá nhân hơn là việc chỉ định người làm việc. Kinh nghiệm của bất cứ ai thông thạo với công việc công cộng xác nhận điều khẳng định rằng, không có hành vi nào mà lương tâm của một người bình thường lại ít nhạy cảm đến thế; hầu như không có trường hợp nào mà việc xác định phẩm chất lại ít được cân nhắc đến thế, một phần vì người ta không biết rõ, một phần vì người ta không quan tâm lắm tới sự khác biệt trong việc xác định phẩm chất của người này so với người kia. Khi một vị bộ trưởng tiến hành một sự bổ nhiệm trung thực, nghĩa là khi mà ông ta thực sự không lợi dụng nó cho các mối quan hệ cá nhân hay cho phe đảng của ông ta, một kẻ không biết gì có thể cho rằng ông ta cố gắng dành công việc cho người có phẩm chất tốt nhất. Nhưng [thực tế] không phải như vậy. Một vị bộ trưởng bình thường vẫn nghĩ mình đức hạnh diệu kỳ, khi ông ta trao công việc cho một người có cống hiến hay người có tiếng tăm với công chúng về bất cứ chuyện gì, dù cho tiếng tăm hay cống hiến đó ngược hẳn lại với điều cần đòi hỏi của chức vụ. Il fallait un calculateur, ce fut un danseur qui l’ obtint(*), là một biếm họa khó mà hay hơn được của cái thời Figaro(*); và hẳn là ngài bộ trưởng nghĩ mình không những không đáng trách mà còn đáng khen thưởng nếu người ấy khiêu vũ giỏi. Hơn nữa, việc xác định phẩm chất thích đáng của những cá nhân đặc thù [để phục vụ] cho những nhiệm vụ đặc thù chỉ có thể được công nhận bởi những người biết rõ các cá nhân ấy, hay bởi những người chuyên trách làm việc này bằng cách khảo sát và đánh giá con người dựa trên những gì con người đó đã làm được hoặc dựa trên chứng chỉ của những người đứng ở địa vị đánh giá vô tư. Khi những nghĩa vụ lương tâm ấy ít được các quan chức lớn để ý đến thế, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những bổ nhiệm của họ và các quốc hội không thể làm việc này được thì các quốc hội sẽ phải như thế nào đây? Ngay cả thời bây giờ thì những bổ nhiệm tồi tệ nhất là những bổ nhiệm được thực hiện vì mục đích giành sự ủng hộ của phe đối lập trong hội đồng hay để làm họ bớt giận: liệu chúng ta có thể trông đợi điều gì nếu đích thân hội đồng đại biểu thực hiện những bổ nhiệm ấy? Các hội đồng đông người không bao giờ bận tâm đến việc xác định năng lực. Ngoại trừ cái người đáng bị treo cổ ra thì người nào cũng nghĩ mình giống như những người khác, hầu như là thích hợp cho bất cứ công việc gì mà anh ta có thể tự đề cử mình là ứng viên. Khi việc bổ nhiệm bởi cơ quan đại diện nhân dân không được quyết định theo quan hệ đảng phái hay thủ đoạn riêng tư như vẫn thường hay gặp, thì một người sẽ được bổ nhiệm hoặc do được tiếng là có khả năng chung chung, mà thường cũng không xứng đáng, hoặc thường khi chẳng có lý do nào hơn việc cá nhân anh ta là kẻ được lòng người.
Chưa bao giờ người ta có ý nghĩ mong muốn rằng Nghị viện phải đích thân chỉ định ngay cả các thành viên của Nội các. Việc dàn xếp để Nghị viện quyết định trên thực tế ai sẽ là thủ tướng, hoặc quyết định ai trong số hai hay ba người được đưa ra chọn sẽ làm thủ tướng, được xem là đủ rồi. Khi làm thế, nghị viện đơn thuần thừa nhận thực tế rằng, một người chắc chắn chính là ứng viên của chính đảng mà chính sách chung của đảng ấy đáng được sự ủng hộ của Nghị viện. Trên thực tế việc duy nhất mà Nghị viện quyết định là chọn ai trong số hai, hoặc nhiều nhất là ba, đảng phái hay đoàn thể sẽ nắm giữ quyền hành pháp: ý kiến của bản thân đảng phái [được chọn] ấy sẽ quyết định ai trong số những đảng viên là thích hợp với vị trí đứng đầu. Căn cứ vào sự thực hành hiện hữu của Hiến pháp Anh quốc thì những điều này có cơ sở vững chắc thật tốt như có thể. Nghị viện không chỉ định bất cứ bộ trưởng nào, nhưng Ngôi vua chỉ định người đứng đầu chính quyền phù hợp theo những nguyện vọng và xu thế chung được Nghị viện biểu thị ra, và bổ nhiệm các bộ trưởng khác theo đề nghị của người đứng đầu; trong khi đó mỗi bộ trưởng có trách nhiệm tinh thần trọn vẹn trong việc bổ nhiệm những người thích hợp vào các chức vụ hành chính khác không phải là vĩnh viễn suốt đời (tức các “chức vụ chính trị”, khác với chức vụ “quản trị hành chính” suốt đời – ND). Trong một nước cộng hòa, vài sắp đặt khác nào đó có thể sẽ là cần thiết: tuy nhiên nó càng gần hơn trong thực hành với những gì đã hiện hữu lâu dài ở nước Anh bao nhiêu thì có lẽ nó sẽ hoạt động tốt hơn bấy nhiêu. Hoặc là như ở nước Mỹ cộng hòa, người đứng đầu ngành Hành pháp phải được bầu lên bởi một cơ quan nào đó (ở đây là “nhân dân” trực tiếp bầu tổng thống – ND) hoàn toàn độc lập với quốc hội; hoặc là quốc hội phải tự bằng lòng với việc chỉ định thủ tướng và thủ tướng có trách nhiệm lựa chọn các đồng liêu và những thuộc cấp. Tôi hoàn toàn thấy trước, ít nhất về lý thuyết, là tất cả những xem xét này sẽ có được sự tán đồng chung: tuy vậy, các hội đồng đại biểu trong thực hành có khuynh hướng mạnh mẽ can thiệp ngày càng nhiều hơn vào các chi tiết của nền hành chính, bởi vì quy luật chung là bất cứ ai có quyền lực mạnh nhất đều bị cám dỗ trong việc lạm dụng quyền lực ngày càng nhiều hơn; và đây là một trong những nguy cơ thực tiễn đặt ra cho tương lai của các chính thể đại diện.
Nhưng cũng thật đúng không kém là một quốc hội đông người không mấy thích hợp cho công việc trực tiếp của cả lập pháp lẫn chính quyền, mặc dù điều này mới chỉ bắt đầu được thừa nhận khá muộn màng và chậm chạp. Công việc làm luật pháp cần thiết phải được thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải được rèn luyện và kinh qua thử thách mà còn phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên cứu dài lâu và cần cù; khó mà tìm thấy loại công việc vận dụng trí óc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến như vậy đối với những người thực hiện. Giá như không có các lý do nào khác nữa, thì đây chắc là lý do đủ giải thích tại sao công việc ấy không bao giờ thực hiện tốt được, trừ phi có một tiểu ban rất ít người đảm nhiệm nó. Một lý do nữa không kém phần thuyết phục là mỗi điều khoản của một bộ luật cần phải được đặt trong khuôn khổ với sự nhận thức chính xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được tác động của nó lên tất cả các điều khoản khác; bộ luật khi được làm ra, phải có khả năng ăn khớp vào trong một toàn thể hòa hợp với những bộ luật đã tồn tại trước đó. Những điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng được ở bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu thông qua các bộ luật từng điều khoản một tại một hội đồng hỗn tạp. Tính phi lý của cái kiểu cách lập pháp như vậy hẳn đã đập vào trí óc mọi người, nếu giả như các bộ luật đã có rồi của chúng ta không hỗn loạn lung tung đến thế, xét về mặt hình thành và xây dựng chúng, khiến cho sự rối rắm và mâu thuẫn có vẻ như không còn có thể lớn hơn nữa bởi bất cứ bổ sung nào thêm vào cái khối đông đúc [của sự hỗn loạn].
Ngay cả hiện tại, cái tình trạng cỗ máy lập pháp của chúng ta thiếu khả năng hoàn toàn đối với mục đích đó, vẫn cảm nhận thấy được trên thực tế càng ngày càng rõ hơn qua mỗi năm. Chỉ riêng thời gian phải bận rộn cho việc xử lý các Dự luật đã làm cho Nghị viện ngày càng không có khả năng thông qua được đạo luật nào vốn không chỉ liên quan đến những điểm thứ yếu nhỏ nhặt. Nếu một Dự luật được chuẩn bị mà nhằm vào giải quyết toàn cục một đối tượng nào đó (và không thể nào lập pháp chính xác một bộ phận nào mà lại không hình dung được toàn cục), nó sẽ bị treo từ kỳ họp này tới kỳ họp khác do hoàn toàn không thể tìm được thời gian xử lý nó. Không quan trọng là dẫu cho Dự luật có thể được soạn thảo kỹ lưỡng bởi chuyên gia trình độ cao với các phương tiện và trang thiết bị kèm theo; hay là bởi một tiểu ban chọn lọc những người thông thạo với đối tượng và đã mất nhiều năm để xem xét và suy nghĩ kỹ càng cho phương sách đặc thù; Dự luật cũng không thể được thông qua bởi vì Hạ nghị viện sẽ không bỏ đi cái đặc quyền quý báu là chắp vá nó bằng những bàn tay vụng về của họ. Sau này, một tục lệ đã được đưa vào trong chừng mực nào đó, khi mà nguyên tắc của một Dự luật đã được xác nhận ở phiên họp thông qua về nguyên tắc (second reading)(*) để rồi chuyển cho một Ủy ban Chọn lọc xem xét chi tiết: thế nhưng người ta đã không thấy sự thực hành ấy làm cho đỡ mất nhiều thời gian sau đó trong việc thông qua nó tại Ủy ban của toàn thể Nghị viện: những quan điểm hay ý nghĩ kỳ quặc đã bị bác bỏ bởi tri thức bao giờ cũng cứ nhất định đòi cho được có cơ hội thứ hai trước tòa án của sự dốt nát. Quả thực bản thân sự thực hành đã được Thượng nghị viện chấp nhận về nguyên tắc, các thành viên của Thượng viện không quá bận rộn và cũng thích lăng xăng can dự vào các công việc, họ lại tha thiết với tầm quan trọng của ý kiến của họ ít hơn so với Hạ viện được bầu lên. Khi một Dự luật gồm nhiều điều khoản mà đạt được việc thảo luận chi tiết thì khó mà tả hết được sự lo lắng của Ủy ban bộc lộ ra! Các điều khoản bị bỏ đi lại là thiết yếu cho hiệu lực của phần còn lại; những điều khoản không phù hợp được gài vào và lợi ích riêng tư nào đó; hay là một gã nghị sĩ kỳ quặc nào đó đe dọa trì hoãn Dự luật; những điều luật gian lận lồng vào theo đề nghị của một gã học giả nửa mùa nào đó có sự hiểu biết nông cạn về đối tượng, dẫn tới những hậu quả mà người đưa ra hay ủng hộ Dự luật nhất thời không tiên liệu được và sẽ phải cần tới một Đạo luật sửa đổi bổ sung tại kỳ họp kế tiếp đặng sửa chữa những mối nguy hại của chúng.
Một trong những điều xấu xa của cái cung cách điều hành những chuyện này hiện nay là, việc giải thích và bảo vệ một Dự luật cũng như các điều khoản khác nhau của nó hiếm khi nào được thực hiện bởi con người có trí tuệ phát sinh ra chúng, là người có lẽ không có chân trong nghị viện. Việc bảo vệ chúng dựa vào vị bộ trưởng hay nghị sĩ nào đó, tức vào những người không tạo dựng ra chúng, những người bị lệ thuộc vào việc học gạo tất cả những luận cứ vốn đã hoàn toàn hiển nhiên, là những người không hiểu biết đầy đủ thực chất vụ việc cũng như những lý do tốt nhất để ủng hộ nó, và hoàn toàn không có khả năng đối mặt với những phản bác không được tiên liệu. Cái điều xấu xa này trong chừng mực liên quan đến các dự luật của Chính phủ là có thể chữa trị được và đã được chữa trị trong một số biện pháp tổ chức có tính chất đại diện bằng cách cho phép Chính phủ được ủy nhiệm cho những người tin cậy làm đại diện tại cả hai Viện, [những người này] có quyền phát ngôn, nhưng không có quyền biểu quyết.
Nếu đã như vậy thì cái đa số hãy còn rất lớn ở Hạ nghị viện, những người chẳng bao giờ muốn khuấy động việc sửa sai hay tranh cãi, chắc chẳng bao lâu nữa cũng sẽ phải trao toàn bộ sự điều chỉnh công việc cho những người trực tiếp làm; nếu họ tự hiểu ra rằng, có sự tồn tại những trình độ chuyên môn lập pháp tốt hơn là cách ăn nói lưu loát và lề lối chọn lựa thông qua cử tri, và có thể tìm ra được chúng nếu muốn tìm kiếm; người ta sẽ sớm phải thừa nhận rằng, trong lập pháp cũng như trong cai trị, nhiệm vụ duy nhất mà quốc hội đại diện có thể có thẩm quyền, đó không phải là làm cái công việc ấy, mà là khiến cho công việc ấy được làm; đó là xác định xem công việc ấy phó thác cho ai hay cho loại người nào thực hiện, rồi ban cho hay khước từ sự phê chuẩn quốc gia đối với công việc ấy khi nó hoàn tất. Bất cứ chính thể nào phù hợp với một tình trạng văn minh cao, ắt phải có một ủy ban nhỏ, như là một trong những thành phần cơ bản của chính thể, với số lượng thành viên không vượt quá Nội các, ủy ban này có thể hành động như một Ủy ban lập pháp, được chỉ định nhiệm vụ làm các đạo luật. Nếu giả sử các đạo luật của đất nước này được sửa đổi lại và đưa vào một hình thức liên kết với nhau, mà chắc là việc này sẽ sớm được làm, thì Ủy ban Lập pháp thực hiện việc này nên được duy trì như một thiết chế thường trực để quan sát canh chừng công việc, bảo hộ cho nó khỏi bị xấu đi và cải tiến nó thường xuyên theo nhu cầu. Không ai lại muốn bản thân ủy ban này phải có quyền lực ban hành các đạo luật: Ủy ban này ắt chỉ là hiện thân của yếu tố trí tuệ trong việc xây dựng chúng; còn Nghị viện ắt phải đại diện cho yếu tố ý chí. Không có biện pháp nào có thể trở thành luật pháp cho tới khi Nghị viện phê chuẩn nó, và Nghị viện, hay một trong hai Viện, phải có quyền lực không những bác bỏ một Dự luật mà còn [có quyền] chuyển nó trở về cho ủy ban xem xét lại hay cải tiến nó. Mỗi Viện cũng có thể đưa ra sáng kiến của mình bằng cách chuyển chủ đề nào đó cho ủy ban với các chỉ dẫn chuẩn bị bộ luật. Tất nhiên là ủy ban phải không có quyền lực từ chối tính chất công cụ của mình đối với bộ phận lập pháp nào mà đất nước yêu cầu. Các hướng dẫn được tán thành ở cả hai Viện để thảo ra một Dự luật nhằm tác động tới một mục đích đặc thù nào đó phải có tính chất mệnh lệnh lên các ủy viên của ủy ban, trừ phi họ chọn việc từ nhiệm. Một khi đã dàn xếp xong rồi thì Nghị viện phải không được quyền sửa đổi giải pháp mà chỉ có quyền thông qua hay bác bỏ nó mà thôi; hoặc là, nếu một phần nào đó phản đối thì có thể chuyển nó cho Ủy ban xem xét lại. Ủy viên của ủy ban phải do Ngôi vua bổ nhiệm, nhưng phải có nhiệm kỳ nhất định, thí dụ như năm năm chẳng hạn, trừ phi bị hai Viện cách chức trên cơ sở có sai phạm đạo đức cá nhân (giống như trường hợp các thẩm phán) hay do từ chối soạn thảo Dự luật theo yêu cầu của Nghị viện. Mãn nhiệm kỳ năm năm thì một ủy viên phải thôi giữ chức vụ, trừ phi được tái bổ nhiệm, để đảm bảo một phương thức sa thải những người không xứng đáng với nhiệm vụ và truyền cho ủy ban dòng máu mới mẻ và trẻ trung.
Sự cần thiết của một định chế tương tự như thế cũng đã được cảm nhận ngay cả ở nền Dân chủ Athens; vào thời kỳ hưng vượng nhất của nó thì Đại hội quốc dân (Ecclesia) có thể thông qua các sắc lệnh (Psephisms – phần nhiều là các sắc lệnh về những vấn đề đơn lẻ của chính sách), nhưng các đạo luật đúng nghĩa, chỉ có thể được làm ra hay sửa đổi bởi một ủy ban khác ít người hơn, được tổ chức mới lại hàng năm, được gọi là Nomothetae, có trách nhiệm xem xét lại toàn bộ các đạo luật và giữ cho chúng được hòa hợp với nhau. Trong Hiến pháp Anh quốc việc đưa vào bất cứ sự cải biến nào mới mẻ cả về thực chất lẫn hình thức là điều rất khó khăn, nhưng việc thích ứng các hình thức và truyền thống hiện hữu nhằm đạt được các mục đích mới thì sẽ gặp sự chống đối tương đối ít hơn.
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng cơ quan cảm thấy mình chịu một trách nhiệm nào đó. Một quốc hội trong những trường hợp như thế sẽ cảm thấy không có trách nhiệm nào hết: bởi vì đã có khi nào mà một thành viên Nghị viện nào đó lại bị mất ghế do đã biểu quyết cho một chi tiết nào đó của hoạt động chính quyền đâu? Đối với một bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan thì những gì người ta suy nghĩ sau này về biện pháp của ông ta là quan trọng hơn những gì họ đang nói bây giờ, thế nhưng một quốc hội, nếu dư luận quần chúng nhất thời ngả theo, thì dù có là đề xuất thiếu cân nhắc hay bị kích động giả tạo đến đâu đi nữa, cũng vẫn tự xem mình và được mọi người xem là vô tội, dù cho hậu quả có tai hại thế nào đi nữa. Ngoài ra, một quốc hội không bao giờ đích thân trải nghiệm những phiền phức mà các biện pháp tồi tệ của họ gây ra, trừ phi những phiền phức ấy đạt tới tầm cỡ tổn hại quốc gia. Còn các bộ trưởng và những người cầm quyền hành chính thì nhìn thấy những phiền phức ấy tiến lại gần và phải chịu đựng mọi sự phiền hà khó chịu và rắc rối trong việc tìm cách chống đỡ chúng.
Trách nhiệm đích thực của một quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyết định chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thật sự thích hợp. Ngay cả làm điều đó thì họ cũng không thể dùng lợi thế chỉ định các cá nhân. Không có hành vi nào đòi hỏi khẩn thiết phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cá nhân hơn là việc chỉ định người làm việc. Kinh nghiệm của bất cứ ai thông thạo với công việc công cộng xác nhận điều khẳng định rằng, không có hành vi nào mà lương tâm của một người bình thường lại ít nhạy cảm đến thế; hầu như không có trường hợp nào mà việc xác định phẩm chất lại ít được cân nhắc đến thế, một phần vì người ta không biết rõ, một phần vì người ta không quan tâm lắm tới sự khác biệt trong việc xác định phẩm chất của người này so với người kia. Khi một vị bộ trưởng tiến hành một sự bổ nhiệm trung thực, nghĩa là khi mà ông ta thực sự không lợi dụng nó cho các mối quan hệ cá nhân hay cho phe đảng của ông ta, một kẻ không biết gì có thể cho rằng ông ta cố gắng dành công việc cho người có phẩm chất tốt nhất. Nhưng [thực tế] không phải như vậy. Một vị bộ trưởng bình thường vẫn nghĩ mình đức hạnh diệu kỳ, khi ông ta trao công việc cho một người có cống hiến hay người có tiếng tăm với công chúng về bất cứ chuyện gì, dù cho tiếng tăm hay cống hiến đó ngược hẳn lại với điều cần đòi hỏi của chức vụ. Il fallait un calculateur, ce fut un danseur qui l’ obtint(*), là một biếm họa khó mà hay hơn được của cái thời Figaro(*); và hẳn là ngài bộ trưởng nghĩ mình không những không đáng trách mà còn đáng khen thưởng nếu người ấy khiêu vũ giỏi. Hơn nữa, việc xác định phẩm chất thích đáng của những cá nhân đặc thù [để phục vụ] cho những nhiệm vụ đặc thù chỉ có thể được công nhận bởi những người biết rõ các cá nhân ấy, hay bởi những người chuyên trách làm việc này bằng cách khảo sát và đánh giá con người dựa trên những gì con người đó đã làm được hoặc dựa trên chứng chỉ của những người đứng ở địa vị đánh giá vô tư. Khi những nghĩa vụ lương tâm ấy ít được các quan chức lớn để ý đến thế, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những bổ nhiệm của họ và các quốc hội không thể làm việc này được thì các quốc hội sẽ phải như thế nào đây? Ngay cả thời bây giờ thì những bổ nhiệm tồi tệ nhất là những bổ nhiệm được thực hiện vì mục đích giành sự ủng hộ của phe đối lập trong hội đồng hay để làm họ bớt giận: liệu chúng ta có thể trông đợi điều gì nếu đích thân hội đồng đại biểu thực hiện những bổ nhiệm ấy? Các hội đồng đông người không bao giờ bận tâm đến việc xác định năng lực. Ngoại trừ cái người đáng bị treo cổ ra thì người nào cũng nghĩ mình giống như những người khác, hầu như là thích hợp cho bất cứ công việc gì mà anh ta có thể tự đề cử mình là ứng viên. Khi việc bổ nhiệm bởi cơ quan đại diện nhân dân không được quyết định theo quan hệ đảng phái hay thủ đoạn riêng tư như vẫn thường hay gặp, thì một người sẽ được bổ nhiệm hoặc do được tiếng là có khả năng chung chung, mà thường cũng không xứng đáng, hoặc thường khi chẳng có lý do nào hơn việc cá nhân anh ta là kẻ được lòng người.
Chưa bao giờ người ta có ý nghĩ mong muốn rằng Nghị viện phải đích thân chỉ định ngay cả các thành viên của Nội các. Việc dàn xếp để Nghị viện quyết định trên thực tế ai sẽ là thủ tướng, hoặc quyết định ai trong số hai hay ba người được đưa ra chọn sẽ làm thủ tướng, được xem là đủ rồi. Khi làm thế, nghị viện đơn thuần thừa nhận thực tế rằng, một người chắc chắn chính là ứng viên của chính đảng mà chính sách chung của đảng ấy đáng được sự ủng hộ của Nghị viện. Trên thực tế việc duy nhất mà Nghị viện quyết định là chọn ai trong số hai, hoặc nhiều nhất là ba, đảng phái hay đoàn thể sẽ nắm giữ quyền hành pháp: ý kiến của bản thân đảng phái [được chọn] ấy sẽ quyết định ai trong số những đảng viên là thích hợp với vị trí đứng đầu. Căn cứ vào sự thực hành hiện hữu của Hiến pháp Anh quốc thì những điều này có cơ sở vững chắc thật tốt như có thể. Nghị viện không chỉ định bất cứ bộ trưởng nào, nhưng Ngôi vua chỉ định người đứng đầu chính quyền phù hợp theo những nguyện vọng và xu thế chung được Nghị viện biểu thị ra, và bổ nhiệm các bộ trưởng khác theo đề nghị của người đứng đầu; trong khi đó mỗi bộ trưởng có trách nhiệm tinh thần trọn vẹn trong việc bổ nhiệm những người thích hợp vào các chức vụ hành chính khác không phải là vĩnh viễn suốt đời (tức các “chức vụ chính trị”, khác với chức vụ “quản trị hành chính” suốt đời – ND). Trong một nước cộng hòa, vài sắp đặt khác nào đó có thể sẽ là cần thiết: tuy nhiên nó càng gần hơn trong thực hành với những gì đã hiện hữu lâu dài ở nước Anh bao nhiêu thì có lẽ nó sẽ hoạt động tốt hơn bấy nhiêu. Hoặc là như ở nước Mỹ cộng hòa, người đứng đầu ngành Hành pháp phải được bầu lên bởi một cơ quan nào đó (ở đây là “nhân dân” trực tiếp bầu tổng thống – ND) hoàn toàn độc lập với quốc hội; hoặc là quốc hội phải tự bằng lòng với việc chỉ định thủ tướng và thủ tướng có trách nhiệm lựa chọn các đồng liêu và những thuộc cấp. Tôi hoàn toàn thấy trước, ít nhất về lý thuyết, là tất cả những xem xét này sẽ có được sự tán đồng chung: tuy vậy, các hội đồng đại biểu trong thực hành có khuynh hướng mạnh mẽ can thiệp ngày càng nhiều hơn vào các chi tiết của nền hành chính, bởi vì quy luật chung là bất cứ ai có quyền lực mạnh nhất đều bị cám dỗ trong việc lạm dụng quyền lực ngày càng nhiều hơn; và đây là một trong những nguy cơ thực tiễn đặt ra cho tương lai của các chính thể đại diện.
Nhưng cũng thật đúng không kém là một quốc hội đông người không mấy thích hợp cho công việc trực tiếp của cả lập pháp lẫn chính quyền, mặc dù điều này mới chỉ bắt đầu được thừa nhận khá muộn màng và chậm chạp. Công việc làm luật pháp cần thiết phải được thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải được rèn luyện và kinh qua thử thách mà còn phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên cứu dài lâu và cần cù; khó mà tìm thấy loại công việc vận dụng trí óc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến như vậy đối với những người thực hiện. Giá như không có các lý do nào khác nữa, thì đây chắc là lý do đủ giải thích tại sao công việc ấy không bao giờ thực hiện tốt được, trừ phi có một tiểu ban rất ít người đảm nhiệm nó. Một lý do nữa không kém phần thuyết phục là mỗi điều khoản của một bộ luật cần phải được đặt trong khuôn khổ với sự nhận thức chính xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được tác động của nó lên tất cả các điều khoản khác; bộ luật khi được làm ra, phải có khả năng ăn khớp vào trong một toàn thể hòa hợp với những bộ luật đã tồn tại trước đó. Những điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng được ở bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu thông qua các bộ luật từng điều khoản một tại một hội đồng hỗn tạp. Tính phi lý của cái kiểu cách lập pháp như vậy hẳn đã đập vào trí óc mọi người, nếu giả như các bộ luật đã có rồi của chúng ta không hỗn loạn lung tung đến thế, xét về mặt hình thành và xây dựng chúng, khiến cho sự rối rắm và mâu thuẫn có vẻ như không còn có thể lớn hơn nữa bởi bất cứ bổ sung nào thêm vào cái khối đông đúc [của sự hỗn loạn].
Ngay cả hiện tại, cái tình trạng cỗ máy lập pháp của chúng ta thiếu khả năng hoàn toàn đối với mục đích đó, vẫn cảm nhận thấy được trên thực tế càng ngày càng rõ hơn qua mỗi năm. Chỉ riêng thời gian phải bận rộn cho việc xử lý các Dự luật đã làm cho Nghị viện ngày càng không có khả năng thông qua được đạo luật nào vốn không chỉ liên quan đến những điểm thứ yếu nhỏ nhặt. Nếu một Dự luật được chuẩn bị mà nhằm vào giải quyết toàn cục một đối tượng nào đó (và không thể nào lập pháp chính xác một bộ phận nào mà lại không hình dung được toàn cục), nó sẽ bị treo từ kỳ họp này tới kỳ họp khác do hoàn toàn không thể tìm được thời gian xử lý nó. Không quan trọng là dẫu cho Dự luật có thể được soạn thảo kỹ lưỡng bởi chuyên gia trình độ cao với các phương tiện và trang thiết bị kèm theo; hay là bởi một tiểu ban chọn lọc những người thông thạo với đối tượng và đã mất nhiều năm để xem xét và suy nghĩ kỹ càng cho phương sách đặc thù; Dự luật cũng không thể được thông qua bởi vì Hạ nghị viện sẽ không bỏ đi cái đặc quyền quý báu là chắp vá nó bằng những bàn tay vụng về của họ. Sau này, một tục lệ đã được đưa vào trong chừng mực nào đó, khi mà nguyên tắc của một Dự luật đã được xác nhận ở phiên họp thông qua về nguyên tắc (second reading)(*) để rồi chuyển cho một Ủy ban Chọn lọc xem xét chi tiết: thế nhưng người ta đã không thấy sự thực hành ấy làm cho đỡ mất nhiều thời gian sau đó trong việc thông qua nó tại Ủy ban của toàn thể Nghị viện: những quan điểm hay ý nghĩ kỳ quặc đã bị bác bỏ bởi tri thức bao giờ cũng cứ nhất định đòi cho được có cơ hội thứ hai trước tòa án của sự dốt nát. Quả thực bản thân sự thực hành đã được Thượng nghị viện chấp nhận về nguyên tắc, các thành viên của Thượng viện không quá bận rộn và cũng thích lăng xăng can dự vào các công việc, họ lại tha thiết với tầm quan trọng của ý kiến của họ ít hơn so với Hạ viện được bầu lên. Khi một Dự luật gồm nhiều điều khoản mà đạt được việc thảo luận chi tiết thì khó mà tả hết được sự lo lắng của Ủy ban bộc lộ ra! Các điều khoản bị bỏ đi lại là thiết yếu cho hiệu lực của phần còn lại; những điều khoản không phù hợp được gài vào và lợi ích riêng tư nào đó; hay là một gã nghị sĩ kỳ quặc nào đó đe dọa trì hoãn Dự luật; những điều luật gian lận lồng vào theo đề nghị của một gã học giả nửa mùa nào đó có sự hiểu biết nông cạn về đối tượng, dẫn tới những hậu quả mà người đưa ra hay ủng hộ Dự luật nhất thời không tiên liệu được và sẽ phải cần tới một Đạo luật sửa đổi bổ sung tại kỳ họp kế tiếp đặng sửa chữa những mối nguy hại của chúng.
Một trong những điều xấu xa của cái cung cách điều hành những chuyện này hiện nay là, việc giải thích và bảo vệ một Dự luật cũng như các điều khoản khác nhau của nó hiếm khi nào được thực hiện bởi con người có trí tuệ phát sinh ra chúng, là người có lẽ không có chân trong nghị viện. Việc bảo vệ chúng dựa vào vị bộ trưởng hay nghị sĩ nào đó, tức vào những người không tạo dựng ra chúng, những người bị lệ thuộc vào việc học gạo tất cả những luận cứ vốn đã hoàn toàn hiển nhiên, là những người không hiểu biết đầy đủ thực chất vụ việc cũng như những lý do tốt nhất để ủng hộ nó, và hoàn toàn không có khả năng đối mặt với những phản bác không được tiên liệu. Cái điều xấu xa này trong chừng mực liên quan đến các dự luật của Chính phủ là có thể chữa trị được và đã được chữa trị trong một số biện pháp tổ chức có tính chất đại diện bằng cách cho phép Chính phủ được ủy nhiệm cho những người tin cậy làm đại diện tại cả hai Viện, [những người này] có quyền phát ngôn, nhưng không có quyền biểu quyết.
Nếu đã như vậy thì cái đa số hãy còn rất lớn ở Hạ nghị viện, những người chẳng bao giờ muốn khuấy động việc sửa sai hay tranh cãi, chắc chẳng bao lâu nữa cũng sẽ phải trao toàn bộ sự điều chỉnh công việc cho những người trực tiếp làm; nếu họ tự hiểu ra rằng, có sự tồn tại những trình độ chuyên môn lập pháp tốt hơn là cách ăn nói lưu loát và lề lối chọn lựa thông qua cử tri, và có thể tìm ra được chúng nếu muốn tìm kiếm; người ta sẽ sớm phải thừa nhận rằng, trong lập pháp cũng như trong cai trị, nhiệm vụ duy nhất mà quốc hội đại diện có thể có thẩm quyền, đó không phải là làm cái công việc ấy, mà là khiến cho công việc ấy được làm; đó là xác định xem công việc ấy phó thác cho ai hay cho loại người nào thực hiện, rồi ban cho hay khước từ sự phê chuẩn quốc gia đối với công việc ấy khi nó hoàn tất. Bất cứ chính thể nào phù hợp với một tình trạng văn minh cao, ắt phải có một ủy ban nhỏ, như là một trong những thành phần cơ bản của chính thể, với số lượng thành viên không vượt quá Nội các, ủy ban này có thể hành động như một Ủy ban lập pháp, được chỉ định nhiệm vụ làm các đạo luật. Nếu giả sử các đạo luật của đất nước này được sửa đổi lại và đưa vào một hình thức liên kết với nhau, mà chắc là việc này sẽ sớm được làm, thì Ủy ban Lập pháp thực hiện việc này nên được duy trì như một thiết chế thường trực để quan sát canh chừng công việc, bảo hộ cho nó khỏi bị xấu đi và cải tiến nó thường xuyên theo nhu cầu. Không ai lại muốn bản thân ủy ban này phải có quyền lực ban hành các đạo luật: Ủy ban này ắt chỉ là hiện thân của yếu tố trí tuệ trong việc xây dựng chúng; còn Nghị viện ắt phải đại diện cho yếu tố ý chí. Không có biện pháp nào có thể trở thành luật pháp cho tới khi Nghị viện phê chuẩn nó, và Nghị viện, hay một trong hai Viện, phải có quyền lực không những bác bỏ một Dự luật mà còn [có quyền] chuyển nó trở về cho ủy ban xem xét lại hay cải tiến nó. Mỗi Viện cũng có thể đưa ra sáng kiến của mình bằng cách chuyển chủ đề nào đó cho ủy ban với các chỉ dẫn chuẩn bị bộ luật. Tất nhiên là ủy ban phải không có quyền lực từ chối tính chất công cụ của mình đối với bộ phận lập pháp nào mà đất nước yêu cầu. Các hướng dẫn được tán thành ở cả hai Viện để thảo ra một Dự luật nhằm tác động tới một mục đích đặc thù nào đó phải có tính chất mệnh lệnh lên các ủy viên của ủy ban, trừ phi họ chọn việc từ nhiệm. Một khi đã dàn xếp xong rồi thì Nghị viện phải không được quyền sửa đổi giải pháp mà chỉ có quyền thông qua hay bác bỏ nó mà thôi; hoặc là, nếu một phần nào đó phản đối thì có thể chuyển nó cho Ủy ban xem xét lại. Ủy viên của ủy ban phải do Ngôi vua bổ nhiệm, nhưng phải có nhiệm kỳ nhất định, thí dụ như năm năm chẳng hạn, trừ phi bị hai Viện cách chức trên cơ sở có sai phạm đạo đức cá nhân (giống như trường hợp các thẩm phán) hay do từ chối soạn thảo Dự luật theo yêu cầu của Nghị viện. Mãn nhiệm kỳ năm năm thì một ủy viên phải thôi giữ chức vụ, trừ phi được tái bổ nhiệm, để đảm bảo một phương thức sa thải những người không xứng đáng với nhiệm vụ và truyền cho ủy ban dòng máu mới mẻ và trẻ trung.
Sự cần thiết của một định chế tương tự như thế cũng đã được cảm nhận ngay cả ở nền Dân chủ Athens; vào thời kỳ hưng vượng nhất của nó thì Đại hội quốc dân (Ecclesia) có thể thông qua các sắc lệnh (Psephisms – phần nhiều là các sắc lệnh về những vấn đề đơn lẻ của chính sách), nhưng các đạo luật đúng nghĩa, chỉ có thể được làm ra hay sửa đổi bởi một ủy ban khác ít người hơn, được tổ chức mới lại hàng năm, được gọi là Nomothetae, có trách nhiệm xem xét lại toàn bộ các đạo luật và giữ cho chúng được hòa hợp với nhau. Trong Hiến pháp Anh quốc việc đưa vào bất cứ sự cải biến nào mới mẻ cả về thực chất lẫn hình thức là điều rất khó khăn, nhưng việc thích ứng các hình thức và truyền thống hiện hữu nhằm đạt được các mục đích mới thì sẽ gặp sự chống đối tương đối ít hơn.
Vì thế, tôi thấy hình như có thể tìm ra phương sách làm phong phú thêm Hiến pháp với sự cải tiến lớn lao ấy thông qua bộ máy của Thượng nghị viện. Một ủy ban chuẩn bị các Dự luật thì bản thân không phải là một sự đổi mới gì ghê gớm trong hiến pháp so với Ban Luật pháp quản trị Đạo luật trợ cấp cho Người nghèo(*) hay Ủy ban phân định ranh giới đồng cỏ(*). Nếu xét đến tầm quan trọng lớn lao và phẩm giá của chức vụ, cần thiết lập thành quy tắc rằng bất cứ ai được bổ nhiệm làm thành viên của Ủy ban lập pháp – trừ khi được chuyển khỏi nhiệm sở theo yêu cầu từ Nghị viện – phải là một Thượng nghị sĩ trọn đời, thì, cùng với một sự sáng suốt và tinh tế khi nhường các chức năng tư pháp của Thượng viện cho giới luật gia quý tộc (law lords) độc quyền chăm lo, có lẽ cũng nên nhường công việc lập pháp – trừ những vấn đề liên quan đến những nguyên tắc và lợi ích chính trị – cho những nhà lập pháp chuyên nghiệp. Như thế, những dự luật phát xuất từ Thượng viện đều luôn do họ dự thảo và chính quyền cũng giao cho họ soạn thảo mọi dự luật của mình, và ngay cả những thành viên của Hạ viện bình dân cũng dần dần thấy rằng để những kiến nghị của mình dễ được cả hai Viện thông qua, không nên tìm cách đệ trình thẳng lên Nghị viện mà nên nhờ Ủy ban lập pháp làm hộ. Và tất nhiên, Nghị viện có quyền tự do yêu cầu Ủy ban ấy xem xét không chỉ về một vấn đề chung chung mà bất kỳ đề nghị đặc thù nào hay một dự thảo luật đầy đủ chi tiết (in extenso), khi một thành viên nào đó đã chuẩn bị và mong muốn rằng nó được Nghị viện chấp nhận. Và Nghị viện không ngần ngại chuyển những đề nghị như thế cho Ủy ban, dù chỉ như là tư liệu [tham khảo] có thể có nhiều gợi ý có giá trị. Cách làm như thế cũng được áp dụng cho cả những đề nghị tu chính được trình bày bằng văn bản và những phản bác mà một thành viên Nghị viện cảm thấy cần phải lên tiếng đối với một dự thảo của Ủy ban. Việc thay đổi những dự luật bởi một Ủy ban của toàn Nghị viện có thể bị dừng lại không phải từ một lệnh bãi bỏ chính thức, mà bằng việc [âm thầm] không dùng đến; quyền [của Ủy ban] không bị bãi bỏ, nhưng được đưa vào một kho vũ khí dự trữ giống như quyền phủ quyết của hoàng gia, việc từ chối không đóng thuế và mọi công cụ cổ điển khác của cuộc đấu tranh chính trị, những vũ khí không ai muốn sử dụng cả, nhưng đều không muốn từ bỏ chúng để khỏi phải thấy thiếu trong những trường hợp khẩn cấp. Bằng những sắp đặt như thế, việc lập pháp – như là thành quả của lao động chuyên nghiệp, có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn – được đặt vào đúng vị trí xứng đáng của nó, trong khi đó, sự tự do quan trọng nhất của quốc gia – chỉ được cai trị bằng luật pháp do chính những đại diện được bầu phê chuẩn – không chỉ được bảo tồn mà còn đạt được một giá trị lớn hơn nữa, khi bằng cách này, nó được giải phóng khỏi những tệ trạng nghiêm trọng nhưng không thể tránh khỏi, vốn đang gắn liền với nó trong hình thức của một sự lập pháp thiếu hiểu biết và thiếu cân nhắc như hiện nay.
Thay cho chức năng cai trị hoàn toàn không thích hợp với mình, chức năng đích thực của một quốc hội đại diện là giám sát và kiểm soát chính phủ, soi ánh sáng của tính công khai lên các hành vi cai trị, buộc chính phủ phải giải trình và biện minh tất cả các hành vi ấy khi bất cứ ai đó thấy chúng đáng nghi ngờ, phê bình chỉ trích chúng nếu thấy chúng đáng lên án, và nếu những thành viên chính phủ lạm dụng sự tín nhiệm trong các công việc được giao phó hay thực hiện chúng theo một cung cách xung đột với tinh thần cân nhắc vì quốc gia, thì đuổi họ ra khỏi nhiệm sở và bổ nhiệm những người kế nhiệm, hoặc là bằng cách công bố, hoặc là bằng cách thực hiện trên thực tế. Rõ ràng đây là quyền lực dư dật và đủ an toàn cho nền tự do của quốc gia. Thêm vào đó, Nghị viện còn có một nhiệm vụ không kém phần quan trọng; ấy là đồng thời vừa là Ủy ban Nhận khiếu tố (Committee of Grievances), vừa là Đại
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng cơ quan cảm thấy mình chịu một trách nhiệm nào đó. Một quốc hội trong những trường hợp như thế sẽ cảm thấy không có trách nhiệm nào hết: bởi vì đã có khi nào mà một thành viên Nghị viện nào đó lại bị mất ghế do đã biểu quyết cho một chi tiết nào đó của hoạt động chính quyền đâu? Đối với một bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan thì những gì người ta suy nghĩ sau này về biện pháp của ông ta là quan trọng hơn những gì họ đang nói bây giờ, thế nhưng một quốc hội, nếu dư luận quần chúng nhất thời ngả theo, thì dù có là đề xuất thiếu cân nhắc hay bị kích động giả tạo đến đâu đi nữa, cũng vẫn tự xem mình và được mọi người xem là vô tội, dù cho hậu quả có tai hại thế nào đi nữa. Ngoài ra, một quốc hội không bao giờ đích thân trải nghiệm những phiền phức mà các biện pháp tồi tệ của họ gây ra, trừ phi những phiền phức ấy đạt tới tầm cỡ tổn hại quốc gia. Còn các bộ trưởng và những người cầm quyền hành chính thì nhìn thấy những phiền phức ấy tiến lại gần và phải chịu đựng mọi sự phiền hà khó chịu và rắc rối trong việc tìm cách chống đỡ chúng.
Trách nhiệm đích thực của một quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyết định chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thật sự thích hợp. Ngay cả làm điều đó thì họ cũng không thể dùng lợi thế chỉ định các cá nhân. Không có hành vi nào đòi hỏi khẩn thiết phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cá nhân hơn là việc chỉ định người làm việc. Kinh nghiệm của bất cứ ai thông thạo với công việc công cộng xác nhận điều khẳng định rằng, không có hành vi nào mà lương tâm của một người bình thường lại ít nhạy cảm đến thế; hầu như không có trường hợp nào mà việc xác định phẩm chất lại ít được cân nhắc đến thế, một phần vì người ta không biết rõ, một phần vì người ta không quan tâm lắm tới sự khác biệt trong việc xác định phẩm chất của người này so với người kia. Khi một vị bộ trưởng tiến hành một sự bổ nhiệm trung thực, nghĩa là khi mà ông ta thực sự không lợi dụng nó cho các mối quan hệ cá nhân hay cho phe đảng của ông ta, một kẻ không biết gì có thể cho rằng ông ta cố gắng dành công việc cho người có phẩm chất tốt nhất. Nhưng [thực tế] không phải như vậy. Một vị bộ trưởng bình thường vẫn nghĩ mình đức hạnh diệu kỳ, khi ông ta trao công việc cho một người có cống hiến hay người có tiếng tăm với công chúng về bất cứ chuyện gì, dù cho tiếng tăm hay cống hiến đó ngược hẳn lại với điều cần đòi hỏi của chức vụ. Il fallait un calculateur, ce fut un danseur qui l’ obtint(*), là một biếm họa khó mà hay hơn được của cái thời Figaro(*); và hẳn là ngài bộ trưởng nghĩ mình không những không đáng trách mà còn đáng khen thưởng nếu người ấy khiêu vũ giỏi. Hơn nữa, việc xác định phẩm chất thích đáng của những cá nhân đặc thù [để phục vụ] cho những nhiệm vụ đặc thù chỉ có thể được công nhận bởi những người biết rõ các cá nhân ấy, hay bởi những người chuyên trách làm việc này bằng cách khảo sát và đánh giá con người dựa trên những gì con người đó đã làm được hoặc dựa trên chứng chỉ của những người đứng ở địa vị đánh giá vô tư. Khi những nghĩa vụ lương tâm ấy ít được các quan chức lớn để ý đến thế, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những bổ nhiệm của họ và các quốc hội không thể làm việc này được thì các quốc hội sẽ phải như thế nào đây? Ngay cả thời bây giờ thì những bổ nhiệm tồi tệ nhất là những bổ nhiệm được thực hiện vì mục đích giành sự ủng hộ của phe đối lập trong hội đồng hay để làm họ bớt giận: liệu chúng ta có thể trông đợi điều gì nếu đích thân hội đồng đại biểu thực hiện những bổ nhiệm ấy? Các hội đồng đông người không bao giờ bận tâm đến việc xác định năng lực. Ngoại trừ cái người đáng bị treo cổ ra thì người nào cũng nghĩ mình giống như những người khác, hầu như là thích hợp cho bất cứ công việc gì mà anh ta có thể tự đề cử mình là ứng viên. Khi việc bổ nhiệm bởi cơ quan đại diện nhân dân không được quyết định theo quan hệ đảng phái hay thủ đoạn riêng tư như vẫn thường hay gặp, thì một người sẽ được bổ nhiệm hoặc do được tiếng là có khả năng chung chung, mà thường cũng không xứng đáng, hoặc thường khi chẳng có lý do nào hơn việc cá nhân anh ta là kẻ được lòng người.
Chưa bao giờ người ta có ý nghĩ mong muốn rằng Nghị viện phải đích thân chỉ định ngay cả các thành viên của Nội các. Việc dàn xếp để Nghị viện quyết định trên thực tế ai sẽ là thủ tướng, hoặc quyết định ai trong số hai hay ba người được đưa ra chọn sẽ làm thủ tướng, được xem là đủ rồi. Khi làm thế, nghị viện đơn thuần thừa nhận thực tế rằng, một người chắc chắn chính là ứng viên của chính đảng mà chính sách chung của đảng ấy đáng được sự ủng hộ của Nghị viện. Trên thực tế việc duy nhất mà Nghị viện quyết định là chọn ai trong số hai, hoặc nhiều nhất là ba, đảng phái hay đoàn thể sẽ nắm giữ quyền hành pháp: ý kiến của bản thân đảng phái [được chọn] ấy sẽ quyết định ai trong số những đảng viên là thích hợp với vị trí đứng đầu. Căn cứ vào sự thực hành hiện hữu của Hiến pháp Anh quốc thì những điều này có cơ sở vững chắc thật tốt như có thể. Nghị viện không chỉ định bất cứ bộ trưởng nào, nhưng Ngôi vua chỉ định người đứng đầu chính quyền phù hợp theo những nguyện vọng và xu thế chung được Nghị viện biểu thị ra, và bổ nhiệm các bộ trưởng khác theo đề nghị của người đứng đầu; trong khi đó mỗi bộ trưởng có trách nhiệm tinh thần trọn vẹn trong việc bổ nhiệm những người thích hợp vào các chức vụ hành chính khác không phải là vĩnh viễn suốt đời (tức các “chức vụ chính trị”, khác với chức vụ “quản trị hành chính” suốt đời – ND). Trong một nước cộng hòa, vài sắp đặt khác nào đó có thể sẽ là cần thiết: tuy nhiên nó càng gần hơn trong thực hành với những gì đã hiện hữu lâu dài ở nước Anh bao nhiêu thì có lẽ nó sẽ hoạt động tốt hơn bấy nhiêu. Hoặc là như ở nước Mỹ cộng hòa, người đứng đầu ngành Hành pháp phải được bầu lên bởi một cơ quan nào đó (ở đây là “nhân dân” trực tiếp bầu tổng thống – ND) hoàn toàn độc lập với quốc hội; hoặc là quốc hội phải tự bằng lòng với việc chỉ định thủ tướng và thủ tướng có trách nhiệm lựa chọn các đồng liêu và những thuộc cấp. Tôi hoàn toàn thấy trước, ít nhất về lý thuyết, là tất cả những xem xét này sẽ có được sự tán đồng chung: tuy vậy, các hội đồng đại biểu trong thực hành có khuynh hướng mạnh mẽ can thiệp ngày càng nhiều hơn vào các chi tiết của nền hành chính, bởi vì quy luật chung là bất cứ ai có quyền lực mạnh nhất đều bị cám dỗ trong việc lạm dụng quyền lực ngày càng nhiều hơn; và đây là một trong những nguy cơ thực tiễn đặt ra cho tương lai của các chính thể đại diện.
Nhưng cũng thật đúng không kém là một quốc hội đông người không mấy thích hợp cho công việc trực tiếp của cả lập pháp lẫn chính quyền, mặc dù điều này mới chỉ bắt đầu được thừa nhận khá muộn màng và chậm chạp. Công việc làm luật pháp cần thiết phải được thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải được rèn luyện và kinh qua thử thách mà còn phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên cứu dài lâu và cần cù; khó mà tìm thấy loại công việc vận dụng trí óc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến như vậy đối với những người thực hiện. Giá như không có các lý do nào khác nữa, thì đây chắc là lý do đủ giải thích tại sao công việc ấy không bao giờ thực hiện tốt được, trừ phi có một tiểu ban rất ít người đảm nhiệm nó. Một lý do nữa không kém phần thuyết phục là mỗi điều khoản của một bộ luật cần phải được đặt trong khuôn khổ với sự nhận thức chính xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được tác động của nó lên tất cả các điều khoản khác; bộ luật khi được làm ra, phải có khả năng ăn khớp vào trong một toàn thể hòa hợp với những bộ luật đã tồn tại trước đó. Những điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng được ở bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu thông qua các bộ luật từng điều khoản một tại một hội đồng hỗn tạp. Tính phi lý của cái kiểu cách lập pháp như vậy hẳn đã đập vào trí óc mọi người, nếu giả như các bộ luật đã có rồi của chúng ta không hỗn loạn lung tung đến thế, xét về mặt hình thành và xây dựng chúng, khiến cho sự rối rắm và mâu thuẫn có vẻ như không còn có thể lớn hơn nữa bởi bất cứ bổ sung nào thêm vào cái khối đông đúc [của sự hỗn loạn].
Ngay cả hiện tại, cái tình trạng cỗ máy lập pháp của chúng ta thiếu khả năng hoàn toàn đối với mục đích đó, vẫn cảm nhận thấy được trên thực tế càng ngày càng rõ hơn qua mỗi năm. Chỉ riêng thời gian phải bận rộn cho việc xử lý các Dự luật đã làm cho Nghị viện ngày càng không có khả năng thông qua được đạo luật nào vốn không chỉ liên quan đến những điểm thứ yếu nhỏ nhặt. Nếu một Dự luật được chuẩn bị mà nhằm vào giải quyết toàn cục một đối tượng nào đó (và không thể nào lập pháp chính xác một bộ phận nào mà lại không hình dung được toàn cục), nó sẽ bị treo từ kỳ họp này tới kỳ họp khác do hoàn toàn không thể tìm được thời gian xử lý nó. Không quan trọng là dẫu cho Dự luật có thể được soạn thảo kỹ lưỡng bởi chuyên gia trình độ cao với các phương tiện và trang thiết bị kèm theo; hay là bởi một tiểu ban chọn lọc những người thông thạo với đối tượng và đã mất nhiều năm để xem xét và suy nghĩ kỹ càng cho phương sách đặc thù; Dự luật cũng không thể được thông qua bởi vì Hạ nghị viện sẽ không bỏ đi cái đặc quyền quý báu là chắp vá nó bằng những bàn tay vụng về của họ. Sau này, một tục lệ đã được đưa vào trong chừng mực nào đó, khi mà nguyên tắc của một Dự luật đã được xác nhận ở phiên họp thông qua về nguyên tắc (second reading)(*) để rồi chuyển cho một Ủy ban Chọn lọc xem xét chi tiết: thế nhưng người ta đã không thấy sự thực hành ấy làm cho đỡ mất nhiều thời gian sau đó trong việc thông qua nó tại Ủy ban của toàn thể Nghị viện: những quan điểm hay ý nghĩ kỳ quặc đã bị bác bỏ bởi tri thức bao giờ cũng cứ nhất định đòi cho được có cơ hội thứ hai trước tòa án của sự dốt nát. Quả thực bản thân sự thực hành đã được Thượng nghị viện chấp nhận về nguyên tắc, các thành viên của Thượng viện không quá bận rộn và cũng thích lăng xăng can dự vào các công việc, họ lại tha thiết với tầm quan trọng của ý kiến của họ ít hơn so với Hạ viện được bầu lên. Khi một Dự luật gồm nhiều điều khoản mà đạt được việc thảo luận chi tiết thì khó mà tả hết được sự lo lắng của Ủy ban bộc lộ ra! Các điều khoản bị bỏ đi lại là thiết yếu cho hiệu lực của phần còn lại; những điều khoản không phù hợp được gài vào và lợi ích riêng tư nào đó; hay là một gã nghị sĩ kỳ quặc nào đó đe dọa trì hoãn Dự luật; những điều luật gian lận lồng vào theo đề nghị của một gã học giả nửa mùa nào đó có sự hiểu biết nông cạn về đối tượng, dẫn tới những hậu quả mà người đưa ra hay ủng hộ Dự luật nhất thời không tiên liệu được và sẽ phải cần tới một Đạo luật sửa đổi bổ sung tại kỳ họp kế tiếp đặng sửa chữa những mối nguy hại của chúng.
Một trong những điều xấu xa của cái cung cách điều hành những chuyện này hiện nay là, việc giải thích và bảo vệ một Dự luật cũng như các điều khoản khác nhau của nó hiếm khi nào được thực hiện bởi con người có trí tuệ phát sinh ra chúng, là người có lẽ không có chân trong nghị viện. Việc bảo vệ chúng dựa vào vị bộ trưởng hay nghị sĩ nào đó, tức vào những người không tạo dựng ra chúng, những người bị lệ thuộc vào việc học gạo tất cả những luận cứ vốn đã hoàn toàn hiển nhiên, là những người không hiểu biết đầy đủ thực chất vụ việc cũng như những lý do tốt nhất để ủng hộ nó, và hoàn toàn không có khả năng đối mặt với những phản bác không được tiên liệu. Cái điều xấu xa này trong chừng mực liên quan đến các dự luật của Chính phủ là có thể chữa trị được và đã được chữa trị trong một số biện pháp tổ chức có tính chất đại diện bằng cách cho phép Chính phủ được ủy nhiệm cho những người tin cậy làm đại diện tại cả hai Viện, [những người này] có quyền phát ngôn, nhưng không có quyền biểu quyết.
Nếu đã như vậy thì cái đa số hãy còn rất lớn ở Hạ nghị viện, những người chẳng bao giờ muốn khuấy động việc sửa sai hay tranh cãi, chắc chẳng bao lâu nữa cũng sẽ phải trao toàn bộ sự điều chỉnh công việc cho những người trực tiếp làm; nếu họ tự hiểu ra rằng, có sự tồn tại những trình độ chuyên môn lập pháp tốt hơn là cách ăn nói lưu loát và lề lối chọn lựa thông qua cử tri, và có thể tìm ra được chúng nếu muốn tìm kiếm; người ta sẽ sớm phải thừa nhận rằng, trong lập pháp cũng như trong cai trị, nhiệm vụ duy nhất mà quốc hội đại diện có thể có thẩm quyền, đó không phải là làm cái công việc ấy, mà là khiến cho công việc ấy được làm; đó là xác định xem công việc ấy phó thác cho ai hay cho loại người nào thực hiện, rồi ban cho hay khước từ sự phê chuẩn quốc gia đối với công việc ấy khi nó hoàn tất. Bất cứ chính thể nào phù hợp với một tình trạng văn minh cao, ắt phải có một ủy ban nhỏ, như là một trong những thành phần cơ bản của chính thể, với số lượng thành viên không vượt quá Nội các, ủy ban này có thể hành động như một Ủy ban lập pháp, được chỉ định nhiệm vụ làm các đạo luật. Nếu giả sử các đạo luật của đất nước này được sửa đổi lại và đưa vào một hình thức liên kết với nhau, mà chắc là việc này sẽ sớm được làm, thì Ủy ban Lập pháp thực hiện việc này nên được duy trì như một thiết chế thường trực để quan sát canh chừng công việc, bảo hộ cho nó khỏi bị xấu đi và cải tiến nó thường xuyên theo nhu cầu. Không ai lại muốn bản thân ủy ban này phải có quyền lực ban hành các đạo luật: Ủy ban này ắt chỉ là hiện thân của yếu tố trí tuệ trong việc xây dựng chúng; còn Nghị viện ắt phải đại diện cho yếu tố ý chí. Không có biện pháp nào có thể trở thành luật pháp cho tới khi Nghị viện phê chuẩn nó, và Nghị viện, hay một trong hai Viện, phải có quyền lực không những bác bỏ một Dự luật mà còn [có quyền] chuyển nó trở về cho ủy ban xem xét lại hay cải tiến nó. Mỗi Viện cũng có thể đưa ra sáng kiến của mình bằng cách chuyển chủ đề nào đó cho ủy ban với các chỉ dẫn chuẩn bị bộ luật. Tất nhiên là ủy ban phải không có quyền lực từ chối tính chất công cụ của mình đối với bộ phận lập pháp nào mà đất nước yêu cầu. Các hướng dẫn được tán thành ở cả hai Viện để thảo ra một Dự luật nhằm tác động tới một mục đích đặc thù nào đó phải có tính chất mệnh lệnh lên các ủy viên của ủy ban, trừ phi họ chọn việc từ nhiệm. Một khi đã dàn xếp xong rồi thì Nghị viện phải không được quyền sửa đổi giải pháp mà chỉ có quyền thông qua hay bác bỏ nó mà thôi; hoặc là, nếu một phần nào đó phản đối thì có thể chuyển nó cho Ủy ban xem xét lại. Ủy viên của ủy ban phải do Ngôi vua bổ nhiệm, nhưng phải có nhiệm kỳ nhất định, thí dụ như năm năm chẳng hạn, trừ phi bị hai Viện cách chức trên cơ sở có sai phạm đạo đức cá nhân (giống như trường hợp các thẩm phán) hay do từ chối soạn thảo Dự luật theo yêu cầu của Nghị viện. Mãn nhiệm kỳ năm năm thì một ủy viên phải thôi giữ chức vụ, trừ phi được tái bổ nhiệm, để đảm bảo một phương thức sa thải những người không xứng đáng với nhiệm vụ và truyền cho ủy ban dòng máu mới mẻ và trẻ trung.
Sự cần thiết của một định chế tương tự như thế cũng đã được cảm nhận ngay cả ở nền Dân chủ Athens; vào thời kỳ hưng vượng nhất của nó thì Đại hội quốc dân (Ecclesia) có thể thông qua các sắc lệnh (Psephisms – phần nhiều là các sắc lệnh về những vấn đề đơn lẻ của chính sách), nhưng các đạo luật đúng nghĩa, chỉ có thể được làm ra hay sửa đổi bởi một ủy ban khác ít người hơn, được tổ chức mới lại hàng năm, được gọi là Nomothetae, có trách nhiệm xem xét lại toàn bộ các đạo luật và giữ cho chúng được hòa hợp với nhau. Trong Hiến pháp Anh quốc việc đưa vào bất cứ sự cải biến nào mới mẻ cả về thực chất lẫn hình thức là điều rất khó khăn, nhưng việc thích ứng các hình thức và truyền thống hiện hữu nhằm đạt được các mục đích mới thì sẽ gặp sự chống đối tương đối ít hơn.
Vì thế, tôi thấy hình như có thể tìm ra phương sách làm phong phú thêm Hiến pháp với sự cải tiến lớn lao ấy thông qua bộ máy của Thượng nghị viện. Một ủy ban chuẩn bị các Dự luật thì bản thân không phải là một sự đổi mới gì ghê gớm trong hiến pháp so với Ban Luật pháp quản trị Đạo luật trợ cấp cho Người nghèo(*) hay Ủy ban phân định ranh giới đồng cỏ(*). Nếu xét đến tầm quan trọng lớn lao và phẩm giá của chức vụ, cần thiết lập thành quy tắc rằng bất cứ ai được bổ nhiệm làm thành viên của Ủy ban lập pháp – trừ khi được chuyển khỏi nhiệm sở theo yêu cầu từ Nghị viện – phải là một Thượng nghị sĩ trọn đời, thì, cùng với một sự sáng suốt và tinh tế khi nhường các chức năng tư pháp của Thượng viện cho giới luật gia quý tộc (law lords) độc quyền chăm lo, có lẽ cũng nên nhường công việc lập pháp – trừ những vấn đề liên quan đến những nguyên tắc và lợi ích chính trị – cho những nhà lập pháp chuyên nghiệp. Như thế, những dự luật phát xuất từ Thượng viện đều luôn do họ dự thảo và chính quyền cũng giao cho họ soạn thảo mọi dự luật của mình, và ngay cả những thành viên của Hạ viện bình dân cũng dần dần thấy rằng để những kiến nghị của mình dễ được cả hai Viện thông qua, không nên tìm cách đệ trình thẳng lên Nghị viện mà nên nhờ Ủy ban lập pháp làm hộ. Và tất nhiên, Nghị viện có quyền tự do yêu cầu Ủy ban ấy xem xét không chỉ về một vấn đề chung chung mà bất kỳ đề nghị đặc thù nào hay một dự thảo luật đầy đủ chi tiết (in extenso), khi một thành viên nào đó đã chuẩn bị và mong muốn rằng nó được Nghị viện chấp nhận. Và Nghị viện không ngần ngại chuyển những đề nghị như thế cho Ủy ban, dù chỉ như là tư liệu [tham khảo] có thể có nhiều gợi ý có giá trị. Cách làm như thế cũng được áp dụng cho cả những đề nghị tu chính được trình bày bằng văn bản và những phản bác mà một thành viên Nghị viện cảm thấy cần phải lên tiếng đối với một dự thảo của Ủy ban. Việc thay đổi những dự luật bởi một Ủy ban của toàn Nghị viện có thể bị dừng lại không phải từ một lệnh bãi bỏ chính thức, mà bằng việc [âm thầm] không dùng đến; quyền [của Ủy ban] không bị bãi bỏ, nhưng được đưa vào một kho vũ khí dự trữ giống như quyền phủ quyết của hoàng gia, việc từ chối không đóng thuế và mọi công cụ cổ điển khác của cuộc đấu tranh chính trị, những vũ khí không ai muốn sử dụng cả, nhưng đều không muốn từ bỏ chúng để khỏi phải thấy thiếu trong những trường hợp khẩn cấp. Bằng những sắp đặt như thế, việc lập pháp – như là thành quả của lao động chuyên nghiệp, có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn – được đặt vào đúng vị trí xứng đáng của nó, trong khi đó, sự tự do quan trọng nhất của quốc gia – chỉ được cai trị bằng luật pháp do chính những đại diện được bầu phê chuẩn – không chỉ được bảo tồn mà còn đạt được một giá trị lớn hơn nữa, khi bằng cách này, nó được giải phóng khỏi những tệ trạng nghiêm trọng nhưng không thể tránh khỏi, vốn đang gắn liền với nó trong hình thức của một sự lập pháp thiếu hiểu biết và thiếu cân nhắc như hiện nay.
Thay cho chức năng cai trị hoàn toàn không thích hợp với mình, chức năng đích thực của một quốc hội đại diện là giám sát và kiểm soát chính phủ, soi ánh sáng của tính công khai lên các hành vi cai trị, buộc chính phủ phải giải trình và biện minh tất cả các hành vi ấy khi bất cứ ai đó thấy chúng đáng nghi ngờ, phê bình chỉ trích chúng nếu thấy chúng đáng lên án, và nếu những thành viên chính phủ lạm dụng sự tín nhiệm trong các công việc được giao phó hay thực hiện chúng theo một cung cách xung đột với tinh thần cân nhắc vì quốc gia, thì đuổi họ ra khỏi nhiệm sở và bổ nhiệm những người kế nhiệm, hoặc là bằng cách công bố, hoặc là bằng cách thực hiện trên thực tế. Rõ ràng đây là quyền lực dư dật và đủ an toàn cho nền tự do của quốc gia. Thêm vào đó, Nghị viện còn có một nhiệm vụ không kém phần quan trọng; ấy là đồng thời vừa là Ủy ban Nhận khiếu tố (Committee of Grievances), vừa là Đại hội Dân ý (Congress of Opinions); là đấu trường, trong đó không chỉ có ý kiến chung của quốc gia mà còn ý kiến của bất cứ tầng lớp nào, và trong phạm vi có thể thì cho tới cả ý kiến của bất cứ cá nhân đạo cao đức trọng nào, cũng đều được trình bày sáng tỏ và thách thức tranh luận; là nơi mà bất cứ người dân nào cũng có thể hy vọng tìm được ai đó nói hộ nỗi lòng của mình thật hay như chính mình có thể nói, hoặc còn hay hơn nữa – chứ không phải chỉ nói ra với riêng bạn hữu hay người cùng phe đảng, mà nói trực diện với những người đối lập những điều sẽ được thử thách qua sự tranh luận phản bác lại; là nơi mà những người có ý kiến bị bác bỏ cũng cảm thấy thỏa mãn vì ý kiến của họ đã được lắng nghe và chúng bị gạt đi không phải đơn thuần do một hành vi của ý chí độc đoán, mà vì những gì đã được suy xét như là lý lẽ tốt hơn và những điều đó được giới thiệu trung thực với đa số các đại biểu thay mặt cho quốc gia; là nơi mà bất cứ đảng phái hay dư luận nào trong nước cũng có thể thể hiện sức mạnh của mình và bất cứ ảo tưởng nào về số đông hay sức mạnh của phe phái đều sẽ được chữa trị; là nơi mà ý kiến chiếm ưu thế trong nước sẽ biểu thị ra như là ý kiến thắng thế và triển khai hàng ngũ của mình trước mắt chính quyền làm cho chính quyền có thể phải nhượng bộ trước sự biểu dương lực lượng mà không chờ đến khi sức mạnh ấy được sử dụng trên thực tế; là nơi mà các chính khách tự vững tin biết rõ được những yếu tố nào của công luận và của quyền lực là những yếu tố đang lên, những yếu tố nào là đang đi xuống, một cách chắc chắn hơn hẳn so với các dấu hiệu khác và có thể tính toán các phương sách của mình không chỉ đơn thuần đối với những nhu cầu hiện tại, mà còn đối với cả những xu thế đang tiến triển.
Các quốc hội đại diện thường bị những kẻ thù của họ nhạo báng như là nơi dành cho việc nói suông và tán nhảm (bavardage). Còn có những chế nhạo không đúng cách hơn nữa. Tôi không biết một quốc hội đại diện có thể làm cho mình hữu ích hơn bằng cách nào ngoài việc phải “nói”, khi mà chủ đề của việc nói là những lợi ích to lớn chung của đất nước, và mỗi câu nói đại diện cho ý kiến hoặc là của hội đoàn quan trọng nào đó của quốc gia, hoặc là của một cá nhân mà hội đoàn như thế đã phó thác sự tin cậy. Một nơi mà bất kỳ lợi ích nào và bất kỳ ý kiến nào trong đất nước đều được phép bênh vực công khai với tất cả lòng nhiệt tình trước chính phủ và trước tất cả các lợi ích và ý kiến khác, có thể bắt buộc họ phải lắng nghe và đồng ý làm theo hay giải thích rõ vì sao họ không làm theo, thì bản thân nơi ấy – dù không vì một mục đích nào khác đi nữa – cũng là một trong những thiết chế chính trị quan trọng nhất khả dĩ tồn tại ở bất cứ nơi nào, và là một trong những việc cao đẹp nhất của chính thể tự do. Việc “nói” như thế hẳn đã không bao giờ có thể bị nhìn vào với sự miệt thị, nếu nó không được dùng để ngăn cản việc “làm”: chuyện này hẳn đã không bao giờ xảy ra, nếu như các quốc hội hiểu ra và thừa nhận rằng nói và tranh luận là công việc đích thực của họ, trong khi làm, như là kết quả của thảo luận, là nhiệm vụ không phải của một hội đồng hỗn tạp mà của những người được huấn luyện đặc biệt cho nhiệm vụ ấy; rằng nhiệm vụ thích hợp của một quốc hội là chăm lo sao cho những người đó được lựa chọn một cách trung thực và thông minh, và rồi không can thiệp họ xa hơn nữa, ngoại trừ việc đưa ra những đề xuất và phê phán không hạn chế trong phạm vi nào, cũng như việc sử dụng hay khước từ sử dụng con dấu của sự đồng thuận quốc gia [trong việc phê chuẩn]. Chính vì thiếu sự thận trọng tự kiềm chế một cách sáng suốt như thế mà các quốc hội nhân dân cứ cố làm cái mà họ không thể làm tốt được – vừa cai trị vừa lập pháp – và không cung cấp bộ máy nào khác ngoài bộ máy của chính họ cho phần lớn những việc đó, khi ấy thì tất nhiên mỗi một giờ hao tổn trong việc nói là một giờ bị mất đi cho công việc thực sự.
5
NHỮNG CHỨC NĂNG ĐÍCH THỰC CỦA CÁC CƠ QUAN ĐẠI DIỆN
Trong khi xem xét chính thể đại diện, điều cần phải chú ý hàng đầu là phân biệt giữa ý tưởng hay thực chất của nó với các hình thức đặc thù mà các tiến triển tình cờ của lịch sử, hay các ý kiến thịnh hành vào một thời kì đặc thù nào đó, đã khoác lên ý tưởng ấy.
Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Không cần thiết là chính bản thân luật hiến pháp phải cho họ địa vị ông chủ ấy. Không có điều luật ấy trong Hiến pháp [bất thành văn] của nước Anh. Nhưng những gì Hiến pháp ấy làm được đã đem lại giá trị thực cho địa vị ông chủ đó. Quyền kiểm soát tối hậu thực chất chỉ có một, ngay cả trong chính thể pha trộn và cân bằng lực lượng cũng như trong chính thể quân chủ hay dân chủ thuần túy. Đây chính là một phần của chân lý chứa đựng trong ý kiến của những người cổ đại, được hồi sinh bởi những người có uy tín lớn ở thời đại ta hiện nay, khẳng định rằng một hiến pháp cân bằng là điều bất khả. Hầu như bao giờ cũng luôn có một sự cân bằng, nhưng không bao giờ có được ngay cả những tỷ lệ chính xác. Tỷ lệ nào chiếm ưu thế không phải lúc nào cũng thể hiện rõ ra bề ngoài trong các thiết chế chính trị. Trong Hiến pháp nước Anh, mỗi thành viên trong ba thành viên kết hợp nhau để nắm giữ chủ quyền đều được trao cho những quyền lực mà nếu được thực thi đầy đủ ắt sẽ cho phép bộ phận ấy đình chỉ hoạt động của toàn bộ bộ máy chính quyền. Do đó, trên danh nghĩa, mỗi bộ phận đều được trao quyền lực ngang nhau để cản trở và phá rối các bộ phận khác, và nếu giả như vận dụng quyền lực ấy mà một trong ba có thể hy vọng cải thiện được vị thế của mình, thì theo cách cư xử thông thường, chắc hẳn là quyền lực ấy sẽ được sử dụng [tối đa]. Chắc chắn rằng mỗi bên sẽ sử dụng quyền lực đầy đủ của mình nhằm phòng thủ, nếu thấy mình bị một hay cả hai phía kia tấn công. Vậy thì điều gì đã ngăn cản chính các quyền lực ấy sẽ được sử dụng nhằm gây hấn? Xin trả lời: đó chính là những châm ngôn bất thành văn của Hiến pháp – nói cách khác, chính đạo lý chính trị tích cực của đất nước, là cái mà chúng ta phải trông cậy vào, nếu chúng ta biết được quyền lực tối cao trong Hiến pháp thực tế thuộc về ai.
Theo quy định của hiến pháp, Ngôi vua có thể khước từ phê chuẩn bất cứ Đạo luật nào của Nghị viện và có thể bổ nhiệm bất cứ Bộ trưởng nào vào nhiệm sở và bảo vệ vị Bộ trưởng đó trong chức vụ, đối kháng lại sự chống đối của Nghị viện. Tuy nhiên đạo lý hiến pháp của đất nước vô hiệu hóa những quyền lực ấy, ngăn chặn để chúng không khi nào được sử dụng; và bằng cách yêu cầu rằng người đứng đầu Chính quyền trên thực tế bao giờ cũng phải được bổ nhiệm bởi Hạ nghị viện, đạo lý ấy làm cho cơ quan này thành chủ quyền thực tế của Nhà nước. Những luật lệ bất thành văn ấy giới hạn việc sử dụng các quyền lực hợp pháp, tuy nhiên chúng chỉ có hiệu lực và duy trì được sự tồn tại trong điều kiện hòa hợp với sự phân bố sức mạnh chính trị thực tế. Trong mọi Hiến pháp đều có một quyền lực mạnh nhất; nếu giả sử những thỏa hiệp nhờ đó mà Hiến pháp vận hành theo thường lệ, lại bị đình chỉ và xảy ra một cuộc thử thách sức mạnh, thì quyền lực mạnh nhất ấy sẽ giành được thắng lợi. Các châm ngôn của Hiến pháp được tôn trọng triệt để và có hiệu lực thực tế chừng nào mà chúng đem lại ưu thế trong Hiến pháp cho một trong những thế lực chiếm ưu thế của quyền lực tích cực ở bên ngoài. Ở nước Anh đó là quyền lực của nhân dân. Cho nên, nếu giả như các điều khoản pháp định của Hiến pháp Anh cùng với các châm ngôn bất thành văn điều chỉnh thực sự hành vi của các quyền uy chính trị khác nhau mà không đem lại cho yếu tố nhân dân cái quyền tối thượng thực chất ở trong Hiến pháp đứng lên trên bất cứ ban ngành nào của chính phủ tương hợp với quyền lực thực tế của nó ở trong nước, thì Hiến pháp ấy hẳn đã không có được sự ổn định đặc trưng cho nó; [lúc đó] hoặc là các điều khoản [Hiến pháp] hoặc là các châm ngôn bất thành văn sẽ sớm phải thay đổi. Như vậy, chính thể nước Anh là một chính thể đại diện theo đúng nghĩa của từ này: các quyền lực mà nó trao vào tay những người không phải chịu trách nhiệm tường trình trực tiếp trước dân chúng, chỉ có thể được xem như những sự phòng ngừa tự nguyện của quyền lực cai trị [nhân dân] để đề phòng những sai lầm của chính mình. Những sự phòng ngừa như thế đã tồn tại trong mọi nền dân chủ được xây dựng tốt đẹp. Hiến pháp Athens đã có nhiều sự phòng ngừa như vậy và Hiến pháp của Hợp Chúng Quốc cũng vậy.
Tuy nhiên, trong khi quyền tối thượng thực tế của nhà nước phải thuộc về các đại biểu của dân chúng là điều thiết yếu của chính thể đại diện, thì vấn đề các chức năng thực sự nào, bộ phận chính xác nào trong bộ máy chính quyền sẽ được trao cho quyền hành trực tiếp và cá nhân bởi cơ quan đại diện, vẫn hãy còn bỏ ngỏ. Các biến thể rộng rãi về mặt này tương thích với bản chất của chính thể đại diện với điều kiện các chức năng ấy đảm bảo cho cơ quan đại diện kiểm soát mọi sự việc như là thẩm quyền tối hậu.
Có một sự khác biệt triệt để giữa việc kiểm soát công việc của chính quyền và việc thực sự làm công việc đó. Cùng một cá nhân hay hội đồng có thể có khả năng kiểm soát mọi việc, nhưng lại có thể không có khả năng tự làm mọi việc; và trong nhiều trường hợp việc kiểm soát của họ đối với mọi việc sẽ càng hoàn hảo hơn nếu họ càng ít đích thân làm. Viên chỉ huy một đạo quân không thể điều khiển hoạt động của đạo quân một cách hiệu quả, nếu bản thân ông ta lại chiến đấu trong hàng ngũ hay đích thân dẫn đầu một cuộc tấn công. Đối với các hội đồng cũng vậy. Có những việc phải là những hội đồng mới làm được mà những việc khác họ lại không thể làm tốt. Cho nên việc một hội đồng nhân dân phải kiểm soát công việc gì là một chuyện, và bản thân họ phải làm công việc gì lại là một chuyện khác. Như ta đã thấy, đó phải là việc kiểm soát mọi hoạt động của chính quyền. Tuy nhiên cần phải xem xét các loại công việc nào thì một hội đồng đông người có thẩm quyền thực hiện hợp lẽ, đặng xác định rõ phải thông qua kênh nào để cho sự kiểm soát chung ấy có thể thực hiện một cách có lợi nhất, và phân công việc nào của hoạt động chính quyền thì hội đồng đại biểu phải đích thân nắm lấy. Chỉ có công việc gì hội đồng có thể làm tốt thì mới nên đích thân nắm lấy. Đối với các việc khác thì phạm vi thích đáng của hội đồng là không làm những việc đó, nhưng chỉ quan tâm làm thế nào để những người khác làm tốt công việc.
Thí dụ như trách nhiệm được xem là đặc biệt phải thuộc về một quốc hội đại diện cho nhân dân hơn là bất cứ việc nào khác, đó là bỏ phiếu thông qua các khoản thuế. Tuy nhiên, không có nước nào mà hội đồng đại biểu lại đích thân nhận lãnh, hay phái các quan chức của mình nhận lãnh việc chuẩn bị các ước tính [trù liệu ngân sách]. Dù cho chỉ có Hạ nghị viện là có thể bỏ phiếu thông qua những khoản trợ cấp và cần phải có sự phê chuẩn của Hạ nghị viện đối với việc phân chia ngân sách cho các khoản chi tiêu công ích khác nhau, nhưng tiền bạc chỉ được cung cấp dựa trên cơ sở đề nghị của Ngôi vua (ngày nay là của chính phủ – N.D): đó là châm ngôn và sự thực hành không thay đổi của Hiến pháp. Chắc chắn người ta đã cảm nhận thấy rằng, chỉ hy vọng có được sự tiết chế về số lượng chi tiêu cũng như cả sự thận trọng và óc suy xét trong các áp dụng chi tiết, khi chính quyền hành pháp, mà mọi việc thì phải qua tay họ, tỏ ra có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng các kế hoạch và trù tính cho sự chi tiêu. Do vậy mà Nghị viện không được cho là người khởi xướng trực tiếp các khoản thuế hay phân chia ngân sách chi tiêu, thậm chí không được cho phép làm việc này. Tất cả những gì đòi hòi ở họ là sự tán thành của họ, và quyền lực duy nhất mà họ có là quyền bác bỏ.
Những nguyên lý được đề cập đến và được thừa nhận trong học thuyết về hiến pháp này, nếu theo nó đến cùng, sẽ là một chỉ dẫn cho việc giới hạn và xác định những chức năng tổng quát của các quốc hội đại diện. Trước hết, tất cả các nước hiểu biết hệ thống đại diện trong thực tiễn đều thừa nhận rằng các hội đồng đại biểu đông người không nên làm công việc [quản lý của] chính quyền. Châm ngôn này không chỉ dựa trên những nguyên lý cơ bản nhất của chính thể tốt đẹp, mà còn dựa trên các nguyên lý quản trị hiệu quả của việc kinh doanh bất cứ loại hình nào. Không có một tập thể con người nào phù hợp với hành động theo đúng nghĩa, nếu không được tổ chức và đặt dưới sự chỉ huy [thống nhất]. Ngay cả một ủy ban được chọn lọc gồm một số ít người, và họ đều thành thạo đặc biệt với công việc phải làm, thì bao giờ ủy ban ấy cũng là một công cụ cấp dưới cho một cá nhân nào đó có thể có trong số họ, và ủy ban ấy có thể được cải tiến về tính cách, nếu cá nhân đó được làm thủ lĩnh và những người khác đều thành người dưới quyền. Công việc mà một hội đồng có thể làm tốt hơn bất cứ một cá nhân nào, là việc bàn cãi cân nhắc. Khi sự bảo đảm cho việc lắng nghe và xem xét nhiều ý kiến đối chọi nhau là điều cần thiết hoặc quan trọng, thì một hội đồng thảo luận là không thể thiếu được. Do vậy mà những hội đồng đó thường cũng hữu ích ngay cả đối với việc quản trị hành chính, nhưng nói chung chỉ như những người tư vấn; theo quy luật thì công việc như quản trị hành chính sẽ được điều hành tốt hơn với trách nhiệm của một người. Ngay cả một công ty cổ phần cũng luôn luôn có một vị giám đốc điều hành, nếu không phải theo lý thuyết thì cũng trên thực tế; việc điều hành công ty tốt hay xấu thực chất phụ thuộc vào các phẩm chất của một cá nhân, còn các vị giám đốc khác nếu có hữu ích chút nào đấy thì là do những ý kiến đề nghị của họ với người này, hoặc là do họ có quyền lực giám sát và ngăn cản hay cách chức người này trong trường hợp quản lý kém. Việc họ chia quyền bình đẳng một cách hình thức với cá nhân này trong việc quản lý không phải là điều có lợi mà chỉ gây ra sự cản trở mọi điều tốt mà họ có khả năng làm được; nó làm suy yếu đi đáng kể ý thức của cá nhân này và của cả những người khác đối với trách nhiệm cá nhân mà người này phải giữ vững cho riêng mình và không chia sẻ với ai.
Thế nhưng một quốc hội nhân dân lại còn ít thích hợp hơn nữa với việc cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền. Ngay cả khi có ý định chân thành thì sự can thiệp hầu như bao giờ cũng là có hại. Bất cứ ngành hành chính công nào cũng là một công việc có kỹ xảo bao hàm những nguyên lý riêng đặc thù của nó và những quy tắc truyền thống, nhiều điều trong lĩnh vực này, nếu không từng trải qua thực hành công việc một thời gian nào đó, thì không thể có hiểu biết thực sự; những người chưa từng làm quen với nghiệp vụ trên thực hành có lẽ sẽ không sao đánh giá đúng được bất cứ điều gì trong lĩnh vực này. Tôi không có ý cho rằng việc quản lý công việc công cộng có những bí ẩn đặc thù mà chỉ những người đã thụ giáo rồi mới hiểu được chúng. Những nguyên lý của nó đều có thể thấu hiểu được với bất cứ ai có hiểu biết thông thường, những người hình dung được trong tâm trí mình bức tranh chân thực của các tình huống và điều kiện mà mình sẽ phải giải quyết, nhưng để có được điều này thì anh ta phải hiểu biết những tình huống và điều kiện ấy đã, và tri thức đó không phải là do trực giác mà có được. Có nhiều quy tắc cực kỳ quan trọng trong mỗi ngành của nhiệm vụ công (cũng như trong mỗi nghề nghiệp tư nhân) mà người mới làm quen với công việc không hiểu được nguyên do hay thậm chí còn không ngờ tới sự tồn tại của chúng, bởi vì những nguyên lý này có dụng ý nhằm đối phó với các mối hiểm nguy hay dự trù chống lại những phiền phức mà anh ta chưa từng nghĩ tới. Tôi được biết nhiều vị chính khách, những vị bộ trưởng có khả năng bẩm sinh khá cao, khi những vị này được giới thiệu lần đầu với một ban ngành là mới mẻ với họ, thì họ đã khiến các thuộc cấp buồn cười bởi dáng vẻ của họ, lúc họ tuyên bố một điều gì đó như là một chân lý bị bỏ quên đến nay mới được họ khám phá ra, điều mà hẳn là ý nghĩ đầu tiên của bất cứ ai khi mới nhìn vào sự việc nhưng sẽ từ bỏ nó ngay sau khi xem xét lại. Đúng là một chính khách lớn phải là người biết rõ khi nào cần rời bỏ các truyền thống cũng như khi nào cần trung thành với chúng. Nhưng cho rằng anh ta sẽ làm điều đó tốt hơn do không hề biết gì về các truyền thống, thì sẽ là một sai lầm lớn. Người nào không biết kỹ lưỡng các kiểu cách hành động mà kinh nghiệm chung đã thừa nhận thì người đó không có khả năng xét đoán các tình huống đòi hỏi phải rời bỏ các kiểu cách hành động thông thường. Các lợi ích phụ thuộc vào việc làm của một công sở, các hậu quả pháp lý đi theo sau mỗi kiểu cách đặc thù của việc điều hành công sở, [những thứ này] đòi hỏi phải có một loại tri thức được rèn luyện đặc biệt cho việc xét đoán để cân nhắc và định lượng chúng, loại tri thức này hiếm khi thấy được ở những người không được dạy dỗ, cũng giống như hiếm thấy khả năng cải cách luật pháp ở những người không học tập nó một cách chuyên nghiệp.
Chắc chắn là những khó khăn đó sẽ bị bỏ bởi một quốc hội đại diện toan tính tự mình quyết định về những hành vi đặc biệt của việc cai trị. Trong hoàn cảnh tốt nhất thì sẽ là sự thiếu trải nghiệm ngồi phán xét sự trải nghiệm, sự dốt nát phán xét tri thức: sự dốt nát chẳng bao giờ ngờ tới sự tồn tại của những gì nó không hề biết, và nếu nó không tỏ ra phật ý thì cũng hợm hĩnh và chẳng thèm để ý tới mọi yêu cầu chính đáng lẽ ra đáng được phán xét tốt hơn, đáng được chú trọng hơn so với sự phán xét của chính nó. Tình hình sẽ là như vậy, khi không có động cơ lợi ích nào can thiệp vào, nhưng khi có động cơ lợi ích tác động tới thì kết quả sẽ là sự lợi dụng chức quyền còn vô liêm sỉ và trắng trợn hơn cả sự tham nhũng tệ hại nhất, là cái rất có thể cũng xảy ra tại một công sở trong một chính thể có tính công khai. Không nhất thiết là sự thiên lệch đang bàn cứ phải mở rộng ra đa số của quốc hội. Trong trường hợp đặc biệt, thường khi chỉ hai hay ba người trong số họ bị ảnh hưởng cũng đã là đủ [gây hại] rồi. Hai hay ba người ấy sẽ quan tâm nhiều đến việc lừa dối hội đồng hơn bất cứ thành viên nào khác muốn làm cho sự việc trở thành đúng đắn. Phần đông thành viên quốc hội có thể giữ mình trong sạch, nhưng họ không thể giữ được tinh thần của họ cảnh giác và giữ cho các phán xét của họ được sáng suốt trong những vấn đề mà họ không hiểu biết gì; và một đa số trì trệ, cũng giống như một cá nhân trì trệ, sẽ chịu thua một kẻ nỗ lực nhiều nhất để tranh thủ họ. Các biện pháp tồi tệ hay các việc bổ nhiệm bộ trưởng sai trái có thể bị Nghị viện ngăn chặn; lợi ích của các bộ trưởng trong việc bảo vệ và của những người chống đối trong việc đả kích sẽ đảm bảo cho một cuộc thảo luận bình đẳng có thể chấp nhận được: thế nhưng quis custodiet custodes?(*) Ai sẽ kiềm chế Nghị viện? Một vị bộ trưởng, một thủ trưởng cơ quan cảm thấy mình chịu một trách nhiệm nào đó. Một quốc hội trong những trường hợp như thế sẽ cảm thấy không có trách nhiệm nào hết: bởi vì đã có khi nào mà một thành viên Nghị viện nào đó lại bị mất ghế do đã biểu quyết cho một chi tiết nào đó của hoạt động chính quyền đâu? Đối với một bộ trưởng hay thủ trưởng cơ quan thì những gì người ta suy nghĩ sau này về biện pháp của ông ta là quan trọng hơn những gì họ đang nói bây giờ, thế nhưng một quốc hội, nếu dư luận quần chúng nhất thời ngả theo, thì dù có là đề xuất thiếu cân nhắc hay bị kích động giả tạo đến đâu đi nữa, cũng vẫn tự xem mình và được mọi người xem là vô tội, dù cho hậu quả có tai hại thế nào đi nữa. Ngoài ra, một quốc hội không bao giờ đích thân trải nghiệm những phiền phức mà các biện pháp tồi tệ của họ gây ra, trừ phi những phiền phức ấy đạt tới tầm cỡ tổn hại quốc gia. Còn các bộ trưởng và những người cầm quyền hành chính thì nhìn thấy những phiền phức ấy tiến lại gần và phải chịu đựng mọi sự phiền hà khó chịu và rắc rối trong việc tìm cách chống đỡ chúng.
Trách nhiệm đích thực của một quốc hội đại diện đối với các vấn đề của chính quyền không phải là quyết định chúng bằng biểu quyết của mình, mà lo liệu sao cho những người phải quyết định các vấn đề ấy là những người thật sự thích hợp. Ngay cả làm điều đó thì họ cũng không thể dùng lợi thế chỉ định các cá nhân. Không có hành vi nào đòi hỏi khẩn thiết phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cá nhân hơn là việc chỉ định người làm việc. Kinh nghiệm của bất cứ ai thông thạo với công việc công cộng xác nhận điều khẳng định rằng, không có hành vi nào mà lương tâm của một người bình thường lại ít nhạy cảm đến thế; hầu như không có trường hợp nào mà việc xác định phẩm chất lại ít được cân nhắc đến thế, một phần vì người ta không biết rõ, một phần vì người ta không quan tâm lắm tới sự khác biệt trong việc xác định phẩm chất của người này so với người kia. Khi một vị bộ trưởng tiến hành một sự bổ nhiệm trung thực, nghĩa là khi mà ông ta thực sự không lợi dụng nó cho các mối quan hệ cá nhân hay cho phe đảng của ông ta, một kẻ không biết gì có thể cho rằng ông ta cố gắng dành công việc cho người có phẩm chất tốt nhất. Nhưng [thực tế] không phải như vậy. Một vị bộ trưởng bình thường vẫn nghĩ mình đức hạnh diệu kỳ, khi ông ta trao công việc cho một người có cống hiến hay người có tiếng tăm với công chúng về bất cứ chuyện gì, dù cho tiếng tăm hay cống hiến đó ngược hẳn lại với điều cần đòi hỏi của chức vụ. Il fallait un calculateur, ce fut un danseur qui l’ obtint(*), là một biếm họa khó mà hay hơn được của cái thời Figaro(*); và hẳn là ngài bộ trưởng nghĩ mình không những không đáng trách mà còn đáng khen thưởng nếu người ấy khiêu vũ giỏi. Hơn nữa, việc xác định phẩm chất thích đáng của những cá nhân đặc thù [để phục vụ] cho những nhiệm vụ đặc thù chỉ có thể được công nhận bởi những người biết rõ các cá nhân ấy, hay bởi những người chuyên trách làm việc này bằng cách khảo sát và đánh giá con người dựa trên những gì con người đó đã làm được hoặc dựa trên chứng chỉ của những người đứng ở địa vị đánh giá vô tư. Khi những nghĩa vụ lương tâm ấy ít được các quan chức lớn để ý đến thế, thì ai sẽ phải chịu trách nhiệm về những bổ nhiệm của họ và các quốc hội không thể làm việc này được thì các quốc hội sẽ phải như thế nào đây? Ngay cả thời bây giờ thì những bổ nhiệm tồi tệ nhất là những bổ nhiệm được thực hiện vì mục đích giành sự ủng hộ của phe đối lập trong hội đồng hay để làm họ bớt giận: liệu chúng ta có thể trông đợi điều gì nếu đích thân hội đồng đại biểu thực hiện những bổ nhiệm ấy? Các hội đồng đông người không bao giờ bận tâm đến việc xác định năng lực. Ngoại trừ cái người đáng bị treo cổ ra thì người nào cũng nghĩ mình giống như những người khác, hầu như là thích hợp cho bất cứ công việc gì mà anh ta có thể tự đề cử mình là ứng viên. Khi việc bổ nhiệm bởi cơ quan đại diện nhân dân không được quyết định theo quan hệ đảng phái hay thủ đoạn riêng tư như vẫn thường hay gặp, thì một người sẽ được bổ nhiệm hoặc do được tiếng là có khả năng chung chung, mà thường cũng không xứng đáng, hoặc thường khi chẳng có lý do nào hơn việc cá nhân anh ta là kẻ được lòng người.
Chưa bao giờ người ta có ý nghĩ mong muốn rằng Nghị viện phải đích thân chỉ định ngay cả các thành viên của Nội các. Việc dàn xếp để Nghị viện quyết định trên thực tế ai sẽ là thủ tướng, hoặc quyết định ai trong số hai hay ba người được đưa ra chọn sẽ làm thủ tướng, được xem là đủ rồi. Khi làm thế, nghị viện đơn thuần thừa nhận thực tế rằng, một người chắc chắn chính là ứng viên của chính đảng mà chính sách chung của đảng ấy đáng được sự ủng hộ của Nghị viện. Trên thực tế việc duy nhất mà Nghị viện quyết định là chọn ai trong số hai, hoặc nhiều nhất là ba, đảng phái hay đoàn thể sẽ nắm giữ quyền hành pháp: ý kiến của bản thân đảng phái [được chọn] ấy sẽ quyết định ai trong số những đảng viên là thích hợp với vị trí đứng đầu. Căn cứ vào sự thực hành hiện hữu của Hiến pháp Anh quốc thì những điều này có cơ sở vững chắc thật tốt như có thể. Nghị viện không chỉ định bất cứ bộ trưởng nào, nhưng Ngôi vua chỉ định người đứng đầu chính quyền phù hợp theo những nguyện vọng và xu thế chung được Nghị viện biểu thị ra, và bổ nhiệm các bộ trưởng khác theo đề nghị của người đứng đầu; trong khi đó mỗi bộ trưởng có trách nhiệm tinh thần trọn vẹn trong việc bổ nhiệm những người thích hợp vào các chức vụ hành chính khác không phải là vĩnh viễn suốt đời (tức các “chức vụ chính trị”, khác với chức vụ “quản trị hành chính” suốt đời – ND). Trong một nước cộng hòa, vài sắp đặt khác nào đó có thể sẽ là cần thiết: tuy nhiên nó càng gần hơn trong thực hành với những gì đã hiện hữu lâu dài ở nước Anh bao nhiêu thì có lẽ nó sẽ hoạt động tốt hơn bấy nhiêu. Hoặc là như ở nước Mỹ cộng hòa, người đứng đầu ngành Hành pháp phải được bầu lên bởi một cơ quan nào đó (ở đây là “nhân dân” trực tiếp bầu tổng thống – ND) hoàn toàn độc lập với quốc hội; hoặc là quốc hội phải tự bằng lòng với việc chỉ định thủ tướng và thủ tướng có trách nhiệm lựa chọn các đồng liêu và những thuộc cấp. Tôi hoàn toàn thấy trước, ít nhất về lý thuyết, là tất cả những xem xét này sẽ có được sự tán đồng chung: tuy vậy, các hội đồng đại biểu trong thực hành có khuynh hướng mạnh mẽ can thiệp ngày càng nhiều hơn vào các chi tiết của nền hành chính, bởi vì quy luật chung là bất cứ ai có quyền lực mạnh nhất đều bị cám dỗ trong việc lạm dụng quyền lực ngày càng nhiều hơn; và đây là một trong những nguy cơ thực tiễn đặt ra cho tương lai của các chính thể đại diện.
Nhưng cũng thật đúng không kém là một quốc hội đông người không mấy thích hợp cho công việc trực tiếp của cả lập pháp lẫn chính quyền, mặc dù điều này mới chỉ bắt đầu được thừa nhận khá muộn màng và chậm chạp. Công việc làm luật pháp cần thiết phải được thực hiện bởi các trí tuệ, không những phải được rèn luyện và kinh qua thử thách mà còn phải được huấn luyện làm nhiệm vụ nghiên cứu dài lâu và cần cù; khó mà tìm thấy loại công việc vận dụng trí óc nào khác có sự đòi hỏi nhiều đến như vậy đối với những người thực hiện. Giá như không có các lý do nào khác nữa, thì đây chắc là lý do đủ giải thích tại sao công việc ấy không bao giờ thực hiện tốt được, trừ phi có một tiểu ban rất ít người đảm nhiệm nó. Một lý do nữa không kém phần thuyết phục là mỗi điều khoản của một bộ luật cần phải được đặt trong khuôn khổ với sự nhận thức chính xác, có tầm nhìn xa, thấy rõ được tác động của nó lên tất cả các điều khoản khác; bộ luật khi được làm ra, phải có khả năng ăn khớp vào trong một toàn thể hòa hợp với những bộ luật đã tồn tại trước đó. Những điều kiện như thế không sao có thể đáp ứng được ở bất cứ mức độ nào, khi mà người ta bỏ phiếu thông qua các bộ luật từng điều khoản một tại một hội đồng hỗn tạp. Tính phi lý của cái kiểu cách lập pháp như vậy hẳn đã đập vào trí óc mọi người, nếu giả như các bộ luật đã có rồi của chúng ta không hỗn loạn lung tung đến thế, xét về mặt hình thành và xây dựng chúng, khiến cho sự rối rắm và mâu thuẫn có vẻ như không còn có thể lớn hơn nữa bởi bất cứ bổ sung nào thêm vào cái khối đông đúc [của sự hỗn loạn].
Ngay cả hiện tại, cái tình trạng cỗ máy lập pháp của chúng ta thiếu khả năng hoàn toàn đối với mục đích đó, vẫn cảm nhận thấy được trên thực tế càng ngày càng rõ hơn qua mỗi năm. Chỉ riêng thời gian phải bận rộn cho việc xử lý các Dự luật đã làm cho Nghị viện ngày càng không có khả năng thông qua được đạo luật nào vốn không chỉ liên quan đến những điểm thứ yếu nhỏ nhặt. Nếu một Dự luật được chuẩn bị mà nhằm vào giải quyết toàn cục một đối tượng nào đó (và không thể nào lập pháp chính xác một bộ phận nào mà lại không hình dung được toàn cục), nó sẽ bị treo từ kỳ họp này tới kỳ họp khác do hoàn toàn không thể tìm được thời gian xử lý nó. Không quan trọng là dẫu cho Dự luật có thể được soạn thảo kỹ lưỡng bởi chuyên gia trình độ cao với các phương tiện và trang thiết bị kèm theo; hay là bởi một tiểu ban chọn lọc những người thông thạo với đối tượng và đã mất nhiều năm để xem xét và suy nghĩ kỹ càng cho phương sách đặc thù; Dự luật cũng không thể được thông qua bởi vì Hạ nghị viện sẽ không bỏ đi cái đặc quyền quý báu là chắp vá nó bằng những bàn tay vụng về của họ. Sau này, một tục lệ đã được đưa vào trong chừng mực nào đó, khi mà nguyên tắc của một Dự luật đã được xác nhận ở phiên họp thông qua về nguyên tắc (second reading)(*) để rồi chuyển cho một Ủy ban Chọn lọc xem xét chi tiết: thế nhưng người ta đã không thấy sự thực hành ấy làm cho đỡ mất nhiều thời gian sau đó trong việc thông qua nó tại Ủy ban của toàn thể Nghị viện: những quan điểm hay ý nghĩ kỳ quặc đã bị bác bỏ bởi tri thức bao giờ cũng cứ nhất định đòi cho được có cơ hội thứ hai trước tòa án của sự dốt nát. Quả thực bản thân sự thực hành đã được Thượng nghị viện chấp nhận về nguyên tắc, các thành viên của Thượng viện không quá bận rộn và cũng thích lăng xăng can dự vào các công việc, họ lại tha thiết với tầm quan trọng của ý kiến của họ ít hơn so với Hạ viện được bầu lên. Khi một Dự luật gồm nhiều điều khoản mà đạt được việc thảo luận chi tiết thì khó mà tả hết được sự lo lắng của Ủy ban bộc lộ ra! Các điều khoản bị bỏ đi lại là thiết yếu cho hiệu lực của phần còn lại; những điều khoản không phù hợp được gài vào và lợi ích riêng tư nào đó; hay là một gã nghị sĩ kỳ quặc nào đó đe dọa trì hoãn Dự luật; những điều luật gian lận lồng vào theo đề nghị của một gã học giả nửa mùa nào đó có sự hiểu biết nông cạn về đối tượng, dẫn tới những hậu quả mà người đưa ra hay ủng hộ Dự luật nhất thời không tiên liệu được và sẽ phải cần tới một Đạo luật sửa đổi bổ sung tại kỳ họp kế tiếp đặng sửa chữa những mối nguy hại của chúng.
Một trong những điều xấu xa của cái cung cách điều hành những chuyện này hiện nay là, việc giải thích và bảo vệ một Dự luật cũng như các điều khoản khác nhau của nó hiếm khi nào được thực hiện bởi con người có trí tuệ phát sinh ra chúng, là người có lẽ không có chân trong nghị viện. Việc bảo vệ chúng dựa vào vị bộ trưởng hay nghị sĩ nào đó, tức vào những người không tạo dựng ra chúng, những người bị lệ thuộc vào việc học gạo tất cả những luận cứ vốn đã hoàn toàn hiển nhiên, là những người không hiểu biết đầy đủ thực chất vụ việc cũng như những lý do tốt nhất để ủng hộ nó, và hoàn toàn không có khả năng đối mặt với những phản bác không được tiên liệu. Cái điều xấu xa này trong chừng mực liên quan đến các dự luật của Chính phủ là có thể chữa trị được và đã được chữa trị trong một số biện pháp tổ chức có tính chất đại diện bằng cách cho phép Chính phủ được ủy nhiệm cho những người tin cậy làm đại diện tại cả hai Viện, [những người này] có quyền phát ngôn, nhưng không có quyền biểu quyết.
Nếu đã như vậy thì cái đa số hãy còn rất lớn ở Hạ nghị viện, những người chẳng bao giờ muốn khuấy động việc sửa sai hay tranh cãi, chắc chẳng bao lâu nữa cũng sẽ phải trao toàn bộ sự điều chỉnh công việc cho những người trực tiếp làm; nếu họ tự hiểu ra rằng, có sự tồn tại những trình độ chuyên môn lập pháp tốt hơn là cách ăn nói lưu loát và lề lối chọn lựa thông qua cử tri, và có thể tìm ra được chúng nếu muốn tìm kiếm; người ta sẽ sớm phải thừa nhận rằng, trong lập pháp cũng như trong cai trị, nhiệm vụ duy nhất mà quốc hội đại diện có thể có thẩm quyền, đó không phải là làm cái công việc ấy, mà là khiến cho công việc ấy được làm; đó là xác định xem công việc ấy phó thác cho ai hay cho loại người nào thực hiện, rồi ban cho hay khước từ sự phê chuẩn quốc gia đối với công việc ấy khi nó hoàn tất. Bất cứ chính thể nào phù hợp với một tình trạng văn minh cao, ắt phải có một ủy ban nhỏ, như là một trong những thành phần cơ bản của chính thể, với số lượng thành viên không vượt quá Nội các, ủy ban này có thể hành động như một Ủy ban lập pháp, được chỉ định nhiệm vụ làm các đạo luật. Nếu giả sử các đạo luật của đất nước này được sửa đổi lại và đưa vào một hình thức liên kết với nhau, mà chắc là việc này sẽ sớm được làm, thì Ủy ban Lập pháp thực hiện việc này nên được duy trì như một thiết chế thường trực để quan sát canh chừng công việc, bảo hộ cho nó khỏi bị xấu đi và cải tiến nó thường xuyên theo nhu cầu. Không ai lại muốn bản thân ủy ban này phải có quyền lực ban hành các đạo luật: Ủy ban này ắt chỉ là hiện thân của yếu tố trí tuệ trong việc xây dựng chúng; còn Nghị viện ắt phải đại diện cho yếu tố ý chí. Không có biện pháp nào có thể trở thành luật pháp cho tới khi Nghị viện phê chuẩn nó, và Nghị viện, hay một trong hai Viện, phải có quyền lực không những bác bỏ một Dự luật mà còn [có quyền] chuyển nó trở về cho ủy ban xem xét lại hay cải tiến nó. Mỗi Viện cũng có thể đưa ra sáng kiến của mình bằng cách chuyển chủ đề nào đó cho ủy ban với các chỉ dẫn chuẩn bị bộ luật. Tất nhiên là ủy ban phải không có quyền lực từ chối tính chất công cụ của mình đối với bộ phận lập pháp nào mà đất nước yêu cầu. Các hướng dẫn được tán thành ở cả hai Viện để thảo ra một Dự luật nhằm tác động tới một mục đích đặc thù nào đó phải có tính chất mệnh lệnh lên các ủy viên của ủy ban, trừ phi họ chọn việc từ nhiệm. Một khi đã dàn xếp xong rồi thì Nghị viện phải không được quyền sửa đổi giải pháp mà chỉ có quyền thông qua hay bác bỏ nó mà thôi; hoặc là, nếu một phần nào đó phản đối thì có thể chuyển nó cho Ủy ban xem xét lại. Ủy viên của ủy ban phải do Ngôi vua bổ nhiệm, nhưng phải có nhiệm kỳ nhất định, thí dụ như năm năm chẳng hạn, trừ phi bị hai Viện cách chức trên cơ sở có sai phạm đạo đức cá nhân (giống như trường hợp các thẩm phán) hay do từ chối soạn thảo Dự luật theo yêu cầu của Nghị viện. Mãn nhiệm kỳ năm năm thì một ủy viên phải thôi giữ chức vụ, trừ phi được tái bổ nhiệm, để đảm bảo một phương thức sa thải những người không xứng đáng với nhiệm vụ và truyền cho ủy ban dòng máu mới mẻ và trẻ trung.
Sự cần thiết của một định chế tương tự như thế cũng đã được cảm nhận ngay cả ở nền Dân chủ Athens; vào thời kỳ hưng vượng nhất của nó thì Đại hội quốc dân (Ecclesia) có thể thông qua các sắc lệnh (Psephisms – phần nhiều là các sắc lệnh về những vấn đề đơn lẻ của chính sách), nhưng các đạo luật đúng nghĩa, chỉ có thể được làm ra hay sửa đổi bởi một ủy ban khác ít người hơn, được tổ chức mới lại hàng năm, được gọi là Nomothetae, có trách nhiệm xem xét lại toàn bộ các đạo luật và giữ cho chúng được hòa hợp với nhau. Trong Hiến pháp Anh quốc việc đưa vào bất cứ sự cải biến nào mới mẻ cả về thực chất lẫn hình thức là điều rất khó khăn, nhưng việc thích ứng các hình thức và truyền thống hiện hữu nhằm đạt được các mục đích mới thì sẽ gặp sự chống đối tương đối ít hơn.
Vì thế, tôi thấy hình như có thể tìm ra phương sách làm phong phú thêm Hiến pháp với sự cải tiến lớn lao ấy thông qua bộ máy của Thượng nghị viện. Một ủy ban chuẩn bị các Dự luật thì bản thân không phải là một sự đổi mới gì ghê gớm trong hiến pháp so với Ban Luật pháp quản trị Đạo luật trợ cấp cho Người nghèo(*) hay Ủy ban phân định ranh giới đồng cỏ(*). Nếu xét đến tầm quan trọng lớn lao và phẩm giá của chức vụ, cần thiết lập thành quy tắc rằng bất cứ ai được bổ nhiệm làm thành viên của Ủy ban lập pháp – trừ khi được chuyển khỏi nhiệm sở theo yêu cầu từ Nghị viện – phải là một Thượng nghị sĩ trọn đời, thì, cùng với một sự sáng suốt và tinh tế khi nhường các chức năng tư pháp của Thượng viện cho giới luật gia quý tộc (law lords) độc quyền chăm lo, có lẽ cũng nên nhường công việc lập pháp – trừ những vấn đề liên quan đến những nguyên tắc và lợi ích chính trị – cho những nhà lập pháp chuyên nghiệp. Như thế, những dự luật phát xuất từ Thượng viện đều luôn do họ dự thảo và chính quyền cũng giao cho họ soạn thảo mọi dự luật của mình, và ngay cả những thành viên của Hạ viện bình dân cũng dần dần thấy rằng để những kiến nghị của mình dễ được cả hai Viện thông qua, không nên tìm cách đệ trình thẳng lên Nghị viện mà nên nhờ Ủy ban lập pháp làm hộ. Và tất nhiên, Nghị viện có quyền tự do yêu cầu Ủy ban ấy xem xét không chỉ về một vấn đề chung chung mà bất kỳ đề nghị đặc thù nào hay một dự thảo luật đầy đủ chi tiết (in extenso), khi một thành viên nào đó đã chuẩn bị và mong muốn rằng nó được Nghị viện chấp nhận. Và Nghị viện không ngần ngại chuyển những đề nghị như thế cho Ủy ban, dù chỉ như là tư liệu [tham khảo] có thể có nhiều gợi ý có giá trị. Cách làm như thế cũng được áp dụng cho cả những đề nghị tu chính được trình bày bằng văn bản và những phản bác mà một thành viên Nghị viện cảm thấy cần phải lên tiếng đối với một dự thảo của Ủy ban. Việc thay đổi những dự luật bởi một Ủy ban của toàn Nghị viện có thể bị dừng lại không phải từ một lệnh bãi bỏ chính thức, mà bằng việc [âm thầm] không dùng đến; quyền [của Ủy ban] không bị bãi bỏ, nhưng được đưa vào một kho vũ khí dự trữ giống như quyền phủ quyết của hoàng gia, việc từ chối không đóng thuế và mọi công cụ cổ điển khác của cuộc đấu tranh chính trị, những vũ khí không ai muốn sử dụng cả, nhưng đều không muốn từ bỏ chúng để khỏi phải thấy thiếu trong những trường hợp khẩn cấp. Bằng những sắp đặt như thế, việc lập pháp – như là thành quả của lao động chuyên nghiệp, có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn – được đặt vào đúng vị trí xứng đáng của nó, trong khi đó, sự tự do quan trọng nhất của quốc gia – chỉ được cai trị bằng luật pháp do chính những đại diện được bầu phê chuẩn – không chỉ được bảo tồn mà còn đạt được một giá trị lớn hơn nữa, khi bằng cách này, nó được giải phóng khỏi những tệ trạng nghiêm trọng nhưng không thể tránh khỏi, vốn đang gắn liền với nó trong hình thức của một sự lập pháp thiếu hiểu biết và thiếu cân nhắc như hiện nay.
Thay cho chức năng cai trị hoàn toàn không thích hợp với mình, chức năng đích thực của một quốc hội đại diện là giám sát và kiểm soát chính phủ, soi ánh sáng của tính công khai lên các hành vi cai trị, buộc chính phủ phải giải trình và biện minh tất cả các hành vi ấy khi bất cứ ai đó thấy chúng đáng nghi ngờ, phê bình chỉ trích chúng nếu thấy chúng đáng lên án, và nếu những thành viên chính phủ lạm dụng sự tín nhiệm trong các công việc được giao phó hay thực hiện chúng theo một cung cách xung đột với tinh thần cân nhắc vì quốc gia, thì đuổi họ ra khỏi nhiệm sở và bổ nhiệm những người kế nhiệm, hoặc là bằng cách công bố, hoặc là bằng cách thực hiện trên thực tế. Rõ ràng đây là quyền lực dư dật và đủ an toàn cho nền tự do của quốc gia. Thêm vào đó, Nghị viện còn có một nhiệm vụ không kém phần quan trọng; ấy là đồng thời vừa là Ủy ban Nhận khiếu tố (Committee of Grievances), vừa là Đại hội Dân ý (Congress of Opinions); là đấu trường, trong đó không chỉ có ý kiến chung của quốc gia mà còn ý kiến của bất cứ tầng lớp nào, và trong phạm vi có thể thì cho tới cả ý kiến của bất cứ cá nhân đạo cao đức trọng nào, cũng đều được trình bày sáng tỏ và thách thức tranh luận; là nơi mà bất cứ người dân nào cũng có thể hy vọng tìm được ai đó nói hộ nỗi lòng của mình thật hay như chính mình có thể nói, hoặc còn hay hơn nữa – chứ không phải chỉ nói ra với riêng bạn hữu hay người cùng phe đảng, mà nói trực diện với những người đối lập những điều sẽ được thử thách qua sự tranh luận phản bác lại; là nơi mà những người có ý kiến bị bác bỏ cũng cảm thấy thỏa mãn vì ý kiến của họ đã được lắng nghe và chúng bị gạt đi không phải đơn thuần do một hành vi của ý chí độc đoán, mà vì những gì đã được suy xét như là lý lẽ tốt hơn và những điều đó được giới thiệu trung thực với đa số các đại biểu thay mặt cho quốc gia; là nơi mà bất cứ đảng phái hay dư luận nào trong nước cũng có thể thể hiện sức mạnh của mình và bất cứ ảo tưởng nào về số đông hay sức mạnh của phe phái đều sẽ được chữa trị; là nơi mà ý kiến chiếm ưu thế trong nước sẽ biểu thị ra như là ý kiến thắng thế và triển khai hàng ngũ của mình trước mắt chính quyền làm cho chính quyền có thể phải nhượng bộ trước sự biểu dương lực lượng mà không chờ đến khi sức mạnh ấy được sử dụng trên thực tế; là nơi mà các chính khách tự vững tin biết rõ được những yếu tố nào của công luận và của quyền lực là những yếu tố đang lên, những yếu tố nào là đang đi xuống, một cách chắc chắn hơn hẳn so với các dấu hiệu khác và có thể tính toán các phương sách của mình không chỉ đơn thuần đối với những nhu cầu hiện tại, mà còn đối với cả những xu thế đang tiến triển.
Các quốc hội đại diện thường bị những kẻ thù của họ nhạo báng như là nơi dành cho việc nói suông và tán nhảm (bavardage). Còn có những chế nhạo không đúng cách hơn nữa. Tôi không biết một quốc hội đại diện có thể làm cho mình hữu ích hơn bằng cách nào ngoài việc phải “nói”, khi mà chủ đề của việc nói là những lợi ích to lớn chung của đất nước, và mỗi câu nói đại diện cho ý kiến hoặc là của hội đoàn quan trọng nào đó của quốc gia, hoặc là của một cá nhân mà hội đoàn như thế đã phó thác sự tin cậy. Một nơi mà bất kỳ lợi ích nào và bất kỳ ý kiến nào trong đất nước đều được phép bênh vực công khai với tất cả lòng nhiệt tình trước chính phủ và trước tất cả các lợi ích và ý kiến khác, có thể bắt buộc họ phải lắng nghe và đồng ý làm theo hay giải thích rõ vì sao họ không làm theo, thì bản thân nơi ấy – dù không vì một mục đích nào khác đi nữa – cũng là một trong những thiết chế chính trị quan trọng nhất khả dĩ tồn tại ở bất cứ nơi nào, và là một trong những việc cao đẹp nhất của chính thể tự do. Việc “nói” như thế hẳn đã không bao giờ có thể bị nhìn vào với sự miệt thị, nếu nó không được dùng để ngăn cản việc “làm”: chuyện này hẳn đã không bao giờ xảy ra, nếu như các quốc hội hiểu ra và thừa nhận rằng nói và tranh luận là công việc đích thực của họ, trong khi làm, như là kết quả của thảo luận, là nhiệm vụ không phải của một hội đồng hỗn tạp mà của những người được huấn luyện đặc biệt cho nhiệm vụ ấy; rằng nhiệm vụ thích hợp của một quốc hội là chăm lo sao cho những người đó được lựa chọn một cách trung thực và thông minh, và rồi không can thiệp họ xa hơn nữa, ngoại trừ việc đưa ra những đề xuất và phê phán không hạn chế trong phạm vi nào, cũng như việc sử dụng hay khước từ sử dụng con dấu của sự đồng thuận quốc gia [trong việc phê chuẩn]. Chính vì thiếu sự thận trọng tự kiềm chế một cách sáng suốt như thế mà các quốc hội nhân dân cứ cố làm cái mà họ không thể làm tốt được – vừa cai trị vừa lập pháp – và không cung cấp bộ máy nào khác ngoài bộ máy của chính họ cho phần lớn những việc đó, khi ấy thì tất nhiên mỗi một giờ hao tổn trong việc nói là một giờ bị mất đi cho công việc thực sự.
Tuy nhiên chính cái sự kiện làm cho các hội đồng như thế ít thích hợp nhất để làm một Hội đồng Lập pháp, lại làm cho những hội đồng ấy có đủ khả năng đảm trách một nhiệm vụ khác – ấy là, họ không phải là một chọn lọc từ những trí tuệ chính trị lớn nhất của đất nước mà qua ý kiến của những người này rất khó suy ra đúng được ý kiến của dân chúng, nhưng khi được thành lập đúng cách thì những hội đồng này là một mẫu chính xác cho mọi trình độ trí tuệ trong nhân dân, mà tất cả đều được quyền có tiếng nói trong các sự nghiệp công cộng. Phần việc của họ là chỉ ra những gì cần thiết, là cơ quan đưa ra các đòi hỏi của dân chúng và là một nơi để tranh cãi lật đi lật lại mọi ý kiến liên quan tới những việc chung dù lớn hay nhỏ; cùng với việc này là kiểm tra giám sát bằng sự phê bình và cuối cùng là rút lại sự ủng hộ đối với những quan chức cao cấp trên thực tế quản lý việc công hay những người bổ nhiệm những quan chức ấy. Không có gì khác ngoài sự hạn chế chức năng của các quốc hội đại diện ở trong những ranh giới hợp lý đó sẽ cho phép có được những thuận lợi của sự kiểm tra nhân dân kết hợp với những đòi hỏi không kém phần quan trọng của việc lập pháp (ngày càng gia tăng tầm quan trọng theo sự gia tăng kích cỡ và sự phức tạp của hoạt động con người) và sự cai trị chuyên nghiệp. Không có cách nào khác để kết hợp những thuận lợi đó ngoài việc phân chia các chức năng để đảm bảo cho chức năng này phải cần đến chức năng kia; phân tách nhiệm vụ kiểm tra và phê bình ra khỏi nhiệm vụ quản lý thực tế công việc và trao nhiệm vụ trên cho các đại diện của cái Số đông, trong khi gắn chặt nhiệm vụ sau, đặt dưới trách nhiệm nghiêm ngặt trước quốc gia, cho tri thức thu nhận được và trí tuệ đã qua thực hành của cái Số ít được huấn luyện đặc biệt và kinh qua trải nghiệm.
Sự thảo luận trên đây về các chức năng nên trao cho quốc hội đại diện tối cao của quốc gia cần phải được thẩm tra lại khi áp dụng vào việc trao các chức năng thích đáng cho các hội đồng đại diện cấp dưới, những hội đồng này là cần thiết để phục vụ những mục đích chỉ giới hạn ở địa phương. Và một sự thẩm tra như thế sẽ là một phần thiết yếu của luận văn này; nhưng có nhiều lý do để xếp đặt nó lui lại phần sau, cho tới khi chúng ta xem xét xong sự cấu thành thích đáng của hội đồng đại diện lớn dự tính cho sự kiểm soát tối cao việc ban hành các đạo luật và việc quản trị các công việc chung của quốc gia.
Nguyên tác: Representative government, John Stuart Mill.
Bản dịch: NXB Tri Thức, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích.
