Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 11: Về phạm vi của cơ quan lập pháp
§134. Mục đích cao cả của việc con người gia nhập vào xã hội là việc thụ hưởng sở hữu của họ trong hòa bình và an toàn, còn công cụ và phương tiện cao cả của điều này là luật pháp được thiết định trong xã hội. [L]uật xác thực đầu tiên và làm nền tảng của mọi cộng đồng quốc gia, là việc thiết lập cơ quan quyền lực lập pháp; cũng như là luật tự nhiên đầu tiên và làm nền tảng để cai quản ngay cả chính cơ quan lập pháp, là sự bảo toàn của xã hội và của mỗi cá thể trong đó (ở mức mà nó phù hợp với lợi ích công). Cơ quan lập pháp này không những là quyền lực tối cao của cộng đồng quốc gia, mà còn là quyền lực thiêng liêng và không thể hoán đổi một khi cộng đồng đã đặt nó vào cương vị đó; mà cũng không thể có bất kỳ sắc lệnh nào - của bất kỳ cơ quan nào, dù có được hình dung ra dưới hình thức nào, hay dù có được sự hậu thuẫn của quyền lực nào - mà có được sức mạnh và nghĩa vụ của một luật định, khi mà sắc lệnh đó vốn không có sự phê chuẩn của cơ quan lập pháp mà công chúng đã chọn và chỉ định. [V]ì nếu không có điều này, luật pháp không thể có được điều tuyệt đối cần thiết đối với việc trở thành luật của nó - sự chấp thuận của xã hội, là điều mà không một cơ quan nào có thể có quyền lực để định nên luật pháp mà vượt lên trên nó, ngoài chính bằng sự chấp thuận của xã hội* và bằng thẩm quyền đã nhận được từ xã hội. Và vì thế, mọi sự tuân thủ - vốn từ những ràng buộc trọng thể nhất mà bất kỳ ai cũng có thể bị buộc phải thực hiện - vạch những giới hạn cuối cùng nơi cơ quan quyền lực tối cao này, và được hướng dẫn bởi những luật mà nó ban hành. [Đ]ồng thời cũng không thể có bất kỳ tuyên thệ nào trước bất kỳ quyền lực ngoại quốc nào hay trước bất kỳ một quyền lực cấp thấp hơn nào trong nước, lại có thể tháo gỡ cho thành viên nào đó của xã hội ra khỏi sự tuân thủ đối với cơ quan lập pháp khi nó hành động phù hợp với sự uỷ thác của xã hội; mà cũng không buộc anh ta có bất kỳ tuân thủ nào trái với những luật đã được ban hành hay đi xa hơn là chúng cho phép. [T]hật lố bịch khi nghĩ rằng người ta có thể bị một sự ràng buộc tồi hậu phải tuân thủ một quyền lực nào đó có trong xã hội, mà quyền lực đó lại không phải là quyền lực tối cao này.
§135. Dù cơ quan lập pháp có được đặt vào tay một hay nhiều người, có luôn tồn tại hay chỉ ở những khoảng thời gian gián đoạn, dù nó là quyền lực tối cao trong mỗi cộng đồng quốc gia, thì:
Thứ nhất, nó không phải, mà cũng không thể là quyền lực độc đoán, chuyên chế đặt trên cuộc sống và vận mệnh của nhân dân, vì sự tồn tại của nó chỉ là một quyền lực liên kết của các thành viên trong xã hội đã nhường lại cho cá nhân hay một nghị hội đóng vai trò là nhà lập pháp đó. [N]ó không thể nhiều hơn là quyền lực mà những người này đã có trong trạng thái tự nhiên trước khi họ gia nhập vào xã hội và nhường lại cho cộng đồng, vì không một ai có thể chuyển cho người khác nhiều hơn quyền lực mà bản thân anh ta có, và cũng không ai có một quyền lực độc đoán, chuyên chế với chính mình hay bất kỳ ai khác để hủy hoại sinh mạng của mình hoặc lấy đi sinh mạng hay sở hữu của người khác [để mà có thể chuyển điều đó cho một quyền lực độc đoán chuyên chế]. Một người, như đã được chứng minh, không thể tự mình khuất phục trước quyền lực độc đoán của người khác, và cũng đã không có trong trạng thái tự nhiên quyền lực độc đoán nào đặt trên sinh mạng, tự do hay tài sản của người khác ngoài những gì mà luật tự nhiên đã cho anh ta để bảo toàn chính mình và phần loài người còn lại. Đây là tất cả những gì mà anh ta có thể làm hay có thể nhường lại cho cộng đồng quốc gia, và thông qua đó mà nhường lại cho cơ quan quyền lực lập pháp, vì vậy mà cơ quan quyền lực này không thể có gì hơn thế. Quyền lực của họ, ở ranh giới cuối cùng của nó, chịu sự giới hạn vào lợi ích công của xã hội. Đó là thứ quyền lực không có mục đích nào khác ngoài việc bảo toàn, và vì thế nó không bao giờ có thể có quyền để hủy hoại, nô dịch hay có ý đồ bần cùng hóa đối với thần dân^8. Những nghĩa vụ có trong luật tự nhiên không chấm dứt trong xã hội, mà chỉ là bị thu hẹp lại trong nhiều trường hợp, đồng thời có nhiều hình phạt được thêm vào theo luật định của con người, để tạo hiệu lực giám sát của họ. Vì thế mà luật tự nhiên có giá trị như một quy tắc vĩnh cửu đối với mọi người, đối với các nhà lập pháp - cũng không khác gì bất kỳ ai. Những quy tắc mà họ xây dựng cho hành động của con người, cũng như cho hành động của chính họ và những người khác phải phù hợp với luật tự nhiên, tức phù hợp với ý chí của Thượng đế về điều vốn là một tuyên bố về - và là - cái luật tự nhiên căn bản là sự bảo toàn loài người; không một luật lệ nào do con người làm ra là tốt hay là có căn cứ mà đi lại chống điều này.
§136. Thứ hai, cơ quan lập pháp, hay thẩm quyền tối cao này không thể nắm lấy cho mình quyền lực cai trị bằng những sắc lệnh chuyên quyền và tùy
tiện9, mà bị ràng buộc với việc phân phát sự công bằng, việc đưa ra quyết định về các quyền của thần dân, bằng các luật thường trực đã ban hành, và từ những quan tòa có hiểu biết được trao thẩm quyền. Do luật tự nhiên là bất thành văn - và vì thế không tìm thấy ở đâu ngoài tâm trí của người ta, qua cảm xúc hay lợi ích khiến họ sẽ viện dẫn hoặc áp dụng sai đối với nó, nên không thể dễ dàng để họ nhận thức được sai lầm của mình ở nơi mà không có các quan tòa được thiết định. [V]à nếu như thế, nó sẽ không phục vụ - như nó phải phục vụ - để đưa ra quyết định về các quyền và bảo vệ sở hữu của những người sống dưới sự chi phối của luật, đặc biệt ở nơi mà mỗi người đều vừa là người phán xử, người giải thích, và cả là người thi hành luật trong chính trường hợp của mình. [V]ề phía người có lẽ phải, vốn có sức mạnh, một cách bình thường, nhưng chỉ với sự đơn lẻ của nó, anh ta không đủ lực lượng để bảo vệ chính mình trước những xâm phạm hay để trừng phạt tội phạm. Để tránh những bất tiện gây ra hỗn loạn đối với sở hữu của con người trong trạng thái tự nhiên như thế, người ta hợp nhất thành xã hội và họ có thể có được một sức mạnh hợp nhất của toàn thể xã hội, nhằm bảo đảm và bảo vệ cho sở hữu của họ, có thể có được những quy tắc thường trực để ràng buộc, theo đó mà mỗi người có thể biết đâu là [quyền và sở hữu] của mình. Mục đích này là điều khiến con người đã nhường lại tất cả quyền lực tự nhiên của họ cho xã hội mà họ gia nhập vào, khiến cộng đồng đặt quyền lực lập pháp vào tay những người mà họ cho là thích hợp. [V]ới sự uỷ thác này, họ sẽ đặt dưới sự cai quản của những luật được minh định; còn nếu không như thế, hòa bình, sự yên ổn và sở hữu của họ vẫn chỉ là trong cùng một tình trạng bất định như đã có ở trạng thái tự nhiên.
§137. Quyền lực độc đoán chuyên chế, hay là sự cai quản không có luật pháp thường trực và ổn định, không thể phù hợp với mục đích của xã hội và chính quyền, sẽ khiến người ta không thoát khỏi kiểu tự do của trạng thái tự nhiên và tự trói buộc mình vào đó, vì nó không bảo toàn cuộc sống, tự do và vận mệnh của họ bằng những quy tắc được tuyên rõ về quyền và sở hữu nhằm bảo đảm cho hòa bình và sự yên ổn của họ. Không thể giả định rằng họ có ý định - họ có quyền để làm như thế - trao cho một hay nhiều người một quyền lực độc đoán chuyên chế đặt trên con người và điền sản của họ, đặt một sức mạnh cưỡng bức vào tay của quan cai trị để hành xử một cách tùy tiện theo cái ý chí không bị kiểm tỏa của ông ta lên trên họ. Điều này sẽ đặt họ vào một hoàn cảnh còn tệ hại hơn trong trạng thái tự nhiên, nơi mà họ có quyền tự do để bảo vệ các quyền của mình chống lại sự xâm phạm của người khác và dựa trên khuôn khổ của sức mạnh cưỡng bức ngang bằng nhau để duy trì nó, dù là bị xâm lấn bởi một người đơn lẻ hay nhiều người liên kết nhau. Ngược lại, bằng việc giả định rằng họ đã tự mình nhường quyền lực lại cho một quyền lực độc đoán chuyên chế và ý chí của một nhà lập pháp, thì họ đã tự giải giáp mình nhưng lại đi vũ trang cho ông ta, biến mỗi người trong số họ trở thành con mồi khi ông ta muốn. [N]gười này ở vào một tình trạng tệ hơn rất nhiều, phải phô bày mình ra trước quyền lực độc đoán của một con người có được mệnh lệnh của một trăm ngàn người cộng lại, so với khi anh ta phô bày ra trước quyền lực độc đoán của một trăm ngàn người riêng lẻ. [K]hông một ai bảo đảm rằng ý chí của ông ta, người có loại mệnh lệnh như thế, là tốt hơn mệnh lệnh của những người khác, dù sức mạnh cưỡng bức của ông ta trăm ngàn lần mạnh hơn.
Và vì thế, bất cứ hình thức quyền lực cai trị nào mà cộng đồng quốc gia được đặt bên dưới, đều thực hiện công việc cai quản bằng những luật có sự minh định và được chấp nhận, mà không phải bằng những chỉ thị tùy hứng và những nghị quyết không minh định; vì loài người sẽ ở vào một tình cảnh còn tệ hơn rất nhiều so với trong trạng thái tự nhiên nếu đi vũ trang cho một người hay một số ít người bằng quyền lực liên kết của một khối đông, để cưỡng bức mọi người phải tuân lệnh, tùy theo số này thích, với mức độ không bị hạn chế và cực kỳ bất thường trong suy nghĩ của họ, tức là không bị kiểm tỏa, đến mức mà tầm quan trọng của những ý chí thiếu hiểu biết đó không có bất kỳ thước đo nào để đánh giá đâu là cái có thể hướng dẫn và biện minh cho hành động của họ. Vì tất cả quyền lực mà chính quyền có duy nhất là vì lợi ích của xã hội, nên việc nó không được mang tính chuyên quyền và tùy thích cũng ngang bằng với việc nó phải được thực thi bằng các luật được thiết định và ban hành chính thức, mà qua đó không chỉ nhân dân có thể biết về bổn phận của mình, có được sự an toàn và bảo đảm trong phạm vi những giới hạn làm nên từ luật pháp, mà cả các nhà cai trị cũng được giữ trong những ranh giới của nó và không bị cám dỗ, bởi quyền lực mà họ có trong tay, để sử dụng nó cho những mục đích như thế và bằng những công cụ như thế, một khi họ không biết và không tự sẵn lòng [giới hạn mình].
§138. Thứ ba, quyền lực tối cao đó không thể lấy của bất kỳ ai bất kỳ phần sở hữu nào mà không có sự chấp thuận của anh ta, vì bảo toàn sở hữu là mục đích của chính quyền - và do điều này mà con người gia nhập vào xã hội, nên thiết gi định và đòi hỏi rằng con người cần có sở hữu; mà nếu không có, phải giả định là nó bị đánh mất do việc gia nhập vào xã hội trong khi vì sự bảo toàn sở hữu người ta mới gia nhập vào nó - quá sức là ngớ ngẩn cho bất kỳ ai có ý nghĩ [rằng con người không có sở hữu trong xã hội] như vậy. Do đó mà trong xã hội - vốn đã có sở hữu, con người cũng có quyền như thế đối với hàng hóa, mà theo luật pháp của cộng đồng là của họ, và không một ai có quyền lấy đi của cải hay bất kỳ phần nào trong đó mà không có sự chấp thuận của chính họ. [K]hông có điều này, họ không hề có sở hữu gì cả; tôi sẽ thật sự không có sở hữu khi mà người khác có quyền lấy nó khỏi tôi khi anh ta muốn, trái với việc không chấp thuận của tôi. Vì thế, là sai lầm khi nghĩ rằng quyền lực tối cao hay quyền lực lập pháp của một cộng đồng quốc gia có thể làm điều gì đó dựa trên ý chí của nó và sắp xếp điền sản của thần dân một cách độc đoán, hoặc lấy đi một phần từ đó khi muốn.
[K]hông có nhiều lo ngại nơi những chính quyền mà cơ quan lập pháp, chủ yếu dưới hình thức một nghị hội, toàn bộ hay từng phần có thể thay đổi; các thành viên của nó, vào lúc giải tán của nghị hội, cũng là những thần dân chịu sự chi phối của các thông luật$^7^4$ nơi đất nước họ, bình đẳng với mọi thần dân còn lại. Nhưng trong những chính quyền mà cơ quan lập pháp là một nghị hội tồn tại lâu dài, hoặc nằm trong tay một con người, như ở các chế độ quân chủ chuyên chế, thì vẫn nguy hiểm, đến mức họ sẽ nghĩ chính họ có một quyền lợi tách biệt khỏi cộng đồng, và vì thế sẽ có khuynh hướng gia tăng quyền lực và sự giàu có của riêng họ, bằng việc lấy đi của nhân dân cái gì mà họ cho là thích hợp. Sở hữu của một người sẽ hoàn toàn không được bảo đảm, dù ở đó có các luật tốt và hợp lý để đặt những ranh giới về sở hữu giữa ông với các thần dân đồng bào của ông, nếu ông ta - người ra mệnh lệnh cho những thần dân này, có quyền lấy đi của bất kỳ cá nhân tư riêng nào phần sở hữu mà ông thấy thích, sử dụng và sắp đặt nó theo những gì được cho là tốt từ suy nghĩ của riêng ông mà thôi.
§139. Trong bối cảnh như vừa nói, chính quyền, với bất cứ thứ gì được đặt vào trong tay nó, như tôi đã chỉ ra, là không tin tưởng được, và vì mục đích [bảo toàn] này, mà người ta có thể có và bảo đảm sở hữu của họ, nên quân vương hay viện nguyên lão, dù có quyền lực để làm ra luật pháp cho việc điều chỉnh sở hữu giữa thần dân với nhau, cũng không bao giờ có cái quyền lực để lấy về cho chính họ toàn bộ hay từng phần trong sở hữu của thần dân mà không có sự chấp thuận của người dân, vì điều này trên thực tế là không để cho người dân có được sở hữu gì. Và chúng ta hãy xem, ngay cả nơi mà quyền lực chuyên chế là cần thiết, thì không phải sự độc đoán là [có quyền hành xử một cách] chuyên chế, mà vẫn bị hạn chế bởi nguyên do vừa nói và phải giới hạn vào những mục đích này.
[T]rong một số trường hợp cần đến sự chuyên chế, chúng ta không cần nhìn đâu xa hơn là vào
thực tế chung của kỷ luật quân đội. Vì sự bảo toàn của quân đội, và theo đó là của toàn thể cộng đồng quốc gia, đòi hỏi sự tuân lệnh tuyệt đối đối với mệnh lệnh của các sỹ quan cấp trên, và sự bất tuân hay tranh cãi về những gì gây nguy hiểm hay vô lý nhất của các sỹ quan này sẽ chính là cái chết. [N]hưng chúng ta thấy rằng không phải người hạ sỹ quan - vốn có thể ra lệnh cho một lính đều bước tiến đến họng pháo hay đứng vào tường bắn, những nơi mà người lính hầu như chắc chắn bỏ mạng - lại có thể ra lệnh cho người lính đó đưa cho mình một xu nào từ số tiền của anh ta. [M]à cũng không phải một vị tướng - vốn có thể kết tội chết cho người lính vì rời bỏ vị trí hay không tuân theo những mệnh lệnh liều lĩnh nhất - lại có thể, bằng tất cả quyền lực tuyệt đối của ông đối với sự sống và cái chết, ra quyết định cho nửa xu nào từ di sản của người lính đó hay nắm giữ lấy một tẹo nào từ tài sản của anh ta, người mà ông có thể ra lệnh thực hiện bất cứ điều gì và treo cổ chỉ vì sự bất tuân nhỏ nhất. Sự tuân phục mù quáng như vậy là cần thiết cho cái mục đích mà vì đó người chỉ huy có được quyền lực của mình, tức sự bảo toàn của những người còn lại, nhưng việc xếp đặt đối với tài sản của người lính thì ông ta không hề liên quan gì đến.
§140. Có một sự thật là chính quyền không thể được nuôi nấng mà không có sự chi tiêu lớn; và những ai thụ hưởng phần mình trong sự bảo hộ đó cần chi trả cho phần điền sản theo tỷ lệ của mình nhằm duy trì chính quyền, là việc thích hợp.
Nhưng điều đó vẫn phải bằng sự chấp thuận của chính người này, tức là sự chấp thuận của số đông, để trao [quyền nhận sự chi trả đó] hoặc là từ chính họ, hoặc từ những người đại diện được họ chọn lựa, vì nếu một người bất kỳ nào đòi hỏi một quyền lực để đặt ra và thu thuế đối với nhân dân bằng thẩm quyền của riêng ông ta mà không có sự chấp thuận của nhân dân, thì ông đã xâm lấn vào luật căn bản về sở hữu và làm biến chất mục đích của chính quyền, vì sở hữu gì mà tôi có ở cái mà người khác có quyền lấy về cho chính ông ta, khi ông ta muốn?
§141. Thứ tư, cơ quan lập pháp không thể chuyển giao quyền làm luật vào tay bất kỳ ai khác, vì nó chỉ là quyền lực được uỷ nhiệm từ nhân dân, nên những người có quyền lực đó không thể chuyển nó sang cho người khác. Tự một mình nhân dân thôi thì đã có thể chỉ định nên hình thức của cộng đồng quốc gia, bằng việc thiết định nên cơ quan lập pháp và việc chỉ định nó vào tay của những người sẽ có ở cơ quan này. Và khi nhân dân đã nói: “chúng tôi sẽ phục tùng các quy tắc và chịu sự cai quản của luật pháp được làm nên từ những con người như thế, trong những hình thức như thế”, thì không một ai nữa có thể nói những người khác sẽ làm luật cho họ, mà nhân dân cũng không thể bị ràng buộc bởi luật nào khác ngoài những cái được ban hành từ những người mà họ đã chọn và trao cho thẩm quyền làm luật cho họ. Quyền lực của cơ quan lập pháp xuất phát từ nhân dân - từ một sự chuyển nhượng [theo khế ước] tự nguyện, xác thực, và cùng với một sự chế định – không thể là gì khác hơn là sự chuyển nhượng xác thực đó đã truyền đạt, là điều vốn chỉ để làm luật mà không phải là để làm nên các nhà lập pháp, do vậy cơ quan lập pháp không có quyền gì để chuyển giao thẩm quyền làm luật của họ và đặt nó vào tay người khác.
§142. Dưới đây là những giới hạn mà sự uỷ thác được đặt vào họ từ xã hội, từ luật của Thượng đế và tự nhiên đã sắp đặt cho cơ quan quyền lực lập pháp của mỗi cộng đồng quốc gia, ở mọi hình thức chính quyền.
Thứ nhất, họ cai quản bằng những luật được thiết chế và được ban hành, không phải là cho sự đa dạng của những trường hợp cụ thể mà là để có một quy tắc duy nhất cho người giàu và người nghèo, cho người được sủng ái tại triều đình và người quê mùa tại đồng ruộng.
Thứ hai, những luật này cũng phải được thiết kế không vì một mục đích tối thượng nào khác ngoài lợi ích của nhân dân.
Thứ ba, chúng không được tăng thuế đánh trên sở hữu của người dân nếu không có sự chấp thuận của nhân dân, từ sự cho phép của chính họ hay những người đại diện của họ. Và điều này chỉ liên quan thích đáng đối với những chính quyền nào luôn hiện diện cơ quan lập pháp, hoặc ít ra là nơi người dân đã không dành trước một phần của cơ quan lập pháp cho những người đại diện thường xuyên được chính họ chọn lựa.
"Thứ tư, cơ quan lập pháp không được, mà cũng không thể chuyển giao quyền lực làm luật cho bất kỳ cơ quan nào khác hoặc đặt nó vào một nơi nào khác ngoài nơi mà nhân dân đã đặt."
-
7* Quyền lực hợp pháp của việc làm luật để chỉ huy toàn bộ xã hội chính trị của con người là rất thích đáng để thuộc về chính tổng thể xã hội đó, đến mức mà bất kỳ quân vương hay kẻ chuyên quyền thuộc loại nào trên trái đất này khi hành xử bằng chính bản thân mình - chứ không bằng phận sự rõ ràng, tiếp nhận một cách trực tiếp và đích thân từ Thượng đế, hay khác đi, bằng thẩm quyền mà ban đầu đã xuất phát từ sự chấp thuận của những con người mà luật pháp đặt lên họ - thì hành xử đó không tốt hơn gì so với sự chuyên chế. [Khi đó] luật pháp mà như nó đang là, vì thế sẽ không phải là những gì mà sự chấp thuận chung đã làm nên (Hooker's Eccl. Pol. l. i. sect. 10). Do vậy, về điểm này, chúng ta lưu ý rằng bởi lẽ người ta, về mặt tự nhiên, không có quyền lực đầy đủ và hoàn chỉnh để ra lệnh cho cái khối đông toàn thể về mặt chính trị của con người, cho nên dứt khoát là không có sự chấp thuận của chúng ta thì chúng ta không thể ở vào một cuộc sống có mệnh lệnh của một ai. Và để chịu sự chỉ huy, chúng ta phải chấp thuận khi mà xã hội đó, nơi bất cứ ai trong chúng ta cũng là một bộ phận, đã vào một thời gian bất kỳ trước khi có sự chấp thuận, mà không có sự thu hồi chính cái được làm nên bằng những gì giống như sự thỏa thuận phổ quát.
Vì thế, luật của con người, dù là về loại gì chăng nữa, là sẵn có từ sự chấp thuận. (Sđd.)
8 Có hai nền tảng làm trụ cột cho các xã hội công; cái thứ nhất là thiên hướng tự nhiên, theo đó mọi người đều mong muốn về một cuộc sống chan hòa và mang tình bằng hữu; cái kia là một trật tự, được đồng ý bằng sự diễn đạt hay ngầm ẩn, liên quan đến cách hành xử nơi liên hiệp của họ trong đời sống chung. [C]ái sau là cái mà chúng ta gọi là luật về phúc lợi chung, chính là linh hồn của cơ thể chính trị, nơi mà các bộ phận của nó có được sức sống là từ luật pháp, gắn kết chúng lại với nhau, quy định trên công việc mà các hoạt động như thế là vì lợi ích công đòi hỏi. Các luật chính trị được ban hành vì trật tự bên ngoài [cái nội tại] của con người và giữa các nhóm cai trị, sẽ không bao giờ được định khung như chúng là thế nếu xem ý chí của con người là sự ngang bướng, nổi loạn và chống đối nội tâm trước mọi tuân phục đối với các luật thánh của bản tính người; nói cách khác là trừ khi cho rằng con người - liên quan đến tâm trí suy đổi của họ, không tốt gì nhiều hơn so với một con thú dại. [N]hưng dù thế nào thì họ cũng quy định như đã có để định nên khuôn khổ cho hành động bên ngoài của con người, là những điều không cản trở đối với lợi ích công và vì đó xã hội đã được thiết định. Họ sẽ không hoàn chỉnh nếu không thực hiện điều này. (Hooker's Eccl. Pol. l. i. sect. 10)
9 Nhân luật là những thước đo đối với con người, mà vốn hành động của họ cần phải định hướng. [D]ù vậy, những thước đo họ có đó cũng được đo bằng các quy tắc cao hơn; đó là hai quy tắc: luật của Thượng đế và luật của tự nhiên; vì thế mà nhân luật phải được làm ra theo những luật chung của tự nhiên và không mâu thuẫn với bất kỳ luật xác thực nào của Kinh thánh; nếu khác đi, chúng sẽ tồi tệ khi được làm ra. (Hooker's Eccl. Pol. l. iii. sect. 9)
Cưỡng ép người ta phải làm bất kỳ điều bất tiện gì, xem ra là phi lý. (Sđd. l. i. sect. 10)
74 Thông luật: luật hình thành trên cơ sở phong tục, thông lệ, án lệ, khác với luật được định từ cơ quan lập pháp.
Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005
Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy
